2024-03-30

Không bán trò phù thủy - Doris Lessing

 2024-03-30

Không bán trò phù thủy


Doris Lessing

(Giải Nobel Văn học 2007)

Dịch giả: Đỗ Lê Anh Dao & Vi Lãng

Nguyên tác: “No Witchcraft For Sale”, xuất bản lần đầu 1952

~

Ông bà Farquar đã không có con từ nhiều năm trước khi bé Teddy được sinh ra; và họ rất vui khi thấy sự mừng rỡ của những người đầy tớ, đến trại tặng quà nào gà và trứng và hoa khi họ đến ăn mừng đứa bé, trầm trồ khen cái đầu nhiều lông tơ vàng và đôi mắt xanh của nó. Họ chúc mừng bà Farquar như bà đã đạt được một thành quả to lớn, và bà ta cũng cảm thấy như vậy - nụ cười bà dành cho những người bản xứ đang vây quanh thán phục trông thật ấm áp và biết ơn.

Sau này, khi Teddy cắt tóc lần đầu, đầu bếp Gideon nhặt những chùm tóc mềm mại màu vàng lên từ mặt đất, và cầm chúng một cách cung kính. Rồi lão mỉm cười nhìn thằng nhỏ và bảo: “Cái Đầu Vàng Bé Tí.” Cách gọi đó trở thành tên địa phương cho thằng bé. Gideon và Teddy là bạn tri kỷ ngay từ lúc đầu. Lúc Gideon làm xong công việc, lão lại bồng Teddy lên vai và ngồi dưới bóng mát một cây to, và chơi đùa với thằng nhỏ, tạo hình những đồ chơi hiếu kỳ từ những nhánh lá cây cỏ, và nặn hình những con thú từ đất ướt. Lúc Teddy tập đi, chính Gideon là người hay thường khom mình trước thằng nhỏ, cục cục những lời cổ vũ, cuối cùng bắt kịp thằng bé khi nó té, tung nó lên không đến khi cả hai cười đến hết hơi. Bà Farquar rất yêu mến lão đầu bếp vì tình thương gã dành cho con của bà.

Teddy là đứa con duy nhất; và một ngày nào đó Gideon bảo: “À, bà ơi, bà ơi, Thượng Đế trên kia gửi cho chúng ta đứa này. Cái Đầu Vàng Bé Tí là của cải quý giá nhất trong nhà chúng ta”. Vì hai chữ “chúng ta” đó mà bà Farquar chợt nhận thấy một cảm xúc ấm áp với lão đầu bếp của bà; và cuối tháng đó bà tăng lương cho lão. Lão đã giúp việc với bà đã nhiều năm; một trong số ít những người bản xứ có vợ và con ở chung trong trại và không bao giờ phải về làng thăm gia đình, xa cả mấy trăm dặm. Đôi khi người ta thấy một đứa bé da đen, sinh cùng lúc Teddy ra đời, nhoi đầu ra khỏi bụi cây, với nỗi kinh sợ, nhìn đứa bé da trắng với mái tóc vàng phi thường và đôi mắt xanh miền Bắc. Hai đứa nhỏ nhìn nhau chăm chú, và có một lần Teddy đưa tay ra tò mò rờ má và tóc của đứa bé da đen.

Gideon nhìn thấy, lắc đầu ngạc nhiên, bảo: “À, bà ơi, cả hai chúng là con nít, rồi một đứa sẽ lớn lên làm chủ, một đứa lớn lên làm tôi tớ”, và bà Farquar buồn rầu cười bảo “Ừ, Gideon ạ, tôi cũng đang thầm nghĩ như vậy.” Bà thở dài. “Đây là ý trời”, Gideon nói, lão cũng đã từng đi truyền giáo. Ông bà Farquar rất sùng đạo; và sự sùng kính đó trói chặt chủ tớ gần nhau hơn.

Khi Teddy khoảng sáu tuổi, nó được cho một cái xe nhỏ, và khám phá ra sự quyến rũ của tốc độ. Cả ngày nó chạy lòng vòng trong trại, ra vô những bụi hoa, xen vào giữa những bầy gà quác quác và những con chó tức tối, rồi chấm dứt bằng một cái xâm vòng cung hoa mắt vào cửa bếp. Ở đó nó khóc: “Gideon nhìn nè!” Và Gideon lại cười lớn và bảo: “Giỏi lắm, Cái Đầu Vàng Bé Tí ạ.” Đứa con trai nhỏ nhất của Gideon, bây giờ đã đi chăn, từ trại lên nhà trên để coi cái xe. Nó sợ đến gần xe, nhưng Teddy thì lại khoe khoang trước mặt nó. “Thằng đen” Teddy la lớn “tránh ra cho tao đi.” Và rồi nó chạy vòng quanh thằng bé da đen đến khi đứa nhỏ nó đâm ra sợ hãi, và chạy về bụi cây.

“Tại sao cậu làm nó sợ?” Gideon hỏi, quở mắng một cách nghiêm trọng.

Teddy chống đối: “Nó chỉ là một thằng đen thôi mà” và cười lớn. Lúc đó, sau khi Gideon quay mặt đi chỗ khác không nói một lời, mặt thằng bé sầm xuống. Rồi nó đi vào nhà tìm một quả cam và đem tới cho Gideon nói: “Cái này của ông.” Nó không đủ can đảm xin lỗi; nhưng nó cũng không muốn mất cảm tình của Gideon. Gideon cầm quả cam lưỡng lự và thở dài. “Rồi cậu sẽ sớm đi học, Cái Đầu Vàng Bé Tí” lão vừa nói vừa suy nghĩ “Và rồi cậu sẽ lớn lên.” Lão lắc đầu nhẹ nhàng và bảo “Và đời là thế.” Lão có vẻ như đang cách xa Teddy, không phải vì lão giận, nhưng trong cách một người chấp nhận một sự kiện không thể nào tránh được. Một đứa nhỏ đã nằm trong tay lão và cười với lão: một đứa nhỏ đã đeo vai lão và đùa chơi với lão. Bây giờ Gideon sẽ không cho da thịt lão chạm vào da thịt của đứa bé da trắng. Lão rất ân cần, nhưng có một cái gì rất nghiêm trang trong giọng lão làm Teddy bĩu môi quay đi. Còn nữa, cái gì đó làm nó trở thành một người đàn ông: với Gideon thì nó lịch sự, và hành xử đúng nguyên tắc, và nếu nó vào nhà bếp cần điều gì, nó vào trong tư cách một người đàn ông da trắng đối với một người hầu, chờ đợi người ta tuân lệnh.

Nhưng hôm mà Teddy lạng quạng vào bếp ôm mặt la khóc vì đau đớn, Gideon buông rơi cái nồi canh nóng mà lão đang cầm, nhào đến cạnh đứa nhỏ, và gỡ tay nó ra. “Con rắn!” lão la lên. Teddy đang chạy xe hồi nãy, và ngừng lại nghỉ chân bên cạnh một chậu hoa lớn. Một con rắn, đuôi quấn vào mái nhà, phì nọc độc thẳng vào mắt đứa bé. Bà Farquar chạy xuống bếp vì những tiếng động. “Nó sẽ mù mất” bà than khóc, ôm Teddy vào lòng. Đôi mắt của Teddy, chắc chỉ còn sáng được khoảng nửa giờ, đã sưng lên to bằng nắm tay. Cái mặt trắng nhỏ nhoi của Teddy méo mó theo những u nhồi rỉ nước tím ngắt. Gideon bảo: “Đợi tôi tí, bà ạ, tôi sẽ đi lấy thuốc”. Rồi lão chạy vào lùm cây.

Bà Farquar đem đứa nhỏ vào nhà và rửa mắt nó với thuốc tím. Bà nghe loáng thoáng lời Gideon nói; nhưng khi bà thấy những thuốc chữa của mình không công hiệu, và nhớ ra những lần bà thấy những người bản xứ mù, vì bị rắn độc phun, bà bắt đầu mong đợi lão đầu bếp trở về, nhớ lại những gì nghe được về sự hiệu nghiệm của những dược thảo địa phương. Bà đứng bên cạnh cửa sổ, ôm trong lòng đứa bé trai đang khóc lóc sợ hãi, và nhìn chòng chọc vào bụi cây. Chỉ vài phút sau bà thấy Gideon trở về, và trong tay cầm một cành cây.

“Bà ơi, đừng sợ,” Gideon bảo, “cái này sẽ chữa mắt của Cái Đầu Vàng Bé Tí.” Lão xé lá khỏi cành cây, để lại một cái rễ nhỏ nhiều cùi màu trắng. Không cần rửa, lão bỏ cái rễ vào miệng nhai mãnh liệt, và rồi ngậm bã trong miệng khi lão giằng lấy đứa nhỏ từ tay bà Farquar. Lão kẹp Teddy ở giữa hai đầu gối, và ép hai đầu ngón tay cái vào đôi mắt sưng to, đến mức đứa nhỏ thét lên và bà Farquar la lên chống lại: “Gideon, Gideon.” Nhưng Gideon không để ý đến bà. Lão quỳ bên cạnh đứa nhỏ đang quằn quại, kéo mí mắt nó mở ra để tròng mắt hiện ra, và rồi lão nhổ rất mạnh, một vài lần, vào một mắt, và mắt kia. Cuối cùng lão nâng Teddy lên một cách nhẹ nhàng đặt vào lòng mẹ nó, và nói: “Mắt cậu rồi sẽ lành.” Nhưng bà Farquar vẫn đang than khóc trong kinh sợ, và không đủ sức cám ơn lão: khó mà tin được là Teddy vẫn thấy đường. Vài tiếng sau chỗ sưng biến mất. Mắt vẫn bỏng rát và mọng nhưng Teddy đã có thể nhìn thấy. Ông bà Farquar vào bếp tìm Gideon và tạ ơn lão nhiều lần. Họ cảm thấy bất lực với lòng biết ơn: không biết làm gì để bày tỏ lòng dạ mình. Họ tặng Gideon nhiều món quà cho vợ con lão, và tăng lương cho lão thật nhiều, nhưng những thứ này không thể bù lại với đôi mắt hoàn toàn lành mạnh của Teddy. Bà Farquar bảo: “Gideon, Chúa đã chọn lão làm công cụ cho ơn lành của Ngài” và Gideon bảo: “Dạ, bà ơi, Chúa rất bao dung.”

Này nhé, khi một sự việc như vậy xảy ra trên một nông trại, chẳng bao lâu thì tất cả mọi người đều biết. Ông bà Farquar kể cho láng giềng của họ nghe và câu chuyện được bàn tán từ đầu quận đến cuối quận. Rừng cây đầy bí mật. Không ai có thể sống ở Châu Phi, hay ít nhất là trên thảo nguyên, mà không sớm biết rằng đã có một kiến thức cổ xưa về lá cây và đất đai và mùa màng - và, thêm nữa, có thể điều quan trọng nhất, về những ngõ nghách tăm tối nhất của tâm trí con người - là di sản của người da đen. Khắp quận người ta kể chuyện, nhắc lại cho nhau nghe những điều đã xảy ra với mình.

“Nhưng bảo này, chính mắt tôi trông thấy. Rắn phì cắn đấy. Cánh tay thằng nhỏ sưng tới cùi chỏ, trông như cái bọng đái đen bóng. Nó đờ người đi độ nửa phút, gần chết. May là có ông thầy chạy vô bụi hái mấy cái lá xanh đó, bôi lên chỗ bị cắn, rồi bữa sau thằng nhỏ đi làm lại được, mà chỉ còn thấy hai cái lỗ nhỏ trên da thôi.”

Họ kể nhau nghe mấy chuyện như vậy. Mà gần như lúc nào họ cũng làm có vẻ nghiêm trọng hơn, bởi vì mặc dầu ai cũng biết rừng rậm Phi châu có lắm thứ thuốc quí giá, trong vỏ cây, lá cây thường thấy, trong rễ má, nhưng khó mà biết được sự thật từ người địa phương.

Dần dần chuyện cũng đến tai dân ở phố; có lẽ trong một buổi tiệc tùng chiều tối, hay trong những lần họp mặt, một bác sĩ, tình cờ có mặt ở đó, chất vấn. “Nhảm nhí,” ông nói. “Chuyện nói cho quá. Chúng tôi luôn luôn kiểm lại mấy chuyện như vậy, mà lần nào cũng chả thấy gì.”

Dù gì đi nữa, sáng hôm đó có một chiếc xe lạ lái đến trại. Một người làm việc trong phòng thí nghiệm trong phố bước ra khỏi xe, với mấy thùng chứa đầy ống nghiệm và hóa chất.

Ông bà Farquar bối rối, mặt mày vui vẻ và thỏa mãn. Họ mời nhà khoa học dùng cơm trưa, và họ kể lại câu chuyện từ đầu, chắc là lần thứ một trăm. Nhỏ Teddy cũng có đó, đôi mắt xanh của nó rạng rỡ, như để minh chứng một sự thật. Nhà khoa học giải thích về lợi ích cho nhân loại nếu có thể thương mại thứ thuốc mới này; và hai vợ chồng Farquar còn hả dạ hơn nữa: họ tính tình đơn giản, tử tế, thích nghĩ rằng họ làm được một cái gì đó tốt lành. Nhưng khi ông khoa học bắt đầu nói đến chuyện tiền bạc, cử chỉ của họ tỏ ra khó chịu. Cảm tưởng của họ về phép mầu đó (họ vẫn nghĩ về nó như thế) rất mạnh, sâu và sùng bái, họ cho rằng nghĩ về tiền bạc với nó là chuyện xấu xa. Ông khoa học, nhìn thấy được điều đó qua nét mặt họ, đem câu chuyện trở lại điểm đầu tiên, về sự tiến bộ cho loài người. Có lẽ ông ta hơi hời hợt: đây không phải là lần đầu ông tìm cách mua chuộc một thứ thuốc hay.

Cuối cùng, sau bữa ăn trưa, ông bà Farquar gọi Gideon vào phòng khách, giải thích cho lão hay rằng ông chủ đây là Bác Sĩ Lớn từ Phố Lớn, và ông ta bỏ công đi tới đây để gặp lão. Nghe xong, lão Gideon có vẻ sợ; lão không hiểu; bà Farquar phải nói thêm Ông Chủ Lớn đến cũng vì chuyện kì diệu lão đã giúp cho cặp mắt của Teddy.

Lão Gideon nhìn từ bà Farquar sang ông Farquar, nhìn tới thằng bé, nó trông ra vẻ quan trọng ra phết trong cuộc. Cuối cùng, lão miễn cưỡng nói: “Ông Chủ Lớn muốn biết tôi dùng thuốc gì?” Lão tỏ vẻ ngờ vực, như thể lão không tin hai người bạn lâu năm có thể phụ lòng lão cách đó. Ông Farquar phải giải thích cách nào thuốc hay có thể làm được từ rễ cây, đem bán thế nào, cả ngàn người, da đen da trắng dọc cả đại lục Phi châu, sẽ được cứu nhờ vào thuốc nếu chẳng may bị rắn độc phì vào mắt. Lão Gideon lắng nghe, mắt lão chăm chăm xuống đất, trán dúm dó khổ nhọc. Khi ông Farquar nói xong, lão chẳng trả lời. Ông khoa học, từ nãy giờ vẫn ngả người vào cài ghế bành, nhâm nhi cà phê và miệng cười mỉm hồ nghi, bây giờ nói thêm vào, giải thích lại từ đầu, với chữ lời khác, về việc bào chế thuốc và tiến bộ khoa học. Ông ta còn muốn tặng lão Gideon một món quà.

Không ai lên tiếng sau lời giải thích này. Lão Gideon thờ ơ bảo rằng lão không nhớ gì về cái thứ rễ cây ấy. Mặt lão sưng sỉa và tỏ vẻ không thân thiện, ngay cả khi lão nhìn ông bà Farquar, người ông thường vẫn xem như bạn lâu năm Họ bắt đầu cảm thấy khó chịu; và họ như trút bỏ cảm giác, qua cách buộc tội của lão, họ đã làm điều sai quấy.Thay vào đó họ nghĩ rằng lão ta không biết điều. Nhưng đó cũng là lúc họ nhận ra rằng lão ta sẽ không bao giờ nhượng bộ. Thứ thần dược đó mãi mãi sẽ không ai biết đến và hoàn toàn vô dụng ngoại trừ cho một số nhỏ người bản xứ có kiến thức, những người có thể chỉ đào mương cuốc rãnh địa phương trong một cái áo tơi tả và cái quần ngắn vá víu, nhưng lại là sinh trưởng vào gia đình một thầy chữa gia truyền, là con cháu của những ông lang thuốc già mang mặt nạ gớm ghiếc, với mấy mẩu xương và những phù phép hoang thô chỉ là vẻ bề ngoài, che đậy những quyền lực và hiểu biết thực sự.

Gia đình Farquar có thể đạp lên cây thuốc đó năm chục lần một ngày khi họ bước từ nhà ra vườn, từ chuồng bò sang ruộng bắp, nhưng họ sẽ không bao giờ biết nó.

Nhưng họ vẫn tiếp tục thuyết phục và tranh luận, với tất cả sự bực tức; mà lão Gideon vẫn khăng khăng nói rằng lão không thể nhớ; hoặc chả có rễ cây gì hết, hay lúc này không phải mùa của nó, hay mắt Teddy được chữa lành không phải là từ rễ cây, nhưng là do nước bọt từ miệng lão ta. Lão đổi từ câu này qua câu khác, mà chẳng để ý chúng có nghịch lý hay không. Lão bướng bỉnh và thô lỗ. Ông bà Farquar khó lòng nhận ra được người đầy tớ già trung thành, hiền hòa trong gã đàn ông Phi châu ngu dốt cứng đầu ngược ngạo này. Lão ta đứng đó trước mặt họ, mắt nhìn thấp, tay táy máy cái tạp dề, lặp đi lặp lại bất cứ câu chối từ ngu xuẩn nào đó lão nghĩ được trong đầu.

Rồi tự dưng lão ta như chịu nhượng thế. Lão ngẩng đầu lên, ném một cái nhìn dài, trống rỗng, giận dữ vào đám người da trắng, với lão họ như đám chó sủa ẳng ẳng quanh lão, rồi bảo: “Tôi dẫn mấy người xem rễ thuốc.”

Họ bước hàng một ra khỏi nhà, đi dọc theo con đường mòn. Trưa tháng mười hai nóng rát da, bầu trời đầy những cụm mây mưa nóng bức. Mọi thứ đều nóng: mặt trời như một đĩa đồng xoáy trên đầu, hơi nóng rung trên cánh đồng, đất như cháy dưới chân, gió đầy bụi thổi khô khốc, nong nóng vào mặt. Một ngày khiếp sợ, một ngày người ta chỉ nên nằm dưới hiên nhà với ly nước đá lạnh, nơi mà họ vẫn thường ở khoảng giờ này.

Đôi lúc, nhớ lại trong ngày rắn cắn, lão chỉ tốn mười phút để tìm ra rễ thuốc, có kẻ lên tiếng hỏi: “Còn xa không, Gideon?” Và lão Gideon, chẳng màng quay đầu lại, trả lời với sự lễ phép cau có: “Tôi đang tìm rễ thuốc, xếp.” Và thực vậy, lão ta thỉnh thoảng nghiêng người xuống, đưa tay rề rà trên cỏ với một cung cách hời hợt bất nhã. Hai tiếng đồng hồ, lão dẫn họ qua bụi cây lùm cỏ, dọc theo mấy đường mòn lạ quắc, trong cơn nóng cháy, đến nỗi họ ướt thẫm mồ hôi, đầu họ nhức bưng bưng. Cả bọn họ im lặng: ông bà Farquar im vì họ tức giận; người khoa học im vì ông ta cảm thấy mình được minh chứng một lần nữa: không hề có thứ rễ thuốc như thế. Im lặng của ông ta là một im lặng tế nhị.

Cuối cùng, khoảng sáu dặm xa khỏi nhà, lão Gideon chợt quyết định rằng như thế cũng đã đủ; hay có lẽ cơn giận của lão cũng đã nguôi nhiều. Chả màng gì lắm, lão bứt một chùm hoa màu xanh giữa đám cỏ, thứ hoa có đầy dẫy trên đường họ đã đi qua nãy giờ.

Chẳng nhìn đến nửa con mắt, lão đưa chùm hoa cho ông khoa học, rồi bước nhanh một mình về nhà.

Khi về lại nhà, ông khoa học vào nhà bếp cám ơn lão Gideon: ông ta rất lễ độ, dù trong mắt lộ vẻ thích thú. Lão ta không có ở đó. Ném chùm hoa vào phía sau xe, ông khách quí rời trang trại lái xe về lại nơi làm việc.

Lão Gideon trở vào nhà bếp chuẩn bị bữa ăn tối, nhưng lão hờn dỗi. Lão trả lời ông Farquar như một người giúp việc miễn cưỡng. Mấy ngày sau, họ mới trở lại xem nhau như cũ.

Ông bà Farquar hỏi thăm đây đó về rễ thuốc từ những người làm việc trong trại. Đôi khi, họ nhận được câu trả lời với những cái nhìn nghi kỵ. Đôi khi, người bản xứ bảo: “Chúng tôi không biết. Chưa bao giờ nghe nói về rễ thuốc này.” Một gã chăn bò, đã làm việc cho gia đình lâu năm, có ít nhiều tin tưởng đến ông bà, cho hay: “Ông bà đi hỏi tên trẻ trong nhà bếp ấy. Hắn ta là thầy thuốc đấy. Hắn là con trai của một ông thầy lúc trước ở vùng đó, không có bệnh gì ông ta không chữa được.” Rồi gã lễ độ nói thêm: “Dĩ nhiên, ông ta không giỏi như bác sĩ của người da trắng, chúng tôi biết vậy, nhưng với chúng tôi, ông ta là hay lắm rồi.”

Bẵng đi sau đó, khi không còn buồn phiền giữa ông bà Farquar và lão Gideon, họ bắt đầu nói diễu: “Khi nào ông tìm rễ thuốc trị rắn cho tụi tôi, Gideon?”. Và lão cười, lắc đầu, hơi khó chịu, bảo: “Tôi đã chẳng tìm cho bà chủ rồi à, bà chủ quên rồi sao?”

Sau đó nữa, Teddy, đã đi học, vào nhà bếp, hỏi: “Ông già ranh, Gideon! Ông có nhớ lần ông lừa đám chúng tôi, bắt đi hết mấy dặm đường trên đồng cỏ không? Xa đến nỗi cha tôi phải cõng tôi đó!”

Và lão Gideon ôm bụng cười lễ độ. Cười đã, lão chợt thẳng người dậy, chùi nước mắt, buồn bã nhìn Teddy, đang ranh mãnh cười toe toét ngang qua nhà bếp: “À, Cái Đầu Vàng Bé Tí, cậu lớn nhanh ghê chưa! Chẳng bao lâu cậu sẽ trưởng thành và có trang trại riêng... “.

➖➖➖


Nguyên tác tiếng Anh

No Witchcraft For Sale by Doris Lessing

The Farquars had been childless for years when little Teddy was born; and they were touched by the pleasure of their servants, who brought presents of fowls and eggs and flowers to the homestead when they came to rejoice over the baby, exclaiming with delight over his downy golden head and his blue eyes. They congratulated Mrs. Farquar as if she had achieved a very great thing, and she felt that she had—her smile for the lingering, admiring natives was warm and grateful.

Later, when Teddy had his first haircut, Gideon the cook picked up the soft gold tufts from the ground, and held them reverently in his hand. Then he smiled at the little boy and said: “Little Yellow Head.” That became the native name for the child. Gideon and Teddy were great friends from the first. When Gideon had finished his work, he would lift Teddy on his shoulders to the shade of a big tree, and play with him there, forming curious little toys from twigs and leaves and grass, or shaping animals from wetted soil. When Teddy learned to walk it was often Gideon who crouched before him, clucking encouragement, finally catching him when he fell, tossing him up in the air till they both became breathless with laughter. Mrs. Farquar was fond of the old cook because of his love for her child.  

There was no second baby; and one day Gideon said: “Ah, missus, missus, the Lord above sent this one; Little Yellow Head is the most good thing we have in our house.” Because of that “we” Mrs. Farquar felt a warm impulse toward her cook; and at the end of the month she raised his wages. He had been with her now for several years; he was one of the few natives who had his wife and children in the compound and never wanted to go home to his kraal, which was some hundreds of miles away. Sometimes a small piccanin who had been born the same time as Teddy, could be seen peering from the edge of the bush, staring in awe at the little white boy with his miraculous fair hair and Northern blue eyes. The two little children would gaze at each other with a wide, interested gaze, and once Teddy put out his hand curiously to touch the black child’s cheeks and hair.

Gideon, who was watching, shook his head wonderingly, and said: “Ah, missus, these are both children, and one will grow up to be a baas, and one will be a servant”; and Mrs. Farquar smiled and said sadly, “Yes, Gideon, I was thinking the same.” She sighed. “It is God’s will,” said Gideon, who was a mission boy. The Farquars were very religious people; and this shared feeling about God bound servant and masters even closer together.

Teddy was about six years old when he was given a scooter, and discovered the intoxications of speed. All day he would fly around the homestead, in and out of flowerbeds, scattering squawking chickens and irritated dogs, finishing with a wide dizzying arc into the kitchen door. There he would cry: “Gideon, look at me!” And Gideon would laugh and say: “Very clever, Little Yellow Head.” Gideon’s youngest son, who was now a herdsboy, came especially up from the compound to see the scooter. He was afraid to come near it, but Teddy showed off in front of him. “Piccanin,” shouted Teddy, “get out of my way!” And he raced in circles around the black child until he was frightened, and fled back to the bush.

“Why did you frighten him?” asked Gideon, gravely reproachful.

Teddy said defiantly: “He’s only a black boy,” and laughed. Then, when Gideon turned away from him without speaking, his face fell. Very soon he slipped into the house and found an orange and brought it to Gideon, saying: “This is for you.” He could not bring himself to say he was sorry; but he could not bear to lose Gideon’s affection either. Gideon took the orange unwillingly and sighed. “Soon you will be going away to school, Little Yellow Head,” he said wonderingly, “and then you will be grown up.” He shook his head gently and said, “And that is how our lives go.” He seemed to be putting a distance between himself and Teddy, not because of resentment, but in the way a person accepts something inevitable. The baby had lain in his arms and smiled up into his face: The tiny boy had swung from his shoulders and played with him by the hour. Now Gideon would not let his flesh touch the flesh of the white child. He was kind, but there was a grave formality in his voice that made Teddy pout and sulk away. Also, it made him into a man: With Gideon he was polite, and carried himself formally, and if he came into the kitchen to ask for something, it was in the way a white man uses toward a servant, expecting to be obeyed.

But on the day that Teddy came staggering into the kitchen with his fists to his eyes, shrieking with pain, Gideon dropped the pot full of hot soup that he was holding, rushed to the child, and forced aside his fingers. “A snake!” he exclaimed. Teddy had been on his scooter, and had come to a rest with his foot on the side of a big tub of plants. A tree snake, hanging by its tail from the roof, had spat full into his eyes. Mrs. Farquar came running when she heard the commotion. “He’ll go blind,” she sobbed, holding Teddy close against her. “Gideon, he’ll go blind!” Already the eyes, with perhaps half an hour’s sight left in them, were swollen up to the size of fists: Teddy’s small white face was distorted by great purple oozing protuberances. Gideon said: “Wait a minute, missus, I’ll get some medicine.” He ran off into the bush.

Mrs. Farquar lifted the child into the house and bathed his eyes with permanganate. She had scarcely heard Gideon’s words; but when she saw that her remedies had no effect at all, and remembered how she had seen natives with no sight in their eyes, because of the spitting of a snake, she began to look for the return of her cook, remembering what she heard of the efficacy of native herbs. She stood by the window, holding the terrified, sobbing little boy in her arms, and peered helplessly into the bush. It was not more than a few minutes before she saw Gideon come bounding back, and in his hand he held a plant.

“Do not be afraid, missus,” said Gideon, “this will cure Little Yellow Head’s eyes.” He stripped the leaves from the plant, leaving a small white fleshy root. Without even washing it, he put the root in his mouth, chewed it vigorously, and then held the spittle there while he took the child forcibly from Mrs. Farquar. He gripped Teddy down between his knees, and pressed the balls of his thumbs into the swollen eyes, so that the child screamed and Mrs. Farquar cried out in protest: “Gideon, Gideon!” But Gideon took no notice. He knelt over the writhing child, pushing back the puffy lids till chinks of eyeball showed, and then he spat hard, again and again, into first one eye, and then the other. He finally lifted Teddy gently into his mother’s arms, and said: “His eyes will get better.” But Mrs. Farquar was weeping with terror, and she could hardly thank him: It was impossible to believe that Teddy could keep his sight. In a couple of hours the swellings were gone: The eyes were inflamed and tender but Teddy could see. Mr. and Mrs. Farquar went to Gideon in the kitchen and thanked him over and over again. They felt helpless because of their gratitude: It seemed they could do nothing to express it. They gave Gideon presents for his wife and children, and a big increase in wages, but these things could not pay for Teddy’s now completely cured eyes. Mrs. Farquar said: “Gideon, God chose you as an instrument for His goodness,” and Gideon said: “Yes, missus, God is very good.”

Now, when such a thing happens on a farm, it cannot be long before everyone hears of it. Mr. and Mrs. Farquar told their neighbors and the story was discussed from one end of the district to the other. The bush is full of secrets. No one can live in Africa, or at least on the veld, without learning very soon that there is an ancient wisdom of leaf and soil and season—and, too, perhaps most important of all, of the darker tracts of the human mind—which is the black man’s heritage. Up and down the district people were telling anecdotes, reminding each other of things that had happened to them.

“But I saw it myself, I tell you. It was a puff-adder bite. The kaffir’s arm was swollen to the elbow, like a great shiny black bladder. He was groggy after a half a minute. He was dying. Then suddenly a kaffir walked out of the bush with his hands full of green stuff. He smeared something on the place, and next day my boy was back at work, and all you could see was two small punctures in the skin.”

This was the kind of tale they told. And, as always, with a certain amount of exasperation, because while all of them knew that in the bush of Africa are waiting valuable drugs locked in bark, in simple-looking leaves, in roots, it was impossible to ever get the truth about them from the natives themselves.

The story eventually reached town; and perhaps it was at a sundowner party, or some such function, that a doctor, who happened to be there, challenged it. “Nonsense,” he said. “These things get exaggerated in the telling. We are always checking up on this kind of story, and we draw a blank every time.”

Anyway, one morning there arrived a strange car at the homestead, and out stepped one of the workers from the laboratory in town, with cases full of test tubes and chemicals.

Mr. and Mrs. Farquar were flustered and pleased and flattered. They asked the scientist to lunch, and they told the story all over again, for the hundredth time. Little Teddy was there too, his blue eyes sparkling with health, to prove the truth of it. The scientist explained how humanity might benefit if this new drug could be offered for sale; and the Farquars were even more pleased: They were kind, simple people, who liked to think of something good coming about because of them. But when the scientist began talking of the money that might result, their manner showed discomfort. Their feelings over the miracle (that was how they thought of it) were so strong and deep and religious, that it was distasteful to them to think of money. The scientist, seeing their faces, went back to his first point, which was the advancement of humanity. He was perhaps a trifle perfunctory: It was not the first time he had come salting the tail of a fabulous bush secret.

Eventually, when the meal was over, the Farquars called Gideon into their living room and explained to him that this baas, here, was a Big Doctor from the Big City, and he had come all that way to see Gideon. At this Gideon seemed afraid; he did not understand; and Mrs. Farquar explained quickly that it was because of the wonderful thing he had done with Teddy’s eyes that the Big Baas had come.

Gideon looked from Mrs. Farquar to Mr. Farquar, and then at the little boy, who was showing great importance because of the occasion. At last he said grudgingly: “The Big Baas want to know what medicine I used?” He spoke incredulously, as if he could not believe his old friends could so betray him. Mr. Farquar began explaining how a useful medicine could be made out of the root, and how it could be put on sale, and how thousands of people, black and white, up and down the continent of Africa, could be saved by the medicine when that spitting snake filled their eyes with poison. Gideon listened, his eyes bent on the ground, the skin of his forehead puckering in discomfort. When Mr. Farquar had finished he did not reply. The scientist, who all this time had been leaning back in a big chair, sipping his coffee and smiling with skeptical good humor, chipped in and explained all over again, in different words, about the making of drugs and the progress of science. Also, he offered Gideon a present.

There was silence after this further explanation, and then Gideon remarked indifferently that he could not remember the root. His face was sullen and hostile, even when he looked at the Farquars, whom he usually treated like old friends. They were beginning to feel annoyed; and this feeling annulled the guilt that had been sprung into life by Gideon’s accusing manner. They were beginning to feel that he was unreasonable. But it was at that moment that they all realized he would never give in. The magical drug would remain where it was, unknown and useless except for the tiny scattering of Africans who had the knowledge, natives who might be digging a ditch for the municipality in a ragged shirt and a pair of patched shorts, but who were still born to healing, hereditary healers, being the nephews or sons of the old witch doctors whose ugly masks and bits of bone and all the uncouth properties of magic were the outward signs of real power and wisdom.

The Farquars might tread on that plant fifty times a day as they passed from house to garden, from cow kraal to mealie field, but they would never know it.

But they went on persuading and arguing, with all the force of their exasperation; and Gideon continued to say that he could not remember, or that there was no such root, or that it was the wrong season of the year, or that it wasn’t the root itself, but the spit from his mouth that had cured Teddy’s eyes. He said all these things one after another, and seemed not to care they were contradictory. He was rude and stubborn. The Farquars could hardly recognize their gentle, lovable old servant in this ignorant, perversely obstinate African, standing there in front of them with lowered eyes, his hands twitching his cook’s apron, repeating over and over whichever one of the stupid refusals that first entered his head.

And suddenly he appeared to give in. He lifted his head, gave a long, blank angry look at the circle of whites, who seemed to him like a circle of yelping dogs pressing around him, and said: “I will show you the root.”

They walked single file away from the homestead down a kaffir path. It was a blazing December afternoon, with the sky full of hot rain clouds. Everything was hot: The sun was like a bronze tray whirling overhead, there was a heat shimmer over the fields, the soil was scorching underfoot, the dusty wind blew gritty and thick and warm in their faces. It was a terrible day, fit only for reclining on a veranda with iced drinks, which is where they would normally have been at that hour.

From time to time, remembering that on the day of the snake it had taken ten minutes to find the root, someone asked: “Is it much further, Gideon?” And Gideon would answer over his shoulder, with angry politeness: “I’m looking for the root, baas.” And indeed, he would frequently bend sideways and trail his hand among the grasses with a gesture that was insulting in its perfunctoriness. He walked them through the bush along unknown paths for two hours, in that melting destroying heat, so that the sweat trickled coldly down them and their heads ached. They were all quite silent: the Farquars because they were angry, the scientist because he was being proved right again; there was no such plant. His was a tactful silence.

At last, six miles from the house, Gideon suddenly decided they had had enough; or perhaps his anger evaporated at that moment. He picked up, without an attempt at looking anything but casual, a handful of blue flowers from the grass, flowers that had been growing plentifully all down the paths they had come.

He handed them to the scientist without looking at him, and marched off by himself on the way home, leaving them to follow him if they chose.

When they got back to the house, the scientist went to the kitchen to thank Gideon: He was being very polite, even though there was an amused look in his eyes. Gideon was not there. Throwing the flowers casually into the back of his car, the eminent visitor departed on his way back to his laboratory.

Gideon was back in his kitchen in time to prepare dinner, but he was sulking. He spoke to Mr. Farquar like an unwilling servant. It was days before they liked each other again.

The Farquars made inquiries about the root from their laborers. Sometimes they were answered with distrustful stares. Sometimes the natives said: “We do not know. We have never heard of the root.” One, the cattle boy, who had been with them a long time, and had grown to trust them a little, said: “Ask your boy in the kitchen. Now, there’s a doctor for you. He’s the son of a famous medicine man who used to be in these parts, and there’s nothing he cannot cure.” Then he added politely: “Of course, he’s not as good as the white man’s doctor, we know that, but he’s good for us.”

After some time, when the soreness had gone from between the Farquars and Gideon, they began to joke:

“When are you going to show us the snake root, Gideon?” And he would laugh and shake his head, saying, a little uncomfortably: “But I did show you, missus, have you forgotten?”

Much later, Teddy, as a schoolboy, would come into the kitchen and say: “You old rascal, Gideon! Do you remember that time you tricked us all by making us walk miles all over the veld for nothing? It was so far my father had to carry me!”

And Gideon would double up with polite laughter. After much laughing, he would suddenly straighten himself up, wipe his old eyes, and look sadly at Teddy, who was grinning mischievously at him across the kitchen: “Ah, Little Yellow Head, how you have grown! Soon you will be grown up with a farm of your own. . . .”

➖➖➖

 


2024-03-23

Những rặng núi lớn - John Steinbeck

 2024-03-23

Những rặng núi lớn


John Steinbeck

(Giải Nobel Văn học 1962)

Dịch giả: Lê Bá Kông

~

 

Về mùa này những trái đồi đã khô cạn và cỏ dại đã vàng úa, nhưng tại chỗ mà ống dẫn nước suối chảy vào cái bể tròn làm đầy tràn bể, người ta thấy có một khoảng cỏ non tươi dày mượt và ẩm ướt. Jody lấy nước ở bể đầy rêu ra uống và nằm ngửa trên cỏ rồi nhìn lên những đám mây hè cuồn cuộn như bông. Nhắm một mắt lại để hết phân biệt được phối cảnh, nó kéo mây gần lại để có thể giơ ngón tay lên mà vuốt ve. Nó giúp cho gió đẩy mây đi về phía chân trời, nó thấy hình như nhờ nó giúp mà mây đi mau hơn. Nó đẩy một đám mây trắng dày cho tới mỏm núi rồi đẩy hẳn sang bên kia để không nhìn thấy nữa. Jody tự hỏi lúc đó đám mây kia sẽ nhìn thấy gì. Nó ngồi dậy để nhìn cho rõ hơn những rặng núi lớn, nơi những ngọn núi chồng chất lên nhau, trở nên tối tăm và hoang dại hơn cho đến lúc cùng hết là một dãy núi nhọn như răng cưa nằm án ngữ về phía Tây. Thật là những rặng núi bí mật và kỳ lạ: nó nghĩ tới sự hiểu biết ít ỏi của nó vể rặng núi đó.

“Ở bên kia núi có gì?” Có lần nó hỏi cha nó như thế.

- Ba nghĩ rằng còn nhiều núi khác nữa. Tại sao con lại hỏi thế?

- Thế đằng sau những núi khác đó còn có gì nữa?

- Lại còn nhiều núi khác nữa. Tại sao con lại hỏi như vậy?

- Cứ còn thêm núi mãi như thế ư?

- Không đâu. Sau cùng là đến biển.

- Nhưng ở trong núi có gì?

- Có vách đá bụi cây, tảng đá và cảnh khô cạn.

- Ba đã đến đó bao giờ chưa?

- Chưa.

- Đã có ai tới đó chưa?

- Chắc có vài người đã đến đó rồi. Nguy hiểm lắm vì có vách đá và nhiều thứ khác nữa. Ba đọc sách thấy nói rằng trong những ngọn núi miền Monterey này có nhiều đất hoang chưa ai thám hiểm hơn tất cả các miền khác tại Mỹ Quốc. – Cha nó có vẻ lấy làm hãnh diện về điều đó.

- Sau cùng đến biển hả ba?

- Phải rồi, sau cùng đến biển.

- Nhưng, thằng bé lại hỏi thêm, giữa đó và biển có gì? Không ai biết ư?

- Ồ, ba chắc cũng có một vài người biết. Nhưng ở đó không kiếm được vật gì đâu. Có ít nước lắm. Chỉ có đá và vách đá với cây dại. Sao con hỏi vậy?

- Nếu đi xem được chắc là hay lắm.

- Đi làm gì? Ở đấy chả có gì hết.

Jody biết chắc ở đó phải có một cái gì, một cái gì hay và lạ lắm vì chưa ai biết, một cái gì bí mật và đầy huyền bí. Tự nó cảm thấy như vậy. Nó hỏi mẹ nó: “Mẹ có biết có gì ở trong những rặng núi lớn không?”

Mẹ nó nhìn nó rồi lại nhìn rặng núi man rợ rồi nói: “Mẹ chắc ở đó chỉ có con gấu”.

- Con gấu nào?

- Thì con gấu nó trèo núi để xem có gì không, chứ còn con gấu nào nữa!

Jody hỏi Billy Buck, một người tá điền trong trại, về việc có thể có những đô thị cổ xưa bị chôn vùi trong núi, nhưng Billy cũng nói như ba Jody.

Billy nói, “Không thể có được. Vì chẳng có gì để ăn, trừ phi có giống người ăn được đá sống ở đó.”

Đó là tất cả những điều mà Jody biết và những điều ấy làm cho những núi đá có sức cám dỗ hơn đối với nó, nhưng cũng đáng sợ nữa. Nó hay tưởng tượng tới hàng bao nhiêu dặm hết đỉnh núi nọ qua đỉnh núi kia cho tới khi đến tận biển. Khi những mỏm núi ửng hồng trong nắng sớm, thì chúng có vẻ như mời mọc nó tới, nhưng khi mặt trời đã lặn sau đỉnh núi về buổi chiều và núi trở thành một màu tím tuyệt vọng thì lúc ấy Jody lại sợ chúng; chúng trở nên vô nhân tính và xa cách khiến cho ngay cả cái vẻ trơ trơ thản nhiên của chúng cũng đầy đe dọa.

Bây giờ nó quay đầu về những dãy núi ở phía đông là dãy Gabilans. Những ngọn núi ấy thật vui tươi, có những nông trại ở trong thung lũng và những cây thông mọc trên đỉnh núi. Có người sống ở đó và trên sườn núi đã từng có những trận đánh nhau với người Mễ-tây-cơ. Nó quay nhìn lại những ngọn núi lớn một lát và hơi rùng mình vì thấy một sự tương phản rõ rệt. Chân núi như lòng chén ở nơi nông trại phía dưới nó, đầy ánh sáng và thanh bình. Ngôi nhà đó sáng lên trong ánh nắng màu trắng và chuồng bò thì màu nâu và ấm áp. Những con bò màu đỏ trên đồi xa đang vừa gặm cỏ vừa tiến dần về hướng bắc. Ngay đến cây trắc bá thẫm màu bên cạnh gian nhà ngủ trông cũng có vẻ quen mắt và thanh bình. Những con gà nhỏ đang bới đất tung lên trong sân bước những bước mau như bước theo điệu nhảy luân vũ.

Lúc đó, một bóng người đang chuyển động làm Jody chú ý. Một người đàn ông đang bước chậm rãi trên đỉnh đồi, trên đường từ Salinas tới, và đang tiến về phía nhà ở. Jody đứng dậy và cũng chạy về nhà vì nó muốn về để coi xem ai tới. Khi thằng bé đã về tới nhà, người đàn ông mới đi được nửa đường, người này chống gậy nhưng vai rất thẳng. Jody đoán được người đó già vì gót giày người ấy nện xuống đất nghe thình thịch. Khi người lạ tới gần hơn, Jody nhận thấy người ấy mặc quần ống bó bằng vải màu xanh và áo cũng bằng vải đó. Người ấy đi giầy cục mịch và đội một cái mũ đã cũ kiểu Stetson vành dẹt. Trên vai người ấy vác một cái túi bằng vải gai, đầy chặt và không ra hình thù gì. Một lúc sau người ấy đã lê tới gần để người ta có thể nhìn rõ mặt. Mặt người ấy đen như miếng thịt bò khô. Một bộ ria có màu trắng xanh nổi bật trên nước da đen sậm và nằm lơ lửng trên miệng và mớ tóc lộ ra ở người ấy cũng màu trắng. Da mặt người ấy nhăn nheo lại sát vào xương sọ làm cho xương lồi ra và khiến cho mũi và cằm chìa ra và có vẻ mảnh dẻ. Đôi mắt rất lớn, sâu và thẫm màu và bị mí mắt trùm lên trên. Lòng đen và con ngươi cũng màu đen sậm nhưng lòng trắng thì lại màu nâu. Trên mặt không hề có vết nhăn. Ông lão mặc áo ngoài bằng vải xanh rất thô và cài kín ở cổ bằng khuy đồng, theo kiểu của những người không mặc áo lót bên trong. Hai cánh tay áo để lộ ra hai cổ tay mạnh mẽ và xương xẩu và hai bàn tay xương xẩu, xù xì và rắn như cành đào. Các móng tay đều dẹt cùn và bóng.

Ông lão tiến tới gần cửa rồi bỏ chiếc túi xuống khi ông tới trước mặt Jody. Môi ông mấp máy một chút rồi phát ra một giọng nói nhỏ nhẹ và không có hồn:

- Em ở đây hả?

Jody cảm thấy bỡ ngỡ. Nó quay nhìn về phía căn nhà rồi lại quay nhìn về phía chuồng bò, là chỗ ba nó và Billy đứng, và sau khi không thấy ai giúp gì nó cả, nó liền trả lời “Vâng”.

Ông lão nói: “Ta đã trở về đây. Ta là Gitano và ta đã trở về đây.”

Jody tự thấy không thể nhận lấy trách nhiệm này được. Nó quay ngoắt lại và chạy vào nhà để tìm người giúp nó và đóng sập cửa lại. Mẹ nó ở trong bếp, đang lấy kim cài tóc chọc cho thông cái rá lọc đồ ăn, và mím môi có vẻ căm chú lắm.

“Có một ông lão tới, Jody kêu lên bằng một giọng đầy xúc động. “Có một lão tá điền già và ông ta bảo ông ta đã trở về”.

Mẹ nó đặt cái rá lọc xuống và gài kim vào sau cái bàn rửa bát đĩa. Bà hỏi bằng một giọng đầy kiên nhẫn:

- Gì thế con?

- Có một ông lão ở ngoài kia. Mẹ ra mà coi.

- “Hừm, thế ông ta cần gì?” Mẹ nó cởi dây buộc yếm ra và lấy ngón tay vuốt tóc cho mượt.

- Con không biết. Ông ta đi bộ tới.

Mẹ nó vuốt lại áo rồi bước ra và Jody đi theo. Gitano vẫn còn đứng đó.

- Ông cần gì? Bà Tiflin hỏi.

Lão già Gitano cất chiếc mũ cũ đen ra và cầm nó trước ngực bằng cả hai tay. Lão nhắc lại. “Tôi là Gitano, nay tôi đã trở về.”

- Trở về? Trở về đâu?

Cả tấm thân cứng nhắc của Gitano ngả về phía trước một chút. Ông lão lấy tay phải chỉ vòng quanh những đồi, núi, những thửa ruộng trên sườn dốc thoai thoải rồi lại đưa tay trở về cầm lấy chiếc mũ. “Trở về trại này. Tôi sinh trưởng ở nơi này, cả cha tôi cũng vậy.”

Nhưng rồi ông chỉ về ngọn núi phía tây và nói:

- Không phải, ở đằng kia cơ. Ở về phía bên kia, ở một ngôi nhà hiện nay không còn nữa.

Sau cùng, bà hiểu ý ông lão. – “Có phải ở trong căn nhà cũ bằng đất đã bị trôi đi gần hết không?”

- Phải rồi thưa bà, sau khi trại bị phân tán không ai quét vôi nhà đó nữa, và mưa làm cho căn nhà bị trôi đi hết.

Mẹ thằng Jody yên lặng một lát và những tư tưởng nhớ nhà kỳ lạ vụt qua óc bà ta, nhưng rồi bà trấn tĩnh lại.

- Bây giờ ông muốn gì ở đây, hả ông Gitano?

Ông lão bình tĩnh nói:

- Tôi sẽ ở lại đây cho tới khi tôi chết.

- Nhưng ở đây chúng tôi không cần thêm người giúp việc đâu.

- Thưa bà, tôi cũng chẳng còn làm được việc gì nặng nhọc nữa. Tôi có thể vắt sữa bò, cho gà ăn, bổ một ít củi, thế thôi. Tôi sẽ ở lại đây. Đây là đồ của tôi. Ông lão vừa nói vừa chỉ vào cái túi ở dưới đất bên chân ông.

Bà ta quay lại bảo Jody: “Con chạy xuống chuồng bò gọi ba lên đi.”

Jody vụt chạy đi, và lúc trở lại có ông Carl Tiflin và Billy Buck theo sau. Lão già hãy còn đứng như trước nhưng bây giờ ông có điệu bộ nghỉ ngơi. Tất cả thân hình ông ta đã sụm xuống thành một thế nghỉ ngơi lâu dài.

“Gì đó?”. Ông Carl Tiflin hỏi. “Có việc gì làm thằng Jody xúc động đến thế?”

Bà Tiflin chỉ vào ông lão:

- Ông ấy muốn ở lại đây. Ông ấy muốn xin làm ít việc để được ở lại đây.

- “Nhưng chúng ta không thể mướn ông ấy được. Chúng ta không cần thêm người nữa. Ông ấy già quá rồi. Cần gì đã có Billy làm”. Hai vợ chồng nói chuyện về lão già như thể không có mặt ông ta ở đó, rồi bỗng nhiên, cả hai đều ngập ngừng rồi nhìn Gitano và đều có vẻ ngượng ngập.

Lão già đằng hắng rồi nói: “Tôi già quá nên không làm được việc gì. Nay tôi trở lại nơi chôn nhau cắt rốn của tôi.”

Carl nói bằng giọng gay gắt:

- Ông có sinh trưởng ở đây đâu?

- Không phải ở đây. Ở cái nhà bằng đất bên kia đồi ấy. Trước đây tất cả đều thuộc chung về một trại, trước khi ông tới đây.

- Ở căn nhà bằng đất bị nước làm rữa hết đó ư?

- Đúng vậy. Tôi và cả cha tôi nữa. Bây giờ tôi muốn ở lại trại này.

“Tôi nói cho ông biết, ông không ở lại được đâu.” Carl nói một cách giận dữ: “Tôi không cần tới một ông già. Trại này không lớn lao gì. Tôi không đủ tiền nuôi và trả tiền thầy thuốc cho một ông già. Chắc ông còn có thân nhân và bạn hữu. Ông đi tìm họ đi. Đến cầu khẩn người lạ chẳng khác nào đi ăn xin vậy.”

“Tôi sinh trưởng ở đây” Gintano nói với giọng kiên nhẫn, nhưng cương quyết.

Carl Tiflin không muốn tỏ ra tàn nhẫn nhưng ông cảm thấy bắt buộc phải như vậy. Ông nói; “Ông có thể ăn tại đây tối nay. Rồi ông có thể ngủ ở căn trong buồng nhỏ ở gian nhà ngủ được. Sáng mai chúng tôi lại cho ông ăn bữa sáng nữa, rồi ông phải đi. Ông đi kiếm bạn bè đi. Đừng tới nhà người lạ mà chết ở nhà người ta.”

Gitano đội chiếc mũ đen lên đầu và cúi xuống nhặt cái túi. Ông nói: “Đây là đồ lề của tôi.”

Carl quay bước đi. “Đi đi, Billy, chúng ta đi làm xong việc ở chuồng bò đi. Jody, con chỉ cho ông lão cái phòng nhỏ ở căn nhà ngủ đi.” Carl Tiflin và Billy quay trở lại chuồng bò. Bà Tiflin đi vào nhà rồi nói trở lại, “Tôi sẽ đưa vài cái mền xuống đó cho.”

Gitano nhìn Jody như muốn hỏi, Jody nói: “Tôi sẽ chỉ cho ông phòng đó.”

Trong phòng nhỏ của nhà ngủ có một cái giường nhỏ có đệm nhồi vỏ đậu, một cái thùng đựng táo cũ trên có một cái đèn bằng kẽm và một cái ghế đu đưa không có lưng dựa. Gitano cẩn thận đặt cái túi xuống sàn và ngồi xuống giường. Jody còn bẽn lẽn đứng trong buồng ngần ngại chưa muốn đi. Sau cùng nó nói:

- Có phải ông từ rặng núi lớn tới đây không?

Gintano lắc đầu chậm chạp: “Không, lão làm việc ở dưới thung lũng Salinas.”

Jody vẫn chưa quên ý nghĩ lúc ban chiều nên nó không dứt mà ra đi được. “Ông đã tới những ngọn núi lớn đằng sau kia chưa?”

Đôi mắt già thẫm màu trở nên chăm chú và tia sáng của đôi mắt như chiếu vào bên trong, vào những năm tháng vẫn còn lại trong đầu óc Gitano. – “Có một lần- khi lão còn nhỏ. Lão có đi với cha lão.”

- Đi mãi vào sau kia, vào hẳn trong miền núi à?

- Đúng rồi.

Jody kêu lên:

- Có gì ở đó? Ông có nhìn thấy ai không? Có nhà cửa gì không?

- Không.

- Vậy thì có gì?

Đôi mắt của Gitano vẫn còn đăm chiêu. Một vết nhăn xuất hiện trên trán ông lão.

Jody nhắc lại:

- Ông thấy gì ở đó?

- Lão không biết. Lão không còn nhớ gì cả.

- Quang cảnh rất đáng sợ và khó khăn lắm phải không?

- Lão không nhớ nữa.

Vì quá xúc động, Jody quên cả bẽn lẽn. “Ông không còn nhớ gì sao?”

Gitano mở miệng muốn nói, và cứ há miệng như vậy trong khi óc ông ta tìm câu nói. “Lão nghĩ rằng ở đó yên lặng lắm - ở đó đẹp lắm.”

Đôi mắt Gitano hình như đã tìm ra được một cái gì trong dĩ vãng, vì thấy đôi mắt đó dịu lại và có ánh vui tươi.

Jody gặn hỏi:

- Sau đó không bao giờ ông trở lại núi nữa sao?

- Không.

- Không bao giờ ông muốn trở lại sao?

Nhưng bấy giờ nét mặt Gitano đã tỏ vẻ bực bội, “Không”. Ông lão nói bằng một giọng khiến cho Jody biết rằng ông không muốn nói tới chuyện đó nữa. Thằng bé bị mê hoặc một cách kỳ lạ. Nó không muốn rời lão Gitano. Nó lại cảm thấy bẽn lẽn.

Nó hỏi: “Ông có muốn xuống chuồng bò coi súc vật không?”

Gitano đứng dậy, đội mũ và sắp sửa đi theo.

Lúc đó trời đã gần tối. Họ đứng gần chỗ máng uống nước trong khi những con ngựa từ trên đồi thủng thẳng đi về uống nước. Gitano để đôi bàn tay xù xì của ông lên đà ngang trên chốc hàng rào. Năm con ngựa chạy tới uống nước, rồi đứng quanh đó, lấy mõm gặm mặt đất hay cọ mình vào gỗ nhẵn trên hàng rào. Sau khi những con này uống xong đã lâu, thì một con ngựa già xuất hiện trên đỉnh đồi và nặng nhọc bước xuống. Răng nó dài và vàng, móng nó dẹt và và sắc như cái xẻng và xương sườn xương hông của nó lồi ra ở dưới làn da. Nó khập khễnh bước tới máng nước và uống nước sùm sụp.

Jody giải thích: “Đó là con Easter già. Đó là con ngựa đầu tiên của ba tôi. Nó được 30 tuổi rồi.”

Jody ngửng lên nhìn vào đôi mắt già của Gitano xem có phản ứng gì không.

“Không còn được việc gì nữa.” Gitano nói. Ba thằng Jody và Billy ở chuồng bò ra và bước lại gần. Gitano nhắc lại: “Già quá không làm được việc gì nữa. Chỉ ăn thôi, rồi chả bao lâu nữa sẽ chết.”

Carl Tiflin nghe lọt mấy tiếng sau cùng. Ông thù ghét sự tàn nhẫn của chính mình đối với ông lão Gitano, và vì thế ông lại tỏ ra tàn nhẫn thêm nữa.

Ông nói: “Đáng lẽ phải đem con Easter ra mà bắn chết đi. Để cho nó hết đau và hết bệnh tê thấp”. Ông lén nhìn Gitano để xem lão có để ý gì tới lời nói bóng gió đó không, nhưng những bàn tay xương xẩu của lão vẫn không cử động, và mắt lão vẫn chăm chú nhìn con ngựa. Ba của Jody lại nói tiếp: “Nên làm cho những con vật già hết đau khổ đi. Một phát súng, một tiếng nổ vang, có lẽ đau nhói ở trong đầu rồi, thế là hết. Như vậy còn hơn là bị khổ sở vì mình mẩy đau cứng và đau răng.”

Billy Buck nói chen vào: “Chúng nó có quyền nghỉ ngơi sau khi đã làm việc suốt đời. Có lẽ chúng chỉ thích đi quanh quẩn đây thôi.”

Carl vẫn đang chăm chú nhìn con ngựa gầy. Ông nhẹ nhàng: “Anh không thể tưởng tượng được ngày trước con Easter như thế nào. Cổ cao, ngực nở, mình thon. Nó có thể nhảy vọt qua một cổng có 5 đà ngang dễ như chơi. Nhờ nó tôi được giải nhất trong một cuộc đua ngựa hồi tôi mới 15 tuổi. Hồi đó có thể bán nó với giá 200 đô-la bất cứ lúc nào. Anh không thể tưởng tượng được ngày trước nó đẹp nhường nào.” Ông ta lại tự kiềm chế, vì ông không thích tỏ ra mềm yếu. “Nhưng bây giờ nên bắn cho nó chết đi là phải.”

“Nó có quyền được nghỉ ngơi.” Billy Buck nhấn mạnh thêm.

Ba thằng Jody có một ý nghĩ khôi hài. Ông quay lại lão Gitano và nói: “Nếu trứng và thịt heo muối mọc ở bên sườn đồi thì tôi sẽ cho ông ra đấy mà gặm ăn như ngựa. Nhưng tôi không thể thả cho ông ăn ở trong bếp nhà tôi được.”

Ông ta cười nói với Billy Buck về câu pha trò đó trong khi hai người đi về phía ngôi nhà. “Thật là một điều hay cho tất cả chúng ta nếu trứng và thịt heo muối được mọc ở đồi bên.”

Jody biết ba nó đang tìm cách chọc tức Gitano. Nó cũng đã từng bị như vậy. Ba nó biết cách chọc tức nó lắm.

“Ba tôi chỉ nói vậy thôi.” Jody nói. “Ông không có ý định bắn Easter đâu. Ông mến con Easter lắm. Nó là con ngựa đầu tiên của ông.”

Trong khi hai người còn đứng đó, mặt trời lặn sau những ngọn núi cao và trại trở lại yên lặng. Gitano cảm thấy tự nhiên hơn khi chiều xuống. Lão chép miệng và môi lão phát ra một âm thanh kỳ lạ và lão đưa bàn tay lên trên hàng rào. Con Easter già lập cập tiến lại gần lão, và Gitano xoa vào cái cổ gầy chỗ dưới bờm của con ngựa.

Jody dịu dàng hỏi:

- Ông thích nó à?

- Ừ, nhưng nó chẳng còn tốt gì nữa.

Có tiếng kẻng vang lên trong nhà, Jody kêu lên: “Đến giờ ăn rồi. Đi lên ăn cơm đi.”

Trong khi hai người đi lên nhà, Jody lại nhận thấy rằng thân hình Gitano thẳng như thân hình trai trẻ. Chỉ có điệu bộ lập cập và cặp gót giầy lết cho biết là lão đã già thôi.

Mấy con gà tây nặng nề bay vào những cành thấp của cây trắc-bá cạnh gian nhà ngủ. Một con mèo béo lông mượt bước qua đường, miệng tha một con chuột lớn đến nỗi đuôi quét lê trên mặt đất. Mấy con chim cút ở đồi bên vẫn còn đang gọi nhau đi uống nước.

Jody và Gitano bước tới bực thềm sau và bà Tiflin đứng trong nhà nhìn ra phía hai người qua cửa lưới.

“Mau lên Jody. Ông Gitano, vào ăn cơm đi.” Carl và Billy Buck đã bắt đầu ăn tại chiếc bàn dài trên có trải khăn vải dầu. Jody ngồi lọt vào ghế của nó mà không cần phải kéo ghế, nhưng Gitano vẫn đứng tay cầm mũ cho tới khi Carl ngửng lên và nói: “Ngồi xuống đi. Ngồi xuống đi. Ông nên ăn cho no bụng trước khi đi.” Carl sợ rằng mình sẽ xiêu lòng mà cho phép lão già ở lại, và vì vậy ông cứ phải tự nhắc luôn luôn là không thể như thế được.

Gitano đặt mũ trên sàn và ngượng nghịu ngồi xuống. Lão không muốn thò tay lấy thức ăn, Carl phải đưa đồ ăn cho lão. “Đồ ăn đây, ăn cho no đi.” Gitano ăn rất chậm, cắt những miếng thịt rất nhỏ và đắp nhiều tảng khoai nghiền nhỏ trên đĩa.

Tình trạng này vẫn làm cho Carl Tiflin băn khoăn. Ông hỏi: “Ông không có họ hàng thân thích gì ở đây sao?”

Gitano trả lời vẻ hơi tự hào: “Anh rể tôi ở Monterey. Tôi cũng có anh em họ ở đó nữa.”

- Vậy thì ông có thể đến đó ở được.

- “Nhưng mà tôi sinh trưởng ở đây”. Gitano nhẹ nhàng phản đối như vậy. Mẹ thằng Jody ở bếp ra, bưng một tô lớn bánh bu-đinh nấu bằng bột sắn.

Carl cười hỏi vợ: “Tôi đã nói cho bà biết điều mà tôi nói với lão chưa nhỉ? Tôi bảo rằng nếu trứng và thịt heo muối mọc ở đồi bên, thì tôi sẽ thả lão ra cho lão gặm ăn, hệt như con Easter già vậy.”

Gitano nhìn trừng trừng vào đĩa đồ ăn của lão và không tỏ vẻ gì xúc động.

Bà Tiflin nói:

- Thật đáng tiếc là lão không ở đây được.

Carl Tiflin giận dữ nói:

- Bà lại muốn sinh sự hử?

Khi ăn xong, Carl và Billy Buck cùng Jody vào phòng khách ngồi một lát, còn Gitano đi thẳng qua bếp ra cửa sau, không nói lấy một lời cám ơn hay từ biệt. Jody ngồi và quan sát ba nó. Nó biết ba nó tự cảm thấy mình bần tiện biết bao.

Carl nói với Billy Buck: “Vùng này đầy rẫy những bọn tá điền như vậy.”

Billy bênh vực họ: “Họ là những người rất đắc lực. Họ có thể làm việc được tới tuổi già hơn người da trắng. Tôi đã thấy một người già tới 105 tuổi mà còn đi ngựa được. Ông không kiếm được một người da trắng nào già như Gitano mà đi bộ được hàng hai ba chục dặm.”

Carl biểu đồng tình: “Ồ, họ khỏe thật, tôi đồng ý. Nhưng này, anh cũng bênh lão ư?’ Và ông giải thích: “Billy, anh hãy nghe tôi nói đây. Tôi giữ được trang trại này khỏi mất về tay bọn Ngân-hàng Ý-đại-Lợi cũng nhọc lắm rồi, chưa kể phải nuôi báo cô ai. Điều đó anh biết lắm chứ, Billy.”

- Phải, tôi biết lắm. Nếu ông giàu, lẽ tất nhiên lại khác.

- Phải rồi, mà hình như không phải lão không có có bà con họ hàng gì để nhờ vả. Anh rể và anh em họ lão ở ngay tại Monterey. Việc gì phải bận tâm lo cho lão nữa?

Jody ngồi yên nghe, và hình như nó vẫn nghe thấy tiếng nói nhẹ nhàng của Gitano và câu nói của lão. “Nhưng tôi sinh trưởng ở đây mà không ai biết trả lời ra sao. Gitano cũng bí mật như những rặng núi kia. Có những rặng ở tận chân trời xa tít, nhưng đằng sau rặng cuối cùng ở tận chân trời vẫn còn có một miền xa lạ. Gitano chỉ là một ông lão già thôi, và chỉ khi người ta nhìn thấy đôi mắt đen và lờ đờ của lão. Đằng sau đôi mắt này có một điều gì bí ẩn. Không bao giờ lão nói gì nhiều để cho người ta đoán biết có gì ở bên trong, ở đằng sau đôi mắt đó. Jody tự cảm thấy không cưỡng lại được tính tò mò muốn đến thăm gian nhà ngủ. Nó tụt xuống ghế trong khi ba nó đang nói chuyện rồi nó lẻn ra cửa không một tiếng động.

Trời tối lắm và những tiếng động từ xa vang lại nghe rõ mồn một. Tiếng nhạc ngựa của một bọn thợ làm rừng vang lại từ con đường làng phía xa xa sau đồi. Jody lần mò đi qua sân tối. Nó trông thấy ánh đèn qua cửa sổ của phòng nhỏ trong nhà ngủ. Vì không sợ lộ trong đêm tối, nó lẳng lặng đi tới cửa sổ và nhòm vào. Gitano đang ngồi trên cái ghế đu đưa và quay lưng ra cửa sổ. Cánh tay phải của lão đưa qua đưa lại chậm chậm trước mặt lão. Jody đẩy cửa bước vào. Gitano phát nhỏm dậy và vớ một tấm da hươu định che vật để trong lòng lão, nhưng tấm da tuột đi mất. Jody đứng ngẩn mặt nhìn vật đang nằm trong tay Gitano, đó là một thanh kiếm nhọn, thon, rất đẹp, có một cái cán vàng có bao tay.

Lưỡi kiếm giống như một vệt ánh sáng mỏng. Cán kiếm có chạm trổ thật tinh vi.

Jody hỏi: “Cái gì đó?”

Gitano chỉ nhìn nó bằng đôi mắt oán hận, và lão nhặt tấm da hươu lên rồi quấn chặt lưỡi kiếm đẹp vào trong.

Jody giơ tay ra. “Cho tôi xem được không?” Đôi mắt Gitano bừng bừng giận dữ và lão lắc đầu.

“Ông lấy kiếm đó ở đâu vậy? Kiếm đó ở đâu ra?” Bây giờ Gitano lại nhìn nó một cách thâm trầm, như thể đang suy nghĩ.

- Tôi lấy của cha tôi đó.

- Vậy cha ông lấy ở đâu ra?

Gitano cúi nhìn gói da hươu dài trong tay lão và nói:

- Lão không biết.

- Cha ông không bao giờ nói cho ông biết sao?

- Không.

- Ông dùng dao đó để làm gì?

Gitano có vẻ như hơi ngạc nhiên.

- Chẳng làm gì cả. Lão giữ chơi vậy thôi.

- Cho tôi xem nữa được không?

Lão già chậm chạp mở gói lấy lưỡi kiếm bóng loáng ra và để cho ánh đèn chiếu lên trong chốc lát. Rồi lão gói lại. “Bây giờ em đi đi. Lão muốn đi ngủ bây giờ đây.” Lão thổi thắt đèn gần như ngay trước khi Jody kịp đóng cửa lại.

Trong khi trở về nhà, Jody biết rõ một điều, hơn hết tất cả những gì mà nó đã biết từ trước tới nay. Nó không bao giờ được nói cho ai hay biết gì về lưỡi kiếm. Thật là một điều đáng sợ nếu đem nói cho ai hay biết chuyện đó, vì làm như vậy là làm tiêu tan mất một sự thật mong manh. Đó là một sự thật có thể bị tan vỡ nếu đem nói cho một người khác biết.

Trên đường qua sân tối, Jody gặp Billy Buck.

Billy nói: “ba má đang hỏi chú đi đâu đó. Jody lén trở về phòng khách và ba nó quay lại hỏi:

- Con đi đâu về đó?

- Con đi coi cái bẫy mới của con có bắt được con chuột nào không.

- Con đi ngủ đi là vừa rồi.

Sáng hôm sau, Jody ra ngồi bàn ăn sáng trước tiên, rồi ba nó vào, sau cùng đến Billy Buck. Bà Tiflin ở trong bếp ngó ra hỏi:

- Lão già đâu hả, Billy?

- Chắc lão đi ra ngoài rồi. Tôi nhìn vào buồng và không thấy lão ở đó.

Carl Tiflin nói: “Có lẽ lão đi Monterey từ sớm rồi. Đi bộ từ đây đến đó xa lắm.”

“Không đâu” Billy giải thích. “Túi của lão hãy còn ở trong phòng mà.”

Ăn sáng xong, Jody đi xuống nhà ngủ. Mấy con ruồi đang bay loang loáng trong ánh nắng. Sáng nay, trại có vẻ yên lặng đặc biệt. Khi nó chắc không có ai nhìn nó, Jody lén vào phòng nhỏ và nhòm vào trong cái túi của Gitano. Nó thấy có dư một bộ quần áo lót bằng vải bông, một cái quần bó thừa và ba đôi tất đã cũ. Ngoài ta chẳng có gì nữa. Jody đột nhiên cảm thấy quá bơ vơ. Nó chậm chạp quay bước lên nhà trên. Ba nó đang đứng nói chuyện với mẹ nó ở bực cửa.

Ba nó nói: “Chắc con Easter già lần này chết thật rồi. Tôi không thấy nó xuống uống nước với mấy con ngựa kia.”

Vào giữa buổi sáng Jess Taylor ở trại trên đỉnh núi đi ngựa xuống. Jess hỏi:

- Có phải anh đã bán con ngựa xám già đáng làm mồi cho quạ ăn đó không, anh Carl?

- Không, đời nào. Tại sao anh hỏi vậy?

- À, sáng nay tôi ra khỏi nhà rất sớm và tôi thấy một cảnh tức cười. Tôi thấy một ông lão cưỡi một con ngựa già, không yên, chỉ có một đoạn dây thừng làm cương. Lão không đi trên đường cái đâu. Lão đi ngược thẳng lên núi xuyên qua những bụi cây. Tôi tưởng lão có súng. Tôi có trông thấy một vật gì sáng loáng trong tay lão.

Carl Tiflin nói:

- “Lão già Gitano đó. Tôi đi xem tôi có bị mất khẩu súng nào không.” Ông bước vào trong nhà một lát rồi trở ra nói: “Không sao, đủ cả. Lão đi lối nào đó, anh Jess?”

- Hừ, thực tức cười. Lão đi thẳng vào núi.

Carl cuời và nói: “Bọn chúng già tới đâu cũng vẫn còn ăn cắp, chắc lão ăn trộm con ngựa già Easter rồi.”

- Muốn đuổi theo lão không, anh Carl?

- Thôi thôi, như vậy là tôi khỏi phải chôn con ngựa đó. Không hiểu lão lấy súng ở đâu. Không biết lão muốn tới đó làm gì?

Jody đi ngược lên qua các luống rau tới hàng bụi cây. Nó chăm chú nhìn những dãy núi cao ngất, dãy nọ nối tiếp dãy kia, trùng trùng điệp điệp cho mãi tới đại dương. Trong chốc lát, nó tưởng như nó nhìn thấy được một chấm đen đang bò lên đỉnh núi xa nhất. Jody nghĩ tới lưỡi kiếm và Gitano. Rồi nó nghĩ tới những ngọn núi lớn. Một niềm khao khát như mơn trớn nó rồi trở nên mãnh liệt đến đỗi, nó muốn khóc oà lên để được thoải mái hơn. Nó nằm xuống cỏ xanh cạnh bể nước tròn ở chỗ hàng bụi cây: Nó khoanh tay che mắt và nằm đó rất lâu, lòng tràn đầy một nỗi buồn man mác.

➖➖➖


Việt Điện U Linh Tập - Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) - Lý Tế Xuyên

2026-06-20 Việt Điện U Linh Tập Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) ...