2026-02-28

AQ chính truyện (2)


Lỗ Tấn

 

Người dịch: Đặng Thai Mai và Trương Chính

Nhà xuất bản Văn học, 1963

~

Bản tiếng Anh: “The True Story of Ah Q”

Translated into English by George Kin Leung

The Commercial Press, Limited, Shanghai, China, 1927

~

II. LƯỢC THUẬT NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ

A Q không những tên, họ, quê quán đều mập mờ, cho đến “hành trạng” trước kia ra sao cũng không rõ ràng nốt. Số là người làng Mùi đối với A Q xưa nay thì cần y làm công cho, hoặc chỉ đem y ra làm trò cười mà thôi, chứ không bao giờ có ai chú ý đến “hành trạng” của y cả. Mà chính y tự mình cũng chưa hề bao giờ nói tới chuyện đó hết. Chỉ có những lúc cãi lộn với ai thì họa hoằn y mới trừng ngược mắt lên mà tuyên bố:

- Nhà tao xưa kia có bề có thế bằng mấy mày kia! Thứ mày thấm vào đâu!

A Q không hề có nhà cửa. Y trọ ngay trong đền Thổ Cốc làng Mùi. Y cũng không có nghề nghiệp nhất định, chỉ đi làm thuê làm mướn cho người ta, ai thuê gặt lúa thì gặt lúa, thuê giã gạo thì giã gạo, thuê chống thuyền thì chống thuyền. Ngộ những lúc công việc kéo dài thì y ở lại trong nhà chủ tạm thời hôm đó, xong công việc lại đi. Cho nên, người ta có công việc bận bịu lắm thì còn nhớ đến A Q, nhưng nhớ là nhớ công ăn việc làm, chứ nào phải nhớ gì đến “hành trạng”! Rồi đến lúc công việc rỗi thì luôn cả A Q người ta cũng chả nhớ nữa, còn nói gì đến “hành trạng”!

Ấy thế mà có một lần, một ông lão nào đã tâng bốc y một câu như sau: “A Q được việc thật!” Lúc đó A Q đang đánh trần đứng trước lão, người gầy gò và bộ uể oải; người ngoài chả ai hiểu lão kia nói thật hay chế giễu, nhưng A Q rất lấy làm đắc ý.

A Q lại có tính tự cao. Cả bấy nhiêu mặt dân trong làng Mùi, y tuyệt nhiên không đếm xỉa đến ai cả. Cho đến hai cậu đồ trong làng cũng vậy, y vẫn xem thường hết sức. Phú cậu đồ giả, ngày sau có thể thành thầy tú giả dã. Cụ Cố nhà họ Triệu và Cụ Cố nhà họ Tiền là hai người mà trong làng ai ai cũng kính trọng, bởi vì hai cụ gia tư đã giàu có, lại hai cậu con là hai cậu đồ; thế mà chỉ một mình A Q là không ra vẻ sùng bái lắm. Y nghĩ bụng: “Con tớ ngày sau lại không làm nên, to bằng năm bằng mười lũ ấy à!”. Hơn nữa, A Q lại có thể lên mặt với cả làng Mùi ở chỗ y đã lên huyện mấy bận, mặc dù y có trọng gì lũ phố phường. Thì chẳng hạn như cái ghế dài ba thước, rộng ba tấc, ở làng Mùi gọi là cái “ghế dài”, A Q cũng gọi là “ghế dài”, thế mà trên huyện họ lại gọi là “tràng kỷ”! Y nghĩ bụng: “Gọi như thế là sai! Là đáng cười!” Ở làng Mùi, rán cá, người ta bao giờ cũng cho thêm một vài lá hành dài bằng ba đốt tay, thế mà trên huyện, họ lại cho nhánh hành thái thỏ vào! A Q nghĩ bụng: “Thế là sai, là đáng cười!” Nhưng người làng Mùi là những người nhà quê, chưa hề đi đâu cả, lại chẳng đáng cười hơn ai hết hay sao? Một đời chúng nó chưa hề biết trên huyện người ta rán cá như thế nào kia mà!

A Q là người “trước kia có bề có thế”, kiến thức rộng, lại “được việc”, kể ra cũng đã có thể gọi là người “hoàn toàn” lắm rồi. Chỉ đáng tiếc là trong người y còn có một tí khuyết điểm. Bực bội nhất là ngay trên đầu có một đám sẹo to tướng chẳng biết từ bao giờ. Mặc dù đám sẹo đó cũng là vật sở hữu của y, nhưng xem trong ý tứ y thì hình như y cũng chẳng cho là quý báu gì, bởi vì y kiêng tuyệt không dùng đến tiếng “sẹo” và tất cả những tiếng âm gần giống âm “sẹo”. Về sau cứ mở rộng phạm vi dần, tiếng “sáng”, tiếng “rạng” cũng kiêng, rồi tiếng “đèn”, tiếng “đuốc” cũng kiêng tuốt. Chẳng cứ người nào, bất kỳ vô tình hay hữu ý mà phạm phải huý là A Q nổi giận, cái đám sẹo đỏ ửng lên, y nhìn để đánh giá đối thủ rồi kẻ ít mồm ít miệng là y chửi, kẻ sức yếu là y đánh. Nhưng chẳng biết thế quái nào, A Q thường vẫn thua nhiều hơn là được. Do đó y thay đổi dần dần chính sách, về sau chỉ lườm kẻ thù bằng một cặp mắt giận dữ nữa mà thôi.

Nào ngờ, sau lúc A Q thi hành cái chính sách “lườm nguýt” đó thì bọn vô công rồi nghề ở làng Mùi lại càng thích chọc ghẹo y hơn. Hễ thấy mặt A Q đâu là y như chúng nó giả vờ làm bộ ngạc nhiên nói:

- Ơ kìa! Sáng quang lên rồi kia kìa!

A Q lại nổi giận, lại lườm bằng một cặp mắt rất dữ tợn.

Nhưng chúng nó vẫn không sợ, cứ nói:

- À té ra có ngọn đèn bảo hiểm kia kìa!

Không có cách gì đối phó, A Q đành nghĩ ra một câu để trả thù:

- Thứ chúng mày không xứng ...

Lúc đó, y lại có cảm tưởng rằng cái sẹo trên đầu y không phải là một cái sẹo tầm thường mà là một cái sẹo vinh diệu, danh giá nữa kia. Nhưng như trên kia đã nói, A Q là người kiến thức rộng, y biết ngay rằng nếu y nói nữa nhất định sẽ phạm húy, nên y không nói hết câu.

Thế mà lắm đứa vẫn chưa chịu thôi, cứ ghẹo y, thành ra cuối cùng lại đánh nhau. Thực tế thì A Q thua, người ta nắm lấy cái đuôi sam vàng hoe của y dúi đầu vào tường thình thình bốn năm cái liền rồi mới hả dạ bỏ đi. Còn A Q thì đứng ngẩn người ra một lúc, nghĩ bụng:

- Nó đánh mình thì khác gì nó đánh bố nó. Thật thời buổi này hết chỗ nói!

Rồi cũng hớn hở ra về vẻ đắc thắng.

Cái điều A Q vừa nghĩ trong bụng, về sau y nói toạc ra. Vì vậy, những kẻ vẫn hay chọc ghẹo y đều biết rõ cái thủ đoạn đắc thắng tưởng tượng đó của y. Cho nên, từ đó hễ đứa nào tóm lấy cái đuôi sam vàng hoa của y, nó cũng bảo:

- A Q này! Đây không phải là con đánh bố đâu nhé! Đây là người đánh con vật, nghe chưa? Hãy nói đi nào: người đánh con vật!

A Q hai tay cố giữ lấy cái đuôi sam, nghếch đầu lên nói:

- Đánh con sâu! Được chưa! Tớ là sâu! Chưa thả ra à!

Tuy A Q đã nhận là sâu rồi mà nó vẫn chưa chịu thả. Nó còn tóm lấy đầu y dúi luôn năm sáu cái thình thình nữa vào chỗ nào gần đó rồi mới hớn hở bỏ đi, yên trí rằng sau trận này y có thể xấu hổ mà chết đi được! Nhưng chưa đầy mươi giây đồng hồ sau, A Q đã lại hớn hở ra về có vẻ đắc thắng. Y nhận thấy y là người giỏi nhịn nhục bậc nhất, và ngoài việc “nhịn nhục” ra, thì về mọi phương diện, y vẫn là người “bậc nhất”. Trạng nguyên cũng chỉ là người “bậc nhất” mà thôi! “Thứ mày kể vào đâu”!

Sau lúc đã dùng bấy nhiêu phương pháp thần diệu ra đối phó với kẻ thù, A Q liền khoan khoái đi tới quán rượu, nốc luôn mấy chén, đùa cợt với anh này, cãi lộn với anh kia, lại “đắc thắng” rồi mới hớn hở bỏ về đền Thổ Cốc, ngả ra làm một giấc đến sáng.

Giá phỏng trong túi sẵn tiền thì A Q đi đánh bạc. Giữa một đám người xúm nhau ngồi xổm, A Q mặt đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi chen ngay vào, tiếng nói giòn hơn ai hết.

- Này, cửa Thanh lang, bốn quan đấy!

- Mở lớ!

Bác nhà cái vừa mở vừa xướng, mặt cũng đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi.

- Thiên môn lớ ... Bao nhiêu cửa giác cho về lớ! Cửa nhân và Xuyên đường để lại lớ! Tiền A Q đâu? Đưa đây!

- Cửa Xuyên đường một quan này! Quan năm này!

Giữa bấy nhiêu tiếng xướng ngân nga đó, tiền của A Q cứ thế dần dần luồn vào túi một bọn người khác, mặt cũng như mặt y, cũng đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi. Cuối cùng, A Q đành tháo ra ngoài vòng, đứng sau lưng bọn con bạc mà nhìn vào và hồi hộp thay cho kẻ khác, cho đến lúc tan sòng mới ngậm ngùi trở vào đền Thổ Cốc, để hôm sau sẽ lại vác cặp mắt sưng húp đi làm thuê.

Kể ra “mất ngựa biết đâu không phải là một điều may cho ông già cửa ải”. Đã có lần, A Q bất hạnh được luôn một canh bạc, nhưng lần ấy cơ hồ lại như là thất bại.

Đêm hôm ấy, làng Mùi rước thần. Theo lệ thường, làng có tổ chức một đám hát. Bên rạp hát, cũng theo lệ thường, có mấy sòng bạc. Đối với A Q, tiếng trống, tiếng phèng la bên rạp như phảng phất ở đâu ngoài mười dặm đường xa dội lại. Chỉ có tiếng xướng của nhà cái là y nghe rành mạch. Y được luôn mấy hội. Tiền đồng thành bạc hào, bạc hào thành bạc đồng, bạc đồng chất dần dần thành một đống; A Q đắc ý, mặt mày nở hẳn lên.

- Này! Thiên môn hai đồng này!

A Q không biết rõ ai đánh nhau với ai và vì cớ gì, chỉ thấy tiếng mắng chửi, tiếng đấm đá cứ ào ào loạn xạ cả lên, choáng cả đầu óc một hồi khá lâu. Lúc y ngồi dậy được thì lũ con bạc đã biến đâu mất, cả bọn người xung quanh hồi nãy cũng không thấy một ai nữa! A Q cảm thấy có mấy chỗ đau ran lên như vừa bị mấy quả đấm, mấy cú đá vào người. Trước mặt y, một bọn đứng nhìn ra vẻ ngạc nhiên. A Q bàng hoàng chạy về đền Thổ Cốc, rồi đến lúc định được thần hồn thì mới sực nhớ ra rằng đống tiền của mình cũng bay đâu mất rồi. Trong ngày hội, bọn phường bạc đều là người tứ chiếng, biết dò đâu cho ra manh mối?

Rõ ràng một đống bạc đồng trắng xóa lên đó, mà lại là của mình, thế mà bây giờ biến đâu mất! Cứ cho là “con nó cướp của bố đi” và tự mắng mình là “đồ con sâu” cũng vẫn không khuây được. Lần ấy, A Q mới hơi cảm thấy nỗi đau khổ của một cuộc bại trận thật tình.

Nhưng chẳng mấy chốc là A Q lại đã chuyển bại thành thắng. Y sẽ dang cánh tay phải lên, rán hết sức đánh vào mặt y luôn hai bạt tai, đau ran lên. Đánh xong, y hình như đã hả dạ, tựa hồ người đánh là mình là người bị đánh bại lại là một “mình” nào khác ... Rồi một lát, y có cảm tưởng rằng y vừa mới đánh một đứa nào ấy, mặc dù còn đau nhức cả mặt mũi. Y hả lòng hả dạ ngả lưng xuống giường.

Thế là ngủ thẳng.

➖➖➖

Phần tiếng Anh

The True Story of Ah Q (1927)

by Lu Xun, translated by George Kin Leung

---

Chapter II

A brief account of Ah Q's victories

Not only are the surname and native district of Ah Q matters of uncertainty, but even his former doings are matters of doubt. This is due to the fact that the people of Weichuang merely made use of his services or made light of him, and never paid attention to his doings. Ah Q himself threw no light on these matters, but when he was engaged in verbal fusillades with others, he would dilate the pupils of his eyes and exclaim: “My ancestors . . . were greater than yours by a long shot! What sort of creature may you be considered, anyway!”

Having no family, Ah Q lived in the T'uku Temple of Weichuang. He had no steady trade, merely doing odd jobs for others: if wheat had to be cut, he cut it; if rice were to be ground, he ground it; if a boat were to be rowed, he rowed it. Should the period of work be long, he might live in the house of his temporary employer, but as soon as the work was over, he would take his leave. Thus it came about that whenever people were busy, they would call Ah Q to mind, but what they actually recalled was his services and not his doings, for as soon as the particular work was over, Ah Q himself had long been forgotten. So his doings are hardly worth mentioning.

It happened once that an old man said in laudatory tones, “Ah Q surely can work!” At that moment, Ah Q, in all his lanky leanness and bare to the waist, stood indolently before him. Outsiders were not sure whether this remark was sincerely meant or was just a sarcastic fling, but Ah Q, nevertheless, was highly delighted.

Ah Q had a very high opinion of himself and therefore held all the inhabitants of Weichuang in contempt, and those whom he held lowest were its two scholars whom he considered not worth the exertion of a smile. Scholars are likely to attain the rank of Hsiu-t'sai. The Venerable Mr. Chao and the Venerable Mr. Chin enjoyed the respect of the inhabitants not only because of their wealth but also because they were the fathers of scholars; but Ah Q, by the attitude he assumed, showed no special sign of respect for them. He thought to himself, “My sons will be greater than yours by a long shot!”

Besides, Ah Q had gone to the city a few times and naturally felt all the more satisfied with his own attainments. But he also heartily despised the city folk. For instance, a wooden bench, two feet by three inches, the Weichuangites called a long bench and so did he; while the city dwellers called it a tiao[6] bench. “That is wrong,” thought he. “How ludicrous!” For large-headed fish, fried in oil, the Weichuangites used, as a garnish, scallion leaves sliced half an inch in length, while the urbanites sliced the scallion leaves into silken shreds. He again thought, “That also is wrong and laughable!” The truth of the situation is that the Weichuangites were comical rustics, who had not seen the great outside world. They had never seen a city fried-fish!

Ah Q, with his “eminent ancestors,” superior knowledge, and “real ability for work,” was almost a complete man of parts, but it is regrettable that in his physical make-up there was a flaw. This very repulsive feature lay on his scalp where, in a few spots, at some time unknown, impetigo scars had appeared. Albeit they were on his own body, Ah Q did not seem to consider that they added to his self-esteem. For this reason, he tabooed the character lai which means mange or impetigo, and extended that taboo to all the characters with the sound lai. Afterwards, he widened the scope of the taboo to include such words as kuang, “bright,” liang, “brilliant,” and still later spread the taboo to “lamp” and “candle.” Whenever these taboos were violated by others, and it mattered not whether it had been done intentionally or unintentionally, every one of Ah Q's scars would flush with fury. He would survey his offender, and if the latter happened to be a poor quarreler, he would revile him; if he happened to be puny, he would strike him. It is not known how it came about, but Ah Q eventually suffered many defeats and accordingly adopted a new policy, which, in general, was to glare at his offender with infuriated eyes.

And how was it to be understood that after Ah Q had adopted the infuriated-eye policy the ordinary run of Weichuangites found even more pleasure in teasing him? As soon as they set eyes on him, they would feign to be in great awe, gasping, “Hey there, it's brightening up!”

Ah Q, as was his habit, would become angry and direct his infuriated eyes at the offenders.

“So, there is a kerosene lamp here!” they would continue without fear.

Ah Q would have no recourse but to find words for retaliation and to sneer, “But you aren't even clever enough to have . . . !” At such a moment, the impetigo scars on his head seemed uncommon scars of a glorious and noble species. But we have already mentioned in the foregoing lines that Ah Q was a man of the world, so knew at once that he was about to break his own taboo, and spoke no more, in order to avoid the unutterable word.

The ordinary person would not let the matter rest here, but would continue teasing until in the end they would come to fisticuffs. On being defeated, Ah Q was grasped by his brownish queue and had his head knocked against the wall four or five times. It was then that ordinary folk felt fully satisfied that they had gained a triumph, and would leave. Ah Q would stand for a second, thinking in his heart: “I will consider that I have been beaten by my sons. Ah, the world is going to the dogs . . .” and accordingly, he in turn would feel satisfied at heart that the victory was his; and thus he would walk off.

Having turned this matter over in his heart, Ah Q would thereafter always find expression in words, so it came about that almost all who were in the habit of teasing him knew that he possessed a method whereby he maintained an unconquerable spirit; thus afterward, whenever they would clutch his brownish queue, they would forestall him, saying: “Ah Q, this is not a case of a son beating his father; it is a case of human beings beating an animal. Repeat the words yourself, 'Human beings beating an animal!'“

Holding on to his queue at the roots of the hair, Ah Q would set his head to one side and spurt out: “Beating an insect, is that to your satisfaction? I am an insect . . . now will you let me go?”

But in spite of the fact that he admitted that he was an insect, ordinary folk would not let him go; and wherever they happened to be, as in times past, they would give him five or six knocks and leave, feeling fully satisfied at heart that they had gained a victory. They were sure that Ah Q had met his Waterloo this time; but it was not ten minutes before Ah Q would walk off, feeling fully satisfied in his heart that he had gained the victory. He felt that he was the “foremost self-belittler”; and if the words, “self-belittler,” were taken away from the phrase, the remaining “foremost” applied to him. Was not the candidate who receives the highest honor in the government examinations also first, “foremost,” like himself? “And what kind of creature may you be considered?” he would think to himself.

After Ah Q had used these supreme strategies to conquer his enemy, he would run with added elation to the wine shop and gulp down a few bowls of wine, all the while joking with the others present, or exchanging verbal jabs, and after another victory there, would return happy to T'uku Temple, where he let his head sink into slumber.

If he happened to have money, he would be off to play dominoes. The whole crowd would be stooping on the ground, Ah Q, with perspiration streaming all over his face, sandwiched in the whole mass. He would bellow out in a voice louder than all the others, “Green Dragon 400!”

“Hey . . . open . . . there!” the stake holder, also with his face covered with perspiration, would sing out as he lifted the lid. “Tien-men leh (which made Ah Q lose with the Green Dragon)! Chiao-hui leh! Jen and Ch'uang-t'ang have no stakes on them. Hand over Ah Q's coppers!”

Ch'uang-t'ang 100 . . . 150!”

To the tune of such chanting, Ah Q's money would gradually find its way to the loin purse of another, whose face was also streaming with perspiration. In the end, he would squeeze outside the crowd and stand there looking on, following with personal interest the ups and downs of some one else; and thus he continued until the game was ended. It was not until then that he would leave, all unwilling, and return to T'uku Temple. On the following day, he would go to work with eyes swollen from the lack of sleep.

But the truth of the saying, “How was it to be concluded that the loss of the old man's horse at the border country was not actually blessing?”[7] was borne out when Ah Q had one unfortunate streak of winning, which proved to be for his own ill luck.

On that particular evening, Weichuang was holding festivities in honor of its gods and, as was the custom, a dramatic performance was being offered. Near the stage were the customary and numerous gambling tables. The racket of the gongs of the play seemed to be ten Chinese miles away from Ah Q's ears; the one thing he heard was the the singing voice of the lid-lifting stake holder. Ah Q kept winning; coppers turned into silver coin, coin into dollars, and dollars into high stacks. Ravished with delight, he cried out:

“Two dollars on tien-men!”

He did not know how it came about or who had started the fray. Sounds of profanity, sounds of blows, sounds of shuffling feet; there was one grand mass of confusion, from which he crawled away, not seeing the gambling tables, not seeing the people. On several parts of his body, it seemed very much as if there were somewhat of a smarting sensation, as if he had received a few knocks and kicks. A few onlookers stared at him in astonishment. He felt as if something were missing; on arriving at T'uku Temple, he steadied himself and then discovered that his pile of dollars was nowhere to be seen! Since most of the people attending the festival were not Weichuangites, where was he to seek the culprits?

Ah, glittering pile of dollars! And it had been his . . . now nowhere to be seen! To console himself, he let himself believe that the money had been taken away by his sons and in his misery there was nothing left for him except to call himself an insect. While he continued to feel miserable, he tasted, on this reversal of his fortunes, a portion of the bitter gall of defeat.

But anon he turned his defeat into victory. He raised his right hand, and with great strength, slapped his mouth twice. Followed a stinging sensation and a bit of pain. After this slapping, his heart felt consoled and his temper assuaged, for it seemed as if he himself had done the slapping and that another himself had received the slapping, and so it was not long before he felt as if he were hitting some one else — despite the fact that his lips were still smarting. He lay down fully satisfied in heart that he had gained a victory.

Presently he fell asleep.

---

Notes

6. The character tiao () is used in connection with long objects.

7. The story has the force of a proverb, which has as its lesson that most things which appear a misfortune at first may turn out for the best in the end, and vice versa. The incident of the story is as follows:

“Once an old man, who lived at the borders of the barbarian country, lost a horse. When his neighbors came to offer their sympathy, the old man asked, 'How do you know that this is not good fortune?' A few months later, the lost horse returned, accompanied by an excellent horse of barbarian breed. When many came to congratulate him, he again asked, 'How do you know that this may not be a misfortune?' After this wealthy family had the new horse in its possession, the son, who was fond of riding, fell from the horse and broke his leg. When people came to offer their condolence, the old man asked, 'May this not be good fortune?' A year later when the barbarians made a great invasion into the country, all able-bodied youths went to war and nine tenths of them were killed. The old man's son was not sent to battle because of his crippled leg; he and his aged father lived happily together.”

➖➖➖


 2026-02-21

AQ chính truyện (1)


Lỗ Tấn

Người dịch: Đặng Thai Mai và Trương Chính

Nhà xuất bản Văn học, 1963

~

Bản tiếng Anh: “The True Story of Ah Q”

Translated into English by George Kin Leung

The Commercial Press, Limited, Shanghai, China, 1927


 

 2026-02-14

Lá ngọc cành vàng (16 – hết)

Nguyễn Công Hoan 

Nhà xuất bản Hội Nhà Văn

--- 

Chương 16

Những người thua trận

Suốt đêm hôm ấy, Nga không ngủ được mà trên mặt gối, lúc nào cũng đầm đìa những lệ.

Đến gần sáng, nàng thấy gây gây sốt.

Hôm sau, nàng mãi không dậy, bà Phủ vào đánh thức, hỏi:

- Con thấy thế nào?

- Bẩm me, con sốt.

Bà Phủ sờ đầu con, kinh hoảng, gọi ông. Một lát ông mới vào, thản nhiên hỏi:

- Nó có nóng lắm không?

Bà Phủ thở dài, lắc đầu:

- Nóng. Có lẽ nhiều xạ hương quá.

Rồi hỏi Nga:

- Con có nhức đầu không?

- Bẩm óc con như bị búa bổ.

Bà Phủ rầu rầu nhìn chồng:

- Thôi, đích thuốc công quá.

Ông Phủ không nhìn Nga, ung dung đi ra, như chẳng quan tâm về bệnh chút nào.

Nga sốt nặng dần, sốt li bì, không biết gì nữa. Mà bệnh tăng rất chóng.

Bà Phủ thì áy náy, lo lắng, thường vào thăm Nga luôn. Thấy Nga bất tỉnh nhân sự, bà chỉ thở dài.

Độ mười giờ, Nga nói mê nói sảng, ông Phủ hỏi bà Phủ:

- Nhà có trứng gà không?

- Có.

- Cho nó ăn sống. Cách ấy rất thần hiệu. Nhưng mà....

- Nhưng mà làm sao?

- Nó nôn hết thuốc mất.

Bà Phủ giày vò:

- Ông biết cách chữa mà bây giờ ông mới báo thì còn ăn thua gì!

Ông Phủ lạnh lùng cười lạt.

Nga ăn trứng gà sống. Nhưng không công hiệu. Mỗi lúc nàng lại sốt nặng thêm, mà nói lăng nhăng luôn miệng. Thỉnh thoảng nàng mới hơi tỉnh. Nhưng lúc tỉnh thì nhăn mặt, ôm đầu, kêu nhức óc.

Có một lúc Nga buồn chân tay. Đập lên giường, thì đụng phải bà Phủ. Nàng mở mắt lờ đờ nhìn mẹ, líu lưỡi nói:

- Con chết mất, me ạ.

Rồi quả nhiên, nàng thiếp đi.

Một lúc lâu, có những tiếng kêu vẳng vẳng làm Nga bàng hoàng. Nàng tỉnh dậy, lắng tai. Tiếng kêu ngay ở buồng cạnh. Nàng nghe rõ lắm.

- Ôi, con lạy quan lớn.

- Mày không biết dạy con mày, để con mày hỗn láo!

Nga ngẫm nghĩ, đoán chắc là bác đồ Sơn bị cha nàng hành tội. Như quên cả bệnh tật, nhọc mệt, Nga cố gượng lần dậy, xuống đất, nhìn qua cửa kính. Thì quả nhiên một người đàn bà què một tay, đương lăn lộn dưới đất, cuống quýt giơ một tay ra đỡ đòn. Cha Nga thì vừa tát, vừa đấm, vừa đá. Một lát, bác nằm còng queo, không kêu được nữa.

Bên cạnh bác, Chi bị xích tay, vẻ mặt tức tối.

Nga động tâm quá chừng. Nàng hăng hái, cố dùng hết sức còn lại để ra được đến chỗ diễn tấn thảm kịch. Mọi người thấy Nga, đầu tóc rũ rượi, đều kinh ngạc.

Ông Phủ trỏ Nga, bảo Chi:

- Mày làm con tao thế kia. Mày có biết không? Nếu tao không đại lượng tao đã cho hai mẹ con mày mỗi đứa một phát súng.

Dứt lời, những ngọn roi song như mưa xuống đầu, xuống mặt và xuống mình Chi. Chi cuống quýt không thể đỡ được vì tay mắc xích.

Nga rung động cả tâm can. Nàng lăn xả vào ôm lấy người yêu, the thé kêu van để chịu thay những vết roi oan nghiệt. Nhưng hết cả hơi sức, nàng ngã gục xuống, mà tay vẫn với, vẫn quờ, vẫn đỡ cho Chi. Trái lại, ông Phủ thấy cảnh như chọc mắt, càng đánh, đánh túi bụi, đánh như không biết chán tay.

Quá lắm, Nga thở hồng hộc, thiếp đi. Mà Chi cũng không biết gì nữa. Hai người âu yếm ôm nhau để cùng chịu đòn. Thực là một cảnh diễn cái sức mạnh của tình yêu.

Cả ngày hôm ấy, Nga chẳng ăn một miếng cơm, miếng cháo nào. Mình thì nóng như lò than. Hai môi khô se, nước bọt đặc sít. Bệnh lại nặng hơn.

Thỉnh thoảng, nàng mới thở dài một tiếng, rền rĩ kinh hồn, và vật tay mạnh xuống giường. Ấy là nàng hơi tỉnh.

Chỉ những lúc ấy, bà Phủ mới hỏi con xem thấy trong mình thế nào. Nhưng nàng không đáp. Kỳ thực nàng có hiểu gì nữa đâu.

Nỗi thương tâm và trận đòn trong lúc nàng ốm, lại làm nàng kiệt sức, vì vậy bệnh nàng chóng kịch liệt.

Cho nên bà Phủ vừa lo lắng, vừa hối hận. Ngay từ chập tối, bà ngồi ở đầu giường Nga mà nghe nàng rên. Đã mấy lần, bà bàn nên đánh xe, đưa nàng đi Hà Nội để chữa, nhưng ông Phủ thản nhiên đáp:

- Để xem đã.

Ông Phủ ở nhà ngoài, thỉnh thoảng mới vào thăm con, song lúc nào cũng có vẻ bận tâm nghĩ ngợi một điều gì mà ông không nói ra vậy.

Đến nửa đêm, Nga rên to quá. Tiếng rên đều đều, liền liền nhau, nghe rất sợ.

Bà Phủ soi đèn, thấy mặt Nga lờ đờ ngủ gà. Giật nẩy mình, bà thò tay vào chân nàng, thì bà rú lên gọi:

- Ông ơi! Hỏng mất.

Nhưng không thấy tiếng đáp, bà chỉ một mình nước mắt chạy quanh, gọi:

- Nga, con ơi. Con sống với thầy me nhé.

Rồi xúc động quá, bà mếu máo gọi:

- Ông ơi, ông vào đây với tôi.

Tiếng Nga rên bé dần, mà trong buồng chỉ có một mẹ một con.

Bà thò tay vào sờ đùi Nga, rồi thất vọng, gọi dồn:

- Nguy đến nơi rồi, ông vào đây với tôi, xem còn có thể chữa được không.

Không thấy ông vào, bà tưởng ông đã nằm nghỉ.

Rồi tuy biết Nga chẳng còn hiểu gì, bà cũng cứ giảng cho con rõ cái bụng dạ trung hậu để nàng khỏi oán hận cha mẹ đến lúc chết:

- Con ơi, có phải thầy me giết con đâu! Con sống ở lại với thầy me mà hưởng những sự sung sướng. Con là con quan, thì con lại được làm dâu quan, vợ quan. Thầy me không để con phải khổ đâu con ạ.

Tiếng Nga rên thưa dần. Nàng há hốc đôi môi xám ngoẹt, khò khè thở.

Trong buồng, cái gì cũng tăng vẻ kinh khủng. Ngọn đèn phừn phựt như run rẩy. Đồng hồ tích tắc như tiếng gót người chạy trốn. Con chuột rúc, con mối kêu. Não nùng.

Ngoài góc thành, con cú rít một hồi ghê hồn trên cây gạo.

Bà Phủ trống ngực đập mạnh, gọi ông, ông vẫn mặc kệ, chưa vào. Bà dỗ dành Nga:

- Sống mà sung sướng con ạ. Thầy me không bắt con lấy những đứa bần tiện đâu mà.

