2026-05-23
Việt
Điện U Linh Tập
Nhị
Trưng Phu Nhân
ChatGPT
minh họa
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Sử
chép: Bà chị tên là Trắc, bà em tên là Nhị, vốn họ Lạc, con gái Lạc tướng ở
Giao Châu ta, người huyện Mê Linh, châu Phong. Bà chị được gả cho Thi Sách, người
huyện Chu Diên. Thi Sách là người có dũng lực, trọng hào khí, tiếng đồn như
gió, bị Thứ sử Tô Định thiết kế hãm hại. Bà chị phẫn nộ mới cùng với em cử binh
trục xuất Tô Định, công hãm Giao Châu ta.
Do
đấy, Nhật Nam, Hợp Phố, Cửu Chân đều trống gió mà hưởng ứng, lược định hơn sáu
mươi thành ở Lĩnh Ngoại, tự lập lên làm vua nước Việt, đóng ở Chu Diên mới xưng
là họ Trưng.
Lúc
bấy giờ Tô Định chạy qua Nam Hải, Quang Vũ nhà Hán nghe tin, giận mà biếm Định
qua quận Thiểm Nhĩ, sai bọn Mã Viện Lưu Long đem đại quân sang đánh đến Lãng Bạc,
Phu Nhân cự chiến, nhưng quả bất địch chúng, phải lui về Cấm Khê; quân lính ngày một ly tán, Phu
Nhân bị thế cô phải tử trận. Thổ nhân thương cảm, lập đền thờ phụng, thường có
linh ứng, bây giờ đền thờ ở huyện An Hát.
Vua
Anh Tông nhà Lý, nhân trời đại hạn, khiến thiền sư Tịnh Giới đến đền cầu mưa,
quả được mưa, khí mát buốt người. Vua mừng liền qua xem, hốt nhiên ngủ mộng thấy
hai thiếu nữ mặt hoa mày liễu, áo lục quần hồng, mão đỏ, thắt lưng, cỡi ngựa sắt
theo mưa mà chạy ngang. Vua lấy làm lạ mới hỏi. Đáp rằng:
-
Thiếp là chị em Nhị Trưng đây, vâng mệnh Thượng đế xuống làm mưa.
Vua
tỉnh dậy mà cảm, sắc phong trùng tu từ vũ, rồi sắm lễ vật đến tế, sai sứ rước về
phía Bắc Đại nội, dựng đền Vũ Sư mà thờ phụng. Sau lại thác mộng cho vua xin lập
đền thờ ở làng Cổ Lai, vua nghe theo, sắc phong Trinh Linh Phu Nhân.
Năm
Trùng Hưng thứ tư, phong bà chị là Chế Thắng phu nhân, năm Hưng Long thứ hai
mươi mốt, gia thêm hai chữ Thuần Trinh. Lại gia phong thêm cả bà chị và bà em
hai chữ Bảo Thuận, thường thường vẫn có linh ứng.
~
Tiếm
bình
Trung
triều xa cách, quan Thú Lệnh tham tàn, lúc bấy giờ trăm trai nước Việt đều là vợ
hầu của Tô Sứ Quân cả.
Phu
Nhân lấy tư chất là một người vợ hiền, mang mối thù bất công đái thiên. Quần
thoa xướng nghĩa, quê thác liền thề đuổi quan Thứ sử, chiếm lại đô thành, bờ
cõi Cửu Chân, Hiệp Phố lại thấy rõ ánh sáng mặt trời, há chẳng phải là oanh
oanh liệt liệt một kẻ trượng phu hay sao?
Từ
xưa cho đàn bà là âm nhu, ở về hào lục ngũ, như bà Lữ Trì nhà Hán, bà Võ Anh
nhà đường vẫn thường hiệu lệnh thiên hạ, hét nạt gió sấm, nhưng đều nhờ nghiệp
cả của Tiên Đế, khinh bỉ Tự quân là trẻ con, dùng oai lực ngự hạn kẻ dưới, rốt
cuộc cũng chỉ là kẻ có tội muôn đời. Trái lại hai Phu Nhân đây, đem một lữ đoàn
binh sĩ, một mai mà hạ năm mươi sáu thành, dũ xiêm Bách Việt, trở mặt phương
nam mà xưng Cô, cùng với Triệu Vũ Đế, Lý Nam Đế không hơn không kém, khiến cho
đời sau đều tôn xưng là Vương. Tuy chẳng chịu theo kế hoạch của người mới có trận
thua ở Cấm Khê, mà cái khí tượng chính đại quang minh đã bao trùm cả khoảng trời
đất, khiến cho người đời thán mộ và hăng hái thêm thì con gà mái gáy buổi mai của
nhà Hán, nhà đường có đáng làm đứa thị tỳ đội dung quan, mặc lục y đẩy xe cho
hai bà hay không?
