2026-03-28

AQ chính truyện (6) - Lỗ Tấn

AQ chính truyện (6)


Lỗ Tấn

 

Người dịch: Đặng Thai Mai và Trương Chính

Nhà xuất bản Văn học, 1963

~

Bản tiếng Anh: “The True Story of Ah Q”

Translated into English by George Kin Leung

The Commercial Press, Limited, Shanghai, China, 1927

~

 

VI. LÊN VOI XUỐNG CHÓ

Mãi đến trung thu năm ấy, làng Mùi mới lại thấy bóng AQ ... Cả làng ngạc nhiên bảo nhau: AQ đã về! Bấy giờ người ta mới có kẻ tự hỏi: Lâu nay nó đi đâu nhỉ? Xưa kia, mỗi lần lên huyện về, AQ vẫn hớn hở chuyện trò với mọi người. Nhưng lần này, không thế. Vì vậy không ai chú ý đến. Dễ thường AQ cũng có thỏ thẻ một vài câu với lão từ đền Thổ Cốc, nhưng lệ thường ở làng Mùi, chỉ có những lúc nào Cụ Cố họ Triệu, Cụ Cố họ Tiền, hoặc thầy Tú Triệu lên huyện kia thì người ta mới coi là việc quan trọng. Còn ngoài ra, cả lão Tây giả kia có đi về cũng chẳng ai quan tâm nữa là AQ! Vì vậy nên lão từ cũng không đồn đại gì về việc AQ đi cả, thành thử trong làng không ai biết mối manh gì.

Lần này AQ ở huyện về khác hẳn mấy lần trước. Trông y có vẻ là lạ. Trời đã nhá nhem tối. Y vào quán rượu, cặp mắt ngái ngủ. Y tới trước quầy, nắn trong lưng ra một tay đầy tiền đồng và bạc hào, xỉa ra và nói:

- Tiền mặt đây này, rượu đâu đưa ra đây?

Y mặc chiếc áo kép mới, lưng đeo một cái ruột tượng nặng trĩu làm cho cái thắt lưng sả hẳn xuống đằng trước thành một đường vòng cung. Ở làng Mùi, vẫn có cái thói hễ thấy ai hơi có máu mặt thì người ta vẫn nghĩ: đối với hạng người này thà kính trọng họ một chút còn hơn là tỏ vẻ khinh bỉ. Bây giờ, dù biết rằng vẫn là AQ đấy, nhưng không phải như thằng AQ với tấm áo rách dạo trước nữa. Cổ nhân có câu: “Sĩ biệt tam nhật, tiện đương quát mục tương đãi” (Chú thích của người dịch: Một câu danh ngôn của Lã Mông đời Tam quốc nói với bạn. Ý nghĩa: Ba ngày không gặp mặt một kẻ sĩ thì khi gặp lại, nên biết trọng đãi hơn mọi hôm, vì họ có thể tiến bộ khác trước nhiều rồi.)

Vì vậy mà cả làng Mùi, từ anh hầu sáng, ông chủ quán, khách uống rượu cho đến kẻ qua đường, đối với AQ ai nấy đều tỏ ra vừa ngờ vực vừa kính trọng. Bác chủ quán gật đầu luôn mấy cái rồi lạ trò chuyện vồn vã:

- Kìa A Q! Đã về đấy à?

- Vừa về xong.

- Phát tài chứ? ... Thế lâu nay ...

- Ở trên huyện mà!

Tin đó sáng hôm sau đã lan ra khắp làng. Cả làng ai cũng ước ao biết rõ lai lịch cái túi tiền và cái áo mới của AQ. Bởi vậy, ngoài quán rượu, trong tiệm trà cho đến dưới hiên đình, người ta chỉ trầm trồ dò la từng ấy chuyện. Kết quả là AQ lại được người ta trọng vọng thêm.

Theo lời AQ thì lâu nay y làm công ở nhà Cụ Cử trên huyện. Chỉ một chút đó cũng đã làm cho người nghe lấy làm kiêng nể rồi. Cụ Cử vốn là họ Bạch, nhưng vì cả vùng chỉ có một cụ là đậu cử nhân, nên trong lúc xưng hô, cũng không cần phải dùng chữ “Bạch” mào đầu lên trên hai chữ cử nhân nữa. Chỉ gọi cụ Cử là ai cũng hiểu rồi. Lối xưng hô này chẳng phải riêng gì cho làng Mùi. Chung quanh vùng này có trăm dặm đường đất, ai cũng gọi như vậy. Đến nỗi có nhiều người yên trí rằng cụ là họ Cử tên Nhân! Làm công ở nhà cụ Cử là một điều đáng trọng rồi, thế mà AQ còn nói: y không thích làm đó nữa vì cái cụ Cử này thật ra cũng “mẹ kiếp chúng nó” lắm! Mấy người được nghe câu chuyện này vừa tiếc rẻ vừa khoái chí. Khoái chí ở chỗ AQ không thèm làm việc với cụ Cử mà tiếc rẻ là sao lại không làm.

Vẫn theo lời AQ thì lần này y trở về làng một phần nữa cũng là vì y ghét bọn người trên huyện. Thì ví dụ chúng nó cứ gọi cái ghế dài kia là tràng kỷ, lại như lúc rán cá chúng nó cứ gia vị bằng nhánh hành. Nhất là cái thói xấu y vừa khám phá ra, tức là cái kiểu bọn đàn bà con gái lúc chúng nó đi đứng cứ ưỡn ẹo trông đến khó coi. Tuy vậy, AQ cũng nhận rằng: trên huyện cũng có những điều đáng phục. Tức như ở làng Mùi đánh bài thì chỉ biết chơi thứ bài ba mươi hai con, và chỉ có một mình lão Tây giả là biết chơi “mạt chược”. Mà trên huyện thì đứa oắt con mới nảy mũi ra cũng chơi mạt chược thạo rồi! Cứ để chú Tây giả ở làng đánh thử với một thằng ranh con trên ấy thì lập tức thấy rằng chả khác gì “quỉ sứ vào điện Diêm vương”! Câu chuyện này những kẻ được nghe ai cũng đều lấy làm xấu hổ.

- Này, các bác đã thấy chặt đầu người hay chưa nhỉ? Úi chào! Vui lắm! Giết tụi cách mạng ấy mà! Úi chao chao! Vui, vui quá cơ!

AQ vừa nói vừa lắc lư cái đầu, nước bọt cứ bắn vào mặt bác Triệu Tư Thần đứng trước y. Câu chuyện chặt đầu này, ai nghe cũng phải rùng mình rởn gáy. Nhưng AQ lại nhìn quanh quất một hồi, bỗng dang cánh tay phải ra, nhằm vào cái cổ cò hương của lão Vương Râu đang đứng nghe chăm chú bổ ngay vào gáy:

- S ... sật!

Lão Vương Râu hết hồn hết vía thụt ngay cả đầu lẫn cổ xuồng, nhanh như chớp nhoáng, như đá tóe lửa, trong lúc đó thì người nghe đứng xung quanh vừa sợ hãi, vừa thích thú. Sau đó, có mấy ngày trời, lão Vương Râu vẫn còn choáng váng cả đầu óc, nhất định không dám lại gần AQ nữa; những người khác cũng vậy.

Trước con mắt dân làng Mùi lúc bấy giờ, địa vị AQ dù chưa có thể nói rằng oai hơn Cụ Cố họ Triệu, nhưng nói xấp xỉ thì cũng chẳng sai bao nhiêu.

Chẳng bao lâu, danh tiếng AQ đã lừng lẫy đến trong chốn khuê phòng làng Mùi. Thực ra, trong làng Mùi chỉ có hai nhà có thể gọi là khuê phòng: ấy là nhà họ Triệu và nhà họ Tiền. Ngoài ra chín phần mười, chả nhà nào là có khuê phòng cả; nhưng buồng đàn bà con gái nào mà chẳng gọi là khuê phòng? Cho nên danh tiếng AQ đồn đại khắp khuê phòng cũng cho là một sự lạ đi! Các bà hễ gặp nhau là trầm trồ những chuyện như là: thím Bảy Trâu vừa mua lại của AQ được một chiếc quần lụa màu xanh lam, cũ một tí, nhưng “chỉ có chín hào bạc thôi!”, hoặc là bà mẹ bác Triệu Bạch Nhẫn - một tin khác nói chính là bà mẹ bác Triệu Tư Thần cơ, chứ không phải là bà mẹ bác Triệu Bạch Nhẫn, chưa có tin nào đúng hơn, chờ kiểm tra lại đã - cũng mua được một cái áo trẻ con bằng vải sa tây điều còn khá mới, mà chỉ có ba quan tiền, cứ chín mươi hai đồng ăn một quan! Thế rồi các bà người nào cũng cứ mong gặp AQ, người thiếu quần lụa thì mong hỏi quần lụa, người thiếu áo sa tây thì lăm le mua áo vải sa tây. Thấy AQ, không những họ không trốn tránh nữa mà thậm chí lại có nhiều lúc AQ đi đã khá xa rồi, họ còn chạy theo, gọi đứng lại để hỏi: “Chú AQ này, còn cái quần lụa nào nữa không! Hết cả rồi à? ... Thế, áo vải tây điều cũng được. Còn đấy chứ? ...”

Câu chuyện dần dà từ chốn khuê phòng vào đến chốn khuê các. Số là trong lúc đắc ý, thím Bảy Trâu đã đem chiếc quần lụa lên trình cụ Cố bà họ Triệu xem qua. Cụ Cố bà lại nói lại với cụ Cố ông và cứ khen lấy khen để. Ngay tối hôm ấy, ngồi trước mâm cơm, cụ Cố ông đưa chuyện đó ra thảo luận cùng cậu Tú, rồi cho rằng: cái thằng AQ này nhất định là có những sự tình khả nghi, chúng ta cửa ngõ cũng nên cẩn thận một tí ... Nhưng chả biết nó còn có gì mua được nữa hay không? Có lẽ cũng còn có thứ tốt đấy. Phần thì hiện nay cụ Cố bà còn cần một cái áo gi-lê thứ tốt nhưng phải cho rẻ.

Cuộc hội nghị gia tộc họ Triệu quyết định sẽ nhờ thím Bảy Trâu lập tức đi tìm AQ cho được. Do đó, mới có ngoại lệ thứ ba này nữa: tối hôm ấy được phép chong đèn chờ AQ đến.

Đĩa dầu vơi mãi, vơi mãi ... AQ vẫn chưa đến. Cả nhà họ Triệu đều đã sốt ruột, ngáp lên ngáp xuống. Kẻ thì trách AQ hững hờ, người thì oán thím Bảy chậm chạp. Cụ Cố bà những ngại rằng câu chuyện dạo mùa xuân độ nọ có lẽ làm cho AQ sợ phạm vào một điều khoản trọng yếu trong tờ cam đoan mà không dám đến chăng ... Nhưng cụ Cố ông bảo: không ngại gì, vì chính “ta” truyền gọi nó kia mà! Thì ra, cụ Cố ông là người cao kiến có khác! Quả nhiên, một lát sau, AQ cùng thím Bảy Trâu đã ở ngoài cửa bước vào. Thím Bảy thở hồng hộc, chân bước miệng nói:

- Chú ấy cứ chối đây đẩy một không có, hai không có. Con thì con nói: Không biết! Chú cứ đến mà bẩm với hai cụ. Chú ấy còn nói ... Con thì con nói ...

Dưới thềm, AQ toét miệng ra một cái, giống như cười, nhưng vẫn không phải là cười, rồi nói to:

- Cụ ạ!

Cụ Cố vừa nói vừa bước tới gần AQ, đưa mắt nhìn y từ đầu đến chân:

- AQ này, nghe nói độ ngày mày đi ra phát tài lắm phải không? Thế thì tốt, tốt lắm. Này! À mà nghe nói mày còn một ít đồ cũ ... Còn bao nhiêu cứ đưa đây xem xem ... Này! không có ý gì đâu ... Chả là ta cần dùng ...

- Con vừa bảo thím Bảy đấy! Hết cả rồi.

- Hết rồi kia à?

Giọng cụ nghe như thất thanh:

- Sao đã hết chóng làm vậy?

- Chả là gặp chỗ quen biết ... Vả lại có bao nhiêu đâu ạ! Anh em họ giật hết.

- Chắc cũng còn một ít chứ?

- Giờ chỉ còn một bức nghi môn thôi ạ!

Cụ Cố bà lật đật nói:

- Thế thì đưa đến cho xem vậy!

Cụ Cố ông có vẻ lãnh đạm:

- Vậy thì sáng mai! Cứ đưa đến đây nhé. Này, AQ này, từ rày, bất cứ đồ lề gì, hễ có là cứ đưa đến đây, ta xem trước nhé...

Cậu Tú nói:

- Đây không bao giờ trả rẻ đâu mà! Nghe chưa?

Mợ Tú vội liếc nhìn nét mặt AQ xem nó có chú ý gì đến lời cậu Tú hay không.

Cụ Cố bà nói:

- Ta cần mua một cái áo gi-lê.

AQ miệng vâng vâng dạ dạ, nhưng lại uể oải lùi ra về. Cũng chẳng ai biết y có nhớ cho hay không, thành ra cụ Cố ông cũng vừa thất vọng, vừa bực mình, vừa lo ngại, đến nỗi quên không ngáp dài nữa. Cậu Tú cũng bất bình với thái độ của AQ, nói:

- Cái thằng Oẳng pa tàn này, phải coi chừng! Hay là gọi ngay lão khán đến bảo phải đuổi ngay đi, không cho ở trong làng nữa là hơn hết!

Nhưng cụ Cố ông cho rằng không nên làm thế, sợ nó lại thù oán lôi thôi. Vả lại xưa nay những đứa làm nghề ấy chả bao giờ chúng nó làm thói “gà què ăn quẩn cối xay”, vậy nên làng ta chẳng ngại gì sự đó. Còn nhà mình thì ban đêm ngủ cho tinh tỉnh một tí là được rồi. Nghe bấy nhiêu lời nghiêm đường dạy, cậu Tú rất tán thành, vì vậy cậu cũng lập tức thủ tiêu đề nghị đem AQ “trục xuất cảnh ngoại”. Một mặt khác, cậu ân cần dặn dò thím Bảy Trâu nhất thiết không để cho câu chuyện hôm nay tiết lộ ra ngoài.

Nhưng ngày hôm sau, lúc thím Bảy đem chiếc quần đi nhuộm đen thì thím lại đem cả những chỗ khả nghi về AQ rêu rao với mọi người. May mà thím không nhắc nhở gì đến chuyện cậu Tú có ý “trục xuất” AQ. Nhưng thế cũng đã là một điều bất lợi cho AQ rồi! Trước hết, bác khán tìm ngay vào nhà y lấy quách bức nghi môn. Y cố biện bạch rằng, cái bức nghi môn đó Cụ Cố bảo phải đem lên trình cụ xem đã, nhưng bác khán vẫn nhất định chiếm lấy. Bác lại nhân dịp này vòi thêm một ít “tiền rượu” hàng tháng nữa. Một sự thiệt thòi khác cho AQ là từ hôm ấy về sau, lòng kính nể và sợ sệt của dân làng Mùi đối với y cũng giảm bớt nhiều. Tuy chưa dám khinh ra mặt đâu, nhưng xem có ý đã không muốn lại gần y nữa. Không muốn gần y không phải vì sợ đánh “sật” một cái vào gáy như trước, mà là người ta chỉ “kính nhi viễn chi” nữa thôi.

Một bọn vô công rồi nghề lại cố đi dò xét về AQ cho ra manh mối. Thì AQ cũng chả giấu giếm gì ai cả! Y cứ ngạo nghễ nói toạc tất cả những điều y đã làm. Do đó, người ta mới biết y chẳng qua chỉ là một vai phụ không có gan trèo tường mà cũng không có gan chui ngạch. Y chỉ đứng ở mé ngoài chuyền đồ ra mà thôi. Và, có một đêm, y vừa bệ được một cái gói, còn lão trùm đang chui vào một lần nữa, thì trong nhà hô hoán lên; thế là y chuồn thẳng, và ngay đêm ấy, lập tức bỏ huyện về tuốt làng Mùi. Rồi từ đấy trở đi, y cũng giải nghệ luôn nốt. Đoạn tiểu sử này càng làm tai hại cho danh giá AQ. Số là xưa nay dân làng Mùi còn giữ cái thái độ “kính nhi viễn chi” với AQ chỉ vì lo y thù hằn. Ai ngờ chẳng qua y chỉ là một thằng ăn trộm mà lại không có gan đi ăn trộm nữa thì quả thật không có gì đáng sợ.

➖➖➖

Phần tiếng Anh

The True Story of Ah Q (1927)

by Lu Xun, translated by George Kin Leung

---

Chapter VI

His rise and fall

The next time Weichuang saw Ah Q, it was just past the midautumn of the year. On speaking of Ah Q's return, the people were astonished and would review the past, saying, “Where has he been heretofore?” When about to go to the city on former occasions Ah Q had enthusiatically told others about it, but it was not so on this occasion; therefore, no one had paid any attention to his going. He may have informed the old man who took charge of T'uku Temple, but according to the old customs of Weichuang, only the departure of the Venerable Messrs. Chao and Chin and the Hsiu-t'sai would constitute an event worth mentioning. If the “False Foreigner” were not worthy of consideration, what then of Ah Q? Thus, the old man would not have spread the report for him, and so the inhabitants of Weichuang would have had no means of knowing about this particular visit.

But on this occasion Ah Q's return was vastly different from those in the past and was, in truth, worthy of the astonishment it caused. The heavens had just begun to darken when he, seeing indistinctly before him, appeared before the door of the wine shop. Approaching the counter, he thrust out from his loins a handful of silver and coppers, which he tossed upon the counter, saying, “Cash, bring on the wine!”

He wore a new lined jacket, while from his loins hung a large purse, which with its great weight sagged his trouser-string into a very sharp loop. In accordance with the old established customs of Weichuang, a newcomer of imposing appearance was to be treated with respect rather than with disdain; and in this present case, although it was obvious that this was Ah Q, still, because of the slight difference from the Ah Q of the tattered jacket—the Ancients say: “When a scholar has been absent from his village for three days, he is treated with increased honor” — the waiters, the cashier, the patrons, and the passers-by unconsciously revealed a kind of respect commingled with suspicion.

The cashier first nodded his head and followed the nod with the words: “Hello, Ah Q. You've come back?”

“I've come back!”

“Good fortune, good fortune! You've been—”

“— in the city!”

On the following day, this bit of news had spread throughout the entire length of Weichuang. Every one was anxious to know just how Ah Q, with his ready cash and new lined jacket, had attained his prosperity. So it came about that in the wine shop, in the tea shop, and in the temples, there were stealthy and eager ears which gradually gathered the news. The result was that Ah Q attained a new status of respect and admiration.

According to his own accounts, he had been employed in the household of Chü-jen Lao-yeh, which part of the narrative filled his listeners with awe. This Lao-yeh's surname was originally Pai, but, due to the fact that the whole city contained only one Chü-jen, it accordingly came about that his surname was not added to his title. Whenever Chü-jen Lao-yeh was mentioned, he alone was the person referred to. It was not as if this condition held true merely for a place the size of Weichuang, but it held good for a region within a radius of one hundred li, where the people almost believed that his name actually was Chü-jen Lao-yeh. Now a person in the employ of such a household ought to inspire respect, but according to Ah Q's further accounts, he no longer deigned to hold this position because this Chü-jen Lao-yeh was really too hateful. This part of the tale caused his hearers to sigh with sympathy, but secretly made them feel glad because Ah Q was unfitted to help in the household of Chü-jen Lao-yeh; but the fact that Ah Q did not help his employer was to be pitied.

It seemed, according to the account given by Ah Q, that the reason for his return was due to his dislike of urbans because they called a long bench a tiao bench and because they used finely shredded scullion as a garnish for fried fish; and added to this, the latest fault he discovered was that the women did not sway at all gracefully in their walking.

But more than that, he had found still another reason which demanded great respect of him; to wit, while the villagers of Weichuang played with thirty-two bamboo dominoes and only the “False Foreigner” could play mah-jong, even the street urchins in the city could play mah-jong with exceeding great skill, and it would only be necessary to place the “False Foreigner” in the hands of these “dark turtles” and he would straightway become the humble shade abasing itself before the King of Hades.[10] This part of the tale also made his hearers blush.

“Have you folks ever seen a decapitation?” Ah Q asked. “Whee, it's a fine sight . . . slaughtering the Revolutionists. Whee, an interesting sight, a grand one . . . ,” he would continue, his head swaying about, while the spittle from his mouth sprayed across to the cheek of Chao Szu-ch'ên, who was directly opposite him. This part of the account filled his auditors with trembling. Gazing about, Ah Q had suddenly lifted his right hand when he beheld Wang-hu, who, completely mesmerized by his interest in the tale, had stretched forward his neck. Ah Q straightway let his hand down upon the curve of Wang-hu's neck and cried, “Tutt!”

Wang-hu jumped with alarm, withdrew his neck with the speed of lightning or flint; even the other listeners shivered with delight. Wang-hu remained bewildered for some days; and furthermore never again dared to come near Ah Q. Others acted likewise.

In regard to the position occupied by Ah Q in the eyes of the Weichuangites at this time, although we dare not say that his position surpassed that of the Venerable Mr. Chao, still we must confess that this was about the state of affairs. Roughly speaking, we have not made much of a misstatement.

It was not long before Ah Q's great name was conveyed into the private apartments of the fair sex of Weichuang. Although in Weichuang there were only two large households, namely, those of Chin and Chao, and aside from these, nine out of ten were poor homes, still, women's apartments are, in the end, women's apartments; consequently, this affair may be considered a matter extraordinary. On meeting, women would say: “Tsou Ch'i-sao bought a blue silk skirt from Ah Q; although it had been worn, yet, it cost only ninety cents. Then there was the mother of Chao Pai-yen — some one said it was Chao Szu-ch'ên's mother, but this is subject to further investigation — purchased a child's suit of red foreign cloth, seven-tenths new, for the small sum of three hundred coppers and ninety-two cash.”

They would therefore peer about for Ah Q with longing eyes. Those who needed silk skirts, wished to ask him to sell them silk skirts; those who wanted garments of foreign cloth, wished to ask him to sell them garments of foreign cloth. Not only did they no longer evade him, but there were times when he had already passed by that they would run calling after him as they asked: “Ah Q, have you still some silk skirts or not? We need garments; have you any?”

It afterwards came about that this bit of news seeped from the poor households to the wealthy ones, because, in her happy satisfaction, Tsou Ch'i-sao had taken her silk skirt to Mrs. Chao's for inspection. Mrs. Chao spoke of the matter to her husband, the Venerable Mr. Chao, and put in a word of praise. Furthermore, at the dinner table, the Venerable Mr. Chao held a discussion with his eldest son, the Hsiu-t'sai, in which he intimated that there was something mysterious about Ah Q and added that they should be careful to keep their doors and windows locked. Yet, with all that, they wondered whether he still had any more goods for sale; perhaps, there might be something good left over; and what was more, Mrs. Chao was just thinking of purchasing a high quality and low-priced fur vest. Having held a council, the family, therefore, immediately sent Tsou Ch'i-sao to seek Ah Q; and for this reason brought into effect for the first time the third new exception to an established rule; namely, that on this evening, it would be permissible to light the lamps.

Not a little lamp oil had been burned, but still Ah Q had not arrived. All the female members of the Chao household were very impatient and kept yawning, some complaining that Ah Q was too changeable, others angry that Tsou Ch'i-sao had not taken her mission seriously. Mrs. Chao feared that Ah Q did not dare to come on account of the agreements he had made in the spring, but the Venerable Mr. Chao considered this no reason for worry because, in this instance, as he said, “I sent for him.” In the end, the Venerable Mr. Chao's wide experience proved him an unerring judge, for Ah Q eventually came, following Tsou Ch'i-sao.

“He just says, 'I have no more, have no more.' I told him, 'You had better go tell them yourself,' but he still would insist on saying, 'I say . . .'“ gasped Tsou Ch'i-sao as she ran in.

“Venerable Sir!” murmured Ah Q, seeming to smile and yet not smiling, as he stood under the eaves.

“Ah Q, we've heard that you've made a fortune yonder,” began the Venerable Mr. Chao, walking out and eying the newcomer from head to foot. “Very fine, indeed, very fine. This . . . We have heard that you have some old goods . . . We should like you to bring them to show us . . . There is no other reason for this request excepting we want . . .”

“I have already told Tsou Ch'i-sao that all has been sold.”

“Sold out?” The Venerable Mr. Chao's voice dropped unconsciously in disappointment as he went on, “How could your goods have been sold out so quickly?”

“The things, which belonged to my friend, were not many in the first place. Others have purchased more or less and . . .”

“But even so, there should be something left.”

“At present there is a door curtain left.”

“Then, bring along the door curtain,” muttered Mrs. Chao in her confusion.

“It will do to bring it to-morrow,” the Venerable Mr. Chao weakly insisted. “Hereafter, Ah Q, should you ever have anything whatsoever, you may bring it to show us first . . .”

“And the prices we will offer will in nowise be lower than those others would give,” added the Hsiu-t'sai. The wife of the Hsiu-t'sai glanced anxiously at Ah Q's cheek to see whether he would be influenced or not.

“I need a fur vest,” murmured Mrs. Chao plaintively.

Although Ah Q promised to do what he could for them, he walked out lazily and indifferently and it could not be ascertained whether he had taken the matter seriously or not. This caused the Venerable Mr. Chao to lose all hope; and so intense was his chagrin and anger that they put a stop to his yawning. So highly displeased was the Hsiu-t'sai with Ah Q's attitude toward them that he accordingly said, “We should take protective measures against that bad egg of a dark turtle; perhaps there is nothing so good as to tell the ti-pao not to permit him to live in Weichuang.” But the Venerable Mr. Chao did not agree with him, explaining that he feared such action might make an enemy; furthermore, that one who was “in the business” most likely would not steal in his native haunts, just as the eagle does not eat the things in its own nest, that the village need not worry, and that a little watchfulness and precaution at night would be all that was necessary. Having listened to his father's advice, the Hsiu-t'sai fell into hearty agreement with the idea and immediately put away the intention of driving Ah Q away; moreover, he strictly warned Tsou Ch'i-sao not to mention his words to others.

But on the following day, Tsou Ch'i-sao had her blue skirt dyed black, and also spread abroad the suspicion which hovered about Ah Q. Although she did not actually mention the fact that the Hsiu-t'sai wanted to drive him away, still, what she did say had a most unfavorable affect upon Ah Q. First of all, the ti-pao came to his door and took away the curtains. When Ah Q explained that Mrs. Chao wanted to see them, the ti-pao did not return them, but furthermore demanded a certain sum of money each month as a present. Next, the awesome respect of the villagers underwent a sudden change. Although they did not dare to make light of him, they seemed to avoid him assiduously, and this attitude, compared with their former fear of his “tutt,” bore a marked difference and was mixed with a savor of “respect at a distance.”

One group remained who still persisted in hounding Ah Q's affairs to the very depths. But Ah Q made no attempt whatsoever to conceal his past, and proudly told of his experiences without reserve. Thereafter, they knew that he was only an inconsequential member of a thieving gang, who was not only unable to scale a wall but could not even enter an opening, merely standing at the entrance to receive the goods.

It was on a certain evening when he had just received a package and his robber lieutenant had gone in again that he heard loud clamors from within, and dashed away with all speed. He crept out of town before the night had passed, and escaped back to Weichuang. Henceforth, he did not dare to return to the work again. This story, however, had even more of an unfavorable effect upon Ah Q's reputation. As for the villagers' attitude of “respect at a distance” they feared first of all lest they incur his enmity. How was it to be known that he was a thief who did not dare to steal again? He was, in truth, unworthy of being feared.

---

Notes

10. Utter defeat is meant.

➖➖➖

 

2026-03-14

AQ chính truyện (4) - Lỗ Tấn

 2026-03-14

AQ chính truyện (4)


Lỗ Tấn

 ~

Người dịch: Đặng Thai Mai và Trương Chính

Nhà xuất bản Văn học, 1963

~

Bản tiếng Anh: “The True Story of Ah Q”

Translated into English by George Kin Leung

The Commercial Press, Limited, Shanghai, China, 1927

~

IV. BI KỊCH TÌNH YÊU

Có kẻ nói rằng: nhiều người thường ước ao gặp được đối thủ của mình khỏe như cọp, dữ như cắt, có thế thắng trận mới thỏa thích. Nhược bằng yếu như cừu, như gà con, thì dù có thắng cũng vô ích. Lại còn có những người, lúc thắng rồi, mắt nhìn thấy kẻ thù của mình hồi trước, bây giờ đứa chết cũng đã chết rồi, đứa hàng cũng đã cúi đầu van xin “cắn cơm, cắn cỏ” rồi, thì trên đời không ai là địch thủ với họ nữa, không ai chống chọi với họ nữa, không ai là bạn bè, là lứa tác với họ nữa, chỉ một mình vò võ, chẳng ai hơn, tự khắc họ cảm thấy lạnh lùng, cô đơn, hiu quạnh, và cũng cảm thấy nỗi đau đớn của sự thắng trận. Nhưng AQ của chúng ta thật chưa hề cảm thấy có cái trạng thái hiu quạnh nói trên. AQ là một người bao giờ cũng hớn hở tự đắc. Phải chăng đó chính là cái biểu hiện đủ chứng tỏ rằng: văn minh tinh thần của Trung Hoa nhà ta quả là bậc nhất trên hoàn cầu?

Thì các người xem: AQ lòng đang phơi phới kia kìa!

Tuy nhiên, cuộc thắng trận này có làm cho AQ cảm thấy trong tâm hồn y khang khác thế nào ấy! Y nhẹ nhàng rảo bước trên con đường làng một lúc lâu rồi hớn hở đi về đền Thổ Cốc. Lẽ ra, theo lệ thường, AQ đã ngả lưng ra kéo khò khò một giấc rồi; ai ngờ hôm ấy, y lại không tài nào nhắm mắt được. Y cảm thấy đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ có cái gì là lạ: nghe nó cứ nhờn nhờn khác mọi hôm! Phải chăng trên gò má cô tiểu hồi nãy có tí dầu tí mỡ gì đã dính vào đây? Hay là chỉ vì sờ vào gò má cô tiểu mà bây giờ trơn lỳ như thế này! ...

“Cha thằng AQ, đồ tuyệt tự!”

AQ còn như văng vẳng bên tai bấy nhiêu tiếng chửi. Y nghĩ bụng: “Phải rồi, đã là đàn ông thì phải có một người vợ. Tuyệt tự thì rồi ai cúng cơm cho. Phải có một người vợ. Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại.” Mà làm cái kiếp quỷ đói như Nhược Ngao ngày xưa thì trong đời người còn gì thảm thiết bằng! Kể ra ý nghĩ này của AQ thật đúng với kinh truyện thánh hiền thủa trước hết sức. Chỉ tiếc một điều là từ nay trở đi, AQ không tài nào kiềm chế nổi cái “nỗi lòng canh cánh” của y nữa!

AQ mơ màng:

“Đàn bà! ... Đàn bà! ...”

“Sư cụ sờ được! ... Chao! ... Đàn bà! ... Đàn bà! ... Đàn bà! ...”

AQ vẫn mơ màng ...

Chả ai biết tối hôm ấy, AQ mãi đến mấy giờ mới ngáy; nhưng đại khái là sau lúc nhận thấy hai đầu ngón tay nhờn ướt như vậy thì y cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng, phơi phới hẳn lên.

“Đàn bà!” AQ vẫn cứ mơ màng.

Chỉ chừng ấy, chúng ta cũng đã biết cái giống đàn bà nó nguy hiểm là dường nào rồi!

Đàn ông nước Trung hoa nhà mình phần đông vốn có thể thành ông thánh ông hiền cả. Chỉ tai hại vì một lũ đàn bà mà thành ra hỏng hết! ... Nhà Thương xưa kia vì một con Đát Kỷ mà mất nước nhé! ... Rồi đến nhà Chu cũng vì một con Bao Tự mà tan nát cơ đồ nhé! Đến như nhà Tần ... tuy sử sách không hề chép phân minh, nhưng chúng ta cũng cứ cho là bởi vì đàn bà đi ! ... Vị tất đã sai. Lại còn Đổng Trác nữa, thì rõ ràng là bị con Điêu Thuyền hãm hại đứt đi rồi! ...

AQ vốn là người hiền lành trung hậu. Chúng ta không biết rõ y có từng được một vị tôn sư nào dạy lễ nghĩa cho hay không, nhưng đối với cái đạo “nam nữ hữu biệt” thì y xưa nay vẫn giữ nghiêm lắm. Một mặt khác, đối với dị đoan, tà thuyết, như đối với cô tiểu và chú Tây giả chẳng hạn, thì thật y có cái “chính khí” không hề dung thứ bao giờ! Học thuyết của y có thể tóm tắt như sau: phàm là tiểu thì nhất định có tư tình với sư cụ, và phàm là đàn bà con gái mà đi ra đường thì nhất định đi ve trai; người đàn ông đang trò chuyện cùng người đàn bà đằng kia thì tất là có tằng tịu gì rồi chứ chẳng không! Để trừng trị lũ chúng nó, AQ vẫn luôn luôn lườm chúng nó bằng một cặp mắt dữ tợn, hoặc cố ý nói to lên mấy câu “thọc gan” cho chúng nó “chết cả ruột đi được”; còn nếu ở chỗ hẻo lánh thì y lén ra đằng sau ném cho một hòn sỏi vào lưng!

Thế mà ai ngờ sắp đến tuổi “nhi lập” rồi, AQ lại bị một cô tiểu ám hại làm cho tâm hồn cứ phơi phới lên. Xét theo lễ giáo thì tâm hồn phơi phới lên vì một người đàn bà thật là điều không nên có, cho nên đàn bà quả là đáng ghét! Giá như hôm ấy, cặp má cô tiểu không có chất gì nhờn nhờn thì AQ đâu đến nỗi như người bị bùa mê? Hay là giá cặp má cô ta có một lần vải che hẳn đi thì có lẽ AQ cũng không phải mê mẩn rồi! Năm sáu năm về trước, trong một rạp hát chật ních người, có một lần AQ đã véo vào đùi một mụ nào, nhưng vì còn có manh quần, nên không đến nỗi mê mẩn như hôm nay. Đằng này con tiểu kia lại không biết che đậy đi như thế cho; điều đó đủ thấy dị đoan thật là khả ố!

AQ vẫn cứ mơ màng: “Đàn bà! ...”

Đối với bọn con gái mà y cho là “nhất định chỉ đi ve trai”, AQ đã nhiều lần để ý đến chúng nó xem sao. Nhưng chúng nó tuyệt nhiên chưa hề cười với y bao giờ cả. Và trong lúc trò chuyện với đàn bà, y đã cố ý chờ đợi ... thế mà chúng nó cũng tuyệt nhiên không nói đến chuyện tằng tịu nọ kia! ... A! Đó cũng là một điều làm cho đàn bà đáng ghét thật, chúng nó chỉ toàn là đạo đức giả cả.

Hôm đó, AQ ở nhà Cụ Cố họ Triệu, giã gạo một ngày trời. Ăn cơm tối xong, y ngồi hút thuốc dưới nhà bếp. Nếu làm công ở nhà nào khác thì ăn cơm tối xong là y đi về nhà. Nhưng ở nhà Cụ Cố, cơm tối lại ăn sớm hơn các nhà khác. Ngày thường ở nhà này ăn cơm xong là đi ngủ ngay, lệ không được đỏ đèn. Chỉ có hai trường hợp đặc biệt: một là ngày cậu Tú còn chưa thành đạt thì tối lại, cậu có thể đỏ đèn lên sôi kinh nấu sử; hai là lúc nào AQ đến làm công thì cũng được phép đỏ đèn lên mà giã gạo đêm. Vì cái ngoại lệ này nên hôm ấy, trước lúc đi giã gạo, AQ còn ngồi hút thuốc.

Vú Ngò, người ở gái duy nhất trong nhà Cụ Cố họ Triệu, rửa bát đĩa xong cũng tréo mảy ngồi trên chiếc ghế dài mà nói mấy câu chuyện xì xằng với AQ.

- Cụ bà ấy mà, hai hôm nay không ăn một hột cơm nào đâu nhé! Chả là cụ ông muốn mua nàng hầu ...

AQ nghĩ bụng: “Đàn bà! ... Con vú Ngò, con mẹ gái góa này nó cũng ...”

- Mà mợ Tú cũng đến tháng tám này thì ở cữ đấy nhé! ...

AQ vẫn mơ màng:

“Đàn bà! ...”

Buông ống điếu xuống, AQ đứng dậy. Vú Ngò còn nói lải nhải:

- Mợ Tú nhà ta ...

Bỗng AQ xông tới quỳ sụp xuống trước mặt mụ:

- Chúng ta cùng nhau ... chúng ta ... nào!

Im phăng phắc trong chốc lát.

“Ối giời ơi là giời ơi!” Mụ vú ngẩn đi một lúc, bỗng run cầm cập, chạy ra ngoài la to, mấy tiếng kêu sau cùng của mụ nghe hình như xen lẫn trong tiếng khóc.

AQ quỳ trước bức tường cũng ngẩn ngơ một lúc rồi hai tay vơ quàng lấy cái ghế không, từ từ đứng dậy, tựa hồ cảm thấy có điều gì không hay. Y thấp thỏm trong bụng, vội vàng nhặt cái tẩu thuốc, giắt vào thắt lưng, định đi giã gạo thì “đốp” một tiếng, rồi nghe như tuồng đòn cứ đánh một thôi vào đầu. Y vội quay lại, đã thấy cậu Tú đứng trước mặt, tay cầm một cái đòn tre to tướng.

- Đồ làm giặc! Thằng này, mày ...

Cái đòn tre cứ nhắm đầu AQ mà bổ xuống. AQ đưa hai bàn tay lên ôm lấy đầu, thành ra đòn tre cứ đánh vào mấy đốt tay, đau nhói. AQ chạy thẳng ra khỏi nhà bếp, đòn tre vẫn bổ vào lưng một thôi khá lâu. “Oẳng pa tàn!” Cậu Tú dùng tiếng quan thoại chửi theo.

AQ chạy vào nhà giã gạo, đứng một mình, còn thấy ngón tay tê đi, và còn nhớ ba chữ: “Oẳng pa tàn!”... “Oẳng pa tàn!”. Câu chửi bằng tiếng quan thoại này ở làng mùi xưa nay chưa hề ai dùng, chỉ có những người tai mắt hay lui tới cửa quan mới dùng đến, cũng vì thế mà nghe có vẻ đáng sợ hơn tất cả những tiếng chửi khác, và do đó đã để lại trong đầu óc AQ một ấn tượng rất sâu sắc. Vả lại lúc đó, AQ cũng đã quên bẵng cái ý nghĩ về “đàn bà” lâu nay vẫn ám ảnh tâm hồn y. Nhưng sau trận đòn trận chửi đó, AQ cho câu chuyện như thế cũng gọi là yên đi, và cảm thấy chẳng có gì đáng lo nghĩ nữa. Y lại cứ đi giã gạo như thường. Giã được một chốc, y thấy bức, nghỉ tay, sẽ cởi áo ra.

Đang cởi áo thì nghe ngoài kia có tiếng xôn xao. Bình sình AQ vẫn thích xem những đám ồn ào. Tức thì y lần theo tiếng ồn ào chạy ra xe, cứ thế lần mò vào tận nhà Cụ Cố. Giời nhá nhem nhưng y cũng nhận thấy trong đám người tấp nập, xôn xao đó, có cả bà Cụ Cố đã hai ngày trời không có hột cơm nào trong bụng, cả thím Bảy Trâu nhà bên cạnh, cả hai bác Triệu Bạch Nhãn, Triệu Tư Thần, hai người bà con chính tông với nhà Cụ Cố.

Mợ Tú tay dắt vú Ngò ra khỏi buồng nhà dưới, miệng nói:

- Nào, vú cứ ra ngoài này, chuyện gì mà lẩn vào trong buồng định ...

Thím Bảy Trâu đứng cạnh cũng nói gom:

- Thì ai chả biết u là người chính đính? Không thể như thế mà lại định làm liều!

Vú Ngò chỉ nức nở khóc, miệng lẩm bẩm, chẳng ai nghe rõ ra cái gì cả.

AQ nghĩ: “Hừ vui quá! Con mẹ gái góa này định giở cái trò gì thế này?” Rồi chạy đến bên bác Triệu Tư Thần, có ý dò xem câu chuyện đầu đuôi thế nào. Bổng Cụ Cố Triệu vùn vụt chạy tới, tay cầm cái đòn tre to tướng. Thấy đòn tre đó, AQ sực nghĩ ra rằng câu chuyện này với trận đòn hồi nãy nhất định có dính dáng với nhau. Quay mình lại y định chạy trở về gian nhà giã gạo. Bất đồ chiếc đòn tre đã chắn ngang đường về. Thế là y lại quay trở lại, đâm đầu chạy thẳng, cố nhiên là lủi ra phía cửa sau. Không mấy chốc, y đã về đến đền Thổ Cốc.

Ngồi một hồi, AQ nghe tuồng như da thịt có vẻ rờn rợn và cảm thấy rét. Số là tuy đã sang xuân nhưng thời tiết ban đêm vẫn còn chưa lấy gì làm ấm, ở trần vẫn còn khó chịu. Sực nghĩ lại cái manh áo cộc còn nằm ở nhà họ Triệu, AQ muốn đi lấy về, nhưng lại sợ cái đòn tre của cậu Tú. Giữa lúc ấy, bác khán làng đã từ ngoài cửa bước vào.

- AQ! Con mẹ mày! Cả đến người ở nhà cụ Triệu mà mày cũng trêu ghẹo được, thật là mày làm giặc! Mày báo hại tao cả đêm hôm qua không nhắm mắt được tí nào! Con mẹ mày!

Rồi mắng cho một tràng như thế, vân vân ... AQ cố nhiên không hề cãi lại nửa lời. Cuối cùng, vì là ban đêm, nên món tiền đưa bác khán uống rượu cũng phải gấp đôi lên, những bốn quan. AQ không có một đồng tiền nào trong túi đành phải đem cái mũ lông cừu gán cho bác khán. Y lại còn phải ký một tờ cam đoan, thừa nhận năm khoản sau:

1. Sáng hôm sau, phải đem một cặp nến đỏ, thứ nặng một cân, và một bao nhang đến nhà Cụ Cố tạ tội.

2. Phải chịu hết tiền phí tổn biện lễ trừ “tà thắt cổ” cho nhà họ Triệu.

3. Từ nay trở đi, không được bén mảng đến nhà họ Triệu nữa.

4. Nếu sau này vú Ngò có việc gì bất trắc thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

5. Không được trở lại nhà Cụ Cố đòi tiền công giã gạo, và xin lại cái áo còn bỏ lại hôm trước.

Cố nhiên AQ phải nhận tất. Khốn một nỗi, y không còn một đồng xu nhỏ. Cũng còn may là đang mùa xuân nên cái mền bông cũng không cần cho lắm nữa. Y bèn đem cầm lấy hai chục quan tiền để thi hành bấy nhiêu khoản trong tờ điều ước. Sau lúc mình trần trùi trụi phủ phục trước Cụ Cố, AQ ra về, vẫn còn thừa lại một ít tiền, nhưng y cũng không nghĩ đến việc chuộc cái mũ lông cừu. Y đem uống rượu hết. Còn bên nhà Cụ Cố cũng không thấy nói gì đến việc cúng bái trừ tà gì cả. Bấy nhiêu hương đèn đều cất đi để khi nào Cụ Cố bà lên chùa lễ Phật sẽ dùng. Còn tấm áo rách thì nửa to cắt đi để đến tháng tám này mợ Tú ở cữ dùng làm tã lau nước tiểu cho em bé, và nửa nhỏ, nát quá, thì dùng đóng vào gót dép của vú Ngò.

➖➖➖

Phần tiếng Anh

The True Story of Ah Q (1927)

by Lu Xun, translated by George Kin Leung

---

Chapter IV

His pathetic courtship

Some say that those who have tasted of victory desire that their opponents be as the tiger, or as the eagle, before they are to realize the full joys of victory. But if their opponents are as the sheep or the puny chicken, they lose all joy in the triumph. And there are some who, having had a taste of victory, after an unconditional triumph gaze upon their smitten opponent, who was to have died and did die, who was to have surrendered and did surrender, and the whole atmosphere is filled with the feeling: “I fear you, I fear you. I deserve death, I deserve death.” They, the conquerors, accordingly realize that they have no enemy, no opponent, no friend. Only they themselves remain alone, forlorn, downhearted, silent; and instead of the happiness, they realize the bitterness of victory. But our Ah Q surely was not guilty of any such defective reasoning; he enjoyed endless satisfaction. This is, perhaps, one explanation why the spiritual culture of China stands foremost on the face of this whole terrestrial globe.

Lo, Ah Q felt so light with elation that it seemed as if he would rise heavenward!

This particular victory, however, brought about a marked change in his character. He had been soaring on the pinions of elation for more than half a day when he floated to T'uku Temple, where, according to habit, he should have lain down and snored away. How was it to have been expected that on this particular night he should find it exceedingly difficult to close his eyes? He perceived that there was something strange about his thumb and index finger; they seemed to be much smoother than usual. It is not known whether the little nun's cheek had contained a bit of grease, which had stuck to his finger, or whether his thumb had rubbed her cheek until it had become smooth.

“Sonless, grandsonless Ah Q!” his ears again heard her words. He pondered to himself; there was no mistake in the assertion; he ought to have a mate, for a sonless, grandsonless man has no one to sacrifice a bowl of rice to his manes . . . yes, he ought to have a mate. There is the saying, “Of the three greatest sins against filial piety, the greatest is the lack of offspring.” And the lack of food for one's manes is the one great sorrow of a man's life. Hence, his thoughts were in harmony with the canons of the saints, but it is regrettable that he afterwards lost part of his self-control.

“Woman, woman!” he pondered. “Woman, woman, woman!” he meditated again. We do not know when Ah Q snored off this evening; but nevertheless we are sure, in a general way, that after he had perceived that his thumb had become smooth, a fluttering thought obsessed his mind. “Woman,” he thought. So from this example, we may see that woman is a deadly creature.

Of the males of the species in China, more than half are capable of becoming saints and men of virtue, but it is regrettable that they are ruined by women. The Shang dynasty was brought to ruin by Ta-chi; Chou was brought to decadency by Pao-szu; as for the Ch'in — although history does not state clearly why it fell, if we assume that its downfall was due to a woman, we may not be far from the truth; but Tung-cho's death was surely brought about by Tiao-ch'an.

In the past, Ah Q had been a man of strict morals. Although we are not sure that he had received the gracious and beneficent guidance of a great instructor, still, it is certain that he was very careful and strict about the customary barrier between the sexes. Possessing orthodox views, he also vehemently condemned heresy in any form, such as that of the little nun and that of the “False Foreigner.” As for the nuns, according to his own theory, they were sure to have clandestine relations with the monks. When a woman went about, she was sure to have it in mind to entice a “loose” male. Whenever a man and a maid conversed alone, there certainly was a matter of dark secrecy. (These were Ah Q's extraordinary musings.) He was in the habit of glaring at such people with furious eyes in order to mete out punishment to them; he might pass a few loud cutting remarks, or, if he happened to be in a remote place, he would throw stones at their backs.

How was it to be anticipated that at the late age of forty, he should be brought so low by a little nun as to feel that he was fluttering, fluttering, fluttering. That fluttering, according to moral teachings, should not have existed; therefore, the female is, without the least doubt, detestable. Now if the little nun's cheek had not been greasy, Ah Q would not have been enticed. Again, if the little nun had had her face covered with a cloth, Ah Q would not have been tempted. Five or six years ago, while in a crowded theater, he had squeezed past a woman in passing through the aisle . . . (and that was the nearest he had come to a woman); but it was not so with the little nun. This manifestly shows the hatefulness of heresy.

“Woman . . . ,” thought Ah Q. The women who without a doubt desired to lure on “loose” men he always watched closely, but they had never so much as smiled at him. He ever listened attentively to the women who had spoken to him, but they had never mentioned anything of a suggestive nature. Ah! That was one of the detestable characteristics of the other sex: all of them purposely put on a false modesty.

On one particular day, Ah Q was pounding rice by the day at the home of the Venerable Mr. Chao; he had taken his evening rice and was sitting in the kitchen, smoking dried tobacco. Had he been working elsewhere, he would have returned to his home after evening rice, but the Chao household had its dinner early. Although it was an established rule that no lamps be lighted and that all should retire after the meal, exceptions to the rule, however, had been made: first, at the time when the Venerable Mr. Chao's eldest son had not yet attained the rank of Hsiu-t'sai, he was permitted to light the lamp to study his books; second, when Ah Q came to do odd jobs, he was allowed to light the lamp to pound rice. Because of this last exception to the rule, Ah Q sat in the kitchen, smoking dried tobacco prior to continuing to pound the rice.

Amah Wu, the sole female servant of the Chao household, having washed the dishes, sat down upon a long bench and was talking inconsequentials with Ah Q.

“Our mistress has not touched rice for two days because our master is set on buying a small . . .”

“Woman . . . Amah Wu . . . that little widow . . . ,” ran through Ah Q's mind.

“The daughter-in-law of the house will give birth to a baby on the eighth moon . . .”

“WOMAN . . . ,” thought Ah Q.

He put down his pipe and stood up.

“The daughter-in-law . . . ,” continued Amah Wu garrulously.

“Will you . . . will you . . . ?” suddenly cried Ah Q, advancing quickly and kneeling before her. For a brief second, there was a deadly silence.

Eye-yah!” screamed Amah Wu, who had been bewildered for some time. Now suddenly she trembled from head to foot, and with a shriek ran away; as she ran, it seemed that shortly she again shrieked tearfully.

Ah Q, kneeling to the blank wall, was also bewildered; and therefore, supporting himself on the empty board bench with both hands, he slowly stood up, realizing that something must have gone amiss. His heart, at the moment, indeed was palpitating after a fashion. Thoroughly frightened, he stuck his pipe into his belt and thought of returning to his rice pounding. There came a whirring sound; his head received a heavy blow; and when he turned about, quickly the Hsiu-t'sai stood malignantly before him with a huge bamboo pole in his grasp.

“You scoundrel — you low —”

The stout bamboo was again directed down upon his head. Ah Q covered his head with both hands and the blow landed on his finger joints, which smarted with exceeding great pain. As he dashed out of the kitchen door, it seemed that his back had also received a crack.

“Bad egg of a dark turtle!” cried the Hsiu-t'sai in an oath, using Mandarin.

Ah Q retreated to the rice-pounding room and stood there alone. He still felt the pain in his fingers and still remembered the “bad egg of a dark turtle,” because the Weichuangites had never spoken these Mandarin words, which were used exclusively by the élite who were intimate with officials. Hence he was the more frightened, and the words were the more deeply imprinted upon his mind.

But by this time, his thought of “woman” had vanished, and after he had been beaten and reviled, it seemed as if the whole affair had ended once and for all. Accordingly, he experienced no anxiety and set his hands into motion to pound the rice. Having pounded for a while, he became warm, stopped, and took off his coat.

It was while he was taking off his coat that he heard a very loud clamor from without. It was Ah Q's habit to take in exciting events and so he accordingly ran out in the direction of the voices. Following their sound, he gradually made his way to the inner part of the Chao house. Although it was dusk, it was possible to distinguish many people; the whole Chao household, including the mistress, “who had not touched rice for two days,” was among them, as well as their neighbor, Tsou Ch'i-sao, and the real relatives, Chao Pai-yen and Chao Szu-ch'ên.

At this juncture, the young daughter-in-law of the house was dragging Amah Wu from one of the rooms in the servants' quarters, saying all the while, “Come out — there is no need to conceal yourself in your room and brood.”

Tsou Ch'i-sao added on the side, “Who doesn't know that you are a good woman — under no circumstance think of suicide!”

Amah Wu merely wept, letting out a few unintelligible words.

Ah Q thought to himself: “Eh, how interesting! I wonder what trifler has been flirting with the youthful widow!”

He wished to inquire and moved over to Chao Szu-ch'ên's side. At that moment, he espied the eldest son of the Chao family, dashing toward him and holding in his hand the stout bamboo pole. On seeing this bamboo, he suddenly realized that he had been beaten by it and that this excitement appeared to have some connection with himself. He turned about and ran, hoping to escape to the rice-pounding room, but, contrary to his expectation, the bamboo closed his avenue of retreat; he therefore faced about and ran. Naturally and smoothly he ran out of the rear door and without much effort entered T'uku Temple.

After Ah Q had sat for a while, the skin about his capillary roots puffed up into little mounds; he felt cold. Although it was springtime, the weather was quite cool in the evenings and it was not yet the proper time for going bare to the waist. He then recalled that his coat had been left at the Chao household, but he greatly feared to go and get it, for he might encounter the Hsiu-t'sai's bamboo.

The ti-pao finally arrived, saying: “Ah Q, you bad fellow, you even make light of the servants of the Chao household and are, without the least particle of doubt, a gross violator of the law. You have made me lose a whole night's sleep, you rascal!”

In this fashion he reprimanded Ah Q, who naturally said nothing. Finally, because it was night, Ah Q felt that he ought to reward the ti-pao for his trouble by presenting him with a double amount, four hundred cash, for wine money; but having no money on hand at the moment, he gave his felt hat as security and furthermore agreed to the five articles, which follow:

1. On the following day, a pair of candles, weighing one catty each, and a bundle of incense sticks are to be delivered to the Chao household as an apology.

2. Ah Q is to pay for the expenses, which the Chao household will incur by inviting a Taoist priest to exorcise the evil he has caused.

3. Ah Q is never to set foot on the Chao threshold.

4. If, in the future, anything extraordinary happens to Amah Wu, there is only Ah Q to answer for it.

5. Ah Q will not be permitted to obtain his wages and clothes.

Ah Q naturally agreed to the demands, but it was regrettable that he had no money. Fortunately, in the spring weather he could do without his cotton quilt, which he surrendered, along with a pledge of two thousand coppers, when he agreed to the foregoing stipulations. After he had kotowed and bent his naked body, there were still a few cash left in his possession. He did not redeem his felt hat, but drank down all his money in wine.

But the Chao family by no means burned the incense or lighted the candles, for the mistress of the house could use them when she worshiped Buddha, and so they were saved for that purpose. Most of the tattered coat was made into diapers for the daughter-in-law's child, which was to be born on the eighth moon, and what little remained of the torn part was made into shoe soles for Amah Wu.

➖➖➖

 


Việt Điện U Linh Tập - Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) - Lý Tế Xuyên

2026-06-20 Việt Điện U Linh Tập Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) ...