Một tiếng thở dài, Nga không rên nữa. Lòng trắng mắt lộn lên.

Nàng im lặng chẳng khác gì cái thây ma.

Bà Phủ sụt sùi, lay gọi con. Song nàng bất tỉnh, mềm như sợi bún. Rồi bỗng một tiếng nấc, nàng thở hộc ba tiếng. Cái bông để ngoài lỗ mũi không phập phào bay nữa.

Mặt cắt không được hột máu, bà Phủ lẩy bẩy xỏ chân vào giày, chạy ra nhà ngoài định đánh thức ông để báo tin dữ dội.

Nhưng ông Phủ đã đi ngủ đâu. Vẫn ngồi nghiêm chỉnh như lúc chập tối, ở trên ghế mây cạnh bàn, ông cúi đầu tựa tay vào má như để trầm ngâm hoặc chờ đợi. Thấy bà ra, ông thất vọng, ngẩng mặt, lắng tai. Bà đến gần, nắm tay ông, trợn mắt, mếu máo nói:

- Hỏng rồi ông ạ! Làm thế nào?

Nói xong, bà lăm đăm nhìn ông.

Ông Phủ cũng nhìn bà, rồi chớp mắt mấy cái. Đoạn vẫn lạnh lùng, ông ung dung đứng dậy vừa vào buồng Nga, vừa thốt ra một tiếng thở dài ở tận đáy lòng sắt đá:

- Thôi được, càng đỡ nhục!...

➖➖➖

 2026-02-07

Lá ngọc cành vàng (15)

Nguyễn Công Hoan

 

Nhà xuất bản Hội Nhà Văn

***

Chương 15

Lòng cha mẹ

Bị tóm được bức thư viết cho Chi, Nga đâm liều, đành chờ một phen đánh chửi nhục nhã. Nhưng năm phút, rồi mười phút, Nga cố lắng tai, mà chẳng thấy cha mẹ đả động một lời. Nàng đoán chắc cha mẹ đã ruồng bỏ, mà không hơi đâu dạy đứa con quá hư đốn.

Một lát, có tiêng động, nàng ngẩng đầu dậy, thấy mẹ bưng bát thuốc vào.

- Nga!

Đáp tiếng gọi, Nga khẽ thưa, uể oải ngồi dậy, tay vấn đầu. Bà Phủ nói:

- Con hư dại, thầy me đã tha tội mà không nói nặng nửa lời, thì thôi chứ, sao trên má con còn ngấn nước mắt thế kia?

Nga thở dài hỏi:

- Bẩm me, me cho con cái gì đó?

- Thuốc này tự me phải lên tận Hà Nội, nhờ một ông danh sư bốc cho. Me lại thân hành sắc cho con, thì con phải uống.

- Bẩm me, con không uống.

Thấy con quả quyết, bà Phủ rưng rưng nước mắt, dỗ dành:

- Con dại quá, con ơi! Con đã một lầm hai lỡ, mà chẳng may bụng mang dạ chửa, tức là con đeo một vết nhục suốt đời cho cha mẹ, họ hàng. Người ngoài càng thấy con là con nhà dòng dõi, người ta càng cười. Thà con là con thằng cu bố đĩ, thì con chửa hoang, người ta chẳng nói làm chi. Vậy con cố uống, uống để giữ vuông tròn tiếng tăm cho cả nhà cả họ.

Nga khăng khăng đáp:

- Me để con chết còn hơn bắt con làm một tội đại ác.

Bà Phủ lại ôn tồn:

- Còn về phần con, me đã giảng cho con ban nãy rồi. Nếu con làm được cho cái thai nó ra, thì sau này con mới mong lấy chồng ông nọ ông kia được. Nhược bằng đứa con nó sờ sờ ra đó, ngộ sau này có ai hỏi con, mà người ta thấy rằng con chửa hoang với con con mẹ hàng xôi chè ở phố phủ, liệu người ta còn màng nữa hay không? Vậy con nên biết rằng lòng cha mẹ thương con, dù thế nào cũng muốn cho con sung sướng nên mới phải giả dối như thế. Con không nên phụ lòng cha mẹ.

Nga khóc, khẽ hất tay mẹ ra. Bà Phủ biết ngọt không được, bèn bảo:

- Me nói mà con không nghe, thì me nhường cho thầy con bảo con vậy.

- Bẩm me, con dám nói rằng không ai bắt nổi con làm điều trái ngược.

Bà Phủ tức, nghiến răng, ray rứt:

- À, mày muốn giở lý sự phải không? Thế cái bụng mày ễnh ra thì ai bắt. Phỉ hổ!

Nói đoạn, bà chạy ra nhà ngoài nói với ông Phủ:

- Nhất định nó không uống. Đấy, tôi để phần ông dạy nó.

Rồi lập tức, Nga nghe tiếng giày cha đi vào. Nàng sợ hết hồn.

Ông Phủ tay cầm chiếc roi song, trỏ vào mặt con hỏi:

- Mày có uống hay không thì bảo, con kia!

Nga nhìn cha bằng đôi mát nằn nì, rồi chắp tay, lạy lấy lạy để:

- Lạy thầy, trước khi thầy trừng phạt con bằng cách nào thì trừng phạt, thầy me cho con bẩm một điều: Một là con chết, hai là thầy me cho con được kết hôn với người mà con đã có mang.

Ông Phủ hét:

- Con này gan thật!

Rồi ông quay sang bảo bà:

- Bà chạy ra ngoài dặn người nhà lính tráng, cấm không đứa nào được lai vãng gần đây! Rồi bà đứng ngoài ấy mà canh.

Đoạn ông hung hăng hỏi con:

- Mày có uống hay không?

- Thưa thầy, nếu uống để xóa cái vết ái tình cũ, để mưu một cuộc nhân duyên mới, thì con không muốn thầy me mang tiếng giả dối, tàn nhẫn.

- Nhưng mày sẽ được sung sướng!

- Bẩm thầy, thầy me cho là sung sướng, chớ nếu con không được trăm năm với một người bạn ý hợp tâm đầu, thì con cho là khổ sở.

- Nhưng cái thằng ấy là thằng con nhà dân, con nhà nghèo, nghe chưa?

- Nhưng con tưởng miễn là người ấy cho con được hạnh phúc.

Hai mắt đỏ ngầu ngầu, ông Phủ gõ roi vào đầu Nga, hỏi:

- Mày có uống thuốc hay không? Nói ngay! Tao không lý sự nữa.