Bây
giờ miếu ở cửa An Hát huyện Phúc Lộc, đền đài nghiêm chỉnh, người vào chiêm bái
đều phải khởi kính; người trong ấp mỗi khi có lễ rước thì làm ra voi ngựa hệt
như khi hai bà ra trận, khí tượng thật là oai hùng. Ở An Lãng, Hạ Lôi đều có tự
nghi trương khí, miếu mạo tráng lệ, hành khách đi ngang qua miếu đều phải lưu
luyến thưởng ngoạn, đến cả mặc khách tao nhân cũng qua lại ngâm đề như dệt, thực
Phu Nhân là bất tử vậy.
Gần
đây, có bà liệt phụ ở Trảo Nha, bà trinh phi ở Tỳ Bà, thung dung tựu nghĩa,
toàn quốc ai cũng tấm tắc khen ngợi. Khí khái của hai bà này phỏng khiến gặp địa
vị như Trưng Vương biết đâu chẳng khôi phục đất Mê Linh mà cướp cả Chu Diên, tiếng
vang Nhật Nam mà sóng êm hồ Lãng Bạc, làm những sự long trời động đất vậy.
~
Wikipedia
Hai Bà Trưng
Hai
Bà Trưng hay còn gọi là Trưng Vương (? –
43) là tên chỉ chung hai chị em Trưng
Trắc (徵側)
và Trưng Nhị (徵貳),
hai người phụ nữ được đánh giá là anh hùng dân tộc của người Việt.[5] Trong
sử sách, hai bà được biết đến như là những thủ lĩnh khởi binh chống lại chính
quyền đô hộ của Đông
Hán, lập ra một quốc gia với kinh đô tại Mê Linh và
Trưng Trắc tự phong là Vương,
việc dùng từ “Vương” thay vì Nữ Vương như Trung Hoa cũng khẳng định tính Mẫu Hệ
trong văn hóa Bách Việt, vì khi có một người nữ tự xưng là Vương là một điều hiển
nhiên trong thời kì đấy. Thời kì của hai Bà xen giữa thời kỳ Bắc thuộc lần 1 và Bắc thuộc lần 2 trong lịch sử Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư coi Trưng Trắc
là một vị vua trong lịch sử, với tên gọi Trưng Nữ
vương (徵女王).
Xuất
thân và tên gọi
Hán
Thư
Nguồn
sử liệu đầu tiên đề cập đến chị em Hai Bà Trưng là cuốn Hậu Hán Thư viết vào thế kỷ thứ 5 (Công
nguyên) bởi học giả Phạm
Diệp, cuốn sách nói về lịch sử nhà Hán từ năm 6 đến năm 189 Công
nguyên. Các tài liệu cổ của Trung Quốc đề cập đến hai chị em Bà Trưng khá
ngắn gọn, được tìm thấy trong hai chương của Hậu Hán Thư mô tả về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà thời
kỳ nhà Tây Hán.
Ở
quyển 86 của Hậu Hán Thư, phần "Tây Nam di liệt truyện"
có viết:[6]
Năm
Kiến Vũ thứ 16, thời Hán Quang Vũ Đế (40), hai người phụ nữ Giao Chỉ là
chị em Trưng Trắc (chữ Hán: 徵側) và Trưng Nhị (chữ Hán: 徵貳) tạo phản, tấn công quận phủ. Trưng
Trắc là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh. Bà ta được gả làm vợ cho người xứ Chu Diên
tên Thi
Sách (chữ Hán: 詩索), là kẻ hùng dũng. Thái thú quận
Giao Chỉ là Tô
Định (chữ Hán: 蘇定) dùng luật pháp để kiềm chế bà ta.
Trưng Trắc phẫn nộ, bèn tạo phản. Những tộc trưởng xứ Man ở các quận Cửu
Chân, Nhật Nam, Hợp
Phố hưởng ứng, bà ta đã chiếm được 65 thành trì và tự xưng là Nữ
vương. Thứ sử và Thái thú quận Giao Chỉ chỉ
còn biết cố thủ. Hán Quang Vũ Đế vì vậy đã ra lệnh cho quận Trường Sa, Hợp Phố
và Giao Chỉ chuẩn bị xe, thuyền bè, sửa cầu, mở thông lối đi qua khe núi, trữ
lương thảo.
Năm
thứ 18 (42), Quang Vũ Đế
sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (chữ Hán: 馬援), Trung lang tướng Lưu Long (chữ Hán: 劉隆)[7] và
Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí (chữ Hán: 段志) dẫn quân Trường Sa, Quế Dương, Linh
Lăng, Thương Ngô hơn vạn người đi thảo phạt. Vào mùa hè tháng 4 năm 43, Mã Viện phá
Giao Chỉ, trảm Trưng Trắc và Trưng Nhị, những kẻ đồng đảng đầu hàng hoặc giải
tán. Tiến đánh bọn Đô Dương (chữ Hán: 都陽) ở Cửu Chân, phá tan và bắt hàng phục.
Bắt hơn 300 kẻ cầm đầu dời đi Linh Lăng (chữ Hán: 零陵). Vùng Lĩnh Biểu (chữ Hán: 領表) coi như bình định.
Việt
sử
Bộ
sử cổ nhất của Việt Nam đề cập đến Hai Bà Trưng là Đại Việt sử lược. Theo sách này, thời Việt Nam
còn là Giao Chỉ, Trưng Trắc là con gái Lạc tướng ở huyện Mê Linh, lấy chồng là Thi Sách ở
huyện Chu Diên.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hai Bà Trưng vốn
họ Lạc, là dòng dõi Lạc tướng ở Mê Linh. Chồng bà Thi Sách cũng là
con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau. Khi lên ngôi, Hai Bà mới đổi
sang họ Trưng.[8]
Nguồn
khác
Truyền thuyết xác nhận quê nội Hai Bà ở làng Hạ
Lôi và quê ngoại Hai Bà ở làng Nam Nguyễn (nay thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội).[9] Mẹ
Hai Bà là Man Thiện, còn được ghi với tên gọi Trần Thị Đoan.
Tuy
nhiên, theo các sử gia hiện đại, thời đầu Công
nguyên, người Việt chưa có họ. Tên Trần Thị Đoan của mẹ Hai
Bà chỉ là tên thần phả đặt sau này, khoảng thế kỷ 17, 18. Cả cái tên Man Thiện
có nghĩa là người Man tốt có thể do người Hán gọi.[9] Theo
một số dẫn chứng biện giải không rõ luận cứ và nguồn gốc cho rằng, tên của Hai
Bà có nguồn gốc từ nghề dệt lụa truyền
thống của Việt Nam, tương tự như cách đặt tên theo các loài cá của các
vua nhà Trần sau này vốn xuất thân từ nghề chài lưới. Xưa
kia nuôi tằm,
tổ kén tốt gọi là kén chắc, tổ kén kém hơn gọi là kén nhì;
trứng ngài tốt gọi là trứng chắc, trứng ngài kém hơn gọi là trứng
nhì. Do đó, theo Nguyễn Khắc Thuần, tên Hai Bà vốn rất giản dị
là Trứng Chắc và Trứng Nhì, phiên theo tiếng Hán gọi
là Trưng Trắc và Trưng Nhị.[10][11] Khi chữ
Hán chưa được truyền bá hoặc chưa có điều kiện thấm sâu vào nhận thức
xã hội thì xu hướng đặt tên người rất giản dị và mộc mạc, thể hiện sự gắn bó với
cuộc sống đời thường và xu hướng này còn tiếp tục trong các thế hệ sau.[11] Sau
này các sử gia phương Bắc viết chệch tên Hai Bà thành Trắc và Nhị với nghĩa
"phản trắc" và "nhị tâm".[12] Tuy
nhiên, những luận điểm trên hoàn toàn thiếu nguồn gốc và sự chứng minh một cách
khoa học, mà thiên về tự biện giải của tác giả.
Tên
của ông Thi Sách, theo Thủy kinh chú của Trung Quốc xác định:
chồng bà Trưng Trắc tên là Thi.[13]
Khởi
nghĩa
Tranh Đông Hồ diễn tả cảnh Hai Bà Trưng khởi nghĩa
Cuộc
nổi dậy của Trưng Trắc, theo Hán thư cùng Việt sử ghi lại, chỉ gói gọn trong lý
do vì Thái thú khi ấy là Tô
Định dùng biện pháp khắc chế, nên Trưng Trắc cùng phẫn mà nổi dậy. Hán
thư không đưa ra lý do Thi Sách bị
giết, trong khi Việt sử thì chỉ có Đại Việt sử ký toàn thư ghi lý do
này, Đại Việt sử lược trước đó thì không.
Theo
một số học giả như Đào
Duy Anh, Trần Quốc Vượng..., do chính sách đồng hóa
gắt gao và bóc lột hà khắc của nhà
Đông Hán đối với người Việt tại Giao Chỉ đương thời,[14][15] các
Lạc tướng người Việt liên kết với nhau để chống lại nhà Hán.
Trưng Trắc kết hôn với con trai Lạc tướng ở Chu Diên là Thi Sách, hai nhà cùng
có chí hướng chống Hán. Khoảng năm 39-40, nhằm trấn áp người Việt chống lại,
Thái thú Tô Định giết Thi Sách.
Trưng
Trắc và các Lạc tướng càng căm thù, cùng Trưng
Nhị mang quân bản bộ về giữ Hát Giang nay là xã Hát Môn,
huyện Phúc Thọ, Hà Nội.[16] Sau
một thời gian chuẩn bị, tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức
phát động khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng
của nhiều đội quân và nhân dân các nơi thuộc Âu Lạc và Nam Việt cũ.[17][18] Quân
Hai Bà đánh hãm trị sở Luy Lâu. Tô Định phải chạy về Nam Hải (Trung
Quốc).
Các
quận Nam Hải, Cửu
Chân, Nhật Nam, Hợp
Phố đều hưởng ứng. Hai Bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam.
Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương, hay còn gọi
là Trưng Vương.
Cai
trị
Hai
Bà Trưng cai trị lãnh thổ vùng Lĩnh Nam của
người Việt, tương đương với Bộ Giao Chỉ của nhà Hán trong ba năm. Thời gian cai
trị ngắn ngủi và phải toan tính chuẩn bị chống lại cuộc chiến của nhà Hán khiến
Hai Bà Trưng không có hoạt động gì đáng kể trong việc xây dựng lãnh thổ mà mình
cai quản.
Hành
chính
Bản đồ Lĩnh Nam thời Hai Bà Trưng
Do
thời gian cai trị của Hai Bà Trưng không dài và không còn tài liệu để khôi phục
lại hệ thống tổ chức bộ máy thời Hai Bà Trưng. Tuy nhiên, các sử gia căn cứ
trên các sử liệu liên quan đến sự cai trị của nhà Hán trước và sau thời Hai Bà
Trưng cho rằng, về cơ bản Hai Bà Trưng vẫn duy trì hệ thống quản lý của nhà Hán
trước đó, do người Việt nắm giữ.[19] Các
quận, huyện do nhà Hán lập ra trên đất Nam Việt cũ.
Ghi
chép về Mê Linh trong hai tài liệu cổ nhất của Việt Nam, đều thuộc thời Hậu
Lê và cách nhau 44 năm đã mâu thuẫn về kinh đô của Hai Bà:[20]
Dư địa chí của Nguyễn Trãi (năm 1434) chép: Mê Linh là Hát Môn
thuộc huyện Phúc Lộc bây giờ... huyện Phúc Lộc là Mê Linh ngày xưa
Đại
Việt sử ký toàn thư (năm 1479) chép: Thời Tây Hán trị sở
của thái thú (Giao Châu) tại Long Uyên tức Long Biên. Thời Đông Hán tại Mê Linh
tức Yên Lãng.
Do
đó, ba thế kỷ sau Lê Quý Đôn viết Vân đài loại ngữ (năm 1773) rất lộn xộn,
chép Yên Lãng thuộc về ba quận khác nhau cùng tồn tại trong một thời kỳ: Mê
Linh nay là Yên Lãng... Phong Khê là đất Yên Lãng... Chu Diên nay là Yên Lãng
Cương mục nhà
Nguyễn chép: Mi Linh là Phong Châu... ở địa phận hai huyện Phúc Lộc và Đường Lâm
Do
đó đã xuất hiện các tranh cãi về Mê Linh, một số cho rằng Mê Linh ở phía nam
sông Hồng và số khác cho là ở phía bắc, ngay gần thành Cổ Loa của Thục Phán. Ở huyện Yên Lãng này cũng có làng Hạ Lôi nhưng không
có tên Nôm. Năm 1977 huyện này được đổi tên thành Mê Linh.[21]
Từ
năm 1973-1990, nhà nghiên cứu Đinh Văn Nhật [22] sử
dụng phương pháp địa lý học lịch sử để nghiên cứu về các địa danh thời Hai Bà
Trưng. Ông sau đó kết luận huyện Mê Linh nằm ở phía nam sông Hồng, cụ thể là
phía tây sông Đáy của Hà Nội. Ở đây có các địa danh là Cấm
Khê, Hạ Lôi, Đền Hát Môn và Miếu Mèn thờ mẹ Hai Bà là Bà Man
Thiện. Các bài viết đều đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Viện Khoa học Xã
hội Việt Nam.
Quận
Giao Chỉ
Quận Giao Chỉ được
xác định vị trí là đất Bắc Bộ Việt Nam và
một phần phía tây nam tỉnh Quảng
Tây (Trung Quốc) hiện nay (từ sông Uất hay Tây Giang về phía nam), trừ đi những phần
đất sau:
1. Góc
miền núi tây
bắc ngoài phạm vi thống trị của nhà Hán.
2. Góc
tây nam Ninh Bình thuộc về huyện Vô Công, quận Cửu
Chân.
3. Vùng duyên
hải từ thành phố Hải Phòng (huyện An Dương, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) đến
huyện Kim
Sơn tỉnh Ninh Bình khi đó chưa được bồi đắp thành đất liền (vẫn
là biển).[23]
Quận Giao Chỉ gồm
có 10 huyện (縣) theo Đào Duy Anh
như sau:[24]
1. Luy Lâu (羸婁 hoặc 羸𨻻 hoặc 𨏩𨻻):
hoặc Liên Lâu, tương đương phần lớn tỉnh Bắc Ninh.
2. Long Biên (龍編): tương đương gồm trung tâm Hà Nội và
các huyện Hoài Đức, Thường Tín (Hà Nội), Khoái Châu (Hưng
Yên), thị xã Thuận Thành, thị xã Quế Võ và huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh trở
lên phía bắc, bao gồm cả các tỉnh Bắc Kạn, Thái
Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng và
một phần phía tây nam tỉnh Quảng
Tây, Trung Quốc. (quan điểm của Đinh Văn Nhật [22] cho
Long Uyên ở Bắc Giang và vùng núi đông bắc, ngăn cách với Cổ Loa (Tây Vu) bởi
Lãng Bạc và không có Hà Nội).
3. Mê
Linh (麊泠 hoặc 麋泠): gồm khu vực tây bắc tỉnh Vĩnh Phúc, tây bắc tỉnh Hà Tây cũ và tỉnh Yên Bái. (quan điểm của Đinh Văn Nhật [22] cho
rằng Mê Linh không có Vĩnh Phúc (Tây Vu) và thôn Hạ Lôi cùng suối Kim Khê (Cổ
Lôi Trang) đều ở Thạch Thất. Mê Linh nằm ở hữu ngạn sông Lô và sông
Hồng gồm Phú Thọ, Hòa Bình và vùng Sơn Tây. Đây là trung tâm của nhà
nước Văn
Lang thời Hùng Vương với cư dân bản địa là người Mường, có mối quan hệ gần nhất với người Kinh. Theo giáo sư Trần Quốc Vượng , Mê Linh gốc
tiếng Mường là M'linh có nghĩa là "Con chim lớn" theo quan niệm tổ
tiên là các loài chim của Mo Mường và sử thi Đẻ đất đẻ nước)
4. Tây
Vu (西于): tương đương tỉnh Vĩnh Phúc, Phú
Thọ, phía bắc Hà Tây cũ và Hòa Bình. (quan điểm của Đinh Văn Nhật [22] không
có Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình do trùng lặp với Mê Linh mà có thêm Thái Nguyên,
Tuyên Quang đều ở tả ngạn sông Lô và sông Hồng. Trung tâm của Tây Vu là
thành Cổ Loa của Thục Phán và nhóm người Tày - Thái chiếm đa số)
5. Chu
Diên (朱鳶): tương đương phía nam tỉnh Hà Tây cũ, huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Nam (quan điểm của Đinh Văn Nhật [22] là
vùng đất giữa sông Hồng và sông Đáy, gồm cả trung tâm Hà Nội và vùng đầm lầy
Hưng Yên)
6. An
Định (安定): tương đương miền Hải Dương và Hưng
Yên, ở giữa sông Thái Bình và sông
Hồng.
7. Câu
Lậu (苟漏 hoặc 笱屚
hoặc 句屚): tương đương tỉnh Nam Định và Ninh Bình,
không kể vùng đông nam Nam Định và phía nam Ninh Bình lúc
đó vẫn là biển,
chưa được bồi đắp
8. Khúc
Dương (曲昜):
tương đương huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương, huyện Đông Triều và Quảng Yên tỉnh Quảng
Ninh trải lên phía bắc tới vùng Khâm châu thuộc Quảng
Tây, Trung Quốc.
9. Bắc
Đái (北帶): tương đương huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang và huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương.
10. Kê
Từ (稽徐): tương đương huyện Lạng Giang và huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang (quan điểm của Đinh Văn Nhật [22] cho
là vùng Hải Phòng, Quảng Ninh, nơi có cửa biển Bạch Đằng)
Quận
trị Giao Chỉ lần lượt đặt ở Mê Linh, Luy Lâu và Quảng
Tín.
Quận
Cửu Chân
Quận Cửu
Chân thời Hán được xác định vị trí từ góc tây nam tỉnh Ninh Bình đến
tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.[25]
Quận
trị Cửu Chân được xác định ở huyện Tư Phố. Cửu
Chân gồm có bảy huyện như sau:[26]
1. Vô
Thiết (無切):
tương đương với Nho Quan, Yên
Khánh tỉnh Ninh Bình hiện nay.
2. Vô
Biên (無編): tương đương huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa.
3. Tư
Phố (胥浦): địa bàn tương đương huyện Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa và bắc Diễn
Châu tỉnh Nghệ An.
4. Cư
Phong (居風):
tương đương phía tây nam tỉnh Thanh Hóa.
5. Dư
Phát (餘發): tương đương các huyện Nga Sơn và Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.
6. Đô
Lung (都龐): tương đương vùng thượng lưu sông Mã.
7. Hàm
Hoan (咸驩 hoặc 咸懽
hoặc 鹹驩): tương đương Nghệ An và Hà Tĩnh,
là huyện lớn nhất ở cực nam Cửu
Chân.
Quận
Nhật Nam
Vị
trí Nhật Nam được xác định là từ Quảng Bình tới địa giới Bình Định, Phú Yên hiện nay.[27]
Nhật Nam gồm
có năm huyện như sau:[28]
1. Tây
Quyển (西卷):
vùng sông Gianh, bắc Quảng Bình.
2. Chu
Ngô (硃吾): khoảng sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng
Trị.
3. Lô
Dung (盧容): miền Thừa Thiên, lưu vực sông Hương và sông
Bồ.
4. Ty
Ảnh (比景): nam Quảng Bình, khoảng từ sông Nhật Lệ đến sông Bến Hải.
5. Tượng
Lâm (像林): từ đèo Hải Vân đến mũi Đại Lãnh (tỉnh Phú Yên).
Quận
Hợp Phố
Quận Hợp Phố gồm năm huyện: Hợp
Phố (合浦), Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Lâm Nguyên (臨元), Chu Nhai (朱崖).
Hợp Phố được xác định vị
trí là vùng duyên hải vịnh Bắc Bộ tỉnh Quảng
Tây và địa cấp thị Trạm
Giang tỉnh Quảng Đông.
Quận
Thương Ngô
Quận Thương Ngô gồm có 10
huyện: Quảng Tín (廣信),
Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀),
Đoan Khê (端谿), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phổ (荔浦),
Mãnh Lăng (猛陵).
Thương Ngô thời Hán được
xác định vị trí tương đương với khu vực dãy núi Đô Bàng tỉnh Quảng
Tây, phía đông núi Đại Dao, địa cấp thị Triệu Khánh tỉnh Quảng Đông, phía tây huyện cấp thị La Định,
huyện Giang Vĩnh tỉnh Hồ Nam, phía nam huyện Giang Hoa,
huyện Đằng tỉnh Quảng Tây, phía bắc thành phố cấp huyện Tín Nghi tỉnh
Quảng Đông.
Quận
Uất Lâm
Quận Uất Lâm thời Hán gồm có 12 huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), Hà Lâm (河林),
Quảng Đô (廣都), Trung Lưu (中留), Quế Lâm (桂林),
Đàm Trung (譚中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Lĩnh Phương (領方), Tăng Thực (增食), Ung Kê (雍雞).
Uất Lâm được xác định vị trí là
từ các địa cấp thị Nam Ninh, Bách
Sắc đến đại bộ phận Liễu
Châu, phía bắc Ngọc Lâm, phía đông và phía nam Hà Trì đều
thuộc Quảng Tây.
Quận
Nam Hải
Quận Nam Hải gồm có sáu huyện: Phiên Ngung (番禺), Trung Túc (中宿), Bác La (博羅),
Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽).
Nam Hải được xác định vị trí bao trùm tỉnh Quảng Đông và phần đất phía đông nam tỉnh Quảng
Tây, Trung Quốc hiện nay.
Như
vậy tổng số huyện thành đương thời chỉ có 54 huyện. Ngô Sĩ Liên dẫn thêm hai
huyện mới đặt trong quận Giao Chỉ là Vọng Hải và Phong Khê do Mã Viện mới tách
đặt sau thời Hai Bà Trưng, được chép gộp vào danh sách các huyện thuộc Giao Chỉ
lúc đó, tổng cộng là 56 huyện thành.[29]
Những
mặt khác
Theo Viện Sử học, đội ngũ các cánh quân mới tập hợp của
các Lạc hầu, Lạc tướng, thủ lĩnh địa phương chưa có điều kiện tổ chức theo kiểu
chính quy thành các đơn vị, quân thứ kiểu hệ thống, cấp bậc quy củ như các triều
đại sau này. Thành phần họ gồm bình dân trong kẻ, chạ... gia nô, nô tỳ thuộc
quyền quản lý của các thủ lĩnh vùng. Các sử gia nhìn nhận lực lượng mới họp này
chưa được tổ chức chặt chẽ nên có những yếu điểm bộc lộ trong cuộc chiến chống
Mã Viện sau này.[30]
Sử
sách không ghi lại bất cứ hoạt động chính trị nào khác thời kì này. Ngoại trừ Viện Sử học ghi lại một sự kiện duy nhất liên
quan tới kinh tế thời Hai Bà Trưng là Trưng vương cho xá thuế trong hai năm cho
dân chúng. Luật pháp chưa có văn bản chính thức. Các sử gia xác định luật thời
Hai Bà Trưng là một thứ “tập quán pháp”, “luật tục” của nhiều đời trước được
khôi phục và sử dụng điều hành xã hội.[31][32]
Sách Hậu Hán thư của Phạm
Diệp dẫn lời tâu báo của Mã Viện lên Hán Quang Vũ Đế rằng luật Việt
khác với luật nhà Hán đến hơn 10 điều.[33][34]
Thất
bại
Ngày 30
tháng 1 năm Tân Sửu (41), nhà Hán thấy
Trưng Trắc xưng Vương dấy quân đánh lấy các thành ấp, nên hạ lệnh cho các quận
Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu sắp
sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương,
cho Mã Viện làm Phục
Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm
phó tướng, chỉ huy đạo quân lớn khoảng 2 vạn người, chia làm 2 cánh thủy, bộ
sang xâm lược.
Cánh
quân bộ tiến vào vùng Đông Bắc Mã Viện tiến theo đường ven biển, san núi làm đường
hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc (ở phía tây Tây Nhai của La Thành)[35] đánh
nhau với Hai Bà. Quân Nam bấy giờ ô hợp, rất nhiều thủ lĩnh không phục hai vua
là đàn bà, lớp tan rã, lớp tự ly khai hoặc đầu hàng quân Hán. Hai Bà thấy thế
giặc mạnh lắm, không chống nổi, bèn lui quân về giữ Cấm
Khê (sử chép là Kim Khê).
Năm Quý Mão (43), Hai Bà Trưng chống cự
lại với quân nhà Hán ở Cấm
Khê (nay thuộc huyện Thạch Thất, Hà Nội)
thất thế, đều tử trận. Theo truyền thuyết Việt Nam, Hai Bà đã nhảy xuống sông
Hát (tức sông Đáy, nay thuộc xã Hát Môn,
huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội)
tự vẫn để bảo toàn khí tiết. Còn theo Hậu Hán thư, sách sử của Trung
Quốc, Hai Bà đã bị quân Mã Viện bắt được và chặt đầu đem về Lạc Dương.[36]
Tướng
Đô Dương tiếp tục cầm quân chống lại quân Hán đến cuối năm 43. Mã Viện đuổi
theo đánh quân còn sót lại huyện Cư Phong, cuối cùng lực lượng này cũng bị dẹp.
Ngoài các cừ súy bị giết, hơn 300 cừ súy người Việt bị bắt và đày sang Linh
Lăng (Hồ Nam). Mã Viện thu gom, phá hủy nhiều trống đồng và đúc rồi dựng cột đồng (tương truyền ở trên động Cổ Lâu
châu Khâm)[37] làm
giới hạn biên giới của nhà Hán, và khắc lên đó dòng chữ thề: "Cột đồng gãy
thì Giao Chỉ diệt" (Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt).[38]
Từ
đây, nước Việt lại thuộc quyền kiểm soát của nhà Hán,
bắt đầu thời Bắc thuộc lần 2. Thời kỳ Hai Bà Trưng chỉ kéo dài
được hơn ba năm.
Sau
khi Hai Bà Trưng thất bại, chế độ giao quyền cai quản cấp huyện ở Bộ Giao Chỉ
cho các Lạc tướng không còn, quyền lực của các Lạc tướng, Lạc hầu bị thủ tiêu.
Theo như cách gọi của sử gia Madrolle thì chế độ bảo hộ chấm dứt, bắt đầu chế độ
cai trị trực tiếp. Nhà Hán đặt quan lại cai trị đến cấp huyện.[39]
Đánh
giá
Sử
gia Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư:[8]
Trưng
Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố,
cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở
bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng
nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông
chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị
em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy.
Theo
sử gia Nguyễn Nghiễm thời Lê trung hưng:[40]
Trưng
Vương là dòng dõi bậc thần minh, nhân lòng dân oán hận, nổi giận, khích lệ người
cùng chung mối thù. Nghĩa binh đi đến đâu gần xa đều hưởng ứng, 65 thành ngoài
miền Ngũ Lĩnh một buổi sớm đều thu phục được, người dân chịu khổ từ lâu, không
khác gì đã ra khỏi vực thẳm được thấy mặt trời. Bà quả là bậc anh hùng khí khái
hơn người. Tuy rằng quân mới tập hợp, bị tan rã khi đã thành công, cũng làm hả
được lòng căm phẫn của thần dân một chút... Khi đất nước bị chìm đắm, thì hầu
như lại được khôi phục do một nữ chúa ở Mê Linh. Lúc đó bậc con trai mày râu phải
cúi đầu ngoan ngoãn tuân theo không dám làm gì, chẳng đáng thẹn lắm sao?
Vua Tự
Đức viết trong Khâm định Việt sử Thông giám
cương mục[41]:
Hai
Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động
cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ
làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu
khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm!
Hai
Bà Trưng và hàng chục, hàng trăm nữ tướng tham gia phong trào kháng Hán, được
người Việt Nam hiện đại xem là một biểu tượng đáng tuyên dương và tôn sùng.
Theo quan điểm này, việc khởi nghĩa này đã góp phần tạo nên truyền thống anh
hùng bất khuất cho giới nữ và cho cả dân tộc Việt Nam. Nguyên lý Mẹ và sắc thái
bình quyền trai gái in đậm nét trong nền văn hóa dân tộc, dân gian Việt Nam đến
nỗi nhiều học giả cho rằng đấy là điểm vượt trội không còn phải bàn cãi gì nữa
của Việt Nam so với Trung
Quốc và phương Tây.[42]
|
“
|
... trong
khoảng năm thứ 40 sau Công nguyên, hai chị em người Việt Nam là Hai Bà Trưng
đã đứng lên khởi nghĩa chống ngoại xâm, thức tỉnh tinh thần độc lập. Đó là lần
đầu tiên trong lịch sử mà người dân Việt Nam đứng lên vì nền độc lập cũng như
niềm tự hào của mình.
|
”
|
|
— Tổng
thống Mỹ Donald Trump[43]
|
Di
sản
Các
công trình gắn liền với tên tuổi của Hai Bà Trưng
Đền Đồng Nhân thờ Hai Bà Trưng tại thủ đô Hà Nội
Voi diễu hành nhân ngày Lễ Hai Bà Trưng 7 tháng 3 năm
1957 tại
Sài Gòn (Thành Phố Hồ Chí minh)
Hiện
nay, trên cả nước Việt Nam có 103 nơi thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh ở 9 tỉnh,
thành phố như: Vĩnh Phúc, Phú
Thọ, Hà Nội, Hải
Phòng, Thái Bình, Ninh Bình trong
đó riêng huyện Mê Linh có 25 di tích ở 13 xã.[44]
- Hai
Bà Trưng được coi là anh hùng dân tộc của Việt Nam và được thờ cúng tại
nhiều đền thờ, trong đó lớn nhất là Đền
Hát Môn thờ Hai Bà Trưng tại xã Hát
Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội, Đền Đồng Nhân ở quận Hai Bà Trưng, Hà
Nội và Đền Hạ Lôi tại thôn Hạ Lôi,
xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà
Nội - quê hương của hai bà. Theo ghi nhận của sử gia Ngô Thì Sĩ, từ nhiều thế kỷ trước khi đền thờ Hai
Bà được lập ra, vì Hai Bà chết do binh đao nên đền thờ kiêng màu đỏ là màu
máu: hương án đều sơn màu đen, không có màu đỏ; người dân địa phương cũng
không dám mặc áo đỏ, kể cả người đến viếng thăm nếu mặc áo đỏ phải cởi bỏ
để bên ngoài theo lệ cấm.[45]
- Ngoài
ra, tại tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) hiện nay vẫn còn miếu thờ
Trưng Vương (miếu này đã được kiểm chứng bởi hai nhà nho đi sứ là Nguyễn Thực và Ngô Thì Nhậm) do những thủ lĩnh bị bắt về đất Hán
sau khi khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại lập ra để tưởng nhớ về quê
hương và cũng là thể hiện tinh thần bất khuất của người Việt thời Hai Bà
Trưng.[46]
- Các
danh xưng của Hai Bà như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trưng Vương, Hai Bà Trưng
còn được đặt cho nhiều trường học, đường phố, phường, xã, quận... ở Việt
Nam.
Trong
văn hóa đại chúng
- Các
câu chuyện về Hai Bà Trưng, Bà
Triệu, và các nữ tướng khác được một số sử gia trích dẫn để làm bằng
chứng cho luận điểm rằng xã hội Việt Nam trước khi bị Hán
hóa là một xã hội mẫu
hệ (hay còn gọi là chế độ mẫu hệ), trong đó phụ nữ có thể giữ vai
trò lãnh đạo mà không gặp trở ngại.
- Nhiều
tác phẩm, sách, kịch, nhạc... viết hoặc dựa vào Hai Bà làm nhân vật chính.
Vở cải lương Tiếng trống Mê Linh về cuộc khởi
nghĩa của Hai Bà là một vở cải lương kinh điển tại Việt Nam.
Đại Nam quốc sử diễn ca có
đoạn kể về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã trở thành quen thuộc đối với người
Việt:
Bà
Trưng quê ở Châu Phong
Giận
người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị
em nặng một lời nguyền
Phất
cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn
Tây nổi áng phong trần
Ầm
ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng
quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi
ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Kinh
kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng
một triều đình nước ta
Ba
thu gánh vác sơn hà
Một
là báo phục hai là Bá Vương
Uy
danh động tới Bắc Phương
Hán sai Mã Viện lên
đường tấn công
Hồ Tây đua
sức vẫy vùng
Nữ
nhi địch với anh hùng được sao!
Cẩm
Khê đến lúc hiểm nghèo
Hai
Bà thất thế cùng liều với sông!
Trước
là nghĩa, sau là trung
Kể
trong lịch sử anh hùng ai hơn.
Bài
hát Hồn tử sĩ có nguyên bản là Hát Giang Trường Hận,
gợi nhớ đến công ơn và sự hy sinh của Hai Bà Trưng.
Sự
kiện
Hàng
năm, vào ngày 6 tháng 2 âm lịch,
ngày giỗ hay lễ hội tưởng nhớ Hai Bà được tổ chức là ngày lễ chính thức của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến 1975
có diễu hành.[47] Ngày
này cũng là Ngày Phụ nữ Việt Nam của miền Nam Việt
Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1976 trở đi, sau
khi hai miền thống nhất thì ngày lễ Hai Bà
Trưng không còn là ngày lễ ở Việt Nam nữa.
Về
sau, về truyền thuyết Hai Bà Trưng đã được lan rộng khắp người dân Việt Nam nhiều
thế hệ sau này, và hình tượng của 2 bà tiếp tục được đưa vào những trò chơi dân
gian, truyện tranh và tác phẩm thơ văn.
Voi diễn hành nhân ngày Lễ Hai Bà Trưng năm 1961 tại
Sài Gòn
➖➖➖