2024-09-28

Chuyện chàng Augustus - Hermann Hesse

2024-09-28

Chuyện chàng Augustus


Hermann Hesse

(Giải Nobel Văn học 1946)

Dịch giả: Thái Kim Lan


 

Chuyện chàng Augustus

Xưa có một người thiếu phụ sống ở đường phố Mostacker. Ngay khi vừa mới thành hôn, chồng nàng mất, để lại nàng nghèo nàn và bơ vơ, thui thủi trong căn phố nhỏ, chờ ngày sinh đứa con sớm mồ côi cha. Sống trong nỗi đơn chiếc, nàng chỉ biết dồn tất cả mọi ý nghĩ của mình vào đứa con sắp chào đời. Không có cái gì trên đời đẹp đẽ, huy hoàng và đáng để ganh tị mà nàng lại không dành nghĩ đến cho con mình, ước muốn cho con mình, mơ mộng cho con mình: Một ngôi nhà xây bằng đá, lót bằng những tấm gương soi với một giếng nước phun trong vườn chỉ vừa đủ tốt cho con thôi nhé - nàng nghĩ - còn tương lai của con thì ít nhất sau này con phải là một ông giáo sư hay một ông vua...

Ở cạnh nhà nàng Elisabeth tội nghiệp có một ông lão - hiếm khi người ta gặp ông ta. Đó là một ông già bé choắt, tóc bạc phơ, đầu đội một cái mũ nồi. Lão có một cái dù che mưa màu xanh, những que dù làm bằng xương cá như thời cổ xưa. Lũ trẻ con sợ hãi ông ta, còn người lớn thì bảo rằng ông già nọ có những lý do riêng để sống ẩn thân một mình như thế. Thường hiếm khi người ta thấy lão ra vào. Nhưng có những buổi chiều tối, từ ngôi nhà bé nhỏ xiêu vẹo, người ta nghe một điệu nhạc thanh tao tựa như tiếng hòa tấu của nhiều loại nhạc cụ nhỏ bé và tinh vi vẳng ra. Trẻ con thường hỏi mẹ: “Nếu bây giờ con chạy qua nhà ông lão thì con có thấy được các thiên thần hay các nàng thủy thần đang ca hát trong nhà ông ấy hay không?” Mẹ chúng không biết gì điều ấy cả và gạt đi: “Ồ! Không, không phải đâu, đấy chỉ là tiếng nhạc bay ra từ một hộp đồ chơi nhạc trẻ con mà thôi”.

Ông già bé nhỏ ấy - hàng xóm thường gọi ông là Binsswanger - có một mối tình bằng hữu đặc biệt với nàng Elisabeth. Thật ra họ chưa bao giờ nói chuyện với nhau nhưng mỗi khi lão già lùn Binsswanger đi ngang qua cửa sổ nhà láng giềng, lão thường chào nàng một cách thân thiết nhất và nàng cũng gật đầu đáp lại một cách biết ơn, lòng đầy cảm mến. Cả hai người thầm nghĩ: “Nếu có lần ta gặp phải điều gì khổ sở vô cùng thì chắc chắn ta sẽ qua nhà người láng giềng để xin ý kiến”.

Chiều chiều, khi trời bắt đầu tối, Elisabeth thường cô đơn ngồi cạnh cửa sổ buồn nhớ người yêu nhất đời đã quá cố hay nghĩ đến đứa con sắp ra đời và đắm mình trong những giấc mộng lan man. Những lúc ấy, lão Binsswanger nhẹ nhàng mở rộng cánh cửa sổ nhà mình, rồi từ căn nhà tối tăm đó chảy ra êm đềm và long lanh như ánh bạc một điệu nhạc đầy an ủi, tựa như một tia trăng sáng mong manh nhỏ xuống trần gian qua kẽ hở các đám mây.

Lão Binsswanger để các chồi hoa phong lữ thảo già cỗi ở cửa sổ sau nhà và thường bỏ quên không tưới nước. Vậy mà chúng vẫn luôn luôn xanh tốt, sum suê những hoa và không có một ngọn lá úa nào, bởi vì chúng đã được Elisabeth tưới bón và chăm nom mỗi buổi sớm.

Trời đã sang thu. Vào một buổi chiều mưa gió tả tơi, trên đường phố Mostacker không một bóng người qua lại, người thiếu phụ tội nghiệp kia bỗng cảm thấy giờ sinh nở đã gần kề, nàng sợ hãi cho nỗi một mình đơn chiếc. Nhưng may sao, khi đêm xuống, có một bà lão cầm đèn lồng đi đến, bước vào nhà người sản phụ, bắc nước sôi, quây màn kín gió cho nàng và làm tất cả mọi thứ cần phải làm để chuẩn bị cho một đứa bé sắp ra đời. Elisabeth yên lặng để mọi việc diễn ra. Đến khi đứa nhỏ được nằm cạnh mình và thiếp giấc ngủ trần thế đầu tiên trong tấm tã thanh sạch mới mẻ, Elisabeth mới lên tiếng hỏi bà mụ từ đâu đến.

Bà mụ bảo: “Ông Binsswanger đã bảo tôi qua đây”, vừa nghe qua, người sản phụ đã thiếp đi trong cơn mệt mỏi. Sáng hôm sau, khi nàng tỉnh dậy, thấy sữa bò đã nấu để sẵn cho mình và mọi thứ ở trong phòng được thu xếp gọn gàng tươm tất. Bên cạnh nàng, đứa bé đang khóc đòi bú, còn bà lão thì không thấy đâu cả.

Người mẹ bèn bế con vào lòng, vui sướng thấy con mình xinh đẹp và bụ bẫm. Nàng nhớ đến người cha đã mất của nó không được thấy con; rưng rưng nước mắt, nàng ôm chặt con vào lòng và rồi lại mỉm cười với con. Rồi cùng với con, nàng lại ngủ thiếp đi, khi tỉnh giấc thì lại thấy sữa và cháo đã nấu sẵn, đứa bé thì được quấn tã mới rồi.

Không lâu sau đó, người mẹ khỏe lại, đã có thể tự chăm sóc cho mình và bé Augustus. Bấy giờ nàng mới sực nhớ là con của mình phải được rửa tội và chưa có cha đỡ đầu. Khi trời nhá nhem tối, thoảng nghe tiếng nhạc ngọt ngào vẳng ra từ túp lều nhỏ của ông lão láng giềng, nàng bèn đi qua thăm ông Binsswanger.

Rụt rè, nàng vừa gõ vào cánh cửa đen đúa của túp lều thì nghe bên trong ông lão lên tiếng niềm nở: “Xin mời vào!”, rồi tiếng nhạc trong lều ngưng bặt và ngay sau đó ông bước ra đón khách. Trong căn lều có một cây đèn nhỏ bé cũ kỹ đặt trước một quyển sách, còn các đồ đạc khác cũng giống như ở mọi nhà.

Elisabeth bảo: “Tôi đến tìm ông để cảm ơn ông đã cho bà mụ tử tế đến giúp. Tôi sẽ trả tiền cho bà ấy khi tôi có thể làm việc lại và kiếm được chút tiền bạc. Nhưng hiện nay tôi đang có một mối lo khác, ông Binsswanger ạ: Tôi nghĩ đứa bé phải được rửa tội và được nhận tên Augustus như cha nó, nhưng tôi không quen biết ai cũng như không có người nào làm cha đỡ đầu cho nó”.

“Ờ, điều đó lão cũng đã nghĩ đến rồi” người láng giềng vừa nói vừa vân vê bộ râu bạc, “Nếu đứa nhỏ có một người đỡ đầu tốt bụng và giàu có để có thể chăm nom nó ngộ nhỡ những lúc cô ốm đau bất thường thì không có gì hay hơn. Riêng lão, lão cũng chỉ là một lão già đơn độc, có ít bạn bè; cho nên nếu như cô không muốn nhận lão làm cha đỡ đầu cho đứa bé thì lão không thể giới thiệu ai khác cho cô được”.

Người mẹ tội nghiệp nghe nói rất đỗi vui mừng, cảm ơn người đàn ông bé nhỏ kia và xin nhận ông làm cha đỡ đầu cho con mình. Chủ nhật kế đó, họ bế đứa nhỏ cùng đến nhà thờ làm lễ rửa tội. Bà mụ hôm nọ cũng xuất hiện và tặng đứa bé một đồng tiền. Khi người mẹ không dám nhận, mụ bảo: “Cô cứ cầm lấy đi, tôi đã già và có đủ các thứ cần thiết rồi. Có khi đồng tiền này đem lại may mắn cho đứa bé đấy. Việc này là bởi vì tôi muốn làm vui lòng ông lão Binsswanger đấy thôi, chúng tôi là bạn cũ với nhau ấy mà”.

Sau đó, họ cùng nhau đi về nhà. Elisabeth pha cà phê mời khách, ông láng giềng thì đem qua một ổ bánh ngọt, ngày hôm ấy trở thành một buổi tiệc rửa tội đúng nghĩa. Sau khi uống cà phê và ăn bánh ngọt, đứa bé đã ngủ thiếp từ lâu, ông Binsswanger mới khiêm tốn nói: “Như thế giờ đây lão là cha đỡ đầu của thằng nhỏ Augustus, lão rất muốn tặng cho nó một lâu đài vương giả và một túi đầy ắp những vàng, nhưng lão không có các thứ ấy, lão chỉ có thể đặt tặng nó một đồng tiền bên cạnh đồng tiền của bà mụ đỡ đầu thôi. Vạn dĩ bất cứ điều gì mà lão có thể làm được cho bé thì lão sẽ làm ngay, cô Elisabeth ạ, chắc chắn cô đã ước mong cho đứa con trai mình nhiều điều đẹp đẽ và tốt lành. Giờ đây cô hãy suy nghĩ thật kỹ, đối với cô điều gì là tốt nhất cho con mình rồi lão sẽ tìm mọi cách để điều đó thành sự thật. Cô được phép có một điều ước cho con trai mình, nhưng chỉ được một điều mà thôi. Vậy cô hãy đắn đo nghĩ kỹ một điều ước, cho đến chiều tối nay, lúc nào nghe tiếng nhạc từ hộp đồ chơi của lão vang lên thì cô hãy kề miệng nói điều ước của cô vào tai trái của đứa bé - điều ước ấy rồi sẽ được toại nguyện”.

Nói xong ông lão từ giã đi ngay, bà mụ đỡ đầu cũng bước theo để lại Elisabeth một mình với bao nỗi ngạc nhiên, nếu không có hai đồng tiền nằm ở trong nôi cùng mẩu bánh ngọt còn lại ở trên bàn thì nàng đã tưởng mọi sự chỉ là một giấc mơ. Nàng đến ngồi cạnh nôi; vừa đong đưa chiếc nôi ru con vừa đắm mình suy tư, ta nên ước điều gì đẹp nhất tốt nhất cho con đây. Thoạt tiên nàng muốn ước cho con mình giàu sang, rồi ước con mình xinh đẹp, hay con phải cường tráng anh dũng, hay là giỏi giang và thông minh... nhưng chưa có điều ước nào là hoàn toàn, ở mỗi điều ước đều vướng những khúc mắc nghi ngại. Cuối cùng Elisabeth đâm ra hoài nghi và tự nhủ “Chà, có lẽ đây chỉ là lời nói bông đùa của lão Binsswanger mà thôi”.

Ngoài sân trời tối dần, bên cạnh chiếc nôi, Elisabeth thiếp ngủ đi, mệt mỏi phần vì việc tiếp khách, phần vì lắm nỗi lo âu, phần vì ngổn ngang bao điều ước muốn. Đúng lúc ấy, một điệu nhạc thanh thoát và êm dịu vắng đến từ nhà ông lão láng giềng, điệu nhạc êm ái và quý giá vô song như chưa từng nghe được từ một hộp đồ chơi trên thế gian. Nghe tiếng nhạc, Elisabeth sực nhớ lại, rồi chợt tỉnh, nỗi nghi ngờ biến mất, nàng lại tin tưởng vào lời của ông láng giềng Binsswanger và món quà nhân dịp làm cha của ông. Càng đắn đo suy nghĩ bao nhiêu, càng muốn mong ước bao nhiêu thì mọi ý nghĩ trong đầu lại càng rối tung lên bấy nhiêu, đến nỗi nàng không quyết định được điều gì cả. Nàng đâm ra lo sợ và nước mắt trào mi khi tiếng nhạc càng lúc càng nhỏ dần, càng lúc càng yếu ớt hơn. Nàng nghĩ trong khoảnh khắc này không nói lên được điều ước của mình thì sẽ muộn mất và sẽ hỏng mất mọi sự. Nàng thở dài, cúi xuống đứa con và thì thào vào tai trái của nó: “Con ơi, con trai yêu quý của mẹ ơi, mẹ ước muốn cho con, mẹ ước muốn cho con...” Khi ấy tiếng nhạc mỹ miều hầu như sắp dứt hẳn, nàng giật mình thảng thốt nói nhanh: “Mẹ cầu mong là tất cả mọi người đều phải yêu thương con!”

Bấy giờ mọi âm thanh đều tắt lịm, chỉ còn sự yên lặng câm chết trong gian phòng tối tăm. Người mẹ vật mình bên chiếc nôi con, khóc nức nở, lòng đầy xao xuyến và lo âu kêu lên: “Con ơi, mẹ vừa cầu mong cho con điều tốt nhất mà mẹ biết được, nhưng biết đâu điều ấy chưa phải là điều thật đúng. Và nếu trên cõi đời này tất cả, tất cả mọi người sẽ yêu thương con, thì cũng không thể có ai yêu con hơn mẹ của con đâu”.

Augustus hay ăn chóng lớn như những đứa trẻ khác, trở thành một cậu bé tóc vàng tuấn tú, đôi mắt sáng ngời dũng cảm, được mẹ nuông chiều và được mọi người yêu thương. Không lâu sau, Elisabeth cảm nhận ngay ra rằng điều ước ngày rửa tội của mình đang thành sự thật. Đứa bé vừa đến tuổi biết đi, biết chạy ra đường và đến với người khác thì ai ai cũng thấy nó xinh xắn, láu lỉnh và khôn ngoan. Thật hiếm có một đứa trẻ như thế, mọi người đều đưa tay đón nó, nhìn vào mắt nó và tỏ ra mến chuộng nó. Những bà mẹ trẻ tươi cười với nó, các bà già thì tặng nó trái táo ngọt, nó có làm điều gì xằng bậy ở đâu đó thì không ai tin nó là kẻ gây ra, hay nếu không chối cãi được thì người ta nhún vai nói xuôi: “Thật không nên chê trách một thằng bé dễ thương như thế”.

Do sự chú ý đặc biệt đến đứa bé, nhiều người bắt đầu đến với mẹ nó. Người mẹ - trước đây không ai biết đến, cũng như ít nhận được công việc may vá tại nhà - trở nên nổi tiếng vì là là mẹ của bé Augustus và được nhiều người bảo trợ ngoài sự mong muốn. Cuộc sống của cô và cậu bé trở nên dễ chịu. Hai mẹ con đi đến đâu, láng giềng cũng đều vui vẻ đón mời và đều đưa mắt nhìn theo hai kẻ hạnh phúc.

Đối với bé Augustus thì điều đẹp đẽ thích thú nhất là được chơi ở bên nhà người cha đỡ đầu. Thỉnh thoảng vào buổi chiều, ông lão gọi cậu sang túp lều của ông. Lúc trời vừa nhá nhem, trong túp lều chỉ có một ngọn lửa đỏ cháy leo lét trong cái lò sưởi đen ngòm. Trên tấm thảm da trải ở nền nhà, ông lão kéo cậu bé vào lòng, cả hai ngồi nhìn ngọn lửa cháy im lìm, rồi ông bắt đầu kể cho cậu nghe những câu chuyện dài. Nhiều lần, khi câu chuyện dài chấm dứt, chú bé đã buồn ngủ díp mắt, nhưng trong sự yên lặng u tối vẫn cố nhìn ánh lửa với đôi mắt lim dim, bỗng trong cõi mịt mùng chú lại nghe có tiếng nhạc ngọt ngào với nhiều âm thanh khác nhau vang lên. Cả hai ngồi yên lắng nghe tiếng nhạc một hồi lâu và thường diễn ra cảnh: bỗng nhiên căn phòng đầy những đứa trẻ con nhỏ xíu và sáng lóng lánh, chúng bay qua bay lại thành vòng tròn với những đôi cánh bằng vàng chói lọi, và như trong các vũ khúc tuyệt diệu, chúng bay quanh nhau rất đẹp mắt rồi lại bay song đôi. Chúng vừa múa vừa ca hát, tiếng ca của chúng như ngân lên trăm vạn lần niềm vui sướng và vẻ đẹp trong sáng. Đấy là điều đẹp nhất mà Augustus đã từng nghe và thấy trong đời. Sau này, khi nhớ đến thời thơ ấu thì hình ảnh túp lều nhỏ bé, tĩnh mịch và tối tăm của người cha đỡ đầu; ngọn lửa hồng trong lò sưởi cùng điệu nhạc vang vọng, với các điệu bay lượn kỳ ảo huy hoàng của các thiên thần luôn làm cho Augustus nhớ nhà.

Thế rồi cậu bé Augustus ngày càng lớn lên. Bây giờ, đã có nhiều lúc bà mẹ buồn phiền vì cậu, và buộc bà phải nhớ đến cái đêm rửa tội cho con ngày xưa. Augustus vẫn hớn hở chạy chơi ở các con đường gần đấy, và được đón mừng khắp nơi. Cậu nhận được hạt dẻ và trái lê, bánh ngọt và đồ chơi, người ta cho cậu ăn uống; để cậu cưỡi lên đùi và cho cậu hái hoa trong vườn. Cậu thường về nhà rất trễ và đẩy đĩa xúp của mẹ một cách bực dọc sang bên. Khi mẹ vì thế buồn rầu mà khóc thì cậu thấy điều ấy thật đáng chán và phụng phịu bỏ đi ngủ. Có lần, mẹ la mắng phạt cậu thì cậu la hét ầm ĩ, than phiền là tất cả mọi người đều dễ thương, tử tế với cậu, chỉ có mẹ thì không. Người mẹ có những giờ phút lo âu có những lúc tức giận về con mình, nhưng khi nhìn con ngủ yên trên gối và ánh nến lung linh trên khuôn mặt trẻ thơ vô tội thì tất cả mọi sự cứng rắn đều biến mất trong tim, bà cúi hôn con một cách cẩn thận để cho con đừng thức giấc. Tất cả là do lỗi của bà khi mọi người đều thích Augustus, nhiều lúc bà rầu rĩ và kinh hãi nghĩ rằng có lẽ sẽ tốt hơn nếu bà chưa bao giờ nói ra điều ước nguyện ấy.

Một lần nọ, bà đang đứng bên cửa sổ hoa phong lữ thảo của ông Binsswanger, dùng cái kéo nhỏ cắt những bông hoa héo ra khỏi chồi hoa, bỗng nghe thấy trong sân ngôi nhà gần đấy tiếng nói của con trai mình. Bà cúi xuống để nhìn cho rõ hơn. Bà thấy con đang tựa lưng vào tường, gương mặt đẹp hơi kiêu hãnh, một cô gái đứng trước mặt cậu, cao hơn cậu, đang nhìn cậu một cách van lơn và nói: “Phải không? Anh thật dễ thương. Cho em một cái hôn, được không anh?”

“Ta không thích” - Augustus trả lời và thọc hai tay vào túi quần.

“Có mà, em xin anh,” cô gái nhỏ nói, “em cũng muốn tặng anh một món quà đẹp mà”.

“Cái gì vậy?” Cậu bé hỏi

“Em có hai trái táo”, cô gái rụt rè nói.

Nhưng cậu bé quay lưng lại và nhăn mặt.

“Ta không thích táo”, cậu nói một cách khinh bỉ và định bỏ chạy.

Cô bé nắm cậu lại và nói một cách van lơn:

“Anh này, em cũng có một chiếc nhẫn”.

“Đưa đây xem”, Augustus nói.

Cô bé cho Augustus xem chiếc nhẫn. Augustus nhìn thật kỹ rồi rút chiếc nhẫn ra khỏi tay cô bé, đeo vào tay mình, đưa lên ánh sáng nhìn ngắm với vẻ thích thú.

“Vậy thì em có thể nhận được một chiếc hôn đấy”, cậu nói kẻ cả và cho cô bé một nụ hôn phớt qua trên môi.

“Giờ anh có muốn đi chơi với em không?” Cô bé hỏi giọng tin cậy và khoác tay vào cánh tay cậu bé.

Nhưng cậu ta hất cô ra và hét lên: “Bây giờ để ta yên đi - ta có những đứa bé khác mà ta có thể chơi được”.

Trong lúc cô gái nhỏ òa khóc, lủi thủi đi ra khỏi sân, cậu bé nhăn mặt chán nản bực dọc, rồi quay quay cái nhẫn xung quanh ngón tay, ngắm nghía nó, bắt đầu huýt sáo và bỏ đi.

Bà mẹ đứng đó với cái kéo cắt hoa trên tay, sững sờ và kinh hãi trước sự tàn nhẫn và miệt thị của con khi nhận sự yêu thương của người khác. Bà để mặc các bông hoa, lắc đầu nói đi nói lại với mình: “Nó thật là độc ác, nó không có trái tim”.

Nhưng ngay sau đó, khi Augustus về nhà, bà mẹ muốn chất vấn cậu thì cậu lại vừa cười vừa nhìn mẹ với cặp mắt xanh ngây thơ không chút cảm giác tội lỗi. Rồi cậu bắt đầu hát và nịnh mẹ, cư xử với mẹ một cách tinh nghịch, dễ thương và dịu dàng đến nỗi bà phải bật cười tự nhủ, đối với con trẻ, người ta không nên vội vã xem mọi sự nghiêm trọng đến thế.

Nhưng các việc làm tệ lậu của cậu không phải hoàn toàn không bị trừng phạt. Người cha đỡ đầu là người duy nhất mà Augustus kính sợ. Khi nào cậu đến thăm cha đỡ đầu, nghe ông nói: “Thế nhé, ngày hôm nay lửa trong lò không cháy và không có âm nhạc, các thiên thần nhỏ bé đang buồn rầu vì con độc ác đấy!”, thì Augustus lặng thinh trở ra, đi về nhà, gieo mình xuống giường nằm khóc. Sau đó nhiều ngày, cậu bé cố gắng tỏ ra phục thiện và ngoan ngoãn.

Tuy nhiên, những lần lửa trong lò sưởi cháy càng ngày càng hiếm hoi hơn, Augustus không thể “lấy lòng” cha đỡ đầu bằng nước mắt và những lời âu yếm được nữa. Khi Augustus mười hai tuổi; điệu vũ ảo thuật của thiên thần trong căn phòng của cha đỡ đầu đã trở thành giấc mơ xa xôi. Nếu cậu có lần trong đêm mơ thấy nó, thì ngày hôm sau cậu lại càng man rợ và ồn ào gấp bội; với tư cách lãnh tướng, cậu lại điều khiển đồng bọn của mình bạo tợn bất chấp mọi gian nguy.

Về phần mẹ cậu, từ lâu bà đã mệt mỏi khi nghe những lời ngợi khen con mình. Với họ, cậu ta có thanh nhã, có xinh xắn đáng yêu như thế nào chăng nữa, riêng bà chỉ có những nỗi lo âu. Một hôm, thầy giáo của cậu đến gặp bà, kể cho bà là có người sẵn sàng đưa cậu vào trường tốt nhất để học. Bà liền sang bàn chuyện với người láng giềng.

Không lâu sau đó, vào buổi sáng mùa xuân, một chiếc xe đến nhà. Augustus trong bộ quần áo mới tinh đẹp đẽ, bước lên xe, chào giã từ mẹ, cha đỡ đầu và láng giềng. Cậu được đi học tại thủ đô. Mẹ cậu chải rẽ mái tóc vàng cho cậu một cách tươm tất lần cuối cùng và nói lời cầu nguyện cho cậu. Thế rồi ngựa bắt đầu rảo bước, Augustus dấn thân vào thế giới xa lạ.

Sau nhiều năm, khi Augustus trở thành sinh viên, mang mũ đỏ và để râu mép, có lần chàng trở về quê cũ, bởi vì cha đỡ đầu viết thư báo tin mẹ cậu đau nặng chắc không còn sống lâu được nữa. Buổi chiều, người thanh niên về đến nhà, mọi người xôn xao ngưỡng mộ đứng nhìn cách chàng bước xuống xe như thế nào, cách người đánh xe mang cho chàng chiếc va-li kếch xù bằng da vào nhà như thế nào. Người mẹ đang nằm chờ chết trong căn phòng cũ kỹ và thấp bé. Khi chàng sinh viên đẹp đẽ nhìn thấy khuôn mặt trắng bệch khô héo nằm trên chiếc gối trắng chỉ có thể nhìn chàng bằng đôi mắt lặng yên, chàng gục xuống bên cạnh giường, khóc và hôn đôi bàn tay mát lạnh của mẹ, quỳ bên cạnh mẹ suốt cả đêm cho đến khi bàn tay mẹ lạnh hẳn đi và đôi mắt khép lại vĩnh viễn.

Khi chôn cất bà mẹ xong, cha đỡ đầu Binsswanger nắm cánh tay chàng và cùng đi với chàng vào túp lều nhỏ. Bấy giờ đối với chàng trai, căn nhà lại càng thấp hơn và tối tăm hơn. Họ ngồi với nhau, thật lâu và khi những cánh cửa sổ nhỏ bé chấp chới một cách yếu ớt trong bóng đêm, ông già bé nhỏ vuốt chùm râu xám bạc của mình bằng những ngón tay gầy guộc và nói với Augustus: “Cha muốn nhen lửa trong lò sưởi, như thế chúng ta khỏi cần dùng đèn. Cha biết ngày mai con sẽ lại đi khỏi chốn này và bây giờ mẹ con đã khuất thì chắc cha sẽ không chóng gặp lại con đâu”.

Trong lúc nói, ông già nhen một ngọn lửa nhỏ trong lò sưởi và xích chiếc ghế bành của ông lại gần hơn. Chàng sinh viên cũng kéo chiếc ghế của mình lại. Họ ngồi như thế một lúc lâu, nhìn những thanh củi tàn lụi dần cho đến khi các tia lửa bay lên rời rạc. Lúc ấy, ông lão hiền lành nói: “Tạm biệt Augustus - cha chúc con những điều tốt đẹp. Con đã có một người mẹ hiền thục và mẹ đã lo toan cho con nhiều hơn con biết. Lẽ ra cha cũng muốn mở âm nhạc cho con nghe một lần nữa và chỉ cho con thấy các thiên thần hạnh phúc, nhưng con biết đấy, việc đó không thể nào còn được nữa. Tuy vậy con không nên quên chúng và nên biết rằng các thiên thần vẫn luôn luôn ca hát và có lẽ chính con cũng sẽ có lần nghe chúng trở lại, nếu một khi con ao ước thấy chúng với một trái tim cô đơn và khao khát. Hãy đưa tay cho cha, con của cha, cha già rồi và phải đi nghỉ”.

Augustus đưa tay cho ông lão và không thể nói một điều gì. Chàng buồn rầu đi về ngôi nhà vắng vẻ, nằm ngủ lần cuối cùng ở chốn quê xưa. Trước khi thiếp đi, chàng mơ hồ tưởng mình lại nghe tiếng nhạc ngọt ngào của thời thơ ấu vẳng lên từ bên kia, êm đềm và rất đỗi xa xăm. Sáng hôm sau; chàng bỏ đi và từ đó người ta bặt tin chàng.

Chẳng bao lâu, chàng cũng quên luôn lão Binsswanger và tiếng nhạc của ông. Cuộc sống giàu sang nở phồng quanh chàng; chàng leo lên sóng của nó mà đi. Không ai như chàng có thể cưỡi ngựa tài tử như thế qua các nẻo đường rộn rã, chào các cô gái đang ngước nhìn theo với cái nhìn chế giễu, không ai biết khiêu vũ nhẹ nhàng và quyến rũ như chàng, không ai có thể đánh xe ngựa một cách nhanh nhẹn và tinh tế như chàng, có thể đánh chén và huênh hoang suốt cả một đêm hè ở vườn như chàng... Một bà góa chồng giàu có - chàng là người tình của bà - đã cho chàng tiền, áo quần, ngựa và tất cả những gì chàng cần và muốn có. Chàng du lịch với bà đến thủ đô Paris, qua Rome và ngủ trong giường lụa của bà, nhưng tình yêu chàng lại dành cho cô gái con nhà phú gia tóc vàng hiền dịu. Đêm đêm, chàng mạo hiểm đến thăm nàng trong khu vườn của cha nàng, nàng viết cho chàng những bức thư dài nóng bỏng những khi chàng viễn du.

Nhưng có một lần chàng không trở về nữa. Chàng đã tìm được bạn bè ở Paris. Bởi vì người yêu giàu có làm chàng chán ngấy, việc học làm chàng bực bội, chàng bèn lưu lại nơi viễn xứ và sống như một đại thế gia, nuôi ngựa, chó, đàn bà, mất tiền và được tiền từng cuộn. Ở khắp mọi nơi; mọi người đều chạy theo chàng, sẵn sàng hiến mình cho chàng sở hữu và phục vụ chàng. Chàng mỉm cười, nhận lấy tất cả, như xưa kia chàng là chú bé đã nhận chiếc nhẫn của cô gái nhỏ. Sự linh nghiệm của điều ước nằm sẵn trong đôi mắt và trên đôi môi chàng. Những người đàn bà xúm xít quanh chàng với sự âu yếm dịu dàng; bạn bè đều ngưỡng mộ chạy theo chàng, và không ai biết - chính chàng cũng không cảm thấy rõ điều ấy - rằng trái tim chàng đã trở nên trống rỗng và tham lam, còn tâm hồn thì bệnh hoạn và khổ đau. Lắm khi chàng cảm thấy mệt mỏi trước sự yêu thương của mọi người và phải hóa trang thành kẻ lạ mặt đi lang thang cô đơn qua những thành phố xa lạ. Nơi nơi chàng đều thấy con người điên rồ; quá dễ dàng để chinh phục, nơi nơi chàng đều thấy tình yêu quá buồn cười, nó cứ chạy theo đuôi chàng một cách vội vã để được thỏa mãn với vài thứ nhỏ nhoi. Đối với chàng, đàn bà và đàn ông thường trở nên ghê tởm bởi họ không thể tự trọng hơn một chút. Chàng trải qua nhiều ngày một mình với bầy chó của mình hay ở trong những vùng đi săn đẹp trong núi. Một con hươu chàng theo dõi và bắn được còn làm cho chàng vui thú hơn là việc đi tán tỉnh một người đàn bà đẹp và được nuông chiều.

Có lần, trên một chuyến hải du, chàng gặp phu nhân của một vị đại sứ, một người đàn bà nghiêm nghị và mảnh mai xuất thân quý tộc miền Bắc. Nàng đứng giữa những người đàn bà quý phái khác và những nhân vật lịch thiệp hào hoa với một vẻ mặt đặc biệt kỳ diệu; kiêu hãnh và yên lặng như thể không người nào sang trọng bằng nàng. Chàng nhìn và quan sát nàng, và khi ánh mắt của nàng dường như cũng phớt qua chàng dù cho chỉ là thoáng chốc và vô tình, nhưng đối với Augustus, thì đây là lần đầu tiên trong đời chàng biết được tình yêu là gì. Chàng liền có ý định chiếm cho được tình yêu của nàng. Và từ lúc ấy trở đi, mỗi ngày mỗi giờ chàng đều ở sát cạnh nàng và đứng trong tầm mắt nàng. Vì chính chàng cũng luôn được những người đàn bà và đàn ông khác chiêm ngưỡng, tìm cách giao thiệp vây quanh, cho nên chàng đứng với người phụ nữ xinh đẹp kia giữa đám khách du hành như một ông lãnh chúa với bà quận chúa của mình. Thậm chí, chính người chồng của người đẹp tóc vàng cũng ưu đãi chàng, cố tìm cách làm vừa lòng chàng.

Chưa bao giờ chàng tìm được dịp ở một mình với nàng, mãi đến khi tại một phố cảng miền Nam; đoàn du khách rời tàu để đi thăm viếng vài giờ trong thành phố lạ và để trong một lúc có lại được cái cảm giác chạm gót giày trên đất liền. Chàng không rời nàng nửa bước cho đến khi tìm được dịp giữa một khu chợ sặc sỡ, giữ nàng lại trong một cuộc hàn huyên. Rất nhiều con đường hẻm nhỏ hẹp, tối tăm chạy đến nơi này, chàng dẫn người đẹp đi vào một trong những con đường hẻm như thế. Nàng tin tưởng đi theo chàng và khi bỗng thấy đang đứng một mình với chàng, nàng trở nên e ngại. Khi không thấy mọi người đâu nữa, chàng hướng về nàng một cách rạng rỡ, nắm lấy bàn tay rụt rè của nàng, van xin nàng hãy ở lại với chàng trên đất liền và đi trốn cùng mình.

Người đàn bà lạ tái mặt, hướng tia nhìn xuống đất. “Ô điều này thật không hào hiệp mã thượng chút nào cả”, nàng nói nhỏ nhẹ, “ngài hãy để cho tôi quên những điều mà ngài vừa nói!”

“Tôi không phải là hiệp sĩ”, Augustus kêu lên, “tôi là người đang yêu, và một người đang yêu không biết gì hơn ngoài người yêu, và không có ý nghĩ gì khác hơn là được ở cạnh người yêu. Ôi người đẹp ơi, em hãy đi với tôi và chúng ta sẽ hạnh phúc với nhau”.

Nàng ta nhìn chàng một cách nghiêm trang với đôi mắt xanh sáng đầy đe dọa: “Từ đâu ngài có thể biết được,” nàng vừa thì thào vừa rên rỉ, “là tôi yêu ngài? Tôi không thể nói dối: Vâng, tôi yêu ngài và mong ước rằng ngài là chồng của tôi. Bởi vì ngài là người đầu tiên mà tôi yêu bằng cả con tim. Ôi tình yêu sao có thể lầm lạc quá xa đến thế này! Tôi đã không bao giờ nghĩ là tôi có thể yêu một người mà người ấy không trong sạch và đường hoàng. Nhưng một ngàn lần hơn tôi thà ở lại với người chồng mà tôi ít yêu nhưng lại là một hiệp sĩ đầy danh dự và cao quý, điều mà ngài không biết đến. Và bây giờ xin ngài đừng nói thêm một lời nào nữa, hãy đem tôi trở về bến tàu, nếu không tôi sẽ gọi người ta đến cứu tôi khỏi sự hỗn xược của ngài”.

Mặc chàng cầu xin, mặc chàng nghiến răng, nàng vẫn quay ra và toan bỏ đi một mình nếu chàng không chạy theo tháp tùng và yên lặng đưa nàng về tàu. Ở đó chàng đem hành lý lên đất liền và không chào giã biệt một ai.

Từ ngày ấy, hạnh phúc của kẻ được nhiều người yêu bắt đầu đi xuống. Đức hạnh và danh dự là hai điều chàng ghét cay độc, chà đạp chúng dưới chân. Đối với chàng; trò tiêu khiển là cám dỗ được những người đàn bà đức hạnh bằng mọi nghệ thuật từ sức ảo thuật của mình, hay khi bóc lột những kẻ ngây thơ mà chàng đánh bạn được một cách dễ dàng rồi bỏ rơi họ một cách khinh bỉ. Chàng làm cho các phụ nữ và thiếu nữ nghèo đi, rồi chối bỏ họ ngay sau đấy. Chàng chọn lựa những chàng trai trẻ từ các nhà quý tộc, cám dỗ và làm hư họ. Không một hưởng thụ nào chàng tìm đến mà không tận hưởng, không một trụy lạc nào mà chàng không học quen rồi lại vất bỏ đi, nhưng con tim chàng không có niềm vui nào nữa và tâm hồn chàng không thấy có một chút âm hưởng từ cái thứ tình yêu thường dễ đến với chàng ở khắp mọi nơi.

Chàng dọn về ở trong một biệt thự vùng quê xinh đẹp tại bờ biển với tâm trạng u tối và cáu kỉnh. Chàng đày đọa đàn bà và bạn bè những lúc họ đến thăm với tính cách bất thường, sự độc ác điên rồ nhất của mình. Điều chàng khao khát là hạ thấp mọi người và tỏ cho họ thấy sự khinh bỉ; chàng thấy chán ngán và buồn ngấy việc được bu quanh bởi những tình yêu không cầu mà có, không đòi mà đến và không tốn công mà được. Chàng cấm nhận được sự vô giá trị của cuộc đời bị phung phí và bị tàn phá của mình, một cuộc đời đã không bao giờ biết cho mà luôn luôn chỉ biết lấy. Đôi khi chàng nhịn đói một khoảng thời gian dài, hòng chỉ để cảm nghe được lại một lần nữa sự ham muốn thực sự và có thể thỏa mãn được chút khát khao.

Tin loan ra trong bạn bè rằng chàng bị bệnh, cần sự yên tĩnh và cô đơn. Thư từ gửi đến, những thư không bao giờ chàng đọc, một vài người lo lắng đến hỏi thăm đám người giúp việc về sức khỏe của chàng. Riêng chàng chỉ ngồi trong căn phòng bên bờ biển, lẻ loi sầu muộn vô tận. Phía sau chàng cuộc đời trống rỗng và hoang vu như dòng thủy triều xám bạc đang nhấp nhô kia. Trông chàng thật xấu xí trong cách ngồi chồm hổm trên cái ghế bành bên cạnh cửa sổ cao, ngấu nghiến một cuộc kết toán với chính mình. Những con hải âu trắng thả mình theo cơn gió biển lượn qua cửa sổ. Chàng nhìn chúng với ánh mắt mất hồn, niềm vui và sự sốt sắng đều biến mất. Duy đôi môi chàng còn nhếch nụ cười mỉm cứng cỏi và độc ác. Khi đã chấm dứt mọi suy tư, chàng bấm chuông gọi người quản gia đến. Chàng ra lệnh cho mời tất cả bạn bè của mình đến tham dự một buổi tiệc vào ngày đã được xác định; chủ ý của chàng thật ra là nhằm làm cho những người đến sẽ hoảng kinh khi thấy một căn nhà hoang và xác chết của chàng trong ấy và qua đấy mỉa mai chế giễu họ. Bởi vì chàng đã đi đến quyết định sẽ kết liễu đời mình bằng thuốc độc.

Vào buổi chiều trước buổi tiệc sắp tổ chức, chàng phái tất cả những người giúp việc đi khỏi nhà, trong các phòng lớn chỉ còn sự yên vắng, rồi đi vào phòng ngủ của mình, khuấy một chất thuốc độc mạnh vào trong ly rượu vang Zypern và nâng ly kề môi.

Nhưng khi chàng định uống ly thuốc độc, thì có tiếng gõ lách cách vào cửa phòng. Chàng không trả lời, cánh cửa mở ra và một ông già bé nhỏ bước vào. Lão đi thẳng tới Augustus, cẩn thận lấy cái cốc khỏi tay chàng và nói một giọng thật là thân thuộc: “Chào con, Augustus, con có khỏe không?”

Kẻ bị bất ngờ, vừa cáu kỉnh lại vừa hổ thẹn, mỉm cười một cách mỉa mai và nói: “Ông Binsswanger, ông cũng còn sống à? Đã lâu lắm rồi nhỉ, và xem ra ông không già hơn chút nào. Nhưng trong lúc này ông đang quấy rầy tôi đấy, ông lão thân mến ạ, tôi đang mệt và định uống một ngụm để ngủ”.

“Lão thấy rồi,” người cha đỡ đầu trả lời, “con muốn uống để dễ ngủ, và con có lý, đây thật là thứ rượu cuối cùng còn có thể giúp con đấy. Nhưng trước khi uống, chúng ta hãy tâm sự với nhau một lát, con trai của ta, và bởi vì cha đã đi một quãng đường xa xôi để đến đây, nên con không phiền nếu cha được uống một ngụm cho khỏe người một chút chứ!”.

Nói xong ông cầm cái ly đưa lên miệng, trước khi Augustus có thể kịp thời ngăn cản thì ông đã nâng ly lên nốc cạn một hơi thật nhanh.

Augustus mặt mày tái ngắt như thây chết. Chàng nhảy xổ vào người cha đỡ đầu, lay vai ông và hét lên thất thanh: “Này lão già, cha có biết cha đã uống cái gì đó không?”

Ông Binsswanger gật cái đầu bạc khôn ngoan của mình và mỉm cười: “Đó là ly rượu vang Zypern như cha thấy, và rượu thật không đến nỗi tệ. Xem ra con không đến nỗi thiếu thốn nhỉ. Nhưng cha còn ít thời giờ và cũng không muốn làm phiền con lâu, nếu con thích nghe cha nói”.

Người đàn ông thất chí nhìn sâu vào đôi mắt sáng của người cha đỡ đầu với nỗi kinh hoàng và chờ đợi trong từng khoảnh khắc sẽ thấy ông lão gục xuống chết.

Lúc ấy người cha đỡ đầu đặt mình ngồi xuống ghế một cách thoải mái và gật đầu thân thiện với người bạn trẻ.

“Con lo lắng là ngụm rượu kia có thể hại ta chăng? Con hãy yên tâm! Nhưng việc con lo lắng cho ta là một điều tốt, ta đã không nghĩ như vậy. Bây giờ chúng ta hãy chuyện trò với nhau như thời xưa kia. Ta có cảm tưởng là con chán ngấy cái cuộc đời dễ dãi của mình rồi phải không? Điều đó cha có thể hiểu được và khi cha đi rồi thì con lại có thể rót đầy ly trở lại và uống hết. Nhưng trước đó cha phải kể cho con nghe chuyện này”.

Augustus dựa lưng vào tường, lắng nghe giọng nói khoan hòa tốt lành của người đàn ông bé nhỏ già nua, tiếng nói từ thuở ấu thơ đã rất thân thuộc với chàng và đánh thức dậy trong tâm hồn chàng những bóng đen của dĩ vãng. Một nỗi hổ thẹn và buồn rầu sâu đậm xâm chiếm toàn thân chàng, trong mắt chàng quãng đời thơ ấu vô tội của mình hiện ra.

“Chất thuốc độc của con cha đã uống hết,” ông lão tiếp lời, “bởi vì chính cha mới là người có lỗi trong sự khốn khổ của con. Mẹ con đã nói lên một điều ước vào dịp rửa tội cho con và cha đã làm mãn nguyện lời ước đó, mặc dù lời ước này khá điên rồ. Con không cần phải biết đến nó nữa; nó đã trở thành một lời nguyền rủa như chính con đã cảm thấy như thế. Cha rất khổ tâm thấy sự việc xảy ra như vậy và cha sẽ rất vui sướng nếu cha còn có thể được sống lại một lần nữa cái cảnh con ngồi trước lò sưởi ở nhà cha và nghe những thiên thần ca hát. Điều đó không phải là dễ đâu, và trong giờ phút này, đối với con, việc trái tim con còn có lúc có thể trở lại khỏe mạnh, trong sáng và vui sướng như ngày xưa; thật là chuyện không tưởng. Nhưng điều ấy có thể được con à, và cha xin con hãy cố thử lại một lần nữa. Lời ước của người mẹ tội nghiệp của con đã làm cho con đau khổ, Augustus à. Vậy bây giờ con nghĩ thế nào khi cha đề nghị con hãy cho phép cha làm cho con thỏa mãn một điều uớc, bất cứ một điều ước nào đấy? Chắc con sẽ không muốn tiền bạc, tài sản, cũng không muốn thế lực và tình yêu của đàn bà, những thứ ấy con đã có quá đủ rồi. Hãy suy nghĩ kỹ, bao giờ con cho rằng con biết được một phép mầu nào có thể biến cuộc đời hư hỏng của con lại thành đẹp hơn, tốt hơn và có thể làm cho con vui tươi trở lại một lần nữa, thì con hãy ước nguyện điều ấy!”

Augustus ngồi trầm ngâm suy nghĩ, chàng đã quá mệt mỏi và vô hy vọng. Một lúc sau, chàng nói: “Con cảm ơn cha; cha Binsswanger ạ, nhưng con tin rằng cuộc đời của con không một chiếc lược nào có thể chải suông trở lại được nữa. Cho nên tốt hơn là con sẽ làm điều mà con đã nghĩ là nên làm trước khi cha bước vào nhà này. Nhưng con cám ơn cha đã đến đây với con!”

“Ừ,” ông lão trả lời một cách đắn đo, “cha có thể tưởng tượng được là đối với con mọi sự không phải dễ dàng. Nhưng có lẽ con nên suy nghĩ lại một lần nữa Augustus ạ, có lẽ rồi con sẽ sực nhớ ra được một điều gì mà cho đến bây giờ con vẫn thấy thiếu nó nhất hay là có lẽ con có thể sực nhớ lại thời xa xưa nhất lúc mẹ con còn sống và lúc con thỉnh thoảng chạy qua nhà cha vào buổi chiều. Lúc ấy con đã có nhiều lần cảm thấy hạnh phúc, có phải không?”

Augustus gật đầu: “Vâng thuở ấy!” Và hình ảnh của quãng đời thơ ấu huy hoàng chợt hiện ra xa xôi và nhợt nhạt như đến từ một tấm gương xưa cũ. “Nhưng thuở ấy không thể nào trở lại được nữa. Con không thể nào ước mình sẽ trở lại là một đứa bé được! Ồ, rồi tất cả lại bắt đầu trở lại từ đầu!”

“Không, điều đó sẽ không có ý nghĩa, con nói có lý đấy. Nhưng hãy thứ nhớ lại một lần nữa cái thời con ở với chúng ta tại quê nhà, đến cô gái tội nghiệp mà lúc còn là sinh viên con đã đến thăm vào ban đêm trong vườn của cha cô ấy và hãy nghĩ đến người đàn bà đẹp tóc vàng mà con đã cùng đi trên chuyến tàu đại dương, hãy nghĩ đến tất cả những giây phút mà có lúc con thấy mình hạnh phúc và những lúc mà cuộc đời đối với con còn tốt lành, đầy giá trị. Có lẽ rồi con có thể nhận ra được điều ấy xưa kia đã làm cho con hạnh phúc và con có thể ước muốn điều ấy cho mình. Hãy vì thương cha mà làm điều ấy đi; con trai của cha”.

Augustus nhắm nghiền đôi mắt, nhìn lui lại quãng đời của mình, như khi người ta đứng từ một ngõ hẻm tối tăm dõi tìm một điểm ánh sáng xa xôi xưa kia, nơi mà từ ấy chàng đã xuất thân, rồi bao nhiêu ký ức đẹp đẽ quanh chàng, và rồi dần dần trở nên đen tối và đen tối hơn như thế nào, cho đến lúc chàng đứng hoàn toàn trong khoảng mịt mù, không một điều gì có thể làm cho chàng vui thú nữa. Chàng càng suy nghĩ nhiều và càng nhớ ra nhiều hơn thì điểm sáng xa xôi ấy càng chiếu đến một cách đẹp đẽ hơn, đáng yêu hơn, đáng được mơ ước hơn và cuối cùng chàng nhận ra được tia sáng ấy. Nước mắt chàng trào ràn rụa.

“Con muốn thứ làm điều ấy,” chàng nói với người cha đỡ đầu, “xin cha hãy lấy lại điều ảo thuật cũ khỏi người con, nó đã không giúp cho con chút nào, và bù vào đấy xin cha hãy cho con điều này, đấy là cho con có thể yêu thương mọi người!”

Vừa khóc chàng vừa quỳ xuống trước người cha già, vừa sụp người xuống, lập tức chàng cảm nghe trong tim một thứ tình thân cũ đối với lão già bừng dậy, sục sạo tìm kiếm lại ngôn từ và cử chỉ để diễn đạt đã bị bỏ quên từ lâu...

Người cha đỡ đầu, người đàn ông bé nhỏ ấy, dịu dàng đỡ chàng trên đôi cánh tay ông và bế chàng vào giường, đặt chàng xuống, vuốt tóc chàng khỏi vầng trán nóng hổi.

“Tốt rồi,” ông thì thào vào tai chàng một cách nhỏ nhẹ, “tốt rồi đấy, con của cha, mọi việc sẽ tốt đẹp!”

Trong lúc nghe các lời ấy, Augustus cảm thấy một cơn mệt mỏi nặng nề xâm chiếm cả thể xác, dường như trong khoảnh khắc chàng đã già hẳn đi nhiều tuổi. Chàng lịm vào giấc ngủ mê man và ông lão lẳng lặng rời khỏi ngôi nhà bỏ hoang.

Augustus choàng tỉnh bởi những tiếng huyên náo hỗn loạn đang rộn lên vang dội trong căn nhà. Khi chàng chồm mình dậy, mở cánh cửa gần nhất ra, thì thấy phòng khách và tất cả các phòng đầy những người bạn cũ. Họ đến dự tiệc nhưng chỉ thấy căn nhà trống không. Họ nổi giận và thất vọng. Chàng liền đến gần họ, để chinh phục tất cả mọi người, như thường lệ, với một nụ cười mỉm và một lời bông đùa. Nhưng bỗng nhiên chàng cảm thấy thế lực chinh phục ấy đã rời khỏi mình. Vừa mới thấy chàng, mọi người liền ùa đến la mắng. Khi chàng mỉm cười một cách yếu ớt, đưa hai tay ra chống đỡ thì họ nhảy xổ vào người chàng một cách giận dữ.

“Mày, thằng đểu cáng,” một người quát lên, “tiền mày nợ tao đâu rồi hử?” Một người khác: “Thế con ngựa tao cho mày mượn đâu?” Một người đàn bà đẹp giận dữ: “Cả thế giới biết hết bí mật của tao là do mày hoạch toẹt ra! Ôi tao thù ghét mày biết chừng nào, thằng ghê tởm!” Một người trẻ tuổi mắt sâu hoắm thét lên với bộ mặt méo mó: “Mày có biết là mày đã hại người ta ra sao không, hở thằng quỷ sa tăng, thằng hại đời thiếu niên kia?”

Cuộc chửi rủa cứ tiếp diễn mãi, họ phủ lên đầu chàng những lời lăng nhục và thóa mạ. Họ đều có lý. Nhiều người đánh đấm chàng. Trước khi bỏ đi, họ còn đập phá các tấm gương và đem theo nhiều thứ quý giá. Augustus nhổm mình từ sàn nhà lên, bầm giập và đầy sỉ nhục. Chàng đi vào phòng ngủ, nhìn vào gương để rửa mặt thì thấy mình đối diện với một gương mặt héo hắt xấu xa, cặp mắt đỏ ngầu chảy nước mắt và máu rỉ ra từ trán.

“Đây là sự trả thù”, chàng tự nói với mình; trong lúc rửa sạch vết máu trên mặt.

Chàng vừa tỉnh hồn một chút thì lại có tiếng ồn ào khác tràn vào nhà. Một số người ập vào chạy lên thang lầu, những chủ nợ, mà chàng đã cầm cố căn nhà; một người chồng mà vợ người ấy chàng đã quyến rũ; những người cha mà các con trai của họ bị chàng cám dỗ đi vào con đường trụy lạc và suy đồi; những đầy tớ nam và nữ bị sa thải; cảnh sát và các luật gia. Một giờ sau, chàng bị trói ngồi trong xe và bị đưa vào ngục thất. Đuổi theo xe, cả đám người còn la hét chửi bởi và hát những bài hát chọc ghẹo mỉa mai, một thằng bé vỉa hè còn ném qua cửa sổ xe vào mặt người bị dẫn đi một nắm phân.

Cả thành phố đầy rẫy những hành vi bỉ ổi của con người mà ai ai cũng đã từng quen biết và thương mến. Không có một thói xấu nào của chàng mà không bị tố cáo và không tật hư nào mà chàng chối đi. Có nhiều người chàng đã quên bẵng từ lâu, bây giờ đứng trước quan tòa khai ra các điều chàng phạm những năm trước. Những nô bộc mà chàng từng tặng thưởng cũng như đã ăn cắp của chàng đến kể ra hết những điều bí mật về tính phóng đãng của chàng. Mỗi khuôn mặt đều đầy sự kinh tởm và thù hận. Không một ai đứng ra bênh vực, khen ngợi, tha thứ cho chàng hay nhớ đến những điều tốt đẹp của chàng.

Chàng để yên mọi việc xảy ra, để yên cho họ đưa vào khám rồi từ khám ra trước quan tòa với các nhân chứng. Đầy ngạc nhiên và buồn bã, chàng đưa đôi mắt mệt mỏi nhìn sâu vào những gương mặt độc ác, giận dữ và xấu xí. Nhưng lạ thay, giờ đây ở mỗi khuôn mặt này chàng lại nhận ra được đằng sau những cuồng thâm của sự thù hằn và xuyên tạc, lấp lánh một sức quyến rũ đáng yêu bí ẩn và ánh sáng của con tim. Tất cầ những người này trước kia đã yêu chàng còn chàng đã không yêu một ai trong bọn họ. Bây giờ chàng lại xin mọi người thứ lỗi và tìm cách nhớ lại một cái gì tốt đẹp ở mỗi người.

Cuối cùng chàng bị kết án giam vào ngục, không ai được phép đến thăm. Chàng nói chuyện trong cơn mê sốt với mẹ, với cha đỡ đầu Binsswanger và người đàn bà quý phái miền Bắc trên con tàu. Khi chàng tỉnh dậy, ngồi cho qua những ngày khủng khiếp trong cô đơn và rẻ rúng thì lại đau cái đau của nỗi nhớ nhung, của sự ruồng rẫy và sự mòn mỏi khát khao được thấy một gương mặt người, như chưa bao giờ ở trong đời chàng đã mòn mỏi khắc khoải như thế khi chạy theo bất cứ một hưởng thụ hay chiếm đoạt nào.

Khi được phóng thích khỏi nhà tù, chàng già hẳn đi và bệnh tật. Không ai còn biết chàng nữa. Thế giới vẫn chạy theo nhịp đời. Người ta đi xe, cưỡi ngựa và dạo chơi trên các nẻo đường, hoa quả đồ chơi và báo chí vẫn được trưng bày ra mua bán, chỉ duy có Augustus thì không ai nhìn đến nữa. Những người đàn bà đẹp mà xưa kia chàng đã ôm ấp cặp kè trong tiếng nhạc và rượu sâm banh, vẫn dập dìu từng đoàn ngựa xe lướt qua bên chàng và để lại đằng sau xe họ đám bụi phủ lấy chàng Augustus.

Nhưng sự trống rỗng và nỗi cô đơn khủng khiếp mà trước đây giữa quãng đời hào nhoáng chàng tưởng như bị bóp nghẹt ấy bây giờ đã hoàn toàn biến mất. Khi chàng bước vào hiên nhà nào đó, để tránh ánh nắng gay gắt của mặt trời trong chốc lát hay khi tiến vào sân sau để xin một ngụm nước, chàng thường ngạc nhiên không hiểu tại sao mọi người lại nghe chàng một cách hậm hực và thù địch đến như vậy. Họ là những người trước đây đã từng rối rít cám ơn chàng về những lời nói kiêu ngạo và vô tình chàng ban cho họ và trả lời chàng với cặp mắt sáng ngời, về phần chàng, giờ đây sự gặp gỡ với mỗi người đều làm chàng sung sướng, cảm xúc và rung động, chàng yêu thích trẻ con đang chơi đùa và đi đến trường, chàng thương mến người già nua đang ngồi trên ghế dài trước cửa nhà đưa đôi tay tàn úa của mình sưởi ấm trong ánh mặt trời. Một cậu trai trẻ đang theo dõi một cô gái với cái nhìn thèm muốn, một người lao công trở về nhà bế con trên tay, một bác sĩ lịch sự đang lái xe lặng lẽ và vội vã, tâm trí chỉ nghĩ tới bệnh nhân, hay một cô gái giang hồ nghèo, ăn mặc tồi tàn mỗi chiều đứng đợi khách dưới cột đèn vùng ngoại ô vắng vẻ và mời ngay cả chàng, kẻ bị mọi người xua đuổi... Tất cả những người này, với chàng đều là anh em, chị em của mình, và mỗi một người đều mang trong mình hoài niệm về một người mẹ rất mực thương yêu, về một xuất xứ tốt lành hơn hay về một dấu hiệu bí mật của một sự an bài đẹp đẽ và cao quý hơn. Đối với chàng, mỗi người đều đáng yêu, đáng trân trọng và đều cho chàng một cơ hội để nghiền ngẫm suy tư, không ai là người xấu như chàng tự cảm cho chính mình.

Augustus quyết tâm đi khắp cả thế gian tìm một nơi mà ở đó chàng có thể giúp ích mọi người bằng mọi cách và chứng tỏ cho họ tình yêu của mình. Chàng phải tập quen với việc là bây giờ ánh nhìn của chàng không làm cho ai vui sướng cả; gương mặt chàng đã nhăn nheo, áo quần giày dép đều là những thứ của một kẻ ăn mày, ngay cả giọng nói, dáng đi của chàng không còn một chút gì của thời xưa đã làm cho mọi người vui thích và mê hoặc nữa. Trẻ con sợ hãi chàng bởi vì bộ râu bạc xồm xoàm dài lòng thòng, những người ăn bận lịch sự né tránh gần gũi chàng, cạnh chàng họ cảm thấy khó chịu sợ bị vấy bẩn lây, còn những người nghèo thì nghi kỵ chàng như một kẻ lạ chỉ chực chớp đi của họ miếng ăn. Chàng phải nhọc công tốn sức để phục vụ mọi người. Nhưng chàng vẫn học hỏi và không để một điều gì làm bực dọc. Thấy một đứa bé con nhướn người lên gần cái then cửa của tiệm bánh mì nhưng đôi tay nhỏ không với tới, chàng có thể giúp bé ngay. Lắm khi chàng còn tìm ra được một kẻ còn nghèo hơn cả mình; một người mù hay một kẻ bị liệt chẳng hạn, chàng có thể đến đỡ họ một chút trên quãng đường đi và an ủi họ. Và ở đâu chàng không làm điều ấy được thì chàng vẫn còn trao tặng được một cách vui vẻ cái ít ỏi mà chàng có, một tia nhìn tươi sáng và nhân hậu, một lời chào anh em, một cử chỉ hiểu biết hay thương cảm. Trên các nẻo đường đi của mình, chàng học được cách đọc thấy ở mọi người điều họ chờ đợi nơi chàng. Có người thích một lời chào tươi mát, có kẻ thích một cái nhln yên lặng, lại có kẻ khác thích người ta lánh xa và không ai quấy nhiễu. Hằng ngày chàng đều ngạc nhiên thấy trên thế gian có biết bao nhiêu điều khốn khổ và con người dù vậy vẫn có thể vui thú. Chàng thấy thật tuyệt diệu và hào hứng, có thể nhận ra được làm sao bên cạnh mỗi sự đau khổ vẫn tìm được tiếng cười vui, bên cạnh mỗi tiếng chuông báo tử vẫn tìm được một bài hát trẻ thơ, bên cạnh mỗi sự cùng quẫn và mỗi sự đểu giả vẫn tìm được một sự trung hậu đứng đắn, một câu chuyện vui, một lời an ủi, một nụ cười.

Đối với chàng, đời người như đã được sắp xếp một cách ưu việt. Khi chàng rẽ vào một góc đường, đụng phải một đoàn học sinh chạy ngược lại, chàng thấy từ mọi đôi mắt lóe sáng biết bao can đảm, vui sống và vẻ đẹp thanh xuân. Khi bọn trẻ chọc ghẹo và hành hạ mình, chàng không thấy điều đó là tệ hại, ngược lại lại thấy điều đó dễ hiểu. Chàng tìm lại được chính mình khi thấy bóng mình phản chiếu trong cửa kính trưng bày hay khi uống nước trong giếng, dáng dấp thật tàn tạ và khốn cùng. Không, đối với chàng giờ đây vấn đề không còn nằm ở chỗ làm vừa lòng mọi người với vẻ bề ngoài hay sử dụng thế lực, những thứ ấy xưa kia chàng đã có thừa rồi. Giờ đây đối với chàng, điều đẹp đẽ và phấn khởi là khi được nhìn những người khác đang vươn lên tự hào trên những chặng đường kia, những quãng đường mà ngày xưa chàng đã đi qua, khi được nhìn mọi người; đầy hăng say và với tất cả sức lực cũng như với bao kiêu hãnh và niềm vui theo đuổi mục đích của mình như thế nào. Đó là một trò kịch đời tuyệt diệu.

Trời vào đông rồi lại sang hè. Augustus bị bệnh nặng nằm liệt giường trong một nhà thương cho những người nghèo một thời gian dài. Ở đấy, chàng lại thưởng thức một cách lặng lẽ và biết ơn sự may mắn được chứng kiến cảnh những người nghèo khổ bị quỵ ngã nhưng họ vẫn có sức lực dai dẳng và hàng trăm ước muốn cố bám lấy cuộc đời, cố vượt khỏi cái chết. Thật là tuyệt diệu khi thấy được trên nét mặt của những người trọng bệnh sự nhẫn nại và trong đôi mắt của người đã bình phục sự ham sống rõ rệt đang đâm chồi. Đẹp thay những gương mặt bình yên và đáng kính của những người từ trần. Đẹp hơn tất cả là tình thương, sự kiên nhẫn của những nữ điều dưỡng xinh đẹp. Nhưng khoảng thời gian này rốt cuộc cũng đến hồi kết thúc. Gió thu thổi về, Augustus tiếp tục đi lang thang. Trời chuyển dần sang mùa đông. Có một sự nóng lòng kỳ lạ xâm chiếm khi chàng nhận ra mình đã tiến lên một cách vô cùng chậm. Chàng còn muốn đi khắp mọi nơi và còn muốn nhìn vào mắt của biết bao con người trên thế gian. Tóc chàng đã nhuốm bạc, đôi mắt đỏ ngầu vì bệnh tật, miệng lấp lánh những nụ cười ngớ ngẩn. Dần dần ký ức của chàng cũng trở nên vẩn đục, đến nỗi lắm lúc chàng nghĩ chưa bao giờ mình nhìn cuộc đời khác hơn ngày hôm nay; nhưng lòng thì thỏa mãn và thế gian đối với chàng thật là tuyệt vời và đáng yêu.

Một buổi chớm đông, chàng phiêu bạt đến một thành phố. Tuyết bay trên các nẻo đường tối tăm, một vài cậu bé lêu lổng về muộn ném theo những trái banh tuyết vào người lữ hành. Vạn vật tĩnh mịch trong bóng chiều. Augustus quá mệt mỏi. Chàng lần vào một con đường hẹp; thấy con đường ấy rất quen thuộc. Chàng lại rẽ vào một con đường nữa, ở đó hiện ra ngôi nhà của mẹ chàng và nhà của ông lão Binsswanger; nhỏ bé và cũ kỹ trong cơn tuyết bay lạnh lẽo. Bên nhà của người cha đỡ đầu thấy một cửa sổ sáng, đang lấp lánh ánh hồng ấm áp và thanh bình trong đêm đông giá.

Augustus bước vào gõ lên cánh cửa lều. Người đàn ông nhỏ bé già nua ra mở cửa cho chàng rồi yên lặng dẫn chàng vào trong túp lều. Ở đó thật ấm áp và yên tĩnh, một ngọn lửa nhỏ và sáng đang cháy trong lò sưởi.

Người cha đỡ đầu hỏi: “Chắc con mỏi mệt lắm phải không?” Lão trải tấm da rộng cũ kỹ của mình ra nền nhà rồi cả hai người già nua ngồi thu mình bên nhau trên đó và cùng nhau nhìn ngọn lửa.

“Con đã đi một quãng đường dài nhỉ?” Người cha đỡ đầu nói.

“Ồ, vâng, tuyệt vời lắm, con chỉ hơi mệt một chút thôi. Con có được phép ngủ lại đây với cha không? Ngày mai con sẽ tiếp tục đi”.

“Được chứ, con có thể ngủ lại đây. Con không thích thấy lại những thiên thần nhảy múa ngày trước hay sao?”

“Những thiên thần ư? Ồ có chứ, con muốn lắm ạ, ước gì có lần con trở thành một đứa bé con bố nhỉ”.

“Thật là lâu lắm chúng ta không gặp nhau rồi nhỉ!” Người cha đỡ đầu lại khơi chuyện. “Bây giờ con đã trở nên thật là đẹp đẽ, đôi mắt của con đã trở lại trong sáng và hiền lành như thuở xưa, như hồi mẹ con còn sống. Con thật là dễ thương khi đã đến đây thăm cha”.

Trong bộ quần áo rách rưới; người lữ hành ngồi gục mình bên cạnh người bạn già. Chưa bao giờ chàng mệt mỏi đến thế, sự ấm áp tuyệt vời và ánh lửa hồng làm chàng hoang mang đến nỗi không thể phân biệt giữa ngày hôm nay và thuở xa xưa một cách rõ ràng được nữa.

“Bố Binsswanger ạ,” chàng nói; “con đã không ngoan ngoãn một lần nữa rồi và mẹ con đã khóc ở nhà đấy. Bố phải nói chuyện với mẹ và bảo mẹ là con sẽ lại ngoan ngoãn. Bố sẽ nói với mẹ phải không bố?”

“Bố sẽ nói,” người cha đỡ đầu bảo, “con hãy yên tâm, mẹ con luôn thương yêu con mà”.

Ngọn lửa cháy nhỏ dần, Augustus nhìn ngọn lửa hồng yếu ớt với đôi mắt mở to ngái ngủ y hệt như ngày thơ ấu của mình. Người cha đưa tay đỡ đầu chàng vào lòng ông; một điệu nhạc thanh tao và hân hoan vang lên trong căn phòng, đầy êm ái và hạnh phúc. Rồi bỗng hàng nghìn bóng dáng nhỏ bé sáng ngời bay lơ lửng đến, sắc thái tươi vui, chúng lượn vòng quanh nhau trong những kiểu bay xoắn xuýt đầy nghệ thuật và những kiểu bay từng đôi trong không gian. Augustus trố mắt nhìn, lắng tai nghe và mở rộng tất cả mọi giác quan trẻ thơ non nớt của mình đón chào thiên đường đã tìm lại được.

Chàng nghe như có tiếng mẹ gọi tên mình, nhưng chàng đã mệt mỏi quá, vả lại người cha đỡ đầu có hứa với chàng ông sẽ nói chuyện với mẹ. Khi chàng thiếp ngủ, người cha đỡ đầu xếp hai tay của chàng lại với nhau. Lão cúi xuống áp tai nghe con tim đã trở nên yên lặng của chàng cho đến khi căn phòng nhỏ ngập tràn bóng đêm.

➖➖➖

2024-09-21

Huệ tím - Hermann Hesse

2024-09-21

Huệ tím

Hermann Hesse

(Giải Nobel Văn học 1946)

Dịch giả: Thái Kim Lan


 

Huệ tím

Trong mùa xuân của thời thơ dại, Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một bông hoa giữa các loài hoa của mẹ: Hoa huệ tím [1]. Cậu thường áp má mình vào những chiếc lá dài màu xanh, tẩn mẩn ấn ngón tay mình vào đầu ngọn lá nhọn, hoặc vừa ngửi vừa hít nụ hoa lớn đẹp huyền diệu kia và nhìn lâu vào tận trong đóa hoa. Ở đó, vươn lên từ nền hoa màu xanh tím nhạt những ngón tay màu vàng xếp thành hàng dài, giữa những búp măng vàng ấy hun hút một ngõ sáng đi sâu vào đài hoa, và sâu hơn nữa vào tận trong chỗ bí ẩn xa xôi màu xanh da trời của nụ hoa. Cậu bé yêu say mê nụ hoa, thường mở to mắt nhìn rất lâu vào trong hoa để thấy phần màu vàng thanh tao ấy, khi thì thấy giống một hàng rào bằng vàng ở vườn thượng uyển, lúc lại giống một lối đi có hai hàng cây mơ mộng đẹp đẽ viền quanh, hàng cây huyền ảo không bị gió lay động và ở giữa chúng, có con đường sáng bí ẩn; được viền bằng những đường gân mờ nhạt mềm mại và linh động chạy dài vào trong nội tâm của hoa. Vòm hoa tỏa rộng dị kỳ. Lùi vào bên trong, con đường giữa hai hàng cây bằng vàng mất hút vô tận trong “yết hầu” của hoa. Trên con đường ấy, những vòm tím nhạt uốn mình xuống một cách cao quý, chiếu bóng đen mỏng manh kỳ ảo với một sự mầu nhiệm yên lặng và chờ đợi. Anselm biết đây là miệng hoa, còn tim và ý nghĩ của hoa ở sau những điểm vàng lộng lẫy trong chốn yết hầu xanh thẳm, hơi thở và những giấc mơ của hoa thoát ra đi vào con đường vân xinh xắn, sáng sủa và trong suốt.

Bên cạnh đóa hoa lớn, những búp hoa nhỏ hơn còn chưa hé nở, đứng trên cuống hoa mọng nước chắc cứng, trong cái đài nhỏ màu xanh nâu. Búp hoa non nớt trồi lên lặng lẽ, kín đáo nhưng đầy sức lực được cuốn tròn chắc nịch và dịu dàng; bọc kín trong màu xanh sáng, và màu tím nhạt; ở đầu nhọn xinh xinh, ló ra màu tím thẫm trẻ măng. Ngay trên những búp non cuốn chặt này cũng có những đường gân và trăm ngàn đường nét để nhìn ngắm rồi.

Mỗi buổi sáng, khi cậu bé trở lại vườn từ căn nhà, từ giấc ngủ, từ cơn mơ, từ những thế giới xa lạ trong cơn mơ ngủ, khu vườn vẫn ở đó, luôn luôn mới nguyên và chờ đợi cậu. Rồi ở nơi mà hôm qua cái mũi búp hoa cứng nhọn màu xanh lơ cuốn tròn trong vỏ xanh còn đứng bất động; giờ đã lấp ló một cánh non mỏng và xanh như khí trời, như một cái lưỡi và một cái môi, đang tìm kiếm hình dáng và nét cong mà cánh hoa đã mơ ước từ lâu. Ở tận cùng nhất, nơi nụ hoa còn đang âm thầm tranh đấu để thoát ra khỏi bức màn lá xanh cuốn quanh mình, người ta đã thấy lờ mờ những cánh mỏng thanh tao màu vàng, con đường đầy gân sáng rỡ và vực thẳm linh hồn xa xăm đầy hương thơm của nụ hoa. Có lẽ đến trưa, có lẽ xế chiều, hoa hé nở, căng tấm màn lụa xanh trên khu rừng mơ mộng bằng vàng; những giấc mơ đầu tiên, những ý nghĩ, lời ca xuất hiện thầm lặng từ hố thẳm đầy ảo thuật bắt đầu hít thở khí trời.

Có một ngày, đầy hoa hình chuông màu xanh đứng chụm nhau trong cỏ. Rồi lại có một ngày, bỗng nhiên âm vang tiếng lạ và hương thơm mới trong vườn; trên đám lá đỏ đượm thắm mặt trời, phất phơ những đóa trà mi mềm mại đỏ thắm. Rồi lại có một ngày không còn đóa hoa huệ nào trong vườn nữa. Chúng đã ra đi. Không còn con đường nhỏ viền vàng nào dẫn dắt ta một cách dịu dàng vào bí mật thơm ngát. Những ngọn lá cứng ngắc đứng trơ xa lạ, lạnh lùng. Nhưng may sao, đâu đó ở các bụi cây, từng đàn, từng đàn bươm bướm dập dìu đùa cợt trên hoa ngôi sao. Những con bướm nâu đó có lưng óng ánh xà cừ, bầy bươm bướm nắc nẻ nhộn nhịp ồn ào; cánh trong như thủy tinh.

Anselm nói chuyện với bướm, với những viên sỏi trong vườn, làm bạn với bọ rầy và chim sáo. Chim kể cho cậu nghe chuyện loài chim, cây dương xỉ kín đáo chỉ cho cậu hạt giống nâu đã được gom lại dưới những ngọn lá khổng lồ. Những mảnh thủy tinh hứng cho cậu tia sáng mặt trời, chúng bỗng hóa thành lâu đài, vườn cây và các kho tàng chói lọi. Khi hoa huệ tàn thì hoa kapuziner [2] lại nở, đóa trà mi héo thì những chùm dâu sặc sỡ nhuốm màu nâu. Tất cả đều đổi thay, tất cả luôn luôn ở đó, và luôn luôn lìa xa, biến mất rồi trong khoảnh khắc lại trở về. Ngay cả những ngày hãi hùng bất thường, cơn gió lạnh lùng rít ầm ĩ trên ngọn cây thông, đám lá úa đùa xào xạc tái tê và rũ rượi khắp nơi trong vườn, vẫn mang đến cho cậu một bài ca, một nhịp sống, một câu chuyện; kể cả khi tất cả sụp xuống, tuyết rơi trước cửa sổ, khi các thiên thần bay cùng tiếng chuông bạc suốt cả buổi chiều, hành lang cùng nền nhà thơm ngát mùi trái cây phơi khô. Không bao giờ tình bạn hữu và niềm tin lại phụt tắt ở thế giới tốt lành này. Như một sự ngẫu nhiên, những chùm hoa tuyết xuất hiện sáng rỡ bên cạnh đám lá trường xuân đằng đen sì, những chú chim đầu tiên bay vút lên khoảng cao xanh mới mẻ, thì dường như mọi vật vẫn luôn luôn còn đó, đứng đó tự bao giờ.

Cho đến một hôm, búp non màu tím nhạt lấp ló từ những chồi ngọc của hoa huệ tím, vẫn luôn luôn đúng hẹn và như mong đợi.

Tất cả đều đẹp đẽ. Anselm mừng đón tất cả đầy thân thiết, tin cẩn. Nhưng giây phút lớn lao nhất, đầy mầu nhiệm hằng năm đối với cậu bé vẫn là lúc đón đóa huệ tím đầu tiên. Chính ở trong đài hoa ấy, trong giấc mơ trẻ thơ xa xưa, lần đầu tiên trong đời cậu đã đọc được quyển sách của phép nhiệm mầu - hương thơm và màu xanh rung rinh của hoa là lời mời gọi và chìa khóa của sáng tạo. Huệ tím cùng với cậu đã đi qua những năm dài trong trắng ngây thơ. Mỗi mùa hè mới, hoa không những mới nguyên mà còn như tăng vẻ bí mật và dễ cảm hơn. Những loài hoa khác cũng có miệng, cũng gửi hương và ý tưởng cho gió truyền đi, cũng quyến rũ ong và bọ rầy vào trong phòng the nhỏ bé ngọt ngào của chúng. Nhưng đối với cậu, đóa huệ tím vẫn đáng yêu hơn và quan trọng hơn tất cả. Với cậu, huệ tím là biểu tượng, là tấm gương cho tất cả những gì đáng được suy ngẫm, cho những gì tuyệt vời tuyệt tác. Khi cậu cúi nhìn vào đài hoa, theo dõi say sưa bằng ý tưởng con đường nhỏ trong sáng mơ mộng và gặp gỡ lòng hoa còn u minh giữa những hàng cây màu vàng kỳ ảo, tâm hồn cậu đã nhìn thấu vào chốn “nhập môn”, nơi mà mọi sự xuất hiện đều trở thành bí nhiệm và mọi sự “thấy” đều trở nên linh cảm. Nhiều đêm, cậu bé mơ nhiều lần về cái đài hoa đó; thấy đài hoa mở rộng vô cùng ở trước mặt như cánh cửa Thiên đường, thấy mình cưỡi ngựa hay ngồi trên thiên nga bay vào trong đó và cả thế giới cũng theo cậu nhẹ nhàng lướt, bay, trượt như bị thu hút bằng ảo thuật vào trong yết hầu mỹ miều của hoa, vào sâu xuống dưới, ở đó mọi sự chờ đợi đều được đền đáp và mọi linh cảm đều trở thành chân lý.

Mỗi sự xuất hiện trên địa cầu là một biểu tượng và mỗi biểu tượng là một cánh cửa mở ngó cho linh hồn sẵn sàng đi vào nội tâm của thế giới nơi mà người với tôi vĩnh viễn là một. Mỗi người trong đời mình đều đã gặp đâu đây trên đường đi cánh cửa mở ngỏ đó, ai cũng có một lúc nào đấy bất chợt nghĩ rằng tất cả những điều mắt thấy tai nghe đều là biểu tượng, sau biểu tượng này hiển hiện cõi tâm linh và đời sống vĩnh cửu. Nhưng ít người đã đi qua cánh cửa mở đó và chịu đánh đổi vẻ đẹp bên ngoài để lấy cái thực chất nội tâm còn lờ mờ trong tâm khảm.

Đối với Anselm, đóa hoa tím xanh lơ kia xuất hiện như một câu hỏi ám ảnh tâm trí cậu đòi hỏi phải có lời giái đáp. Nhưng rồi vạn vật muôn màu muôn vẻ đáng yêu lại lôi kéo cậu đi nơi khác, vào những cuộc tỉ tê, đùa giỡn với đá sỏi, với cỏ dại bụi cây, với côn trùng và với tất cả tình bằng hữu của cậu với thế giới bé nhỏ ấy. Có khi cậu đắm mình ngắm nghía, quan sát chính bản thân mình, trao trọn tâm tư vào những điều khác lạ của thân thể, nhắm mắt nghe những cảm xúc kỳ lạ, những kích thích và tưởng tượng trong cổ và mồm mỗi khi nuốt, hoặc khi hát hay thở, và cảm nhận được ngay cả nơi linh hồn bắt nhịp với linh hồn. Cậu quan sát một cách ngạc nhiên những hình màu đầy ý nghĩa thường xuất hiện trong bóng tối đỏ bầm khi nhắm nghiền đôi mắt, các vòng bán nguyệt màu xanh lơ hoặc đỏ thẫm có những đường nét sáng trong chen vào giữa... Đôi khi Anselm lại cảm nhận với nỗi xúc động vừa vui vừa sợ hãi sự liên hệ giữa thị giác và thính giác, giữa khứu giác và vị giác và cảm nhận trong một khoảnh khắc đẹp ngắn ngủi thanh âm, lời và các vần chữ thân thuộc với nhau, sự đồng loại giữa màu đỏ với màu xanh, giữa cứng và mềm, hoặc cậu kinh ngạc khi ngửi một ngọn rau hay một rễ cây xanh được bóc ra, hương vị sao mà giống nhau đến thế, có khi chúng lại tan hòa vào nhau và trở thành vị duy nhất một cách diệu kỳ.

Mọi trẻ thơ đều cảm thấy như vậy dù cho cường độ nhạy cảm khác nhau. Ở rất nhiều trẻ thơ, những lắng nghe, khám phá đó thường biến mất như chưa bao giờ hiện hữu, trước khi đứa trẻ đọc được vần chữ đầu tiên. Nhưng một số đứa trẻ, vẻ bí nhiệm của tuổi thơ vẫn còn lẩn quẩn và chúng vẫn mang theo dư âm của nó cho đến lúc tóc nhuốm màu sương, trong những ngày muộn màng mệt mỏi của cuộc đời. Mọi trẻ thơ, khi chúng thấy cuộc sống giấu đầy bí mật, đều bận tâm với một điều quan trọng nhất: bản thân mình và mối quan hệ đầy bí ẩn giữa mình và thế giới xung quanh. Kẻ đi tìm và nhà hiền triết thường quay về mối bận tâm này sau những năm chín muồi suy tư, còn phần đông thì quên lãng và rời bỏ rất sớm thế giới nội tâm kia vĩnh viễn, để suốt đời lang thang trong những sai lầm hỗn tạp đầy những lo âu, ước muốn và mục đích, trong đó không có cái gì hiện hữu trong nội tâm sâu kín của họ, không gì có thể dẫn dắt họ tìm đến cõi lòng sâu xa nhất và trở lại quê nhà được.

Những mùa hè và mùa thu trẻ dại của Anselm cứ đến dịu dàng và đi nhẹ nhàng. Hoa tuyết chuông, hoa tím, hoa đinh tử; hoa huệ, hoa hồng... thay nhau nở rồi tàn, rồi lại nở, vẫn đẹp đẽ và phong phú như tự bao giờ. Anselm sống với hoa, chim; hoa tâm sự với cậu, cây và suối lắng nghe cậu, và cậu thường đem những chữ tập viết đầu tiên, những âu lo đầu tiên giãi bày với khu vườn, với mẹ, với những viên đá sặc sỡ ở bồn hoa.

Rồi có một mùa xuân, mùa xuân ấy không rộn rã và đượm mùi như các mùa xuân trước, chim sáo hót véo von nhưng lời ca không phải bài hát cũ, hoa huệ tím nở nhưng không còn những giấc mơ, hình dáng thần thoại với con đường viền vàng của đài hoa. Những trái dâu đó tươi cười núp sau đám lá xanh và bươm bướm vẫn bay rộn ràng lấp lánh trên những tán hoa cao... Nhưng tất cả không còn như trước, cậu bé bận tâm với nhiều chuyện khác. Ngay với mẹ, cậu cũng đã nhiều lần gây gổ. Chính cậu cũng không hiểu duyên cớ tại sao, có điều gì làm cậu đau đớn trong lòng, có một điều gì đấy luôn luôn quấy rầy cậu. Chỉ biết là thế giới đã đổi thay, tình bằng hữu từ trước đến nay đã rơi rụng và để lại cậu trơ trọi một mình.

Một năm trôi qua, rồi một năm nữa, Anselm không còn là một chú bé con. Những viên sỏi sặc sỡ ở bồn hoa trở nên buồn chán, những đóa hoa như hóa câm và đám bọ rầy bị cậu lấy kim xâu bỏ vào hộp: linh hồn cậu đang bước vào con đường dài và chông gai. Những tình cảm thuở trước đã không còn nữa.

Chàng trẻ tuổi vội vã lăn xả vào đời, cuộc đời như mới bắt đầu từ đây. Đã qua rồi và chìm trong lãng quên cái thế giới biểu tượng ngày xưa, những ước mơ mới mẻ và con đường mới lạ quyến rũ cậu đi xa. Có chăng là một chút trẻ dại còn thoang thoảng như một làn hương trong ánh mắt xanh và phất phơ trong mớ tóc mềm mại của chàng, nhưng chàng không thích điều đó. Chàng cắt tóc ngắn đi và sửa ánh mắt cho có vẻ bạo tợn, sành sỏi hơn lên. Chàng thay đổi nhanh chóng theo năm tháng. Khi là một người học trò và bạn tốt, khi trơ trọi và rụt rè, khi vùi đầu trong vở đến khuya, lúc lại điên cuồng ồn ào trong những quán rượu. Chàng phải rời quê nhà và chỉ gặp lại quê cũ trong những lần hiếm hoi về thăm nhà ngắn ngủi. Về nhà với mẹ, chàng bây giờ là một chàng trai trưởng thành, ăn diện thanh lịch. Chàng thường mang theo bạn bè, sách vở, luôn luôn có những thứ khác lạ. Khi chàng đi qua khu vườn cũ, khu vườn thu lại bé nhỏ và bặt tiếng trước tia nhìn lơ đãng của chàng. Chàng không bao giờ nhìn thấy nữa những câu chuyện ở đường gân sặc sỡ của các viên sỏi và lá cây. Chàng không bao giờ nhìn ra thượng đế và sự vĩnh cửu ở vẻ bí mật của đóa hoa huệ tím nữa.

Anselm là học trò, rồi sinh viên, chàng trở về quê với mũ đỏ, rồi mũ vàng, với vành râu mép lơ thơ và rồi với một bộ râu. Chàng mang sách ngoại ngữ về, có lần mang theo một con chó. Và trong cặp da treo ở ngực, khi thì đầy ắp những bài thơ mới viết, khi thì mấy tờ giấy chép những câu danh ngôn xưa, tranh họa và thư từ của các cô gái đẹp. Chàng trở về quê sau một thời gian sống ở ngoại quốc và lênh đênh trên những con tàu ngoài biển khơi. Chàng trở về là một học giả trẻ, mang mũ đen và bao tay màu sẫm. Những người láng giềng cũ ngả mũ khi gặp chàng và gọi chàng là “ông giáo sư” dù chàng chưa phải là giáo sư. Chàng trở về, mặc áo tang, đi lặng lẽ và nghiêm trang sau chiếc xe tang mẹ chàng yên ngủ trong chiếc quan tài kết hoa. Và từ đó, những lần chàng trở về càng hiếm hơn.

Bấy giờ Anselm sống ở đô thị, dạy sinh viên và được xem là học giả nổi tiếng. Chàng sống cũng giống mọi người trên thế gian, cũng đi, cũng dạo chơi, cũng ngồi, cũng đứng, trong y phục trang nhã, nghiêm nghị hay thân mật với đôi mắt nhanh nhẹn và đôi khi hơi mệt mỏi. Chàng đã là một nhà nghiên cứu, một nhân vật đúng như chàng mong muốn. Lúc bấy giờ, tâm trạng chàng giống như những năm cuối thời trẻ thơ. Chàng bỗng thấy thời gian trôi quá nhanh còn mình vẫn đứng trơ trọi và không thỏa mãn ở thế gian, thế gian mà chàng luôn luôn mải mê theo đuổi. Chàng nhận thấy làm giáo sư không phải là hạnh phúc thực sự, được dân chúng, sinh viên chào đón kính trọng cũng không phải là một hứng thú sung mãn. Tất cả điều đó sẽ tàn úa và biến thành cát bụi, hạnh phúc xa vời trong tương lai còn con đường đi đến đó xem ra nóng nực, bụi bặm và tầm thường.

Anselm hay đến chơi nhà một người bạn có cô em gái thu hút chàng. Bây giờ chàng không dễ dàng chạy theo một khuôn mặt đẹp nữa, chàng nghĩ hạnh phúc phải đến với mình một cách đặc biệt hơn và không nằm sau mỗi cánh cửa. Chàng rất thích cô em gái của người bạn, thậm chí chàng nghĩ mình yêu nàng thật tình. Nhưng nàng là một cô gái đặc biệt, mỗi bước đi, mỗi lời nói của nàng đều được tô điểm một vẻ riêng và thật không dễ dàng đến được với nàng, bắt đúng nhịp với nàng. Anselm thường băn khoăn về cô bạn gái. Chàng đi đi lại lại một mình trong nhà, nghe tiếng bước chân của mình, lòng ngổn ngang những ý nghĩ. Nàng lớn tuổi hơn mình, nàng rất kỳ cục và chắc sẽ rất khó khăn nếu vừa sống với nàng vừa muốn theo đuổi tham vọng. Nàng không bao giờ muốn nghe nói đến chữ “tham vọng”. Nàng không khỏe mạnh lắm và không thể chịu đựng khách khứa, tiệc tùng. Nàng thích sống với hoa, âm nhạc, với một quyển sách bên mình trong sự yên tĩnh cô đơn, chờ đợi xem có ai đến với mình không và để mặc thế giới trôi xuôi. Đôi khi nàng rất mỏng manh, dễ cảm đến nỗi một chút xa lạ cũng khiến cho nàng đau đớn và chảy nước mắt. Rồi sau đó nàng lại rực rỡ một cách trầm tĩnh và thanh thoát với vẻ hạnh phúc riêng tư. Những ai biết điều đó đều cảm thấy thật khó để trao tặng cho người đàn bà đẹp hiếm có này một điều gì hoặc để có một ý nghĩa nào đó đối với nàng. Anselm tin nàng yêu mình, nhưng đôi khi chàng lại thấy hình như nàng chẳng yêu ai mà dịu dàng và thân mật với tất cả. Nàng không để ý một thứ gì trên thế gian, chỉ muốn được yên tĩnh. Còn chàng, thì lại muốn đòi hỏi ở đời sống một thứ khác nữa và nếu như chàng lấy vợ thì tiếng rộn rã, sự hiếu khách phải có ở trong nhà mới được.

Một hôm chàng nói với nàng: “Iris, Iris thân yêu, nếu thế giới khác đi, nếu không có gì khác ngoài thế giới đẹp đẽ và dịu dàng với hoa, tư tưởng và âm nhạc của em, thì tôi không ao ước gì hơn là được sống suốt đời bên em, nghe em kể chuyện. Riêng tên của em thôi cũng đủ làm tôi dễ chịu, Iris là một tên tuyệt diệu, hình như tên đó nhắc nhở tôi một điều gì”.

Iris đáp: “Anh biết hoa huệ tím mang tên Iris chứ?”

“Có,” chàng kêu lên trong cảm giác lo sợ; “tôi biết và điều đó cũng đã đẹp rồi. Nhưng mỗi khi tôi nói tên em thì dường như tên em muốn nhắc cho tôi một điều gì đó, hình như nó gắn liền với kỷ niệm sâu xa và trọng đại đối với tôi, nhưng tôi không biết và không tìm ra được”.

Iris mỉm cười với chàng, trong lúc chàng đứng trơ ra đó và lấy tay lau trán.

“Mỗi lần em đều cảm thấy như thế,” nàng nói bằng giọng nhẹ như chim, “khi em ngứi một bông hoa. Mỗi lần tim em đều cho rằng gắn liền với hương thơm kia luôn luôn có một kỷ vật để nhớ đến, một cái gì đẹp và quý báu tuyệt trần, kỷ vật đó trước đây là của em và bị đánh mất đi. Với âm nhạc và đôi khi với thơ văn cũng thế, ở đó đột nhiên lóe sáng một vật gì trong chớp mắt, ví như khi người ta thấy lại được quê hương đã mất bỗng nhiên hiện ra trong thung lũng dưới chân mình và rồi giây phút đó biến mất đi và bị quên lãng. Anselm thân mến! Em tin rằng chúng ta hiện hữu ở trên quả đất này có ý nghĩa cho sự hồi tưởng, tìm kiếm và lắng nghe những hình dáng màu sắc âm thanh đã mất, và quê hương thật sự của chúng ta chính là ở đằng sau đó”.

“Em nói hay quá!” Anselm nói và cảm thấy trong lồng ngực nhói lên một rung động gần như đau đớn, như có một cây kim chỉ nam được giấu kín bỗng bật ra chỉ ngay vào mục tiêu xa xăm nào đó. Mục tiêu này hoàn toàn khác với mục tiêu mà chàng nhắm cho đời mình, điều đó làm chàng đau đớn. Chàng tự hỏi mình có nên phung phí cả cuộc đời trong những giấc mộng với những chuyện thần thoại đẹp đẽ kia không?

Bẵng đi một dạo, một hôm, Anselm trở về từ một cuộc viễn du cô đơn; thấy gian phòng trống trải chào đón mình lạnh lẽo và ngột ngạt, chàng liền đi đến thăm bạn và nghĩ sẽ cầu hôn nàng Iris xinh đẹp.

Chàng nói với nàng: “Iris ơi! Tôi không muốn tiếp tục sống thế này nữa. Em luôn là người bạn tốt của tôi, tôi phải nói với em tất cả. Tôi phải có vợ nếu không thì cuộc sống sẽ trống rỗng và vô nghĩa. Và tôi có thể ao ước một người vợ nào khác hơn là em, đóa hoa yêu quý? Em có bằng lòng không hở Iris? Em sẽ có tất cả các loài hoa có thể tìm được trên thế gian, em sẽ có một khu vườn đẹp nhất thế gian. Em có muốn đến với tôi không?”

Iris im lặng nhìn rất lâu vào mắt chàng. Nàng không mỉm cười và không đỏ mặt, rồi trả lời bằng giọng chắc chắn:

“Anselm à, em không ngạc nhiên về câu hỏi của anh, em yêu anh dù không bao giờ nghĩ sẽ trở thành vợ anh. Nhưng nghe đây, người bạn của em, em sẽ có những đòi hỏi to lớn với ai muốn lấy em làm vợ. Em có những đòi hỏi lớn hơn những người đàn bà khác. Anh muốn hiến dâng cho em nhiều hoa và có ý tốt với em. Nhưng em có thể sống không có hoa và không có âm nhạc, em có thể làm điều đó và không đòi hỏi nhiều thứ khác nếu cần phải thế. Chỉ có một điều em không thể và không muốn thiếu đi: Đấy là em không thể sống một ngày mà thứ âm nhạc trong con tim của em không phải là điều chính yếu. Nếu em sống với một người chồng thì người đó phải là người có âm nhạc nội tâm hòa hợp tốt đẹp và thanh thoát với tiết tấu âm thanh của em, và hơn nữa âm nhạc của người ấy phải là ước muốn duy nhất của đời chàng. Anh có thể làm được như vậy không hỡi bạn của em? Có lẽ rồi anh sẽ không được nổi tiếng và không có danh vọng nữa, nhà của anh sẽ yên tĩnh và các nếp nhăn ở trên trán anh mà em đã thấy từ bao năm qua phải được rửa trôi đi. Ồ Anselm ơi! Không được đâu. Hãy xem, con người anh vẫn như thế, vẫn là người cứ phải học cho đến khi những nếp nhăn ở trán cày sâu thêm, vẫn là người luôn tạo ra những lo âu mới. Còn em và tâm tư của em, anh có yêu thích và thấy hay hay đấy, nhưng anh và nhiều người khác cũng chỉ xem như một trò chơi thanh nhã. Anh nghe em đây: tất cả những gì anh coi là trò chơi thì với em chính là cuộc sống. Anh cũng phải coi đó là cuộc sống của anh. Còn tất cả những gì anh đã phải cực nhọc và lo âu làm nên thì đối với em cái đấy là trò chơi, và theo em chắng đáng giá gì cho cuọc sống của chúng ta. Em sẽ không thay đổi đâu, Anselm à, bởi vì em sống theo quy luật của trái tim mình. Nhưng anh có thể thay đổi không? Và anh sẽ phải thay đổi, nếu muốn lấy em làm vợ”.

Bị đánh trúng tâm lý, Anselm im lặng trước ý muốn của nàng, ý muốn mà chàng đã cho là yếu ớt và đùa bỡn. Chàng câm nín bóp nát một bông hoa trong bàn tay run rẩy của mình. Iris dịu dàng lấy bông hoa ở tay chàng ra, cứ chỉ này như một lời trách móc đâm thẳng vào tim chàng. Nàng bỗng mỉm cười một cách rạng rỡ và đáng yêu, như khi bất ngờ tìm ra trong bóng tối một lời giải đáp.

Nàng nói nhỏ nhẹ và mặt hơi đỏ lên: “Em có một ý kiến, có lẽ anh sẽ thấy nó kỳ cục và cho đó là một ý tưởng điên rồ, nhưng không điên rồ chút nào đâu. Anh muốn nghe chăng? Và anh có muốn chấp thuận nó để nó quyết định cho chúng ta chăng?”

Anselm chăm chú nhìn cô bạn gái mà chẳng hiểu gì cả. Nụ cười mỉm của nàng buộc chàng đồng ý.

“Em muốn giao cho anh một công việc”, nàng nói và bỗng trở nên nghiêm trang.

“Này, em hãy nói đi, đó là quyền của em” Anselm trả lời.

Nàng nói: “Đây là điều quan trọng của em và là lời nói cuối cùng của em. Anh có muốn đón nhận nó như nó đến từ linh hồn của em và không mặc cả so đo, dù cho anh không hiểu ngay điều đó không?”

Anselm hứa. Bây giờ nàng vừa nói vừa đứng dậy và đưa tay cho chàng.

“Nhiều lần anh đã nói với em là mỗi khi nói tên em, anh đều cảm thấy nhớ đến một điều gì đó đã bị lãng quên nhưng đối với anh là rất trọng đại và thần thánh. Đó là một dấu hiệu, Anselm à; và điều đó đã thôi thúc anh đến với em. Em cũng tin là anh đã đánh mất và quên đi một điều gì quan trọng và thần thánh trong tâm hồn mình, điều đó cần phải được đánh thức lại, trước khi anh có thể tìm ra hạnh phúc và đạt tới định mệnh của anh: Hãy đi và hãy nhìn cho đến khi tìm lại được trong ký ức điều đó, điều mà anh nhớ đến mỗi khi anh gọi tên em. Ngày nào anh tìm ra được thì ngày ấy em sẽ là vợ anh, sẽ đi với anh đến nơi nào anh muốn và sẽ không có ước muốn nào nữa ngoài ước muốn của anh”.

Chàng Anselm bối rối, bàng hoàng muốn ngắt lời nàng và trách rằng lời yêu cầu thật điên rồ, nhưng ánh mắt trong sáng của nàng nhắc nhở lời chàng đã hứa nên chàng phải im lặng. Với cặp mắt mỏi mệt và chịu thua, chàng nắm lấy tay nàng, đưa lên môi hôn và từ giã.

Trong đời chàng đã nhận nhiều bổn phận, và đã giải quyết chúng, nhưng không bổn phận nào kỳ lạ, quan trọng mà lại làm chàng nản chí như bổn phận này. Ngày ngày, chàng đi lang thang và ngẫm nghĩ về nó đến mệt đừ, có lúc chàng tuyệt vọng và giận dữ cho rằng đây là tính khùng của đàn bà, định từ bỏ không nghĩ đến nữa. Nhưng rồi trong thâm tâm chàng, có điều gì, như một nỗi đau bí ẩn và mỏng manh, một nhắc nhở không lời rất dịu dàng phản đối lại ý nghĩ đó. Giọng nói nhỏ nhẹ, giọng nói đi từ thâm tâm của chính chàng, đã đồng tình với Iris và cũng đòi hỏi như nàng vậy.

Công việc đó quả thật là khó khăn. Chàng phải nhớ lại điều mà từ lâu đã quên khuấy đi, phải gỡ cho ra sợi dây vàng duy nhất khỏi tấm lưới nhện của những năm dài đã chìm vào lãng quên. Chàng phải vớt bắt bằng hai tay và phải đem lại cho người yêu một thứ gì, mà có lẽ chỉ là một tiếng chim kêu đã thoáng đi, một thoáng bay của cảm hứng hay u sầu khi nghe một bản nhạc, một thứ gì còn mỏng manh hơn; phôi pha hơn, vô hình hơn tư tưởng, hư vô hơn giấc mộng ban đêm, và lãng đãng vô định còn hơn sương mù buổi sáng.

Khi chàng toan từ bỏ tất cả vì chán nản và cáu kỉnh, thôi không tìm kiếm nữa, thì dường như vô tình có cái gì thổi nhẹ vào chàng như một hơi thở từ những khu vườn xa xôi. Chàng thì thầm với mình tên Iris, mười lần và nhiều hơn, nhỏ nhẹ và đùa cợt như khi người ta thứ âm thanh trên một phím đàn căng dây. “Iris,” chàng thì thào, “Iris,” với một cơn đau nhẹ, chàng cảm thấy trong thâm tâm có điều gì đang chuyển động, y như trong một căn nhà cũ bị bỏ hoang, cánh cửa vô cớ bỗng mở ra và tấm song kêu kẽo kẹt. Chàng nhớ lại những hoài niệm xa xôi và bỗng có những khám phá kỳ lạ và kinh ngạc. Kho kỷ niệm hóa ra bé nhỏ hơn chàng tưởng: năm tháng đi qua trống rỗng như những trang giấy không có chữ viết. Chàng thấy mình phải cố gắng lắm mới tưởng tượng lại rõ rệt hình ảnh của mẹ, đã hoàn toàn quên không nhớ cô gái mình theo đuổi tán tỉnh say mê một năm tròn hồi còn thư sinh tên là gì. Chàng sực nhớ đến con chó mình mua trong một phút bốc đồng hồi còn sinh viên, chú ta đã sống với chàng một quãng thời gian dài. Vậy mà phải mất mấy ngày chàng mới nhớ lại tên con chó.

Lòng đầy buồn bã, chàng trai tội nghiệp thấy rằng quãng đời mình đã đi qua điêu tàn và trống rỗng biết bao, quãng đời đó không phụ thuộc vào chàng nữa mà xa lạ và không liên hệ gì với chàng. Ví như điều mà xa xưa kia ta đã thuộc nằm lòng nhưng bây giờ phải vất vả ráp lại từng mảnh vụn vô vị. Chàng bắt đầu viết, chàng muốn quay trở về từng năm, từng năm một, viết lại những quãng thời gian quan trọng của đời mình, để được nắm lại chúng trong tay. Nhưng chỗ nào là những mảnh đời quan trọng nhất? Lúc chàng trở thành giáo sư chăng? Lúc chàng là ông tiến sĩ, là cậu học sinh, là chàng sinh viên chăng, hay trong quãng thời gian cô gái này cô gái nọ đã làm chàng vừa lòng? Hãi hùng, chàng ngước nhìn lên: Đó là đời sống chăng? Đời sống chỉ có thế thôi sao? Chàng đập tay vào trán và cười dữ dội.

Thời gian vẫn trôi qua, chưa bao giờ thời gian lại qua mau và tàn nhẫn đến thế. Một năm đã hết và chàng thấy mình vẫn chẳng khác gì lúc giã từ Iris. Nhưng những người khác đều thấy và biết là chàng đã thay đổi rất nhiều. Chàng trở nên vừa già hơn vừa trẻ hơn. Đối với bạn bè, chàng hầu như thành xa lạ, người ta thấy chàng lơ đãng; hay cáu và kỳ cục, lâu dần chàng được mệnh danh là một quái nhân. Thật đáng tiếc cho chàng, nhưng thế đấy. Đã có lần chàng quên cả công việc của mình, học trò đợi chàng vô ích cả buổi. Lại có khi chàng lếch thếch trên đường phố, lần theo những ngôi nhà và quét bụi đường bằng cái quần rách rưới lê thê. Nhiều người cho là chàng đã bắt đầu uống rượu. Có lúc chàng bỗng ngưng lại chốc lát giữa bài giảng, lục lọi trong trí nhớ một điều gì, rồi mỉm cười một cách trẻ thơ và nhiệt thành - điều mà người ta không bao giờ thấy ở chàng - rồi lại tiếp tục giảng bằng giọng ấm áp và cảm động.

Chàng không biết rằng từ lâu, một ý nghĩ mới đã đến với chàng trong chuyến thám hiểm vô vọng theo những hương thơm và dấu vết đã bị thổi mất của những năm tháng xa xưa. Chàng nhận thấy đằng sau những điều chàng gọi là kỷ niệm còn những kỷ niệm khác nữa, ví như trên bức tường đầy tranh vẽ đôi khi còn có bức tranh xưa hơn, bị vẽ chồng lên, nằm ngủ đằng sau bức vẽ khác. Có khi chàng muốn soát ký ức để nhớ về một điều gì, ví dụ tên một thành phố, ở đó kẻ du khách là chàng đã dừng lại đôi ngày, hay nhớ ngày sinh nhật của một người bạn... Trong khi đào bới và lục lọi dĩ vãng như một đống tro tàn, chàng bỗng sực nhớ một điều hoàn toàn khác hẳn. Một hơi thở nhẹ bao trùm lấy chàng, như một làn gió tháng Tư, hay một ngày mù sương tháng Chín, chàng ngửi thấy một hương thơm, nếm một mùi vị và cảm thấy cảm giác dịu dàng ở đâu đây, trên da trong mắt, trong tim và dần dần điều đó trở nên rõ rệt: Phải là vào một ngày nào đó xa xưa, trời xanh và ấm hay mát và xám, tinh hoa của ngày ấy đã được giữ lại trong tim chàng và vẫn còn treo lơ lửng như một kỷ niệm lờ mờ trong tâm tư. Chàng không thể tìm lại được cái ngày mùa xuân hay ngày đông giá ấy trong quá khứ; ngày mà chàng đã ngửi và đã cảm nhận một cách rõ rệt, chúng không có tên và không có số, có lẽ trong thời sinh viên, có lẽ lúc chàng đang còn nằm trong nôi. Nhưng thoáng hương xưa đã thoảng về, chàng cảm thấy trong lòng có điều gì sống động mà chàng không biết và không thể gọi tên hay xác định được. Chàng có cảm tưởng rằng mình sẽ tìm lại được những kỷ niệm ấy, tuy vẫn nghi ngờ về điều đó.

Anselm đã tìm thấy nhiều điều trong cuộc lang thang vô định qua những ngõ thẳm của ký ức. Có điều làm cho chàng cảm động và xao xuyến, cũng có điều làm chàng kinh hãi, lo sợ, nhưng có một điều chàng đã không tìm ra được, đấy là cái tên Iris có ý nghĩa gì đối với chàng.

Trong cơn giày vò vì không thể tìm ra được điều đó, chàng về thăm lại quê cũ, thấy lại những khu rừng và các con đường, những cầu gỗ và hàng rào. Chàng đứng trong khu vườn của thời thơ dại, cảm nhận sóng lòng rào rạt, quá khứ bao trùm chàng như giấc mộng. Buồn bã và yên lặng, chàng rời chốn cũ về thành phố. Chàng cáo bệnh và không tiếp một ai.

Nhưng có một người tìm đến. Đó là người bạn chàng đã không gặp nữa từ ngày xin cưới Iris. Người bạn thấy Anselm ngồi cô đơn trong căn phòng vắng ngắt của chàng.

“Dậy đi!” Người bạn nói, “Iris muốn gặp anh đấy!”

Anselm nhổm bật dậy:

“Iris hả! Chuyện gì xảy ra với nàng vậy? Đấy tôi biết mà, biết mà!”

Người bạn giục: “Ừ! Đi với tôi! Iris sắp chết rồi, nàng bị bệnh từ lâu rồi”.

Iris nằm trong giường bệnh, nhẹ và gầy như một đứa trẻ, mỉm cười rạng rỡ với đôi mắt mở lớn. Nàng đưa bàn tay trẻ thơ trắng và mảnh cho Anselm nắm, bàn tay nằm trong tay chàng như một bông hoa, vẻ mặt nàng đã biến sắc, nàng nói:

“Anselm ơi! Anh có giận em không? Em đã đem đến cho anh một sứ mệnh rất khó khăn, và em biết là anh vẫn trung thành với nó. Hãy tiếp tục tìm kiếm và hãy đi con đường đó cho đến khi anh đến đích. Anh đã nghĩ vì em mà đi con đường đó, nhưng anh đi cho chính anh đấy, anh biết không?”

“Anh linh cảm điều đó,” Anselm nói, “và bây giờ thì anh biết rồi. Đó là một con đường dài, Iris à, và anh đã toan trở gót từ lâu, nhưng anh không còn đường lùi nữa. Anh không biết rồi sẽ ra sao”.

Nàng nhìn thắng vào đôi mắt buồn rầu của Anselm, mỉm cười trong sáng và an ủi. Anselm cúi xuống bàn tay mỏng manh và khóc rất lâu đến nỗi bàn tay nàng ướt đẫm nước mắt của chàng.

“Anh sẽ phải ra sao,” nàng nói bằng giọng mơ hồ như một tia sáng kỷ niệm, “anh phải ra sao, điều đó anh phải tự hỏi mình. Trong đời anh, anh đã tìm kiếm nhiều rồi. Anh đã tìm kiếm danh vọng, hạnh phúc, tri thức và anh đã kiếm em, Iris bé nhỏ của anh. Tất cả điều đó chỉ là những hình ảnh đẹp và chúng lìa bỏ anh như em phải lìa bỏ anh bây giờ. Chính em cũng đã ở trong tâm trạng này. Luôn luôn em đã tìm kiếm và luôn luôn chúng là những hình ảnh đẹp đáng yêu và rồi chúng lại rơi rụng và héo tàn. Bây giờ em không biết một hình ảnh nào nữa, em không tìm kiếm gì nữa, em đang trở về quê nhà và chỉ cần bước một bước nữa thôi là em ở Quê Hương. Anselm ơi, anh sẽ cũng đi đến đó và sẽ không còn những vết nhăn trên trán nữa”.

Nàng xanh lướt đến nỗi Anselm kêu lên tuyệt vọng: “Iris ơi, hãy đợi một chút đừng vội đi ngay. Hãy để lại cho anh một dấu gì để em khỏi mất đi hoàn toàn trong anh!”

Iris gật đầu, nàng đưa tay lấy trong cốc thủy tinh ở bàn bên; đưa cho Anselm một đóa huệ tím mới chớm nở.

“Anh hãy giữ lấy đóa hoa của em, hoa huệ tím, và đừng quên em, hãy tìm hoa huệ tím rồi anh sẽ đến được với em”.

Anselm nức nở đón đóa hoa và từ giã trong nước mắt. Mấy hôm sau, người bạn nhắn tin, chàng đến trang hoàng quan tài nàng bằng hoa và đưa nàng về với đất.

Tất cả sụp đổ sau lưng Anselm, chàng tưởng không thể dệt tiếp được sợi dây vàng kia nữa. Chàng từ bỏ tất cả, rời thành phố, sở làm và đi biệt tích. Người ta thỉnh thoảng thấy chàng có lần xuất hiện nơi quê cũ, đứng tựa người vào hàng rào khu vườn xưa nhưng khi mọi người đến hỏi và lo lắng cho chàng thì chàng lại bỏ đi và biến mất.

Chỉ có hoa huệ tím là đáng yêu đối với chàng. Chàng thường cúi cong người trên đóa hoa, bất cứ ở đâu khi thấy hoa. Khi chàng đưa mắt nhìn lâu vào đài hoa, thì tựa hồ như hương thơm và linh cảm về tất cả những gì quá khứ và tương lai đang bay lại gần nhau từ cái nền hoa màu xanh nhạt ấy, cho đến khi chàng buồn rầu bỏ đi, bởi vì điều chàng muốn biết đã không đến. Điều đó chẳng khác gì chàng đang rình rập ở một cánh cửa hé mở nào đó, thấy điều bí ẩn mình tìm kiếm đang nấp sau cánh cửa, nhưng khi chàng cho rằng điều đó sắp hiện hữu thì cánh cửa đóng sập lại và ngọn gió trần gian lại trải lạnh trên nỗi cô đơn của chàng.

Trong giấc mơ, Anselm thấy mẹ nói chuyện với mình, chưa bao giờ chàng cảm thấy hình dáng và nét mặt mẹ lại gần gũi và rõ rệt đến thế. Iris cũng hiện ra nói chuyện với chàng. Khi chàng tỉnh giấc, dư âm vẫn còn đọng lại làm cho suốt ngày hôm sau chàng bần thần suy ngẫm. Chàng không còn có một nơi cố định nào, đi lang thang trên các miền quê xa lạ, ngủ ở các nhà hoang, trong rừng, ăn bánh mì hay dâu dại, uống rượu hoặc sương đọng trên lá các bụi cây. Đối với nhiều người, chàng là một kẻ điên, người khác thì cho chàng là một tên ảo thuật, nhiều kẻ hãi sợ chàng, nhiều người chế nhạo chàng, có người lại yêu chàng. Chàng học những điều mà chưa bao giờ chàng có thể: sống chung với trẻ con và chơi những trò chơi kỳ lạ của chúng, như nói chuyện với một cành cây gãy hay với một viên đá nhỏ. Đông và hè lướt qua bên chàng; còn chàng thì cứ nhìn vào các đài hoa, vào suối với hồ.

Đôi khi chàng tự nói với mình: “Hình ảnh, tất cả chỉ là hình ảnh”. Nhưng tận trong thâm tâm, chàng cảm nhận được một thực thể, thực thể này không phải là hình ảnh mà chàng theo dõi, đôi khi cái thực thể trong lòng chàng biết lên tiếng nói, là giọng nói của Iris và của mẹ chàng. Đó là niềm an ủi và sự hy vọng.

Có những phép mầu đến với chàng nhưng không làm chàng ngạc nhiên. Một ngày mùa đông, chàng băng qua một hố băng. Trong tuyết trắng bỗng có một bông hoa huệ tím đứng đơn độc và mảnh mai, đang đâm ra một chồi hoa đẹp lẻ loi. Chàng cúi xuống hoa và mỉm cười, bấy giờ chàng đã nhận ra điều Iris luôn luôn nhắc nhở chàng. Chàng nhận ra giấc mộng trẻ thơ của mình, thấy con đường màu xanh nhạt có những đường gân sáng dẫn vào nơi bí ẩn, trái tim của hoa giữa những chiếc đũa bằng vàng. Chàng biết đấy là nơi chàng tìm kiếm, là cái bản thể thực sự chứ không còn là hình ảnh nữa.

Thế rồi những lời nhắn nhủ trỗi lên, vang vọng trong tim chàng. Những giấc mơ đến đưa chàng đi, chàng bước vào một túp lều, trong đó có nhiều trẻ con, chúng đưa sữa cho chàng uống và chàng chơi đùa với chúng, chúng kể chàng nghe câu chuyện trong rừng, nơi những người làm than đã xảy ra một phép lạ. Rằng ở đó người ta thấy cánh cửa các linh hồn mở ra, cánh cửa ngàn năm chỉ mở một lần mà thôi. Chàng lắng nghe, gật đầu đồng tình với hình ảnh đáng yêu đó. Chàng tiếp tục đi, một con chim hót trước mặt chàng trong bụi liễu, giọng hót ngọt ngào hiếm có như giọng nàng Iris. Chàng đi theo chim; con chim cứ tiếp tục bay và nhảy hót, qua ngọn suối, và đi sâu vào các khu rừng.

Khi con chim bặt tiếng, Anselm không nghe cũng không thấy chim đâu nữa, chàng dừng lại nhìn quanh. Chàng thấy mình đang đứng trong một thung lũng sâu, một lạch suối chảy nhẹ dưới những tán lá xanh rộng. Vạn vật đều yên lặng đợi chờ. Nhưng trong lồng ngực của chàng, tiếng chim vẫn tiếp tục hót giọng yêu thương và thúc giục chàng tiếp tục đi. Rồi chàng đứng trước một bức tường chồng chất đá và phủ đầy rêu, giữa bức tường nứt ra một khe hở chật hẹp dẫn vào bên trong ngọn núi.

Một lão già đang ngồi trước cửa hang, đứng dậy khi thấy Anselm đi đến và kêu lên: “Hãy lui, người kia, hãy lui đi! Đây là cánh cửa ma, chưa có kẻ nào trở lại khi đi vào trong”.

Anselm ngẩng đầu nhìn vào miệng hang. Chàng thấy một con đường mòn màu xanh hút sâu vào trong núi, hai bên vệ đường những cột bằng vàng đứng chen nhau, con đường mòn thoải xuống, hướng về bên trong như vào trong đài một bông hoa khổng lồ.

Trong lồng ngực Anselm, tiếng chim vẫn hót lảnh lót. Chàng bước qua người gác cổng, vào sâu trong miệng hang, đi qua dãy cột vàng vào tận trong chỗ bí ẩn màu xanh lơ sâu thẳm.

Đây chính là hoa huệ tím, chàng đang thâm nhập vào trái tim của Iris, đây chính là đóa hoa huệ tím trong khu vườn của mẹ. Trong đài hoa màu tím biếc đó, chàng đang bước vào lơ lửng như bay lượn. Trong khi chàng yên lặng tiến đến khoảng u minh bằng vàng ấy, đột nhiên tất cả những kỷ niệm, những ký ức đều hiển hiện trong chàng, chàng sờ thấy tay mình; bàn tay nhỏ và mềm, những tiếng nói yêu thương vang vọng gần gũi và tín cẩn trong tai chàng. Chúng vang vọng như thế, những cột vàng óng ánh ấy, y hệt như ngày xưa; như trong những mùa xuân của thời thơ dại.

Giấc mộng của chàng cũng đã quay về, giấc mộng chàng đã mơ hồi còn là chú bé con: Mơ rằng chàng đang bước xuống đài hoa và sau lưng chàng thế giới của tất cả các hình ảnh cũng bước theo, trượt theo và chìm sâu vào trong sự bí nhiệm nằm sau tất cả các hình hài.

Nhẹ nhàng, Anselm bắt đầu cất tiếng hát, và con đường chàng đi êm ái chìm dần vào chốn Quê Hương.

--------------------------------

[1]      Schwertlilir (tiếng Đức): Hoa huệ có hình như lưỡi kiếm, màu tím nhạt, nên gọi là huệ tím.

[2]      Kapuziner: Một loài hoa cỏ có màu đỏ.

➖➖➖

Việt Điện U Linh Tập - Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) - Lý Tế Xuyên

2026-06-20 Việt Điện U Linh Tập Thái Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công (Chuyện Lý Thường Kiệt) ...