Nga khóc lóc:

- Con lạy thầy.

Ông Phủ trợn tròn xoe mắt, dữ dội như con cọp muốn nuốt chửng lấy Nga cho hả giận:

- Mày có uống hay không?

Nga vừa chắp tay lạy vừa sụt sịt đáp:

- Lạy thầy, thầy tha tội cho con. Con không uống.

Đét!

Một vết roi quật mạnh vào lưng Nga. Nga đau quặn, nhăn mặt. Ông Phủ lại hỏi:

- Mày có uống không?

- Bẩm thầy, thầy đại lượng cho con.

- Đại lượng thế chứ còn thế nào nữa? Tao hết sức thương mày mà mày không biết. Uống ngay đi!

- Bẩm thầy, con nhất định không uống.

- À gan à! Này!

Đét! Đét! Đét!

Nga tối tăm mặt mũi, nằm vật ra, rên rỉ:

- Con lạy thầy. Trời đất ơi!

- Ngồi dậy, cầm ngay lấy bát thuốc!

- Bẩm thầy con quyết không uống.

Ông Phủ hăng tiết, lập tức chạy ra ngoài, rồi vào ngay! Nga thoáng thấy cha cầm một vật gì đen lay láy.

- Mày có uống không?

Vừa hỏi, ông Phủ vừa giơ tay kề sát thái dương Nga. Nga nhìn kỹ bỗng rùng mình. Ngọn súng lục.

Nga run bắn người lên.

Ông Phủ tay giơ súng, tay bưng bát thuốc, hất hàm hỏi:

- Mày có uống không? Nếu không tao không tiếc mày nữa!

- Bẩm thầy, thầy muốn giết con, con xin vâng.

- A, con này gan liền!

Rồi ngẫm nghĩ một lúc, một ý kiến vụt nấy ra trong óc ông, ông bảo:

- Nếu mày không uống, tao phải gọi thằng Chi vào đây, để nó cho mày uống. Nó đã tài cho mày uống thuốc, mà lần này không bảo được mày, thì tao sẽ cho nó một phát đạn.

Thấy nói đến Chi, bỗng Nga động tâm.

Ông Phủ biết lời nói của mình có công hiệu, bèn tiếp:

- Một là mày uống, hai là thằng Chi chết. Mày chọn đằng nào. Nói ngay!

Nga run run, giơ tay ra, đỡ lấy bát thuốc.

- Thầy me chuộng chỗ quyền quý quá, khinh chỗ nghèo hèn quá, mà để khổ cho con.

Nói xong, Nga để bát cạnh môi. Mấy giọt lệ theo nhau dòng dòng chảy xuống hòa với nước thuốc.

Nhưng nàng kinh tớm. Nàng kinh tởm việc uống thuốc cũng như cái kết quả của thuốc. Nàng kinh tởm sự chuyên chế của gia đình nó làm nàng tủi nhục. Bỗng nàng thổn thức khóc, gào lên khóc. Bát thuốc suýt nữa rơi. May quá, ông Phủ vội vàng đỡ ngay được:

- Bà đâu!

- Dạ.

Bà Phủ hớt hải chạy vào. Ông bảo:

- Bà phải thân ra phố, lôi cổ thằng con con mẹ bán xôi chè vào đây.

Bà Phủ ngơ ngác:

- Thưa làm gì thế ạ?

Ông Phủ trợn mắt:

- Bà hãy lôi cổ nó vào đây đã. Con bé nó cứng đầu cứng cổ lắm, không dạy được.

Bà Phủ vội vã vấn lại khăn, mặc áo lụa và cầm hộp trầu bạc.

Có từ trong phủ ra nhà Chi, bà cũng đi xe, xe nhà. Bà vẫn thế. Bà chẳng đi bộ đến đâu bao giờ, dù có gần.

Xe bà đỗ ở cửa bác đồ Sơn. Bác đồ đang ngồi hàng, đứng dậy khúm núm chào. Trái lại, mặt có vẻ sát khí đằng đằng, bà quý khách đi thẳng vào trong, khiến bác đồ chẳng hiểu việc gì cả. Người lính kéo xe lấy làm ngạc nhiên. Một vài đứa trẻ quây lại xem.

Nhưng Chi hiểu ngay việc chẳng lành. Bởi vì, dù có lời hứa chắc chắn của ông bà Tham tán thành việc hôn nhân, dù có mối tình tha thiết, cương quyết của Nga đối với mình, dù cho chàng đã đỗ Cao đẳng tiểu học, nhưng chàng cũng chẳng hy vọng việc trăm năm với Nga được như ý. Chàng thương Nga và yêu Nga. Nhưng càng thương yêu bao nhiêu, chàng càng lo buồn bấy nhiêu. Nhất là từ hôm được tin cho Nga biết rằng chàng thi đỗ đã về, mà không được một câu trả lời của Nga, chàng đoán tình thế trong gia đình Nga đã trở nên nghiêm trọng.

Ông bà Tham, lúc về Hà Nội, chàng có trông thấy hai người khi qua nhà chàng. Hai người cùng có vẻ mặt rầu rầu. Như vậy, chàng biết là thất vọng và rất đau khổ.

Chi đứng dậy chắp tay chào bà Phủ.

Bà Phủ ngắm chàng từ chân đến đầu bằng đôi mắt thù hằn, hỏi:

- Mày là con con mẹ này phải không?

Chàng chưa kịp đáp, bác đồ Sơn đã trả lời thay:

- Lạy bà lớn, con chúng con đấy ạ.

Bà Phủ đứng im một lát, rồi quay lại bác đồ Sơn hách dịch hỏi:

- Thế mẹ con nhà mày còn đợi gì mà không mời tao ngồi?

Bác đồ Sơn run sợ, xoa hai tay:

- Lạy bà lớn, bà lớn tha tội, rước bà lớn ngồi ạ!

Bà Phủ nhìn quanh, vớ lấy quyển sách của Chi đang đọc, đặt ở dưới, và ngồi lên trên. Bởi vì bà cho rằng chiếu bẩn. Bà hỏi:

- Thằng kia, sao mày dám hỗn láo với cô?

Chi xám ngoẹt, run run. Bác đồ Sơn ngạc nhiên, nhưng nghĩ ra ngay, vội vàng đáp:

- Lạy bà lớn, ngày ấy chúng con đã mắng cháu rồi. Cháu dại dột, xin bà lớn đánh cho chữ đại xá.

Bà Phủ lại nói:

- Học hành gì thứ này, đồ du côn! Sao mày không nghĩ đến tương lai, ở nhà mà đi gồng gánh đỡ mẹ mày? Mà con mẹ mày cũng ngu như chó ấy.

Chi cười chua chát đáp:

- Thưa bà lớn có điều gì xin nói với tôi, mẹ tôi không có lỗi.

- À, mày giở bướng. Mày vào ngay trong phủ quan truyền.

Tức đầy ruột, Chi nói:

- Chốc nữa tôi vào. Không có việc gì cần cả.

- Thằng Lại đâu, lôi cổ nó đi cho tao.

- Muốn mời tôi vào, thì nói tử tế tôi sẽ đi, tôi không làm gì nên tội, không ai bắt được tôi cả.

Nói đoạn, Chi mặc áo, và đi trước bà Phủ.

Thực ra, trong bụng chàng rối như mớ bòng bong. Chàng biết rằng lần này đi là vào hang cọp. Nhưng dù nguy hiểm, chàng cũng cứ đi, đi để được biết tình cảnh của Nga, và chịu chung với Nga những nỗi đau đớn. Chàng cũng vui lòng.

Chi đến sân công đường, thì xe bà Phủ cũng vừa tới. Chàng theo bà vào nhà tư.

Chàng không chào ông Phủ. Nhưng ông Phủ không để ý đến cử chỉ ấy. Ông nhìn Chi, ngầu ngầu hai mắt, sừng sộ kể tội:

- À, thằng này, mày hỗn láo. Mày muốn sống hay muốn chết.

- Thưa quan lớn, câu quan lớn hỏi, chúng tôi tưởng là thừa, vì không ai dại đến nỗi muốn chết.

- Sao mày dám hỗn láo với cô. Mày có biết cô là con tao không?

- Thưa, tôi vẫn biết...

Chàng chưa nói hết, bỗng cánh cửa buồng mở toang. Nga chạy ra, tóc rủ rượi, ngồi phệt xuống đất, chắp tay, cúi đầu, lạy như tế sao:

- Lạy thầy, lạy me, thầy thương hại cho hai chúng con. Thầy cho sống hai chúng con cùng sống, thầy bắt chết, hai chúng con xin chết ngay.

Rồi nàng ngẩng bảo Chi:

- Anh lạy thầy me đi!

Chi bối rối, không biết làm thế nào, thì ông Phủ đập bàn:

- Hai chúng con! Con này to gan thật! Tao gọi nó vào đây, là bắt nó cho mày uống thuốc. Thằng kia, mày phải bảo cho nó uống hết bát thuốc, không có tao cho mày một phát đạn, mày quyến rũ con tao.

Nói đoạn, ông đứng dậy, mở tủ lấy khẩu súng lục và bà Phủ đặt bát thuốc lên bàn.

Nga khóc lóc:

- Anh ơi, cực nhục lắm, thuốc thôi thai đấy.

Chi nhủn cả người, đầu óc choáng váng, ông Phủ nói:

- Tao không muốn có thứ máu tanh thối trong người con gái tao. Thằng kia! Trông khẩu súng này đây. Mày muốn sống thì bảo nó uống.

Chi đáp:

- Cô Nga có uống hay không là tùy quan lớn, chứ tôi không thể nhẫn tâm. Còn như quan lớn bảo tôi quyến rũ thì thực quan lớn lầm.

Nga đứng dậy nói:

- Lạy thầy, trăm tội ở như con. Chú thím con đã bẩm thầy hết. Ngoài con không ai có lỗi cả.

- Tao gọi thằng này vào đây, không phải để nghe chúng mày lý sự. Con kia, mày có uống hay không?

- Lạy thầy, con đã trót yêu người ta, con đã trót có mang với người ta, con xin thầy thương hại con, thầy để con sống. Rồi thầy từ con, thầy đuổi con, con cũng cam lòng.

- Tao từ mày, tao đuổi mày, để mày đi bêu riếu tao nữa phải không? Mày có uống thuốc hay không?

Nga gạt nước mắt:

- Không. Nhất định con không uống. Nhất là thầy giết con.

Chi đứng cạnh, bâng khuâng, lòng thổn thức. Chàng thương Nga, cảm động mối tình tha thiết của Nga đối với chàng. Chàng muốn khóc. Nhưng trước cái cảnh tàn nhẫn này, chàng không sao có nước mắt được, ông Phủ cầm súng lục, trỏ vào Nga hung hăng hỏi:

- Có thật mày gan không?

Nga đáp:

- Vâng, xin thầy cho hai chúng con, mỗi người một phát đạn.

Nhưng ông quắc mắt nhìn Chi:

- Mày phải bảo nó uống.

- Thưa tôi không bảo.

- Mày không bảo phải không?

Nói vậy, ông giơ súng về phía Chi, ngón tay trỏ mấp máy cò. Chi hoa mắt. Nhưng chàng đứng gan. Ai nấy im phăng phắc. Chỉ một cái bóp khẽ, là kết liễu một đời người.

Ông gí súng vào thái dương Chi, quả quyết nói:

- Tao đếm đến ba, mày phải bảo nó, không thì tao nhất định bắn.

Rồi dằn từng tiếng, ông đếm:

- Một!... Hai!...

Tức thì Nga cuống quýt, lăn xả vào bát thuốc.

- Lạy thầy, vâng, vâng, con xin uống.

- Ực! Ực! Ực!

Nàng uống để cứu Chi. Đối với nàng, có thể ông Phủ không nhẫn tâm. Nhưng đối với Chi, thì ông bắn thật, nếu ông không bảo được.

Chi ứa nước mắt. Đứt từng khúc ruột.

Độ ba giây đồng hồ, Nga nhăn nhó thở khà một tiếng, rồi bổ rơi cái bát xuống gạch. Nàng nhắm mắt, chạy vào buồng, nằm gục xuống giường cố thọc tay vào miệng để nôn. Nhưng không thể. Nàng chỉ oẹ khan. Thuốc không theo ra được.

Thất vọng, nàng đập phá lăn lộn như điên như cuồng.

➖➖➖


  2026-03-07 AQ chính truyện (3) Lỗ Tấn   Người dịch: Đặng Thai Mai và Trương Chính...