Lá ngọc cành vàng (11)
Nguyễn Công Hoan
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Chương 11
Lôi đình
Đắn
đo mãi, không thể đừng được, ông Tham mới dám nói với ông Phủ. Ông kể rành mạch
nguyên nhân bệnh của Nga, và cách chữa mà thầy thuốc dặn.
Trong
khi ông Tham nói, ông Phủ ngồi nghiêm chỉnh để nghe, không hề đáp mà cũng không
hề đổi sắc mặt, vì vậy ông Tham mới giảng hết các lẽ.
Bà
Phủ ngồi cạnh, thương con sụt sịt khóc.
Rồi
một phút im lặng. Mọi người chống tay nghĩ ngợi.
Bỗng
ông Phủ quắc mắt đập bàn đánh thình, làm cả nhà giật mình, ông Tham xám xoẹt
run lên. Ông Phủ gắt:
-
A, ra chú quá nghe Đốc tờ nói láo. Chú có học, chú lại không biết rằng hạng nói
dối thứ nhất là Đốc tờ, thứ nhì đến thầy kiện hay sao? Họ chỉ dọa người để lấy
tiền mà chú cũng tin à?
Nghĩa
là ông cố quên bặt một hạng người nữa, cũng nói dối như ranh và cũng dọa người
để lấy tiền như quỷ, nên ông càng cáu:
-
Giá họ quyền hành một chút nữa, giá họ làm quan thật, thì không biết họ làm hại
người ta đến thế nào! Chú vẫn cho con Nga uống thuốc Tây đấy à?
Ông
Tham run sợ, nói:
-
Bẩm anh, nhưng cháu nhổ đi có uống đâu.
-
Nhưng chú vẫn định bụng cho nó uống à?
Ông
Tham sợ hãi khép nép đáp:
-
Dạ.
-
À, ra chú không nghe lời anh. Em đâu có em vô phúc thế! Mà anh xem chú ti toe
được dăm ba chữ Tây, chú dám công nhiên bài bác cái thuần phong mỹ tục của các
cụ. Bây giờ chú làm nên, được nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn, là vì ai? Sao
chú bạc bẽo thế? Người ta phải trọng nhất là luân lý. Nhất là những nhà nền nếp
như nhà ta, càng phải trọng luân lý. Dù thấy luân lý nó bó buộc, cũng nên chịu
nhắm mắt mà theo mới phải chứ! Chú nghe Đôc tờ bảo thằng ấy đến để chữa cho con
Nga. A, chú muốn rước voi về giày mồ à?
Rồi
tức giận lên đến cực điểm, ông Phủ trợn mắt trỏ vào mặt ông Tham quát:
-
Đồ vô đạo!
-
Bẩm anh...
-
Im!
-
Bẩm anh, xin anh xét cho. Nếu không thì cháu Nga chết oan.
Nói
xong, ông Tham lấy khăn chùi đôi mắt đỏ hoe.
Ông
Phủ cười lạt mỉa mai:
-
Hừ!
-
Em muốn bẩm anh rằng em nói có lý không?
-
Anh hiểu rồi. Vẫn là có lý. Nhưng sao chú dám khuyên anh gọi thằng kia đến!
-
Bẩm anh, nếu có lý thì nên theo không có thì cháu chết.
Ông
Phủ lại quát:
-
Chết thì thôi! Chú phải im.
Cả
nhà đang run sợ, bỗng nghe thấy tiếng thút thít khóc: bà Phủ và bà Tham gục cả
đầu xuống bàn. Thấy ông Phủ quả quyết quá, mà nghĩ đến Nga, ai chẳng động tâm.
-
Bẩm anh, em tưởng nên theo lẽ phải.
-
Luân lý mới là phải. Còn thì trái hết.
Ông
Tham thở dài, nhìn anh bằng đôi mắt nằn nì.
Lúc
ấy, tiếng Nga ở trong đưa ra, phá toang cuộc xung đột mới nhóm:
-
Gớm! Làm gì mà cãi nhau như mổ bò thế. Nước sông Nhị Hà bây giờ trong quá,
chúng bay ạ, chị ạ.
Nhưng
không để ý đến Nga, ông Tham nói:
-
Thằng Chi, em xét ra, là một đứa học trò ngoan ngoãn. Anh chẳng thấy chuyện xưa
biết bao nhiêu nhà quan chỉ kén rể là học trò nghèo hay sao?
-
À, ra chú vẫn tưởng chú phải.
Rồi
ngưng một lúc nghĩ ngợi, ông nói:
-
Được rồi, chú lên gác với anh.
Rồi
ông Phủ hầm hầm đứng phắt dậy, gọi:
-
Thím Tham! Bảo đứa nào mua bao nến thẻ hương. Bà Phủ! Bà đi têm trầu, và pha nước
lễ.
Mọi
người nhìn nhau ngạc nhiên.
Ông
Phủ vớ cái khăn, rồi lên gác, ông Tham lững thững theo đi. Ông Phủ còn hăng tiết,
vừa đi vừa quay lại nói:
-
Anh không bảo được chú! Chú cậy khôn hơn cả các cụ!
Rồi
ở trên gác, ông dọn dẹp các đồ đạc trang hoàng trên lò sưởi, lấy phất trần quét
tước rất sạch sẽ. Ông Tham đứng im ở góc nhà, chắp tay chờ, nhìn. Nhưng thấy
ông Phủ làm việc, chẳng lẽ ông cứ giương mắt mà xem, ông bèn chạy lại đỡ. Ông
Phủ gắt:
-
Chú không được phép nhúng tay vào những việc thành kính này!
Ông
Tham ngơ ngác, lủi thủi về chỗ cũ.
Ông
Phủ lấy cái khăn bàn phủ lên lò sưởi, và đặt hai cây nên đồng hai bên; rồi cung
kính, ông bưng cái ảnh cụ cố, đặt ngay ngắn vào giữa.
Lúc
ấy, bà Phủ và bà Tham ở dưới nhà đã rón rén đưa lễ vật lên, rồi đứng khép nép ở
góc tường.
Tự
tay ông Phủ cắm nến và thắp hương, đặt trầu và pha nước.
Rồi
ông giải chiếc chiếu trước chỗ thờ ông đứng nghiêm trang, chắp tay, đoạn thụp
xuống lễ bốn lễ, rồi quỳ, suỵt soạt khấn. Gian gác có vẻ tôn nghiêm một cách cảm
động.
Cả
nhà im lặng, ông Tham mặt cắt không được hột máu, rất lo sợ. Ông biết rằng vì
anh quá khắc, nên mới sửa phạt ông bằng cách khấn các cụ về để trừng trị ông là
đứa con vô phúc. Ông đang vơ vẩn nghĩ ngợi tủi thân, bỗng nghe thấy tiếng ông
Phủ đang khấn thì nấc lên máy tiếng, rồi hồng hộc lên, phục xuống chiếu, ôm mặt
khóc rưng rức.
Thế
là cả nhà cùng sụt sịt, thảm thiết như mới có tang.
Một
chốc, ông Phủ lấy tay áo quệt ngang mắt, rồi vừa thổn thức vừa lễ bốn lễ nữa.
Đoạn,
ông nhăn nhó, chắp tay đi giật lùi ra chỗ để giày, rồi nhìn ông Tham bằng đôi mắt
đỏ hoe. Ông gọi:
-
Chú Tham!
Ông
Tham mắt lấm lét, rón rén đến.
-
Dạ!
Ông
Phủ trừng mắt, hỏi:
-
Thế chú còn đợi gì mà không đội khăn vào?
Bà
Tham luống cuống kiễng chân chạy lấy khăn cho chồng. Ông Phủ đứng cạnh chỗ thờ,
nghiêm chỉnh nói giọng dõng dạc như người quan tòa:
-
Tội chú đáng đánh đòn. Nhưng anh nghĩ thương cho chú đã lớn, vả đã là ông nọ
ông kia nên anh trình các cụ tha cho chú. Vậy chú vào lễ tạ các cụ rồi nằm xuống
đây.
Ông
Tham rưng rưng nước mắt, vào lễ tạ bốn lễ. Hai ngọn lửa thẳng, tự nhiên nghiêm
trang như đôi mắt uy nghi của vong hồn hiện về, chòng chọc nhìn người con bất
hiếu. Nước nến chảy xuống như hai dòng lệ thảm. Mùi hương ngào ngạt làm chỗ thờ
tự tăng vẻ thiêng liêng, mà cái ảnh treo trên, cũng như có hồn, đang phảng phất
đâu đây để chứng kiến tấm lòng thành của ông Phủ. Bà Phủ và bà Tham cũng sửa lại
vành khăn, ngồi thụp xuống chiếu lặng lẽ lễ, rồi yên lặng cung kính đứng chắp
tay ở cạnh ảnh, như để hầu bố chồng lúc sinh thời.
Đoạn,
ông Phủ nói:
-
Bây giờ chú chịu tội đi.
Lập
tức, ông Tham nằm sấp trên chiếu, duỗi thẳng cẳng, gục đầu xuống ván gác. Ông
Phủ lấy chiếc ba toong, nâng hai tay, quay về phía thờ, vái dài một cái, rồi để
ở ngang mông em. Rồi ông đứng cạnh bàn thờ, nhìn ông Tham mà diễn thuyết. Lúc ấy,
đôi con mắt ông lờ đờ, chân thành, như được linh hồn cha mẹ ông bà nhập vào
thân ông, như được văng vẳng thấy những lời nghiêm huấn sắt đá của người xưa,
mà nhắc lại cho em nghe vậy:
-
Em đã lầm lỗi, em nên biết hối. Anh em ta sở dĩ được hiển đạt như thế này, là
nhờ phúc ấm của các cụ để lại. Vậy mà em đã dại dột, xui anh làm càn làm bậy,
dám bài bác cả luân lý đời đời của tổ tiên. Anh là người đại lượng, đã trình
xin tha thứ cho em lần đầu. Nhưng nếu lần sau, em còn dám ăn nói càn nữa, anh sẽ
xin phép các cụ đánh đòn chứ không tha.
-
Dạ.
Rồi
ông quay nhìn bà Tham:
-
Còn em nữa. Em phải can ngăn... thím phải can ngăn chú ấy, mỗi khi chú ấy phạm
vào những tội vô đạo. Nghe chưa?
Bà
Tham chắp tay, cúi đầu:
-
Dạ.
Rồi
quỳ bên cạnh em, ông suỵt soạt khấn khứa, đoạn đứng dậy:
-
Thôi, tha cho chú.
Ông
Tham, đau đớn như bị trận đòn, lóp ngóp dậy, rồi lễ tạ bốn lễ.
Ông
Phủ bảo:
-
Cho phép chú dọn dẹp đồ lễ.
Nói
xong, ông hả cơn giận, thong thả xuống nhà dưới.
Bà
Phủ nhìn theo chồng, rồi trông bà Tham và lè lưỡi, lắc đầu. Bà Tham cũng tủm tỉm
cười. Bà Phủ nói khẽ với ông Tham:
-
Chị toan bảo chú im. Tính anh khắc lắm, làm gì chú không biết.
Ông
Tham buồn rầu, thất vọng, lắc đầu, nói:
-
Đến hỏng mất!
Rồi
ông thở dài, nằm soài trên giường, bắt tay lên trán.
Bà
Phủ lại gần, dỗ dành:
-
Mời chú xuống nhà chơi với anh. Chú giận anh chị đấy à?
-
Bẩm chị không. Khốn nạn, em thương cháu mà em không có quyền làm cho cháu sống.
-
Thì ai chả thương cháu, nhưng chú bẩm anh những câu cũng khó nghe lắm kia. Giấy
rách còn phải giữ lấy lề nữa chứ...
Vừa
lúc ấy, ông Phủ lại lên gác, hỏi:
-
Cái gì?
Bà
Phủ cười gượng cho câu chuyện đỡ quan trọng:
-
Chú Tham buồn vì lo con Nga chết.
Ông
Phủ trợn mắt, nói:
-
Thì chú vẫn chưa nghe ra hay sao? Chú phải biết anh chị lại thèm gả con bậy bạ
như thế hay sao? Cháu mắc vận hạn, nhưng khi gặp thầy gặp thuốc, tất nó khỏi.
Có lẽ nào bệnh mà uống thuốc lại không khỏi bao giờ?
-
Bẩm anh, nhưng mười bận cho thuốc, thì cả mười bận nó phun ra như thế cháu khỏi
sao được. Hay là anh chị cứ bằng lòng cho em gọi thằng Chi vào dỗ dành cho cháu
Nga uống thuốc thôi vậy.
Một
tiếng đập bàn. Ông Phủ quắc mắt thét:
-
Thế chú không biết nó là con con mẹ hàng xôi chè, làm đầy tớ nhà mình không
đáng hay sao?
Vừa
dứt lời, bỗng có tiếng chạy rầm rầm lên thang gác, mà dưới nhà, người kêu thất
thanh:
-
Ôi trời ôi! Cô Nga làm sao thế này!
Ông
Phủ, bà Phủ, ông Tham, bà Tham, giật mình quay lại:
-
Bẩm cô Nga làm sao ấy ạ.
Mọi
người chạy ồ xuống, run lẩy bẩy. Bà Tham hét mở cửa.
Nga
nằm bất tỉnh nhân sự, còng queo dưới đất, hai mắt trợn ngược lên, mà đầu thì có
máu chảy ướt đẫm cả tóc, trông rất thảm thương.
Ông
Phủ nói không ra tiếng:
-
Chết thật! Con tôi điên đến nỗi đập đầu xuống gạch, trời ơi!
-
Bẩm, dễ cô con ngất đi nên ngã.
Bà
Phủ, bà Tham khóc sướt mướt.
Ông
Phủ sai mọi người vực Nga lên phản, và lay gọi.
Nga
vẫn thở phì phì, thỉnh thoảng nhăn mặt lại, và cố cựa.
Độ
mười lăm phút huyên náo, Nga hơi tỉnh lại. Rồi một lát, giương mắt, Nga nhìn hết
người này đến người nọ, rồi sờ lên đầu, cười khanh khách.
Thế
là Nga ngồi nhổm dậy, lấy tay đẫm vào máu, và trát đầy lên mặt. Trông Nga đáng
khiếp như một người bị thương. Bà Phủ kéo bà Tham đứng xa ra.
Nga
bắt đầu nói lảm nhảm.
-
Đâu? Anh Chi đâu? Chồng tôi đâu?
Rồi
hai tay khoanh như để bế con, Nga dỗ dành:
-
Nín đi, mợ đây mà. Chồng tôi bận học mãi không đến nhỉ. Ô hay! Ông Lê Lợi làm
gì tôi thế này!
Nói
đoạn vùng dậy, giơ quả đấm, hăng hái, trừng trừng nhìn ông Tham:
-
Chị không tha nó ra cho tôi à?
Rồi
ôm chặt lấy con vú, Nga kêu:
-
Mẹ mìn, ối ông đội sếp ơi!
Mọi
người sợ chạy tán loạn, ông Phủ gọi rầm rĩ:
-
Khóa cửa lại.
Nga
buông con vú ra, cười, và nhại:
-
Khóa cửa lại! Gớm, làm như nhà pha của anh không bằng! Tôi nói đùa đấy mà. Thầy
me ơi! Chú thím ơi! Nộp đơn cho con đi thi nhé!
Rồi
Nga nhảy nhót, hát hổng, độ mười lăm phút thì lên phản nằm.
Bà
Tham đứng ngoài khung cửa nhìn vào, thấy Nga yên lặng, mới đi ra buồng khách.
Ông
Phủ thở dài. Ông Tham nói:
-
Bẩm anh, em xin anh nghĩ kỹ lại. Cháu Nga đến lúc bệnh kịch liệt rồi. Nếu không
nghe Đốc tờ thì hỏng mất.
-
Gớm! Chú dai như đỉa đói. Lúc nào cũng Đốc tờ.
-
Bẩm anh, thằng Chi cũng là người. Dù có gả cháu Nga cho nó, cũng không là cái
nhục, vì nó tất có tương lai rực rỡ, không kém gì ai.
Ông
Phủ trỏ vào mặt em:
-
Chú bậy lắm. Ra anh không bảo được chú à?
Thế
rồi ai nấy đoán sẽ có một cuộc trừng phạt ông Tham lần thứ hai, quan trọng bằng
mười lần thứ nhất. Nhưng không, nói xong ông Phủ hầm hầm gọi:
-
Tài xế đâu? Sắp xe tao về.
Rồi
rất giận dữ, ông vùng vằng đi. Cả nhà sợ hãi. Bà Phủ và bà Tham nói sao, ông
cũng không trở lại nữa. Ông bảo:
-
Tôi không ngờ đâu có đứa bướng bỉnh dại dột thế! Tôi xấu hổ lắm. Không dạy được
em, thì tôi về. Bà cũng liệu mà về, và cũng đem con Nga về. Tôi không có anh em
với nó nữa.
Xe
ông Phủ đi, ông Tham lắc đầu thở dài. Bà Phủ nhăn nhó, vừa lo lắng vừa buồn bã,
lên gác nằm khóc.
Bà
Tham trách chồng:
-
Cậu làm anh giận, phiền quá!
Ông
cương quyết đáp:
-
Anh gàn lắm! Anh giết con Nga.
Rồi
nghĩ ngợi một chút, ông rỉ tai bảo vợ:
-
Cứ thế này mà để trông thấy nó chết, thật tôi không đành tâm. Tôi nhất định cứ
theo ý tôi. Tôi sẽ gọi thằng Chi đến. Nếu đến thế mà con Nga không khỏi, hãy
nên chịu phép trời.
Bà
Tham lo sợ, đáp:
-
Nhưng chị Phủ không nghe thì sao?
Ông
Tham cắn môi nhìn xuống để nghĩ kế. Bỗng ông tươi tỉnh nói:
-
Được, không khó gì. Tối hôm nay, mợ khuyên chị nên đi lễ. Mợ sẽ đi với chị lên
Yên Bái, Sơn Tây, và Ninh Bình, Thanh Hóa, các nơi có các đền có tiếng là
thiêng. Hãy cứ đi vắng dăm ba hôm một; tôi sẽ nhân lúc ấy gọi thằng Chi đến. Nếu
có kết quả hay, mợ lại mời chị đi lễ một lần nữa. Cứ thế trong một tháng xem
sao nào.
Bà
Tham nghe hiểu, đắc chí, nói:
-
Vậy cậu ở nhà, nên lo liệu. Nhưng phải dặn dò đầy tớ, cấm ngặt chúng nó không đứa
nào được nói nửa lời.
Đoạn
ông viết giấy về phủ, xin lỗi anh rằng mình quá dại dột, và cam đoan từ nay
không nghe Đốc tờ. Ông xin phép cho bà Phủ cùng Nga ở lại Hà Nội để chữa bằng
thuốc ta.
➖➖➖

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét