Tự truyện
2024-02-03
---
Hoàng
Thị Mỹ Trang
(Một
bút danh của anh Đỗ Tấn Sĩ)
~
Trời
đã khuya lắm rồi nhưng tôi không tài nào chợp mắt được. Nằm thao thức nhớ ngày
xưa khi còn ở quê nhà, những đêm khó ngủ như đêm nay thật là đầy thi vị. Tiếng
gió thổi rì rào qua hàng mận đầu hè hòa với tiếng kêu ra rã thâu canh của những
con vạc sành và đám dế nhỏ đón sương làm thành một dạ khúc êm ái khó quên. Với
tay lấy chiếc áo len máng bên thành ghế khoác lên người, tôi ngồi dậy đến bên cửa
sổ nhìn bâng quơ ra ngoài. Đêm của mùa cuối đông trên đất Bỉ trời thật im ắng
và lạnh. Thành phố đang chìm trong giấc yên tĩnh, để những bông tuyết nhẹ và trắng
muốt bay miên man như đàn bướm nhỏ từ miền xa rủ nhau về mừng dạ hội.
Còn
có ít hôm nữa là Tết rồi, mau quá!
Tôi
chợt nghĩ và bỗng nghe nao nao trong lòng cái cảm giác của những ngày còn bé học
ở trường tỉnh, cứ đến hăm ba tháng chạp là bắt đầu bãi trường Tết, vui không
sao tả được. Tôi nhớ cả đến mùi thơm đồng nội của khói từ mấy đống un mà mẹ tôi
quét vườn gom lại đốt và chị em tôi ngồi chung quanh sưởi ấm trong tiết trời
lành lạnh của những buổi sáng sắp sang xuân. Nhớ mấy cây quít trái chín đỏ sai
oằng tôi phụ hái đem vào chưng cúng trên bàn thờ. Nhớ cây mai đầy nụ xanh, điểm
lấm tấm vài bông nở sớm vàng rực thơm thoang thoảng trong gió đông, bên thềm mấy
chậu cúc tím chen lẫn với những đám thược dược hồng thắm, vui tươi. Rồi là những
đêm thức thật khuya để coi làm mứt gừng, mứt bí, dưa giá, củ kiệu, tập gói bánh
ít, xin những cái mộng dừa ngọt hay gọt phụ đu đủ, củ sắn cho mẹ tôi...
...
Như đàn bông tuyết trắng xóa rơi không ngớt ngoài kia, những kỷ niệm thân yêu
đó rủ nhau về thật nhiều trong tâm tưởng tôi, như để xoa dịu tình hoài hương của
một người lữ thứ. Có lần viết thơ về thăm mẹ, tôi đã an ủi người và chính mình:
"... Má coi, hồi con ở nhà con cũng mải miết đi học trên Sài Gòn có khi
nào được gần má lâu đâu. Xa má mấy mươi cây số hay một vạn dặm đường cũng là
xa, má đừng nhớ con nhiều mà buồn nha má"... Bây giờ tôi lại hiểu rằng
mình đang sống xa mẹ thật vời vợi, ngày Tết cũng không còn được về phủ phục trước
bàn thờ ông bà nói chi mỗi chiều thứ bảy đáp chuyến xe đò Liên Hiệp về quê, kể
cho mẹ nghe những chuyện vui buồn trong lớp học và đùa giỡn với mấy đứa em.
Không, không phải chỉ là những chuyện vui buồn trong lớp; có một lần trong năm
mười chín tuổi, tôi đã kể cho mẹ tôi nghe chuyện tình của đời mình.
***
Năm
đó, tôi vào học dự bị Văn khoa, lòng tuyệt nhiên không bận rộn gì ngoài chuyện
sách đèn. Tôi ở trọ nhà người bà con khu chợ Thái Bình, ngày ngày với chiếc áo
dài trắng đơn sơ cùng chiếc nón lá đến trường ghi bài về học. Tôi may mắn hơn
nhiều bạn bè trang lứa vì tự biết mình khá đẹp và duyên dáng. Điều đó tôi không
dùng để chuốc tánh kiêu sa như vài người con gái hợm hỉnh khác, một phần vì thấu
hiểu nỗi khổ tâm của những người bạn gái kém nhan sắc mà tâm hồn là cả một trời
nhân hậu.
Nhưng
rồi những ngày của những năm giặc giã không thể nào chỉ là những ngày bình thản
được. Sinh viên các phân khoa bắt đầu dao động vì chuyện bắt lính, chuyện những
người ngoại quốc đem bom đạn, dân xứ sở họ đến ngày càng nhiều, chuyện những
quán rượu trá hình mọc lên như nấm nơi đó chôn vùi cả danh thơm người con gái
Việt, những tên tướng trẻ ngông nghênh coi đất nước như đồ vật riêng của họ, muốn
bán buôn đổi chác lúc nào cũng được, chuyện những bộ trưởng bổ người thân tín
vào những chỗ để kiếm tiền hối lộ, có khi là tiền hối lộ của một sinh viên
nghèo muốn có chỗ dạy giờ ở các trường công gần thủ đô v.v... Tôi dần dần cũng
nghe bất mãn và không còn chút tin tưởng nào nơi chánh phủ. Tuy nhiên sự bất
mãn đó chưa đến độ bùng nổ, có lẽ vì làm con gái ít thấy số phận bị trực tiếp
đe dọa. Hơn một lần, vài người rủ tôi vào đảng này, phe nọ để "cùng nhau làm cách mạng xã hội"
dưới sự "lãnh đạo" của một chính trị gia "tăm tiếng"; tôi
chỉ cười nhạt, ai mà chẳng biết rằng đám chính khách trùm chăn ở Sài Gòn thì
thiếu gì mà họ lúc nào cũng rình rập chờ cơ hội nhảy lên nắm quyền, hốt bạc cho
nhiều, cho mau để rồi chạy ra nước ngoài tiếp tục "tranh đấu cho dân tộc"
ở các sòng bạc quốc tế!
Chán
mứa thời cuộc, tôi vùi đầu vào sách đèn và những công tác xã hội do sinh viên
Sài Gòn tổ chức, cố tự làm cho mình có ích và không đành làm ngơ trước nỗi khổ
đau của đồng bào. Có lẽ định mệnh cũng khéo xếp đặt cho tôi có mặt trong lần đi
cứu trợ nạn lụt miền Trung năm đó. Phải, tôi đã gặp Dũng vào dịp ấy. Dũng là một
thanh niên đầy nhiệt tâm, tận tụy với công việc, không quản ngại trước khó
khăn, cực nhọc. Khác với những thanh niên ăn diện bảnh bao, nói năng chải chuốt
để lấy lòng phái nữ nhẹ dạ, Dũng sống rất giản dị, không kiểu cách. Khó khăn lắm
tôi mới biết là anh học năm thứ năm y khoa.
Một
lần dậy muộn, tôi đến địa điểm tập hợp khá trễ trong khi các bạn đang sốt ruột,
Dũng đã đến trước mặt tôi mà khiển trách:
-
Chị Mai, lần sau xin chị đến đúng giờ hơn để khỏi trễ nãi cả chương trình chung
của nhóm.
Tôi
e thẹn cúi đầu, im lặng xin lỗi và lạ thay bỗng nghe lâng lâng ở trong lòng niềm
vui sướng của một mối tình đầu chớm nở.
Và
dường như Dũng ăn năn vì lời trách đó, nên đặc biệt lo lắng cho tôi những lúc
xuồng chúng tôi băng qua nơi nước chảy xiết và thấy tôi đang nắng mệt, Dũng nhường
phần nước dừa lại cho tôi. Ôi! Còn có ngày nào trong đời đẹp hơn ngày đó? Tôi
thấy mình bé nhỏ và muốn mãi mãi bé nhỏ để được Dũng chăm sóc thương yêu.
Từ
dạo đó chúng tôi yêu nhau, nhưng chưa bao giờ nói lên bằng lời. Những lần gặp
nhau Dũng hay kể cho tôi nghe những chuyện xảy ra ở nhà thương anh gác: khi thì
chuyện một bà lão bị bom đạn giặc đốt cháy, Dũng đắng cay bảo: Mai biết không,
quy ước quốc tế cấm dùng loại vũ khí dã man đó trong chiến tranh! Khi thì chuyện
một sản phụ chở từ một tỉnh nào đó lên, chết vì người nhà không mua được máu,
Dũng buồn rầu chán nản:
-
Anh không hiểu tại sao chánh quyền ngăn chặn, lừa lọc số sinh viên muốn vào học
các trường y tế trong khi số bác sĩ, y tá thiếu vô cùng? Thật là mỉa mai cho
cái chương trình "Mỹ quốc viện trợ"! Nhìn kỹ lại có gì khác cho dân tộc
Việt Nam mình ngoài xe tăng, đại bác và sữa cặn bơ thừa?
Bằng
những điều sống thực như vậy, Dũng đã dạy cho tôi lớn lên, nhìn thấy những nỗi
bất công, nhọc nhằn trong xã hội. Dũng còn say mê nói với tôi về một xã hội
công bằng- nhân đạo của ngày mai, tôi chăm chú nghe và càng nghe càng yêu mến
Dũng khôn cùng. Dũng cũng khéo nói cho tôi hiểu là anh chỉ yêu mến những người
con gái có tâm hồn đẹp và rắn rỏi. Anh không thích tôi mua tặng những món quà
nhỏ, không thích những uỷ mị thường tình và say đắm đôi mắt cảm phục đang chăm
chăm nghe anh nói những lời nói đầy tình yêu quê hương, đất nước.
***
Cuối
năm học đó, bận rộn với mùa thi, tôi không gặp Dũng hàng tháng trời. Kịp đến
lúc đậu xong, tôi đến nhà Dũng báo tin mừng mới hay Dũng vừa bị bắt cách đó mấy
hôm... Cây phượng vĩ bên đường bông đã tàn rụi và buổi chiều hôm, tiếng con ve
lạc đàn kêu sao buồn thảm! Tôi hiểu, yêu còn có nghĩa là sẽ chuốc lấy khổ đau
do tình yêu mang đến; nhưng Dũng đã chẳng muốn thấy tâm hồn tôi rắn rỏi đó sao?
Lòng
bồn chồn lo lắng, tôi đi tìm những người bạn của Dũng hỏi thăm tin tức thì được
biết Dũng đang bị giam ở Tổng nha vì có tên trong hồ sơ mật do bọn sinh viên chỉ
điểm báo cáo về những người sinh viên thường hội họp biểu tình từ phong trào Phật
giáo lúc bấy giờ. Bọn cảnh sát còn lùng
bắt thật nhiều để mong ngăn ngừa làn sóng đấu tranh từ Huế - Đà Nẵng, Đà Lạt
lan vào Sài Gòn.
Mấy
lần xin vào thăm tôi đều được trả lời "còn chờ thẩm vấn, chưa thăm được".
Hai chữ thẩm vấn làm tôi lạnh mình. Những người đàn bà lam lũ từ quê lên tìm chồng
con đều nhìn tôi ái ngại; còn tôi, tôi nhìn họ lại nghe hiển hiện lời Dũng nói
về những người nghèo khổ nơi bùn lầy nước đọng để chợt thấy giữa tôi với họ có
quá nhiều cách biệt. May thay nỗi lo âu dằn vặt chung trước cánh cửa Tổng nha
đường Cộng hòa đã xóa bỏ lần lần khoảng cách giữa chiếc áo dài trắng tinh với
những chiếc áo bà ba vá víu bần hàn. Tình yêu đã đưa những người phụ nữ chúng
tôi đến trước cửa ngục tù, kẻ quê, người thành, hai cuộc đời xa lạ bỗng thương
yêu nhau như chưa bao giờ biết yêu thương. Đó phải chăng cũng là một thứ tình
yêu quê hương đất nước?
***
Một
thời gian sau, giữa lúc tôi đinh ninh rằng Dũng sẽ bị đưa ra tòa thì anh được
thả về do sự vận động của một người bà con "làm lớn" trong bộ Quốc
phòng. Gặp lại Dũng tôi vui lắm, nhưng không phải là nỗi vui hồn nhiên của cái
ngày chớm yêu. Tôi nhìn Dũng gầy yếu, xanh xao bỗng hai hàng nước mắt rưng
rưng, muốn nói Dũng ơi, Mai thương anh, nhưng tiếng nói đã tắt nghẹn nơi đầu
môi khi tôi chợt nhớ tới những cô bác quen trước khám đường, giờ này chắc gì đã
được khóc mừng chồng con mình thoát khỏi cuộc đời xiềng xích.
Dũng
rủ tôi đi dạo một vòng thành phố, tôi đâu biết đó là lần chót mình được đi bên
cạnh Dũng. Tôi mặc chiếc áo dài màu thiên thanh, chải mái tóc cho thêm vén
khéo, trang nhã hơn ngày thường.
Và
suốt buổi chiều hôm đó tôi nghe vui sướng vô cùng, cứ tưởng như mình đang bồng
bềnh trên một con thuyền trôi trên một dòng sông xanh, hai bên bờ có hoa bằng
lăng màu hồng nở rộ lung linh theo gió. Tôi vẫn chưa biết rằng mình sắp phải rời
xa Dũng không biết đến bao giờ, cho đến khi trời tắt nắng, Dũng cùng tôi vào một
quán nước nghỉ chân. Dũng gọi một tách cà phê và phần tôi một chai nước ngọt.
Tôi định đùa xin cùng được uống với Dũng một ly cà phê thật đắng và thật đen
nhưng khi nhìn lên khuôn mặt chợt xa vắng của Dũng, tôi bàng hoàng nín lặng,
linh cảm một giờ phút trọng đại của đời mình.
Rồi
Dũng nhìn tôi thật lâu và thật trìu mến, có khi tôi thấy trong mắt Dũng thoáng
lên một niềm hãnh diện, có khi là một nỗi hờn oán nối tiếp theo một gợn buồn,
có khi như hứa hẹn giữ mãi mãi hình ảnh tôi cho đến trọn đời... Bên ngoài trời
đổ mưa, con đường Lê Lai bên hông ga xe lửa trở lên vắng ngắt, Dũng thu hết can
đảm nói thật đầm ấm và cũng thật cương quyết, nghiêm nghị như lần trách tôi
ngày hôm ấy:
-
Ngày mai anh sẽ lên đường ra chiến khu cùng với vài người bạn khác. Anh biết
Mai sẽ buồn và sẽ nhớ anh nhiều, anh cũng vậy, nhưng chúng ta sẽ xứng đáng với
nhau phải không Mai. Anh không có lời nào để an ủi em vì chính anh, anh cũng
không tự an ủi được mình. Anh chỉ có thể nói rằng đời chúng ta còn có những
ngày vui bất tận, đó là những ngày hòa bình lập lại, không còn bóng một tên
lính ngoại quốc nào trên xứ sở.
Dũng
chưa nói hết câu tôi đã hiểu và thông cảm để cố nén nỗi buồn thật sâu thẳm
trong lòng. Tôi đâu có phải là người đầu tiên ngậm ngùi làm thân chinh phụ! Vả
lại, nếu Dũng ở lại cũng sẽ chẳng được yên thân lâu, không bị bắt trở lại cũng
bị gọi đi lính, cuộc đời thêm nhục nhã chua cay. Tuy nhiên tôi cũng hỏi Dũng một
câu để mà hỏi:
-
Còn việc học thì sao hở anh?
Làm
sao tôi có thể ngăn cản Dũng đi theo tiếng gọi của quê hương khi mà ngục tù còn
đang đầy dẫy người yêu nước và bom đạn còn đang dày xéo làng mạc, ruộng vườn.
Cho nên tôi bảo:
-
Anh đừng sợ Mai nản lòng chờ anh. Mai không đi theo anh được vì hoàn cảnh gia
đình chưa cho phép nhưng tâm hồn và lý tưởng của đời Mai, Mai gởi hết cho anh
vì Mai biết rằng trước bọn giặc hung bạo, dã man như vậy, chỉ cầm lấy súng mới
chống lại được. Không làm như vậy chỉ có thể làm chậm ngày hòa bình, độc lập của
dân tộc, vô tình giết thêm nòi giống.
Dũng
mỉm cười nhìn tôi âu yếm:
-
Anh thì chỉ sợ Mai chịu cực không quen, cho Mai theo lại mắc công lên ruột như
hồi đi xuồng trên sông. Với lại năm ba năm nữa anh về cũng chưa già lắm đâu.
Rồi
chúng tôi bàn đến chuyện của đất nước và của hai đứa. Dũng và tôi thu xếp vài
công việc của anh và bảo tôi đến nhà ba má Hoàng thăm cho thường. Bịn rịn không
muốn rời lâu, tôi muốn phút giây cuối dài hàng thế kỷ. Nhưng kìa, Dũng đã đứng
lên rồi. Tôi bối rối nắm lấy bàn tay Dũng áp trong hai bàn tay mình như muốn gởi
gắm tất cả tình thương và tâm trí cho Dũng. Tôi muốn nói thật nhiều nhưng chỉ
thốt lên được một lời nghẹn ngào:
-
Thôi anh đi. Mai đợi anh ngày hòa bình.
Dũng
xiết chặt tay tôi, nói lời từ giã cuối cùng rồi đi. Tôi đã cười một nụ cười thật
đẹp để tiễn chân Dũng bởi vì tôi biết Dũng đâu muốn tôi làm một nhi nữ thường
tình. Nhưng lòng tôi thì đứt đoạn từng cơn để đến khi Dũng mất hút đằng phía chợ
Bến Thành, tôi quay trở lại nhà thờ Huyện Sĩ vừa đi nước mắt vừa lăn dài trên
má. Ôi! tình yêu. Mới nửa năm trời tôi đã nếm đủ ngọt ngào cay đắng. Ai làm cho
tôi xa Dũng, ai giết chết Hoàng, ai nếu không phải là bọn người giờ đây đang sống
trên quyền thế cao sang, đang cười nghiêng ngửa trong trà đình tửu quán? Tình
yêu đã dạy cho tôi hiểu rằng nó chỉ sống được những nơi nào không có áp bức,
bóc lột giữa các chủng tộc và giữa người đồng loại.
***
Kể
cho mẹ tôi nghe câu chuyện đời mình vào một đêm trăng sáng có bông dạ lý thơm
ngào ngạt trước sân, tôi nghe nhẹ nhàng trong lòng nhưng vẫn chưa nguôi sầu nhớ.
Mẹ tôi âu yếm thắt cho tôi chiếc bím tóc, suy nghĩ nhiều lắm để tìm cho tôi lời
an ủi tràn đầy hiểu biết và đậm đà tình mẫu tử:
-
Má không biết tình yêu là gì vì hồi xưa má đi lấy chồng để làm vui lòng ông bà
ngoại con, nhưng nếu tình yêu là thứ dây ràng buộc con với thằng Dũng như con
đã nói thì má không khe khắt cấm đoán các con. Nó còn nhỏ, con nhà giàu ở thành
mà thấy được đâu là phải, đâu là trái thì má thương lắm. Má nhớ hồi năm bốn bảy,
ba con theo kháng chiến, một lần Tết về thăm nội con, gặp chú sáu con làm quận
cho Tây ở Cầu - Kè về, hai anh em cãi nhau dữ lắm. Chú Sáu nói theo Việt Minh
là theo Cộng sản, ba con giận trả lời:
-
Tôi nói cho chú biết, tôi không biết Việt Minh có phải là Cộng sản không, chỉ
biết là nơi nào có Việt Minh, nơi đó dân hết dốt, hết bệnh, hết đói khổ, hết bị
chửi mắng, khinh miệt, bom đạn tối ngày trên đầu mà ai nấy đều vui tươi. Trái lại
nơi nào có hai cây cờ tam sắc và cờ sọc dưa là ở đó có nghèo đói, thất học, mê
tín, trộm cướp, hối lộ, hà hiếp, đầu cơ, cờ bạc, rượu chè, hút sách. Tôi học ít
hơn chú nhưng chú không khôn hơn tôi đâu. Chỉ có tụi Việt gian bán nước với tụi
thực dân kia mới là vô liêm sỉ. Nếu Cộng sản mà theo Tây hại dân thì tôi đánh tới
cùng, còn nếu họ lo cho dân cho nước thì có gì tôi phải sợ?
Chú
sáu con sau đó nghĩ hối hận nên đã lập kế cho dân quân đánh lấy quận, thâu súng
ống nhiều vô kể. Việc bại lộ, chú bị bắt và bị đem ra cầu tàu bắn thả trôi
sông. Má thấy thời này cũng y như hồi xưa, chỉ có khác là thằng Tây đi, thằng Mỹ
lại và Mỹ tàn ác hơn Tây nhiều. Theo như má thấy thì những gì mà người ta đồn đại
về mấy ông Giải phóng cũng y như hồi nhỏ má bày đặt nhát ông bị cho con sợ chớ
làm gì có ông bị. Dân bây giờ khôn lắm chớ không phải như hồi còn dốt bị Tây nó
đè đầu đâu. Họ thấy Mặt trận đúng là đố ai gạt được. Nước mình mà độc lập rồi
thì gầy dựng lại, ai buôn bán thì cứ buôn bán, ai làm ruộng thì cấp đất cho họ
làm ruộng, ai đi học thì lo học, miễn đừng tham lam là được. Xứ mình giàu, dân
mình giỏi thì lo gì không có ngày no ấm. Con đừng rầu buồn gì hết, ráng lo học
để mai sau giúp đỡ đàn em cho chúng nên người.
Ôi,
lời lẽ mộc mạc của người mẹ hiền ngày đó đã đưa tôi ra khỏi cơn phiền muộn, chỉ
cho tôi thấy rằng tình yêu nếu chỉ là tình yêu cô động thì cuối cùng có thể đem
đến chuyện buồn cho đời con gái, trái lại ai biết đặt tình yêu đôi lứa vào
trong tình yêu quê hương, đất tổ, để có khóc thì khóc vì nước mất nhà tan chớ
không phải vì ủy mị thường tình thì dẫu trong hoàn cảnh nào cũng thấy cuộc đời
mình là cuộc đời đáng sống.
Ngày
tôi vừa lên ba, anh Ơn bị giặc Pháp giết giữa thành phố Sài Gòn, mười lăm năm
sau, một người bạn của tôi ngã xuống vì giặc Mỹ, đó là hai người tôi được biết
còn ngoài ra, chế độ đã tàn nhẫn giết bao nhiêu đầu xanh vô tội?
Dũng
đã ra đi để trả thù cho dân như những năm 50, 51 học sinh miền Nam đã ra đi để
trả thù cho Tổ quốc và đã góp phần làm nên Điện Biên Phủ. Dũng cũng đã góp phần
vào chiến thắng lẫy lừng mùa xuân qua.
Tuyết
rơi càng lúc càng nhiều, thành phố bên dưới đã phủ một lớp tuyết mịn màng từ
lúc nào. Tôi nghe lạnh và hơi mệt nên trở lại giường nằm. Hình ảnh cành mai
vàng đầy bông cắm trong chiếc lục bình giữa nhà, những dĩa hạt dưa, mứt, bánh
trên bàn cùng cảnh gia đình đoàn tụ trong đêm giao thừa khói hương nghiêm
trang, đầm ấm làm tôi náo nức không sao ngủ được. Tôi nghĩ đến Dũng, không biết
năm nay Dũng ăn tết ở nơi nào, Dũng đang mặc áo choàng trắng khám bệnh cho dân
hay đang khoác ba lô, đeo súng trên con đường hành quân ngút ngàn? Dẫu sao hình
bóng của Dũng cũng đã dịu dàng đưa tôi vào giấc ngủ. Trong giấc mơ, tôi thấy
cùng Dũng đi dạo trong một thành phố quen thuộc rộn ràng tiếng cười và nơi nơi
lá cờ xanh đỏ sao vàng của miền Nam anh hùng bay kiêu hãnh. Tôi thấy cùng Dũng
vào một quán nước nghỉ chân, hai đứa uống hai tách cà phê thật đậm và thật
nóng, bên ngoài những hạt mưa đầu mùa bắt đầu rơi, đầm ấm, yên vui.
(Giải
Phóng, nước Bỉ, 1968)
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét