Triết lý bánh chưng bánh dày - Sử gia Trần Quốc Vượng
2024-02-10
Triết
lý bánh chưng bánh dày
---
Sử
gia Trần Quốc Vượng
Nhân
dịp Tết Giáp Thìn, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” trân trọng gửi đến cộng đồng
BelUnion, gia đình và bạn hữu “nét họa xuân” thay lời chúc năm mới.
(Credit: Adobe Firefly)
-
Ở
một vài đô thị Việt Nam hiện đại, như thủ đô Hà Nội, người ta đã làm và bán
bánh chưng, bánh dầy hàng ngày, như một thứ hàng quà, để phục vụ cho thị hiếu
thích ăn quà của dân đô thị. Quà là để ăn chơi, tất nhiên cũng có thể “ăn no
quà”, nhưng về bản thể luận, quà là món ăn chơi, ăn qua loa quít luýt thôi, chứ
không phải là thứ lương thực thực phẩm chủ yếu, hằng ngày...
Trong
phong tục học và tâm (lý) học, người ta thường phân biệt hai cặp phạm trù:
-
Cái thiêng liêng / cái thông thường (hay cái THIÊNG và cái TỤC)
-
Cái nghi lễ / cái hằng ngày.
Giữa
hai phạm trù này, có một phép biện chứng chuyển hóa lẫn nhau.
Ví
như xôi, vốn là lương thực hằng ngày của người Việt cổ thời đại Đông Sơn - Âu Lạc
trở về trước (trong nhiều di chỉ Phùng Nguyên - Bàu Tró đã tìm thấy chõ xôi bằng
đất nung) cũng như của các ngư dân Thái Mường miền thung lũng trước Cách Mạng
Tháng Tám.
Với
xu hướng “tẻ hóa” của nhà nông trồng lúa nước (do áp lực dân số và nhu cầu tăng
năng suất lúa), dần dà người Việt thời Lý, Trần và người Thái người Mường hôm
nay hằng ngày đều dùng cơm tẻ. Người ta dành chõ xôi cho những ngày giỗ chạp, tết
nhất, cưới xin, ma chay... nghĩa là chuyển hóa xôi thành món ăn nghi lễ.
Bánh
chưng bánh dầy ở đô thị thời hiện đại đã thuộc phạm trù cái hằng ngày, hay nói
cách khác, đã được giải thiêng.
Nhưng
ở thời đại Việt cổ truyền, và chừng nào đó, ở nông thôn Việt Nam cho đến Tết
xuân con Rồng 1988 này, bánh chưng bánh dầy vẫn thuộc phạm trù nghi lễ. Người
ta chỉ làm và dùng nó (dùng để cúng, để ăn, để làm quà biếu tặng nhưng thường
không để bán) trong ngày Tết hay trong những ngày lễ hội (nhiều làng đồng bằng
Bắc Bộ có tập tục Tết rằm tháng giêng cúng và dùng bánh chưng, lễ hội tháng Ba
lịch trăng (Mồng 3, Mồng 6, Mồng 10...) cúng và dùng bánh dầy, chè kho).
Ngày
trước, bánh dầy, bánh chưng là những lễ vật và món ăn dân tộc. Bây giờ nó vẫn
còn là món ăn dân tộc đáng cho ta gìn giữ và trân trọng. Nhưng xin nhận thức lại
cho đúng mức hơn. Nó không phải là lễ vật và món ăn độc đáo Việt Nam theo nghĩa
chỉ Việt Nam mới có, mới dùng.
Bà
Á Linh, giảng viên trường Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ Hà Nội là người Việt gốc Hoa, quê gốc ở Tứ Xuyên, theo chồng Việt
Nam sang sinh sống và công tác ở Hà Nội
từ mấy chục năm nay, nhân ngày tết cổ truyền năm con Khỉ (1980) đã cho tôi biết
là ở Tứ Xuyên quê bà có loại bánh lễ gần giống như “bánh Tét” (bánh chưng gói
tròn như cái giò) và được gọi âm Hán Việt đọc là “tông bỉnh” nhưng âm Hán Tứ
Xuyên đọc gần như Téung pính.
Ông
Obayashi Taryo, giáo sư nhân học văn hóa Trường Đại học Tokyo trong bài báo cáo cô đúc “Vị thần lấy trộm giống lúa”
(Xem thông báo Unesco tháng 12 - 1984, số chuyên đề về “Những nền văn minh lúa
gạo”) lại cho ta biết món bánh mochi rất phổ biến và quan trọng của bếp
ăn Nhật Bản” được làm bằng gạo nếp hạt ngắn đem đồ lên đến khi chín mềm rồi đem
giã nóng bằng chầy cho đến khi thành bột dính trong đó không còn phân biệt được hạt nữa... Mochi đóng
vai trò quan trọng trong lễ tết, đầu năm mới?
Đó
chính là bánh dầy với các loại hình to nhỏ khác nhau, được bầy thành hàng trên
bàn thờ cúng tổ tiên và sau đó được ăn với các thứ cháo đặc biệt gọi là ojoni
trong bữa ăn nghi thức sáng mồng một Tết của người Nhật.
Cho
nên, xin nói lại cho chính xác hơn là bánh chưng, bánh dầy là sản phẩm độc đáo
của một vùng văn minh lúa gạo rộng lớn ở Đông Á và Đông Nam Á. Tất nhiên giáo
sư viện sĩ Đào Thế Tuấn cho ta biết là lúa nếp có loại hình đa dạng nhất và điển
hình nhất của ngày Tết Việt Nam.
Nhân
ngày Tết năm con Rồng này, tôi xin đưa ra một minh giải văn chương: Bà con cô
bác miền Nam gọi bánh chưng là bánh tét, chữ bánh tét là tiếng đọc trạnh kiểu
miền nam của bánh tết. Và nhân đây xin thanh toán một “ngộ nhận văn hóa”. Thoạt
kỳ thủy, bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà gói tròn như bánh Nam Bộ,
gọi là đòn bánh tét là hoàn toàn chính xác. Ngay giờ đây, xin các bạn chỉ quá bộ
sang Cổ Loa, Đông Anh ngoại thành Hà Nội thôi, vẫn thấy bà con cố đô Cổ Loa gói
bánh chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng, thảng hoặc mới gói
thêm bánh chưng vuông. Thế cho nên, cái triết lý gán bánh chưng vuông tượng Đất,
bánh dầy tròn tượng Trời là một “ngộ sự văn hóa”. Trời tròn đất vuông là một
triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam. Đó không phải
là triết lý dân gian Việt Nam. Nó không phải là Folklore (nguyên nghĩa:
trí tuệ dân gian) mà là Fakelore (trí tuệ giả dân gian).
Bánh
chưng tròn dài tượng Dương vật, như cái chày, cái nô. Bánh dầy tròn dẹt tựa Âm
vật, như cái cối, cái nường.
Đó
là tín ngưỡng và triết lý nô-nường-chày-cối chưng dầy của dân gian, của tín ngưỡng
phồn thực dân gian. Ngay như khi đã gói bánh chưng vuông, dân gian ngày trước vẫn
có tục lệ buộc hay ấp hai chiếc bánh một sấp một ngửa đặt trên bàn thờ và khi
biếu họ hàng khách khứa ngày trước dân gian cũng giữ tục biếu một cặp bánh
chưng (cũng như trước đây bao giờ dân ta cũng mua một đôi chiếu) chứ không bao
giờ tặng một chiếc bánh chưng (cũng như không bao giờ mua một chiếc chiếu).
Nhân tiện nói thêm: việc mua hay chặt cây mía cả gốc cả ngọn đặt bên bàn thờ với
giải thích hữu thức ngày sau đó là “gậy chống của ông vải” về nguyên thủy cũng
thuộc về tín ngưỡng phồn thực.
Bánh
chưng gói ghém trong nó cả một nền văn minh nông nghiệp lúa gạo. Trong bầu khí
văn minh đó, người Việt Nam sống vừa hòa hợp (thích nghi tối đa và tối ưu) vừa
đấu tranh (biến đổi) với tự nhiên. Lá dong gói bánh là lá dong riềng lấy sẵn của
thiên nhiên. Cái bánh chưng, là sản phẩm của trồng trọt và chăn nuôi Việt Nam:
gạo nếp, đỗ xanh, hành, thịt lợn... Cái đặc sắc, độc đáo của bánh chưng không
phải chỉ là, thậm chí không phải chủ yếu là ở từng yếu tố hợp thành cái bánh mà
là ở cơ cấu của bánh, nó tạo nên nét khác biệt trong hình khối, màu sắc, hương
vị của bánh chưng so với các lọai xôi đỗ và bánh nếp khác. Với gạo nếp, đỗ
xanh, thịt lợn... có thể tạo nên máy chục loại bánh xôi Việt Nam dùng hàng ngày
như quà và trong các dịp cưới xin, giỗ, tết như lễ phẩm.
Huyền
thoại qui công sáng tạo bánh chưng bánh dầy cho Lang Liêu, một người con thứ của
vua Hùng, tổ dựng nước Việt Nam. Cũng như “vua Hùng”, “Lang Liêu” là một “anh
hùng văn hóa”, nó không hề hiện hữu như một cá thể (cá nhân) nhưng chỉ tồn tại trong
công thể (cộng đồng) của nhân dân, dân tộc Việt Nam. Lang Liêu có tài sáng tạo,
làm ra bánh chưng bánh dầy cho nên được nhường ngôi, trở thành “vua Hùng” mới.
Tuy cũng là cha truyền con nối như xu hướng
phổ quát của lịch sử loài người, nhưng không truyền cho con trai trưởng (trước thế kỷ XI,
dường như Việt Nam không có tập tục này và sau đó cho mãi đến thế kỷ XIV, XV (Hồ Quý Ly
cũng không nhường ngôi cho con trai trưởng
là Hồ Nguyên Trừng mà cho con thứ là Hồ Hán Thương) nó vẫn là một truyền thống yếu, có xu hướng ngoại sinh) theo lý,
cũng không truyền ngôi cho con trai của một bà ái phi nào theo tình, mà truyền ngôi cho
con nào hiền tài, đó là sự kết hợp giữa truyền tử và truyền hiền, đó là sự hòa
hợp lý tính thời cổ đại...
Trong
các cuộc thi tài thuở trước, mà ở đây là thi nấu cỗ, có biết bao người con của “vua
Hùng” đã làm ra biết bao nhiêu món lạ, lạ mắt, lạ miệng... những sơn hào hải vị
kiếm tận đâu đâu... Cái giỏi của “Lang Liêu”, cái con mắt tinh đời của “vua
Hùng” cũng là cái sáng giá trong bảng giá trị văn hóa của dân tộc dân gian là
tìm cái phi thường trong cái thường thường. Trong tâm lý thường nghiệm, có thói
quen chuộng lạ, ưa của lạ. Cái hằng ngày thân quen, nếu không biết cách nhìn,
cách thưởng thức, cách biến đổi thành những cơ cấu mới từ những nhân tố quen
thuộc thì dễ trở thành nhàm chán.
Tìm cái đặc biệt trong những của lạ thì nào có khó khăn gì! Có khả năng diễn tả cái phi thường bằng những cái thường thường mới là một tài năng đặc biệt không dễ nhận ngay được giá trị vì cứ tưởng là không khó mà thật ra rất khó, vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu, sự đi sâu tìm hiểu, sự nhập thể rất sâu trong lòng văn hóa và nhân dân...
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét