2024-02-24

Những kẻ nô lệ ái tình - Knut Hamsun

2024-02-24

Những kẻ nô lệ ái tình


Knut Hamsun

(Giải Nobel Văn học 1920)

Dịch giả: DƯƠNG TƯỜNG

Dịch theo bản tiếng Pháp của Régis Byero (SH25/6-87)

~

 

 Do tôi viết. Viết vào ngày hôm nay cho trái tim vơi nhẹ đi. Tôi đã mất chỗ làm ở tiệm cà phê cùng những ngày sung sướng của tôi. Tất thảy mọi thứ, tôi đã mất hết. Và tiệm cà phê ấy là tiệm cà phê Mắcximilăng.

Chiều lại chiều, một ông trẻ tuổi vận đồ xám cùng với hai người bạn thường đến ngồi ở một bàn thuộc khu vực tôi phục vụ. Có biết bao ông thường đến… Tất cả đều dành cho tôi một lời ưu ái. Ông này thì tịnh không. Ông cao và mảnh người, tóc đen, mềm, đôi mắt xanh thỉnh thoảng lại nhìn tôi. Phía trên môi trên, bắt đầu lún phún một bộ ria nhỏ.

Được lắm. Thoạt đầu, chắc ông ấy chả có gì hiềm kị tôi. Ông ấy đến liền một tuần. Tôi đã quen với ông, khi nào ông không đến là tôi đâm nhớ. Một hôm, tôi không thấy ông... Tôi đi vòng khắp tiệm, cuối cùng tôi tìm ra ông ở gần một cái cột lớn cạnh cửa ra vào mé bên kia: ông ấy ngồi với một cô ở gánh xiếc. Cô này mặc áo dài màu vàng, đôi găng dài lên đến quá khuỷu tay. Cô ta trẻ, có đôi mắt đẹp, sẫm tối, còn mắt tôi thì lại xanh.

Tôi chỉ dừng lại một lát để nghe xem họ nói chuyện gì, cô ta trách ông điều gì đó, cô ta mệt mỏi với ông, cô ta yêu cầu ông đi khỏi. Tận trong lòng mình, tôi nói: Được, cô nàng thân mến, tại sao ông ấy không đến với tôi?

Chiều hôm sau, ông ấy cùng vào với hai người bạn và ngồi ở một trong những bàn của tôi; bởi vì tôi phải phục vụ năm bàn mà. Tôi đi lại chỗ ông ấy như thường lệ, nhưng tôi đỏ bừng mặt và làm như không nhìn thấy ông. Khi ông ra hiệu cho tôi, tôi tiến đến.

Tôi nói:

- Hôm qua ông không ở đây.

- Cô hầu bàn của chúng ta có thân hình thanh tú làm sao! - ông ấy nói với các bạn.

Tôi hỏi:

- Các ông dùng bia?

- Phải, - ông ấy đáp.

Và tôi lao đi kiếm ba vại bia, gần như chạy.

***

Mấy ngày qua đi.

Ông ấy đưa cho tôi tấm danh thiếp và bảo:

- Cô đưa cái này đến...

Tôi cầm lấy danh thiếp trước khi ông nói hết câu và mang đến cho cô áo vàng.

Trong khoảng ấy, tôi đọc được tên ông: Valađimia T.

Khi tôi trở lại ông nhìn tôi, vẻ dò hỏi:

- Xong rồi, tôi nói.

- Không có trả lời?

- Không ạ.

Bấy giờ, ông ấy bèn cho tôi một mác và mỉm cười nói:

- Không có trả lời cũng là một câu trả lời phải không nhỉ?

Suốt buổi tối, ông ấy ngồi nhìn cô ta và các bạn cô. Đến mười một giờ, ông đứng dậy và lại bàn cô ta. Cô ta tiếp đón ông thật lạnh lùng, trái lại, hai người bạn cô nói chuyện với ông và vừa tủm tỉm cười vừa hỏi ông những câu thật ranh ma. Ông chỉ đứng đấy có vài phút và khi ông quay trở lại, tôi nhắc ông rằng ông đã đánh đổ bia vào một bên túi áo choàng. Ông cởi áo, quay phắt lại phía bàn cô nàng ở gánh xiếc. Tôi chùi chiếc áo choàng và ông mỉm cười nói:

- Cảm ơn, nàng nô lệ.

Trong khi giúp ông mặc áo vào, tôi trộm vuốt ve lưng ông.

Ông ngồi xuống, trầm ngâm suy nghĩ. Một trong hai người bạn ông gọi thêm bia và tôi cầm lấy cốc của ông ta để đi rót. Tôi định lấy cả cốc của T. luôn thể.

- Không, ông vừa nói vừa đặt tay lên tay tôi.

Sự đụng chạm ấy làm cả cánh tay tôi tê dại và chắc ông cũng nhận thấy thế vì ông lập tức rụt tay lại.

Đêm ấy, tôi quỳ trước giường cầu nguyện cho ông hai lần. Và vui sướng, tôi hôn lên bàn tay phải của mình, ở chỗ ông đã chạm vào.

***

Một hôm, ông ấy đã cho tôi hoa, bao nhiêu là hoa.

Ông ấy đã mua của chị hàng hoa gần hết cả thúng, ngay lúc bước vào tiệm, hoa tươi và đỏ thắm. Ông để hoa tràn bàn trước mắt mình hồi lâu. Không có người bạn nào đi theo ông. Tôi đứng thật lâu đằng sau một cái cột, vừa nhìn ông vừa nghĩ. Tên chàng là Vlađimia T.

Một giờ, có lẽ đến thế, trôi qua. Ông ấy liên tục nhìn chiếc đồng hồ quả lắc.

Tôi hỏi ông:

- Ông chờ ai chăng?

Ông nhìn tôi bằng một vẻ lơ đãng rồi đột ngột nói:

- Không, tôi không chờ ai cả. Tôi còn biết chờ ai kia chứ?

- Em chỉ nghĩ rằng có lẽ ông chờ ai - tôi lại nói.

- Này - ông nói. Của cô đấy.

Và ông ấy cho tôi cả mớ hoa ấy!

Tôi cảm ơn, nhưng tôi không nói nên lời, chỉ đủ sức thì thầm. Tôi bị một niềm vui đỏ chói cuốn đi, tôi thấy mình hổn hển đứt hơi bên quầy hàng, nơi tôi đến để lấy một cái gì đó mang cho khách!

- Cô cần gì? - Chị phục vụ hỏi.

- Thế chị nghĩ sao về chuyện này? - đến lượt tôi hỏi lại.

- Tôi nghĩ sao về chuyện này ư? - Chị phục vụ nói, - Cô điên rồi à?

- Chị thử đoán xem ai đã cho tôi những bông hoa này, tôi nói.

Ông quản lý đi qua.

- Cô chưa mang bia cho cái ông có chân gỗ đấy, tôi nghe thấy ông nói.

- Vlađimia cho đấy, tôi vừa nói vừa vội vàng đi bưng bia.

T. vẫn chưa đi. Một lần nữa tôi cảm ơn ông khi ông đứng lại. Ông giật bắn người và nói:

- Thực ra, tôi đã mua hoa cho một người đàn bà khác.

Thôi được, có lẽ chàng đã mua hoa cho một người đàn bà khác. Nhưng người nhận hoa lại là tôi. Hoa đã về tay tôi trước khi tới người phụ nữ mà chúng được dành cho. Và chàng còn để cho tôi cảm ơn chàng về chuyện ấy nữa. Chúc ngủ ngon, Vlađimia.

***

Ngày hôm sau, trời mưa.

Tôi nghĩ: “Hôm nay mình mặc cái áo dài đen hay cái xanh đây? Cái xanh. Cái ấy mới hơn, vậy, thì mình chọn nó”. Tôi rất vui.

Khi tôi tới trạm đỗ, có một bà đợi xe điện dưới mưa. Bà không có ô. Tôi nhường ô của tôi cho bà, nhưng bà lịch sự từ chối. Thế là tôi cụp ô lại trong khi đứng đợi. Như vậy, không phải chỉ một mình bà chịu ướt, tôi nghĩ thầm.

Buổi tối, Vlađimia đến tiệm cà phê.

- Cảm ơn về những bông hoa hôm qua, tôi hãnh diện nói.

- Hoa nào? - chàng hỏi. Thôi ta đừng nói đến những bông hoa ấy nữa.

- Em đã muốn cảm ơn ông về chuyện đó, tôi nói.

Chàng nhún vai đáp:

- Cô đâu phải người tôi yêu, nàng nô lệ ạ.

Tôi không phải người chàng yêu... cũng được. Tôi không chờ đợi điều ấy và tôi không lấy thế làm trái ý. Nhưng tối nào tôi cũng được thấy chàng, chàng ngồi ở một trong những bàn của tôi, không ngồi ở bàn nào khác và chính tôi hầu bia chàng. Xin hãy nhận lời cảm ơn vì đã luôn trở về nguyên chỗ, Vlađimia.

Tối hôm sau, chàng đến muộn. Chàng nói:

- Cô có nhiều tiền không, nàng nô lệ?

- Không ạ, tôi trả lời, khốn thay, em là một con hầu nghèo. Chàng bèn nhìn tôi và mỉm cười nói:

- Chắc chắn là cô không hiểu tôi. Tôi cần một chút tiền cho đến ngày mai.

- Em có một ít tiền, em có một trăm ba mươi mác để ở nhà.

- Để ở nhà cô, chứ không phải ở đây?

Tôi đáp:

- Ông chờ em mười lăm phút, rồi khi đóng cửa tiệm, ông đi theo em về, em sẽ có tiền.

Chàng chờ mười lăm phút và đi theo tôi. Chỉ cần một trăm mác thôi, chàng nói. Chàng bước bên cạnh tôi suốt không để tôi đi trước hay hụt lại sau như các ông đẹp trai, sang trọng thường làm nhiều lần.

- Em chỉ có một phòng con con, tôi nói khi hai chúng tôi dừng lại trước cổng nhà.

- Tôi không lên đâu, chàng nói. Tôi đợi ở đây.

Chàng đợi.

Khi tôi trở xuống, chàng đếm tiền và nói:

- Có hơn một trăm mác. Tôi biếu cô mười mác thù lao. Không, cô phải nhận, cô hiểu không, tôi muốn biếu cô mười mác gọi là thù lao.

Và chàng đưa tiền cho tôi, chúc tôi ngủ ngon và đi khỏi. Đến đầu phố, tôi thấy chàng dừng lại và cho bà ăn mày già què chân một Xkilinh (1).

Tối hôm sau vừa đến, chàng liền phàn nàn là chưa thể trả nợ tôi. Tôi lấy làm biết ơn chàng về việc chưa có tiền trả tôi. Chàng thành thật công nhận là đã tiêu phí hết sạch.

- Biết nói thế nào đây, nàng nô lệ! Chàng mỉm cười nói. Tại nàng áo vàng, cô biết đấy!

- Tại sao cậu lại gọi cô phục vụ của chúng ta là nô lệ? - một trong hai người bạn của chàng hỏi. Cậu còn nô lệ hơn cô ấy chứ, đúng không?

- Các ông dùng bia? - Tôi ngắt lời họ.

Lát sau, cô áo vàng vào. T. đứng dậy và nghiêng mình chào. Chàng cúi thấp đến nỗi tóc xòa xuống trước mặt. Cô ta đi qua trước mặt chàng và ngồi vào một bàn lẻ, nhưng vẫn dành riêng hai ghế. Lập tức T. đến bàn cô ta và ngồi vào một chiếc. Hai phút sau, chàng đứng lên và nói to:

- Được, tôi đi đây. Và tôi sẽ không bao giờ trở lại.

- Cảm ơn, cô ta nói.

Tôi sung sướng đến run cả hai chân, tôi chạy đến quầy để nói một điều gì đó. Tôi phải kể là chàng sẽ không bao giờ trở lại gặp cô ta nữa. Ông quản lý đi qua, ông ta mắng tôi gay gắt, song tôi bất cần.

Nửa đêm, khi tiệm cà phê đóng cửa, T. đưa tôi về đến tận cổng nhà.

- Năm trong số mười mác biếu cho cô hôm qua, chàng nói.

Tôi đưa cho chàng cả mười mà chàng cũng nhận, nhưng chàng đưa lại cho tôi năm mác coi như thù lao. Và chàng không muốn nghe những lời phản đối của tôi.

- Tối nay, em thật sung sướng, tôi nói. Em những muốn mạo muội mời ông lên chơi, buồn một nỗi em chỉ có một gian phòng bé tí xíu.

- Tôi sẽ không lên đâu, chàng đáp. Chúc ngủ ngon.

Chàng đi khỏi. Chàng lại qua trước mặt bà ăn mày già nhưng quên không cho tiền bố thí, mặc dầu bà đã gập mình cúi chào. Tôi chạy đến chỗ bà, đưa cho bà tí ti gọi là và nói:

- Đây là của người vừa đi qua, ông vận đồ xám ấy.

- Ông mặc đồ xám? - bà già hỏi.

- Người đàn ông tóc đen ấy. Vlađimia.

- Cô là vợ ông ấy?

Tôi đáp:

- Không, cháu là nô lệ của ông ấy.

***

Rồi mấy tối liền chàng cứ than phiền là không có tiền trả tôi. Tôi xin chàng đừng làm tôi khổ tâm như thế, chàng nói tướng lên điều đó, tất cả mọi người đều nghe thấy và có nhiều người phì cười.

- Tôi là một thằng đểu, một thằng khốn nạn, chàng nói. Tôi đã vay tiền cô và không có khả năng hoàn lại cô. Tôi những muốn chặt phăng bàn tay phải để đổi lấy năm mười mác.

Nghe những lời ấy, tôi nẫu cả lòng và tôi nghĩ cách kiếm ra tiền cho chàng, mặc dầu tôi không có khả năng.

Chàng còn bảo tôi:

- Ngoài ra nếu cô hỏi chuyện riêng của tôi ra sao rồi thì xin nói: nàng áo vàng đã ra đi với gánh xiếc của nàng. Tôi đã quên nàng rồi. Tôi không nhớ nàng nữa.

- Vậy mà hôm nay cậu lại vừa viết cho cô ta một bức thư nữa, một trong hai người bạn chàng nói.

- Đó là bức cuối cùng, Vlađimia đáp.

Tôi mua của chị hàng hoa một bông hồng và cài vào khuyết áo chàng ở bên trái. Trong khi làm thế, tôi cảm thấy hơi thở chàng trên bàn tay, phải khó khăn lắm tôi mới cắm chiếc ghim cài vào được.

- Cảm ơn, chàng nói.

Tôi đòi mấy mác tôi còn lại trong quỹ đưa cho chàng. Đó là một món chả nghĩa lý gì.

- Cảm ơn, chàng lại nói.

Tôi sung sướng suốt cả buổi tối, cho đến khi Vlađimia đột ngột nói:

- Với mấy mác nầy, tôi sẽ đi một tuần. Khi tôi trở lại, tôi sẽ hoàn lại tất cả số tiền của cô.

Thấy tôi xúc động, chàng nói thêm:

- Chính cô mới là người tôi yêu.

Và chàng cầm tay tôi.

Tôi bối rối vì chàng muốn ra đi mà không chịu nói là đi đâu, mặc dù tôi đã hỏi chàng. Mọi thứ, toàn bộ tiệm cà phê, những chùm đèn treo, các khách hàng đông đảo, tất thảy bắt đầu quay tít xung quanh tôi, tôi không cưỡng lại nổi, tôi bíu cả hai tay vào chàng.

- Trong vòng một tuần, tôi sẽ trở lại với cô, chàng vừa nói vừa đứng dậy thật nhanh.

Tôi nghe thấy ông quản lý bảo tôi:

- Cô sẽ bị đuổi.

“Được lắm, tôi nghĩ thầm. Thế thì việc gì nào! Trong vòng một tuần, Vlađimia sẽ trở về với tôi!”... Tôi định cảm ơn chàng, tôi quay người lại... chàng đã đi rồi.

***

Một tuần sau, một buổi tối, về đến nhà, tôi thấy một bức thư của chàng. Chàng tuyệt vọng, chàng nói rằng chàng đi tìm cô áo vàng, rằng chàng hẳn không bao giờ có thể trả nợ tôi, rằng chàng đang trong cơn cùng quẫn nhất. Rồi chàng lại tự kết tội là một tâm hồn ghê tởm và ở cuối trang chàng viết: “Tôi là tên nô lệ của nàng áo vàng”.

Ngày đêm, tôi đau đớn khổ não, tôi không thể làm gì khác. Một tuần sau, tôi mất chỗ làm và tôi bèn đi kiếm một chỗ khác. Ban ngày, tôi đến xin phục vụ ở các tiệm cà phê khác và các khách sạn, tôi gõ cửa cả các tư gia xin vào giúp việc. Không ăn thua. Tới khuya, tôi mua với nửa giá tiền tất cả các báo và khi về đến nhà, đọc các mục rao vặt. Tôi nghĩ: có thể bây giờ mình sẽ tìm ra cái mối gì đó khả dĩ cứu được hai chúng mình, Vlađimia và mình...

Tối hôm qua, tôi đã thấy tên chàng trên một tờ báo, người ta nói đến chàng. Tôi liền đi ra ngay, ra khỏi nhà, tôi lang thang các phố và sáng nay tôi trở về. Có lẽ tôi đã ngủ ở một chỗ này hay một chỗ khác, hoặc giả tôi đã ngồi lì ở một cầu thang, không đủ sức bước nữa, tôi chẳng biết.

Hôm nay, tôi đọc lại tờ báo. Nhưng chính tối qua khi về nhà, tôi đã đọc nó lần đầu mà. Thoạt tiên, tôi đã chấp tay lại, rồi tôi ngồi vào một cái ghế tựa. Lát sau tôi ngồi xuống sàn, dựa lưng vào một cái ghế. Tôi tì bẹt hai bàn tay trên sàn vừa đưa qua đưa lại, vừa suy nghĩ. Mà có lẽ tôi cũng chả suy nghĩ gì sất, song sự trống rỗng cứ lào xào trong đầu tôi và tôi không còn ý thức về mình nữa. Thế rồi tôi phải đứng lên và ra ngoài. Đến đầu phố, tôi nhớ là mình đã cho bà ăn mày già một Xkilinh và nói:

- Đó là của ông vận đồ xám, bà biết đấy.

- Có lẽ cô là vợ chưa cưới của ông ấy chăng? bà lão hỏi.

Tôi đáp:

- Không, cháu là vợ góa của ông ấy...

Và tôi lê bước khắp các phố đến tận sáng nay. Và tôi đã đọc lại tờ báo.

Tên chàng là Vlađimia T.

-----------------

(1)        Đồng Skilling: Tiền các nước Bắc Âu bằng một phần nhỏ đồng mác.

➖➖➖

 

2024-02-17

Tiếng gọi đời thường - Knut Hamsun

 2024-02-17

Tiếng gọi đời thường


Knut Hamsun

(Giải Nobel Văn học 1920)

 


 

Ở gần khu cảng của Copenhagen, có một con đường tên là Vestervold, tuy mới nhưng vắng vẻ. Ở đó chỉ có vài ngôi nhà, mấy ngọn đèn hơi đốt và hầu như không người qua lại. Ngay cả lúc này, mùa hè, cũng khó mà thấy ai đi dạo ở đó.

Vậy mà, đêm qua tôi đã gặp một chuyện ngạc nhiên trên con đường ấy.

Tôi đang đi loanh quanh thì có một phụ nữ từ phía ngượi đi tới. Quanh đó không bóng người. Ngọn đèn đường có đốt, nhưng vẫn tối, tối đến tôi không nhìn rõ mặt bà ta. Tôi thầm nghĩ, hẳn cũng là loài đi ăn đêm đây, và đi qua bà ta.

Đến cuối đường tôi thả bộ vòng lại. Bấy ấy cũng quay lại và chúng tôi chạm mặt lần nữa. Tôi nghĩ bà ta đang chờ ai đó và bỗng tò mò muốn biết người đó là ai, thế là tôi lại đi qua bà ta.

Khi chạm mặt lần thứ ba, tôi khẽ bỏ mũ và nói:

- Xin chào bà! Chắc bà đang đợi ai?

Bà ta giật mình. Không - tức là, phải - bà ta đang đợi.

- Bà có phiền khi tôi cùng đi dạo với bà cho đến khi người ấy tới không?

Không - ít nhất bà ta cũng không phản đối điều đó, và còn cảm ơn tôi nữa. Thật ra, bà ta giải thích, bà chẳng đợi ai. Bà chỉ muốn hít thở khí trời, mà ở đây thì yên tĩnh.

Chúng tôi đi loanh quanh bên nhau, và bắt đầu nói về đủ thứ chuyện tầm phào. Tôi giơ tay cho bà khoác.

- Không, cám ơn ông - bà ta nói, và lắc đầu.

Đi dạo kiểu này mãi thì chẳng có gì hứng thú. Tôi không nhìn rõ được bà trong bóng tối, tôi bèn đánh một que diêm để xem đồng hồ. Tôi giữ yên cây diêm và nhìn bà ta.

- Chín rưỡi rồi, - tôi hỏi. - Hay ta ghé vào chỗ nào đó uốn cái gì đi? Ở Tivoli nhé? Hay National?

- Nhưng, ông không hiểu là tôi không thể đi đâu được sao?

Và đến bây giờ tôi mới nhận ra bà đeo một tấm mạng đen dài. Tôi vội vàng xin lỗi, và đổ thừa cho bóng tối khiến tôi không được rõ. Và cung cách bà nhận lời xin lỗi của tôi khiến tôi tin rằng bà không thuộc loại gái ăn đêm thường thấy.

- Bà không khoác tay tôi được sao? - Tôi lại đề nghị - nó sẽ làm bà ấm hơn một chút.

Và bà khoác tay tôi.

Chúng tôi lại đi lên đi xuống vài vòng nữa, bà bảo tôi xem giờ.

- Mười giờ rồi, bà ngụ ở đâu vậy?

- Ở Gamle Kongevei.

Tôi dừng bà ta lại:

- Tôi có thể đưa bà về nhà không?

- Không tiện đâu, - bà đáp - Không, tôi không thể để ông... Ông ở Bredgade phải không?

- Sao bà biết vậy? - Tôi ngạc nhiên hỏi.

- Ồ, tôi biết ông là ai mà, - bà ta trả lời.

Ngưng một lát, chúng tôi khoác tay nhau đi về phía những phố sáng đèn. Bà đi nhanh nhẹn, tấm mạng dài phất phơ đằng sau.

- Ta nên nhanh nhanh một chút, - bà nói.

Đến cửa nhà bà ở Gamle Kongevei, bà quay lại như để cảm ơn tôi đã đưa bà về. Tôi mở cửa cho bà và bà chậm chạp bước. Tôi nhẹ nhàng đẩy vai vào cánh cửa và bước vào theo. Đến bên trong, bà nắm lấy tay tôi. Cả hai đều không nói một lời.

Chúng tôi theo cầu thang vượt hai tầng lầu và dừng lại ở tầng ba. Tự tay bà mở khóa và xô cánh cửa ra, bà nắm lấy tay tôi và dẫn vào. Có lẽ đó là một phòng khách nhỏ, tôi nghe tiếng đồng hồ tíc tắc trên tường. Khép cửa lại, bà ta sựng lại một chút rồi đột nhiên giơ tay ôm chầm lấy tôi và run rẩy, mê đắm hôn ngay vào môi tôi. Ngay vào môi tôi.

- Ông ngồi xuống đi, - bà bảo - Có cái trường kỷ đây, để tôi đi thắp đèn.

Và bà ta đốt một ngọn đèn.

Tôi nhìn quanh, bàng hoàng, nhưng lại tò mò. Tôi thấy mình ngồi trong một phòng khách rộng rãi, bài trí sang trọng với những cánh cửa khép hờ dẫn sang các căn phòng cạnh đó. Cả đời tôi cũng không thể nhận ra mình vừa tình cờ gặp loại người nào đây.

- Phòng đẹp quá! - Tôi kêu lên - bà sống ở đây hả?

- Phải, đây là nhà tôi.

- Nhà của bà à? Bà còn sống với bố mẹ hả?

- Ồ, không, - bà ta cười. - Tôi già rồi, như anh sẽ thấy đây. - Và bà gỡ tấm mạng ra.

- Đó... thấy chưa ! - Bà ta nói và ôm chầm lấy tôi lần nữa, thật đột ngột, như bị thôi thúc không kìm được.

Bà ta (phải gọi là nàng mới đúng) chỉ mới khoảng hai mươi hai, hai mươi ba, có một cái nhẫn trên tay phải, và do đó hẳn đã có chồng rồi. Xinh đẹp ư? Không hẳn nàng có nhiều tàn nhang, chân mày hầu như không có. Nhưng ở nàng có vẻ gì rất sôi nổi, và đôi môi của nàng đẹp kì lạ.

Tôi muốn hỏi nàng là ai, chồng ở đâu, nếu quả nàng có chồng, và căn nhà nay là của ai, nhưng nàng lao vào ôm lấy tôi mỗi khi tôi mở miệng và ngăn không để tôi hỏi.

- Tên tôi là Ellen, - nàng giải thích - Ông có muốn uống gì không? Bây giờ tôi có rung chuông gọi thì cũng chẳng có ai phiền. Nhưng có lẽ mời ông qua đây, trong phòng ngủ, chờ cho một chút.

Tôi đi vào phòng ngủ. ánh đèn từ phòng khách soi qua đây phần nào. Tôi thấy hai cái giường. Ellen rung chuông và gọi rượu vang, rồi tôi nghe tiếng người hầu mang rượu vào và đi ra. Một lát sau Ellen đi vào phòng ngủ, nhưng nàng sựng lại ngay cửa. Tôi vội bước tới. Nàng khẽ kêu một tiếng nhỏ và bước lại tôi.

Đó là đêm hôm qua.

Rồi chuyện gì xảy ra? A, xin hãy kiên nhẫn! Nhiều chuyện lắm!

Đến mờ sáng hôm nay tôi mới thức dậy, ánh sáng tràn vào qua hai bên tấm màn. Ellen cũng thức giấc và mỉm cười với tôi. Đôi cánh tay của nàng trắng và mượt mà, bộ ngực vươn cao khác thường. Tôi thì thầm với nàng và nàng dùng môi để khép miệng tôi lại, hết sức dịu dàng. Ngày rạng dần.

Hai giờ sau tôi mới đứng dậy được. Ellen cũng đang lo mặc y phục, rồi nàng đi giầy vào. Chính lúc đó tôi mới thấy một điều mà đến nay còn làm tôi bàng hoàng như một giấc mộng kinh khủng. Lúc đó tôi đang ở chỗ bồn rửa mặt, Ellen qua phòng bên cạnh làm việc vặt gì đó, và vì nàng không khép cửa nên tôi liếc nhìn được sang phòng bên. Một luồng gió lạnh thổi vào người tôi qua ô cửa sổ, và giữa căn phòng đó tôi nhìn thấy một xác người nằm dài trên bàn. Một xác chết, trong quan tài, có bộ râu xám, xác đàn ông. Hai đầu gối xương xẩu nhô lên dưới tấm vải phủ trông như hai nắm đấm, khuôn mặt tái mét, nhợt nhạt một cách kinh khủng. Dưới ánh sáng ban ngày tôi nhìn rõ mọi thứ và tôi quay mặt đi, không nói nên lời.

Khi Ellen trở lại, tôi đã áo quần tươm tất và sẵn sàng ra đi. Tôi chẳng còn tâm trí đâu đáp lại vòng tay ôm của nàng. Nàng khoác thêm tấm áo nữa, có vẻ như muốn đi cùng tôi xuống tới mặt đường, và tôi để nàng đi theo, vẫn chẳng nói một lời. Đến cổng dưới, nàng nép sát vào tường như sợ bị nhìn thấy.

- Thôi, tạm biệt - nàng thì thầm.

- Đến mai nhé? - Tôi hỏi, phần nào vì muốn thử nàng.

- Không, mai không được.

- Tại sao không được?

- Đừng hỏi nhiều thế. Mai tôi phải đi dự đám tang, một người họ hàng vừa chết. Ông biết rồi đó.

- Thế còn ngày kia?

- Được, ngày kia, cũng ở cửa này. Mình sẽ gặp lại. Tạm biệt.

Tôi bước đi.

Nàng là ai? Còn cái xác nữa? Với bàn tay nắm chặt và khóe miệng trĩu xuống như thế... thật trớ trêu kinh khủng. Ngày kia nàng sẽ chờ tôi. Liệu tôi có nên gặp lại nàng không?

Tôi đi thẳng tới quán cà phê Bernina và hỏi mượn cuốn danh bạ điện thoại. Tôi tìm xem số nhà đó, đường Gamle Kongevei như thế, như thế... và... cái tên đây rồi. Tôi chờ một lúc tới khi người ta phát hành tờ báo buổi sáng. Tôi vội lật tới trang đăng cáo phó. Và như đã tin chắc tôi tìm thấy tên nàng ở đó, ngay dòng đầu; in chữ đậm "Chồng tôi, năm mươi ba tuổi, đã qua đời hôm nay sau một thời gian lâm bệnh". Lời cáo phó được ghi ngày hôm trước.

Tôi ngồi một lúc lâu và ngẫm nghĩ.

Một người đàn ông lập gia đình. Bà vợ trẻ hơn ông ta ba mươi tuổi. Ông bị một căn bệnh mãn tính dai dẳng. Một ngày đẹp trời kia ông ta chết.

Và người goá phụ trẻ thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.

➖➖➖


2024-02-10

Triết lý bánh chưng bánh dày - Sử gia Trần Quốc Vượng

2024-02-10

Triết lý bánh chưng bánh dày


---

Sử gia Trần Quốc Vượng

Nhân dịp Tết Giáp Thìn, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” trân trọng gửi đến cộng đồng BelUnion, gia đình và bạn hữu “nét họa xuân” thay lời chúc năm mới. (Credit: Adobe Firefly)

 


-

Ở một vài đô thị Việt Nam hiện đại, như thủ đô Hà Nội, người ta đã làm và bán bánh chưng, bánh dầy hàng ngày, như một thứ hàng quà, để phục vụ cho thị hiếu thích ăn quà của dân đô thị. Quà là để ăn chơi, tất nhiên cũng có thể “ăn no quà”, nhưng về bản thể luận, quà là món ăn chơi, ăn qua loa quít luýt thôi, chứ không phải là thứ lương thực thực phẩm chủ yếu, hằng ngày...

Trong phong tục học và tâm (lý) học, người ta thường phân biệt hai cặp phạm trù:

- Cái thiêng liêng / cái thông thường (hay cái THIÊNG và cái TỤC)

- Cái nghi lễ / cái hằng ngày.

Giữa hai phạm trù này, có một phép biện chứng chuyển hóa lẫn nhau.

Ví như xôi, vốn là lương thực hằng ngày của người Việt cổ thời đại Đông Sơn - Âu Lạc trở về trước (trong nhiều di chỉ Phùng Nguyên - Bàu Tró đã tìm thấy chõ xôi bằng đất nung) cũng như của các ngư dân Thái Mường miền thung lũng trước Cách Mạng Tháng Tám.

Với xu hướng “tẻ hóa” của nhà nông trồng lúa nước (do áp lực dân số và nhu cầu tăng năng suất lúa), dần dà người Việt thời Lý, Trần và người Thái người Mường hôm nay hằng ngày đều dùng cơm tẻ. Người ta dành chõ xôi cho những ngày giỗ chạp, tết nhất, cưới xin, ma chay... nghĩa là chuyển hóa xôi thành món ăn nghi lễ.

Bánh chưng bánh dầy ở đô thị thời hiện đại đã thuộc phạm trù cái hằng ngày, hay nói cách khác, đã được giải thiêng.

Nhưng ở thời đại Việt cổ truyền, và chừng nào đó, ở nông thôn Việt Nam cho đến Tết xuân con Rồng 1988 này, bánh chưng bánh dầy vẫn thuộc phạm trù nghi lễ. Người ta chỉ làm và dùng nó (dùng để cúng, để ăn, để làm quà biếu tặng nhưng thường không để bán) trong ngày Tết hay trong những ngày lễ hội (nhiều làng đồng bằng Bắc Bộ có tập tục Tết rằm tháng giêng cúng và dùng bánh chưng, lễ hội tháng Ba lịch trăng (Mồng 3, Mồng 6, Mồng 10...) cúng và dùng bánh dầy, chè kho).

Ngày trước, bánh dầy, bánh chưng là những lễ vật và món ăn dân tộc. Bây giờ nó vẫn còn là món ăn dân tộc đáng cho ta gìn giữ và trân trọng. Nhưng xin nhận thức lại cho đúng mức hơn. Nó không phải là lễ vật và món ăn độc đáo Việt Nam theo nghĩa chỉ Việt Nam mới có, mới dùng.

Bà Á Linh, giảng viên trường Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ Hà Nội là người Việt  gốc Hoa, quê gốc ở Tứ Xuyên, theo chồng Việt Nam sang sinh sống và công tác ở Hà  Nội từ mấy chục năm nay, nhân ngày tết cổ truyền năm con Khỉ (1980) đã cho tôi biết là ở Tứ Xuyên quê bà có loại bánh lễ gần giống như “bánh Tét” (bánh chưng gói tròn như cái giò) và được gọi âm Hán Việt đọc là “tông bỉnh” nhưng âm Hán Tứ Xuyên đọc gần  như Téung pính.

Ông Obayashi Taryo, giáo sư nhân học văn hóa Trường Đại học Tokyo trong bài  báo cáo cô đúc “Vị thần lấy trộm giống lúa” (Xem thông báo Unesco tháng 12 - 1984, số chuyên đề về “Những nền văn minh lúa gạo”) lại cho ta biết món bánh mochi rất phổ biến và quan trọng của bếp ăn Nhật Bản” được làm bằng gạo nếp hạt ngắn đem đồ lên đến khi chín mềm rồi đem giã nóng bằng chầy cho đến khi thành bột dính trong đó không còn  phân biệt được hạt nữa... Mochi đóng vai trò quan trọng trong lễ tết, đầu năm mới?

Đó chính là bánh dầy với các loại hình to nhỏ khác nhau, được bầy thành hàng trên bàn thờ cúng tổ tiên và sau đó được ăn với các thứ cháo đặc biệt gọi là ojoni trong bữa ăn nghi thức sáng mồng một Tết của người Nhật.

Cho nên, xin nói lại cho chính xác hơn là bánh chưng, bánh dầy là sản phẩm độc đáo của một vùng văn minh lúa gạo rộng lớn ở Đông Á và Đông Nam Á. Tất nhiên giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn cho ta biết là lúa nếp có loại hình đa dạng nhất và điển hình nhất của ngày Tết Việt Nam.

Nhân ngày Tết năm con Rồng này, tôi xin đưa ra một minh giải văn chương: Bà con cô bác miền Nam gọi bánh chưng là bánh tét, chữ bánh tét là tiếng đọc trạnh kiểu miền nam của bánh tết. Và nhân đây xin thanh toán một “ngộ nhận văn hóa”. Thoạt kỳ thủy, bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà gói tròn như bánh Nam Bộ, gọi là đòn bánh tét là hoàn toàn chính xác. Ngay giờ đây, xin các bạn chỉ quá bộ sang Cổ Loa, Đông Anh ngoại thành Hà Nội thôi, vẫn thấy bà con cố đô Cổ Loa gói bánh chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng, thảng hoặc mới gói thêm bánh chưng vuông. Thế cho nên, cái triết lý gán bánh chưng vuông tượng Đất, bánh dầy tròn tượng Trời là một “ngộ sự văn hóa”. Trời tròn đất vuông là một triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam. Đó không phải là triết lý dân gian Việt Nam. Nó không phải là Folklore (nguyên nghĩa: trí tuệ dân gian) mà là Fakelore (trí tuệ giả dân gian).

Bánh chưng tròn dài tượng Dương vật, như cái chày, cái nô. Bánh dầy tròn dẹt tựa Âm vật, như cái cối, cái nường.

Đó là tín ngưỡng và triết lý nô-nường-chày-cối chưng dầy của dân gian, của tín ngưỡng phồn thực dân gian. Ngay như khi đã gói bánh chưng vuông, dân gian ngày trước vẫn có tục lệ buộc hay ấp hai chiếc bánh một sấp một ngửa đặt trên bàn thờ và khi biếu họ hàng khách khứa ngày trước dân gian cũng giữ tục biếu một cặp bánh chưng (cũng như trước đây bao giờ dân ta cũng mua một đôi chiếu) chứ không bao giờ tặng một chiếc bánh chưng (cũng như không bao giờ mua một chiếc chiếu). Nhân tiện nói thêm: việc mua hay chặt cây mía cả gốc cả ngọn đặt bên bàn thờ với giải thích hữu thức ngày sau đó là “gậy chống của ông vải” về nguyên thủy cũng thuộc về tín ngưỡng phồn thực.

Bánh chưng gói ghém trong nó cả một nền văn minh nông nghiệp lúa gạo. Trong bầu khí văn minh đó, người Việt Nam sống vừa hòa hợp (thích nghi tối đa và tối ưu) vừa đấu tranh (biến đổi) với tự nhiên. Lá dong gói bánh là lá dong riềng lấy sẵn của thiên nhiên. Cái bánh chưng, là sản phẩm của trồng trọt và chăn nuôi Việt Nam: gạo nếp, đỗ xanh, hành, thịt lợn... Cái đặc sắc, độc đáo của bánh chưng không phải chỉ là, thậm chí không phải chủ yếu là ở từng yếu tố hợp thành cái bánh mà là ở cơ cấu của bánh, nó tạo nên nét khác biệt trong hình khối, màu sắc, hương vị của bánh chưng so với các lọai xôi đỗ và bánh nếp khác. Với gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn... có thể tạo nên máy chục loại bánh xôi Việt Nam dùng hàng ngày như quà và trong các dịp cưới xin, giỗ, tết như lễ phẩm.

Huyền thoại qui công sáng tạo bánh chưng bánh dầy cho Lang Liêu, một người con thứ của vua Hùng, tổ dựng nước Việt Nam. Cũng như “vua Hùng”, “Lang Liêu” là một “anh hùng văn hóa”, nó không hề hiện hữu như một cá thể (cá nhân) nhưng chỉ tồn tại trong công thể (cộng đồng) của nhân dân, dân tộc Việt Nam. Lang Liêu có tài sáng tạo, làm ra bánh chưng bánh dầy cho nên được nhường ngôi, trở thành “vua Hùng” mới. Tuy  cũng là cha truyền con nối như xu hướng phổ quát của lịch sử loài người, nhưng không  truyền cho con trai trưởng (trước thế kỷ XI, dường như Việt Nam không có tập tục này và  sau đó cho mãi đến thế kỷ XIV, XV (Hồ Quý Ly cũng không nhường ngôi cho con trai  trưởng là Hồ Nguyên Trừng mà cho con thứ là Hồ Hán Thương) nó vẫn là một truyền  thống yếu, có xu hướng ngoại sinh) theo lý, cũng không truyền ngôi cho con trai của một  bà ái phi nào theo tình, mà truyền ngôi cho con nào hiền tài, đó là sự kết hợp giữa truyền tử và truyền hiền, đó là sự hòa hợp lý tính thời cổ đại...

Trong các cuộc thi tài thuở trước, mà ở đây là thi nấu cỗ, có biết bao người con của “vua Hùng” đã làm ra biết bao nhiêu món lạ, lạ mắt, lạ miệng... những sơn hào hải vị kiếm tận đâu đâu... Cái giỏi của “Lang Liêu”, cái con mắt tinh đời của “vua Hùng” cũng là cái sáng giá trong bảng giá trị văn hóa của dân tộc dân gian là tìm cái phi thường trong cái thường thường. Trong tâm lý thường nghiệm, có thói quen chuộng lạ, ưa của lạ. Cái hằng ngày thân quen, nếu không biết cách nhìn, cách thưởng thức, cách biến đổi thành những cơ cấu mới từ những nhân tố quen thuộc thì dễ trở thành nhàm chán.

Tìm cái đặc biệt trong những của lạ thì nào có khó khăn gì! Có khả năng diễn tả cái phi thường bằng những cái thường thường mới là một tài năng đặc biệt không dễ nhận ngay được giá trị vì cứ tưởng là không khó mà thật ra rất khó, vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu, sự đi sâu tìm hiểu, sự nhập thể rất sâu trong lòng văn hóa và nhân dân...

➖➖➖


Việt Điện U Linh Tập - Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) - Lý Tế Xuyên

2026-06-20 Việt Điện U Linh Tập Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) ...