Trận tấn công nhẹ nhàng của loài châu chấu - Doris Lessing
2024-04-06
Trận
tấn công nhẹ nhàng của loài châu chấu
Doris Lessing
(Giải
Nobel Văn học 2007)
Dịch giả: Hải Ngọc
Nguyên tác: “A Mild Attack of Locusts”, The New
Yorker, 18-2-1955
~
Năm
đó, mùa mưa rất thuận lợi; mưa đến dồi dào đúng lúc mùa vụ cần tới chúng - hay
đó là điều mà Margaret suy ra được khi thấy đàn ông ở nhà này nói rằng mùa mưa
không đến nỗi nào. Nàng chưa bao giờ có chủ kiến về những vấn đề như thời tiết,
bởi để hiểu biết về một vấn đề đơn giản như thời tiết thôi cũng cần đến kinh
nghiệm, điều mà Margaret, một người sinh ra và lớn lên ở Johannesburg, không
có. Những người đàn ông ở đây là Richard, chồng nàng và cụ Stephen, cha của
Richard, một nông dân lâu năm, và hai cha con có thể tranh cãi hàng giờ về chuyện
liệu mùa mưa có thể tàn phá mùa màng không hay cũng vẫn chỉ đem lại sự bực bội
như thường vậy. Margaret đã sống ở nông trang này được ba năm. Nàng không thể
hiểu nổi tại sao hai cha con Richard không đi đến chỗ phá sản hoàn toàn khi mà
họ chưa thốt ra đuợc một lời nào tử tế về thời tiết, đất đai và chính phủ.
Nhưng nàng cố gắng để học ngôn ngữ của họ. Ngôn ngữ của những người nông dân.
Và nàng nhận thấy dù Richard và cụ Stephen có kêu ca thế nào đi nữa, họ cũng
không thể trở nên khánh kiệt đuợc, cũng như không thể trở thành những người rất
giàu có. Họ cứ đều đều làm ăn vậy thôi, rồi tự thấy cũng ổn.
Trang
trại của họ trồng ngô. Nó rộng ba ngàn mẫu, nằm trên dãy đồi trồi lên về phía
vách thác Zambezi - một miền quê có địa thế cao, khô ráo, lộng gió, mùa đông
thì lạnh và bụi mù, nhưng giờ, vào những tháng ẩm ướt, chỗ nào cũng thấy nhơm
nhớp nước với hơi nóng bốc lên cao như những con sóng ướt át, mềm mại, cách đám
cây cối hàng dặm. Khung cảnh nơi này cũng đẹp, với bầu trời vào những ngày
quang đãng giống như những đại sảnh thênh thang sáng sủa và xanh ngắt, với những
thung lũng và vùng lòng chảo xanh tươi của miền quê nằm bên dưới rặng đồi cùng
những ngọn núi lởm chởm, trơ trụi cách đó chừng 20 dặm, bên kia những dòng
sông. Bầu trời nơi đây khiến nàng nhức mắt; nàng không quen với nó đuợc. Ở
thành phố, người ta không nhìn trời nhiều như thế. Thế nên, một buổi tối, khi
Richard nói: "Nghe chính phủ cảnh báo về nạn châu chấu năm nay đấy, chúng
sinh sôi từ những khu vườn ở mạn miền Bắc rồi tràn xuống đây", thì phản xạ
của nàng là nhìn về đám cây cối, lo lắng. Lũ côn trùng, cả đàn cả lũ như thế -
thật kinh khủng! Nhưng Richard và cha mình đã nhướng mắt, ngước lên đỉnh núi gần
nhất: "Chúng ta không thấy nạn châu chấu bảy năm rồi," một nguời nói,
rồi người kia: "Chúng xuất hiện theo chu kỳ, loài châu chấu này là vậy."
Rồi sau đó: "Thế thì năm nay mùa màng của ta nguy mất!"
Nhưng
họ vẫn tiếp tục công việc trang trại như thường lệ, cho đến một hôm, khi họ gần
về đến nhà để nghỉ trưa, cụ Stephen bỗng dừng lại, giơ ngón tay trỏ lên.
"Kìa, nhìn kìa!" Cụ kêu thất thanh. "Bọn chúng đó!"
Nghe
thấy tiếng của bố chồng, Margaret chạy ra, nhập vào cùng mọi người, nhìn về
phía rặng đồi. Rồi những người hầu cũng từ bếp chạy ra. Tất cả cùng đứng lặng,
chăm chú. Một lằn không khí màu gì sắt vắt bên trên những bậc đá của ngọn núi.
Châu chấu. Chúng đã đến.
Ngay
lập tức, Richard mắng cậu đầu bếp. Cụ Stephen quát thằng nhỏ giúp việc. Cậu đầu
bếp chạy đến khua mạnh chiếc lưỡi cày treo trên một cành cây, vốn là cách để
triệu tập những người làm vào những thời điểm khẩn cấp. Thằng nhỏ giúp việc
trong nhà chạy về nhà kho gom hết các thùng thiếc - bất cứ món kim loại nào
cũng được. Cả trang trại kinh động với những tiếng kim khí khua ầm ĩ và đám
nhân công đổ ra từ khu lán trại, chỉ trỏ về phía rặng đồi, kêu gào náo loạn. Rồi
nhanh chóng họ tụ tập trước nhà; Richard và cụ Stephen ra lệnh cho họ: Nhanh,
nhanh lên, khẩn trương lên!
Và
họ lại chạy đi, hai người đàn ông da trắng chạy cùng bọn họ, mấy phút sau,
Margaret nhìn thấy khói từ các đống lửa bốc lên khắp bãi trồng. Khi nhận được cảnh
báo từ chính phủ, những đống củi và cỏ khô đã được chuẩn bị sẵn ở mọi khoảnh đất
có gieo trồng. Có bảy thửa đất đồi trọc, đã được cày xới, giờ ở đó đã nhu nhú
những cây ngô mới, tạo thành một lớp màng xanh ngời trên nền đất nâu sẫm và lúc
này, quanh từng thửa đất, bồng bềnh những đám khói dày đặc. Những người đàn ông
vứt những chiếc lá ướt nhẹp vào đống lửa làm cho đám khói trở nên đen và cay
xè. Margaret nhìn rặng đồi. Một vạt mây dài màu gỉ sắt bay la đà lặng lẽ; nàng
nhận thấy vạt mây cứ dần dần trương phồng lên. Điện thoại trong nhà réo - những
người láng giềng nhắn: Nhanh, nhanh lên, lũ châu chấu đến đây rồi! Nhà cụ Smith
vụ này coi như mất sạch rồi đấy! Nhanh lên, đốt lửa lên đi! Dĩ nhiên, cho dù
người nông dân nào cũng hy vọng lũ châu chấu sẽ bỏ qua trang trại của mình, nhắm
đến trang trại khác thì việc cảnh báo cho những người khác cũng là một cách xử
sự đẹp; nguời ta luôn cần xử sự đẹp. Ở khắp nơi, trong phạm vi 50 dặm của xứ
này, đâu cũng thấy khói bốc lên từ vô số những đống lửa. Margaret trả lời các
cú điện thoại và giữa những cuộc điện thoại đó, nàng đứng nhìn đàn châu chấu.
Không gian đang sầm lại - một thứ bóng đen lạ lùng bởi mặt trời đang rực lên dữ
dội. Trông giống như bóng đen của một đám cháy trên thảo nguyên, khi không gian
ngày càng dày đặc khói và ánh mặt trời rót xuống bị biến dạng thành những dải
vàng cam sền sệt và nóng rực. Không khí cũng ngột ngạt, nặng nề như bão đang đến.
Đám châu chấu tràn xuống rất nhanh. Lúc này một nửa bầu trời đã thẫm đen lại.
Trước mắt nàng, đám châu chấu bu lại thành những lớp màn hung hung đỏ trên trời
- đấy là bọn tiên phong của đạo quân - phía sau lớp màn ấy, đạo quân chính hiện
ra thành những đám mây đen kịt, gần như chạm tới cả mặt trời.
Margaret
băn khoăn không hiểu nàng có thể giúp đuợc gì. Nàng không biết. Rồi cụ Stephen
từ bãi ngô chạy đến. "Vụ này của nhà ta thế là thôi rồi, Margaret ạ, thôi
rồi!" cụ nói. "Bọn đạo tặc đó có thể ngốn hết tất cả lá cây trên
trang trại chỉ trong độ nửa giờ! Nhưng giờ mới chỉ chập chiều. Nếu chúng ta hun
đủ khói, đánh động đủ lớn cho đến lúc mặt trời lặn thì bọn chúng có thể cố định
lại ở một nơi nào đó. Có lẽ thế." Rồi cụ giục: "Đun nước đi. Cái việc
này tốn nhiều nước lắm đấy!"
Vậy
là Margaret vào bếp, nhóm lửa và đun nước. Giờ, nàng có thể nghe thấy tiếng
châu chấu rơi xuống đồm độp, rào rạo trên mái bếp lợp thiếc của nhà mình, mà
nghe cũng giống tiếng trượt mình lạt xạt như thể ai đó trượt xuống từ một con dốc
bằng thiếc. Khắp trang trại ầm ĩ những những tiếng gõ, tiếng va đập, tiếng khua
của hàng trăm bình dầu bằng thiếc và đủ thứ kim khí khác. Cụ Stephen nóng ruột
chờ đợi trong khi Margaret rót đầy nước chè vào một bình dầu - một thứ chất lỏng
nóng, ngọt, màu vàng cam - rồi lại tiếp tục rót nước vào một bình khác. Trong
khi đó, cụ Stephen kể với nàng hai mươi năm trước đây, cụ đã từng mất trắng mùa
màng, trở nên khánh kiệt bởi bọn châu chấu đạo tặc này. Rồi, trong khi vẫn tiếp
tục kể lể, cụ nhấc những chiếc bình nặng lên, mỗi tay một chiếc, cụ xách chúng
bằng những mẩu gỗ bắt chéo nhau qua mặt bình, rồi chạy xuống đường, tới chỗ những
lao công đang khát khô.
Đến
lúc này, châu chấu đã trút xuống như mưa đá trên mái bếp. Nghe như tiếng của một
cơn bão lớn. Margaret nhìn ra ngoài trời, thấy không gian sầm lại với hàng đàn
côn trùng tung hoành, nàng nghiến răng và chạy ra ngoài; việc gì đàn ông làm được
thì nàng cũng làm được. Trên đầu nàng, không khí dày đặc - ở đâu cũng thấy châu
chấu. Những con chấu chấu nhảy vào người nàng, nàng gạt chúng đi - những sinh vật
màu nâu đỏ chắc nịch này ngó nàng với cặp mắt nhỏ xíu, lấp lánh, cặp mắt giống
như người già trong khi chúng cố bám chặt lấy nàng bằng những chiếc chân cứng
và có răng cưa của mình. Một cảm giác ghê tởm làm nàng phải nín thở; nàng chạy
trở lại vào nhà. Ở ngoài đó, cảnh tượng còn kinh hoàng hơn cả một cơn bão lớn.
Mái sắt dội lại những âm thanh và tiếng va đập của kim khí từ bãi trồng ngô vọng
về như tiếng sấm. Khi nhìn ra bên ngoài, nàng thấy tất cả cây cối đều trở nên lạ
lẫm và im lìm, nhung nhúc côn trùng bám vào, cành cây sà xuống đất. Dường như mặt
đất đã lay chuyển với những đàn châu chấu bò dọc bò ngang khắp nơi; bầy châu chấu
dày đặc đến nỗi nàng không nhìn thấy bãi ngô đâu cả. Ở phía núi, trông trời như
sắp đổ mưa, thậm chí trong sự quan sát của nàng, mặt trời dường như cũng bị làm
nhơ bởi một trận xông pha mới của lũ côn trùng. Bầu trời như thể đang lúc nửa
đêm, một tấm màn đen bất thường trùm xuống tất cả. Rồi một tiếng
"tách" nghe rất đanh phát ra từ phía bụi cây - một cành cây đã bị cắn
gãy. Thêm một cành nữa. Một cái cây dưới chân dốc cứ từ từ nghiêng xuống và cuối
cùng đổ rầm xuống mặt đất. Băng qua trận mưa đá côn trùng, một người đàn ông chạy
tới. Thêm trà, thêm nước nữa đi. Margaret đáp ứng yêu cầu. Nàng giữ lửa bếp lò
và rót đầy nước vào những chiếc bình; đến bốn giờ chiều, lũ châu chấu đã đổ
quân vây kín trên đầu được đôi giờ rồi.
Rồi
cụ Stephen lại xuất hiện - đi bước nào là giẫm lên lũ châu chấu dưới chân bước ấy,
châu chấu bám chặt người cụ - cụ vừa đi vừa chửi rủa lẫn thề nguyền, cụ cầm chiếc
mũ đã cũ của mình đập vào không khí. Đến cửa, cụ dừng lại một lúc, cuống quýt
phủi lũ côn trùng đang bám trên người ra và quẳng chúng đi, rồi cụ chạy ào vào
phòng khách - khu vực tạm coi là miễn nhiễm với bọn châu chấu.
"Mùa
màng đã mất sạch. Chẳng còn lại gì cả." Cụ nói.
Nhưng
tiếng kim loại khua đập vẫn vọng lại, đám đàn ông vẫn đang gào thét. Margaret hỏi:
"Thế sao bố còn tiếp tục việc này?"
"Nhưng
bầy châu chấu chính vẫn chưa cố định được. Chúng nó mang đầy trứng trong bụng.
Chúng đang tìm nơi để cố định và đẻ trứng. Phải ngăn cản bầy châu chấu chính,
không cho chúng tập trung trên trang trại của chúng ta, đấy mới là việc quan trọng
nhất. Nếu chúng có cơ hội đẻ trứng, thì sau này lũ bọ nhảy sẽ lại tàn phá hết
mùa màng của chúng ta." Cụ gỡ một con chấu chấu bay lạc khỏi áo mình rồi
dùng móng tay cái phanh đôi nó ra; bên trong nó chứa đầy trứng. "Tưởng tượng
xem, số trứng này nhân lên một triệu lần. Chị đã bao giờ thấy một bầy bọ nhảy
hành quân chưa? Chưa, đúng không? Vậy là may mắn đấy."
Margaret
nghĩ một bầy châu chấu trưởng thành đã đủ ghê rồi. Ngoài trời, ánh ngày trên mặt
đất giờ đây đã hoá thành những ánh vàng nhợt nhạt, mỏng manh, thâm thâm lẫn với
những cái bóng di động; đám mây côn trùng di chuyển trên trời lúc sẫm lại, lúc
hừng lên, giống như cảnh trời trong một trận mưa rất lớn. Cụ Stephen nói:
"Chúng
mang gió theo sau mình nữa. Đấy cũng là vấn đề."
"Có
tệ hại lắm không bố?" Margaret sợ hãi hỏi và ông lão trả lời một cách rành
rọt:
"Chúng
ta mất sạch rồi. Bầy châu chấu này có thể đi qua, nhưng một khi chúng đã bắt đầu
rồi, chúng sẽ từ phương Bắc tràn xuống hết đợt này đến đợt khác. Khi đó sẽ xuất
hiện nạn bọ nhảy. Điều này có thể tiếp diễn khoảng ba, bốn năm liền."
Margeret
mệt mỏi ngồi xuống, nàng thầm nghĩ, nếu có cái gọi là sự tận cùng thì đây chính
là sự tận cùng rồi. Giờ phải làm gì? Chúng ta, cả ba người, dứt khoát phải trở
về thị trấn. Nhưng nghĩ đến đấy, nàng liếc nhìn cụ Stephen, ông lão đã bốn muơi
năm làm nghề nông ở cái xứ này, đã từng sạt nghiệp hai lần trước đó, và nàng biết,
sẽ không có điều gì có thể bắt ông rời khỏi nơi này để làm một chân thư ký ở thị
trấn đuợc.
Nàng
thấy đau lòng cho ông lão; trông cụ thật mệt mỏi, lo âu đã hằn sâu thành nếp
nhăn chạy từ mũi đến miệng cụ. Ôi, ông lão khốn khổ. Cụ Stephen nhấc một con
châu chấu không biết vì sao lại lọt vào túi áo cụ lên. "Chân của chú mày
có sức mạnh của một cuộn dây thép đấy," cụ nói với con châu chấu bằng một
giọng hài hước thân thiện. Suốt ba tiếng qua, cụ đã phải chiến đấu với lũ châu
chấu, nghiền nát lũ châu chấu, chửi rủa lũ châu chấu, và vun chúng thành những
đống lớn để thiêu, thế nhưng, lúc này đây, cụ lại cầm lấy con châu chấu này,
mang ra cửa và thả chúng ra ngoài về với bầy đàn của mình, cứ như thể cụ quyết
không làm hại tới một sợi râu trên đầu chúng. Điều này an ủi Margaret phần nào;
bỗng dưng, nàng cảm thấy có một nỗi mừng phi lý. Nàng nhớ đây không phải là lần
đầu tiên trong ba năm qua những người đàn ông trong nhà nói về chuyện mùa màng
mất trắng và những sự tàn phá không thể khắc phục được.
"Cho
tôi một ly rượu." Cụ Stephen nói. Margaret đặt một chai whiskey bên cạnh cụ.
Đúng
lúc đó, Margaret nghĩ, chồng của nàng đang ở bên ngoài chống chọi với trận bão
côn trùng, khua kẻng, đốt lá trong khi côn trùng dính chặt vào người. Nàng rùng
mình. "Làm sao bố có thể chịu đựng được khi để chúng chạm vào người như thế?"
Nàng hỏi cụ Stephen. Ông lão nhìn nàng với vẻ không tán thành. Nàng thấy nàng
đang nhún mình cho phải phép, như hồi Richard đưa nàng về trang trại này sau lễ
cưới và ban đầu, cụ Stephen đã tỏ ra thiện cảm với chất thành thị ở nàng - tóc
vàng uốn luợn, móng tay sơn đỏ và để dài. Giờ thì nàng đã trở thành cô vợ quê
chính cống rồi, giày thì chỉ đi loại chắc bền, vày thì chỉ mặc loại vải cứng. Rồi
theo thời gian, có thể nàng cũng phải để cho lũ châu chấu đậu vào người mình nữa.
Tợp
vài ly rượu xong, cụ Stephen lại trở lại trận chiến, chân lội qua những gợn
sóng châu chấu màu nâu lấp lánh.
Năm
giờ chiều. Một tiếng nữa mặt trời sẽ lặn. Rồi quân châu chấu sẽ cố định lại.
Trên đầu, không khí vẫn dày đặc. Cây cối trở thành những khối màu nâu sần sùi lấp
lánh.
Magaret
oà khóc. Ở đây, tất cả đều vô vọng. Nếu không phải là thời tiết tồi tệ thì là
châu chấu; mà nếu không phải do bọn châu chấu thì là do đạo quân sâu bọ nào đấy
hay do thảo nguyên bốc cháy. Luôn luôn có chuyện gì đó. Đội quân châu chấu đổ bộ
rào rào nghe như một khu rừng lớn trong bão. Mặt đất đã trở thành vô hình bởi một
đợt triều màu nâu bóng trào lên, như thể măt đất bị dìm xuống bởi bọn châu chấu,
bị nhấn chìm bởi một trận lũ ghê tởm. Dường như mái nhà cũng có thể bị lún xuống
bởi trọng lượng của chúng, các cánh cửa phải đầu hàng trước sức ép của chúng và
các căn phòng sẽ tràn ngập châu chấu - trời trở nên rất tối. Qua cửa sổ, nàng
nhìn lên trời. Không khí như bị loãng đi, những khoảng trống màu xanh làm lộ hiện
những đám mây đang bay trong bóng tối. Những khoảng không màu xanh đó thật lạnh
và mỏng manh; mặt trời hẳn là đang lặn. Qua lớp mù côn trùng, nàng trông thấy
vài bóng người đang tiến gần. Đầu tiên là cụ Stephen dấn bước can trường, sau
đó là chồng nàng, tả tơi và phờ phạc bởi kiệt sức, và theo sau họ là những người
làm thuê. Tất cả bọn họ đều nhung nhúc côn trùng bám trên người. Tiếng kẻng, tiếng
chiêng đã ngừng. Margaret không nghe thấy gì ngoài tiếng đập cánh rào rào không
dứt của lũ côn trùng.
Hai
cha con cụ Stephen phủi sạch côn trùng trên người rồi bước vào nhà.
"Xong
rồi," Richard hôn vào má nàng, nói, "đàn châu chấu chính đã đi qua rồi."
"Chúa
ơi!" Margaret kêu lên giận dữ, nàng vẫn còn như đang khóc. "Ở đây còn
có cái gì tồi tệ hơn nữa không?" Bởi mặc dù buổi chiều tà không còn đen đặc
nữa mà đã mang một màu xanh trong sáng, với những con côn trùng lượn vèo vèo,
đan chéo nhau tạo thành mô hình trên trời, nhưng mọi thứ khác - cây cối, nhà cửa,
bụi rậm, mặt đất - đều đã bị phủ lấp bởi những khối màu nâu di động.
"Nếu
đêm trời không mưa, cứ để chúng ở đây", cụ Stephen nói, "nếu trời
không mưa thì đổ ngập nước vào chỗ chúng, đến mai, lúc mặt trời mọc, chúng sẽ
bay đi."
"Thể
nào chúng ta cũng phải đối mặt với bọn bọ nhảy thôi," Richard nói.
"Nhưng không phải là đàn chính. Đó cũng là vấn đề."
Margaret
lấy lại tinh thần, nàng chùi mắt, giả vờ như thể trước đó nàng chưa từng khóc,
nàng đi kiếm chút đồ ăn lót dạ cho hai người, vì những người hầu đều đã kiệt sức
đến nỗi không thể lê chân được nữa. Nàng đã cho họ về khu lán trại để nghỉ rồi.
Nàng
dọn đồ ăn ra rồi ngồi lắng nghe. Không một cây ngô nào còn lại cả, nàng nghe thấy
thế. Không một cây nào. Họ sẽ lại phải lôi máy móc làm việc ra ngay khi bọn
châu chấu biến mất. Họ phải bắt đầu lại tất cả.
Mà
làm thế thì có tác dụng gì cơ chứ, Margaret băn khoăn, nếu như rồi cả trang trại
sẽ lại nhung nhúc những bầy bọ nhảy? Nhưng nàng nghe cụ Stephen và Richard bàn
luận về tờ khuyến cáo mới của chính phủ, trong đó có chỉ dẫn làm thế nào để diệt
trừ bọn bọ nhảy. Lúc nào cũng phải có nguời để tuần tra trang trại, theo dõi những
chuyển động trong bãi cỏ. Nếu tìm thấy một ổ bọ nhảy nào - thứ côn trùng nhỏ,
màu đen nhánh, trông giống như dế - thì phải đào rãnh quanh cái ổ đó hoặc xịt
thuốc diệt trừ mà chính phủ cung cấp. Chính phủ muốn tất cả nông dân cũng hợp
tác trong một chiến dịch toàn cầu để thanh toán đại nạn này. Phải tấn công bọn
châu chấu tận gốc của chúng - tức là bọn bọ nhảy, tóm lại là thế. Hai người đàn
ông nói chuyện với nhau cứ như là họ đang bàn tính một cuộc chiến, Magaret lắng
nghe và ngạc nhiên.
Đêm
xuống, không gian thật tĩnh mịch, không có dấu hiệu nào cho thấy đạo quân côn
trùng kia đã cố định ở bên ngoài, ngoài trừ thi thoảng lại có tiếng một cành
cây gãy hoặc một cái cây nào đó đổ.
Margaret
khó chợp mắt đuợc trong khi đó bên cạnh nàng, Richard ngủ say như chết. Sáng,
nàng bị đánh thức bởi ánh nắng vàng hắt ngang qua giường - một thứ ánh nắng
trong trẻo, lác đác vài vết râm chuyển động trên đó. Nàng đến bên cửa sổ. Trước
mặt nàng là cụ Stephen. Cụ đứng đó, ở ngoài kia, cúi xuống nhìn bụi cây. Và
nàng đứng lặng bàng hoàng- và như bị mê hoặc, bất chấp ý chí của mình. Bởi cứ
như thể tất cả cây cối, bụi rậm, toàn bộ mặt đất đều được thắp sáng bởi những
ngọn lửa yếu ớt. Đàn châu chấu đập cánh, rũ những hạt sương đêm đọng trên mình.
Một luồng ánh sáng lung linh màu vàng pha sắc đỏ nhàn nhạt lai láng rót lên khắp
nơi.
Nàng
đi ra ngoài, rón rén bước giữa đám côn trùng, đến bên ông cụ. Hai người đứng
im, quan sát cảnh tượng. Trên đầu, bầu trời một màu trong biếc.
"Đáng
yêu thật, " cụ Stephen nói với vẻ mãn nguyện.
Ờ,
Margaret nghĩ thầm, chúng ta có thể bị phá huỷ hết, chúng ta có thể sạt nghiệp,
nhưng không phải ai cũng đã từng được chứng kiến cảnh một đội quân châu chấu đập
cánh vào ban mai như thế này.
Xa
xa, phía con dốc, một vết loang màu đỏ nhạt hiện ra trên bầu trời. Rồi nó sẫm dần
và lan rộng dần. "Chúng bay đi rồi kìa," cụ Stephen nói, "Đạo
quân đó đã bay đi về phương Nam rồi."
Và
lúc này đây, từ những vòm cây, trên mặt đất xung quanh họ, đàn châu chấu đang cất
cánh. Nhìn đàn châu chầu đang thử xem bộ cánh của mình đã khô chưa thấy chúng
giống như những chiếc phi cơ nhỏ đang thao tác thận trọng để cất cánh. Rồi
chúng bay đi. Một luồng hơi nước nâu đỏ bốc lên cao, cách những bụi cây, những
khu đất bãi - cách mặt đất hàng dặm. Một lần nữa, ánh mặt trời sầm lại.
Và
khi những mảng côn trùng bám đầy trên những cành cây được nhấc ra, những cái
cây trông nhẹ hẳn đi, không có gì còn lại ngoại trừ những hình thù xương xẩu
đen đúa của những cành cây và thân cây. Không còn một sắc xanh nào cả - không
còn gì hết. Họ đã đứng quan sát cảnh tượng này suốt cả buổi sáng - cả ba người
- cuối cùng thì Richard cũng thức dậy - khi lớp vỏ màu nâu bám trên cây bị mỏng
đi, tẽ ra, tan rã rồi bay lên để hội quân với đạo quân chính, và đến giờ này,
chúng tạo thành một vệt nâu đỏ ở bầu trời phía nam. Khu bãi trồng ngô, trước đó
đã từng được phủ bởi một lớp màng xanh dịu dàng của những cây ngô mới nhú, giờ
đây ảm đạm và trơ trụi. Một khung cảnh bị tàn phá - không một sắc xanh nào, tuyệt
nhiên không.
Đến
trưa, những đám mây hung đỏ đã biến mất. Thi thoảng mới có một con châu chấu
rơi xuống. Trên mặt đất chỉ có những con châu chấu đã chết và những con bị
thương. Những người châu Phi làm thuê đang quét dọn chúng bằng những cành cây
và xúc chúng đổ vào những chiếc thùng.
"Đã
bao giờ chị ăn châu chấu phơi khô chưa, chị Margaret?" cụ Stephen hỏi.
"Cách đây hai mươi năm, khi tôi bị phá sản, tôi đã phải ăn ngô và châu chấu
khô suốt ba tháng trời. Không tệ chút nào - nếu chị muốn có cảm giác về nó thì
hãy nghĩ đến cá hun khói ấy, châu chấu khô có vị rất giống."
Nhưng
Margaret thấy tốt hơn là đừng nghĩ đến nó.
Sau
bữa trưa, những nguời đàn ông lại đi ra bãi. Mọi thứ đều phải trồng lại. Nếu
may mắn một chút thì một bầy châu chấu khác có lẽ sẽ không tràn xuống theo hướng
này nữa. Nhưng họ hy vọng trời sẽ sớm có mưa, để cho cỏ nhanh chóng mọc lại, nếu
không đám gia súc sẽ chết hết; không còn lấy một nhánh cỏ trên trang trại nữa.
Còn Margaret, nàng đang cố quen dần với ý nghĩ ba bốn năm nữa, vẫn phải đương đầu
với đàn châu chấu. Từ giờ trở đi, châu chấu cũng sẽ giống như thời tiết - lúc
nào cũng phải đối phó với những nguy cơ của nó. Nàng thấy mình giống như kẻ sống
sót sau một cuộc chiến; nếu cái miền quê bị tàn phá xác xơ này không phải là một
đống đổ nát thì thế nào là một đống đổ nát cơ chứ?
Nhưng
những nguời đàn ông trong nhà đang ăn bữa tối rất ngon miệng.
"Mọi
thứ có thể đã tồi tệ hơn. Tồi tệ hơn rất nhiều." Đó là những gì họ nói.
➖➖➖
Nguyên tác tiếng Anh
A
Mild Attack of Locusts by Doris Lessing
The
rains that year were good; they were coming nicely just as the crops needed
them—or so Margaret gathered when the men said they were not too bad. She never
had an opinion of her own on matters like the weather, because even to know
about a simple thing like the weather needs experience, which Margaret, born
and brought up in Johannesburg, had not got. The men were her husband, Richard,
and old Stephen, Richard’s father, who was a farmer from way back, and these
two might argue for hours over whether the rains were ruinous or just
ordinarily exasperating. Margaret had been on the farm for three years now. She
still did not understand why they did not go bankrupt altogether, when the men
never had a good word for the weather, or the soil, or the government. But she
was getting to learn the language. Farmers’ language. And she noticed that for
all Richard’s and Stephen’s complaints, they did not go bankrupt. Nor did they
get very rich; they jogged along, doing comfortably.
Their
crop was maize. Their farm was three thousand acres on the ridges that rise up
toward the Zambezi escarpment—high, dry, wind-swept country, cold and dusty in
winter, but now, in the wet months, steamy with the heat that rose in wet, soft
waves off miles of green foliage. Beautiful it was, with the sky on fair days
like blue and brilliant halls of air, and the bright-green folds and hollows of
country beneath, and the mountains lying sharp and bare twenty miles off,
beyond the rivers. The sky made her eyes ache; she was not used to it. One does
not look so much at the sky in the city. So that evening, when Richard said,
“The government is sending out warnings that locusts are expected, coming down
from the breeding grounds up north,” her instinct was to look about her at the
trees. Insects, swarms of them—horrible! But Richard and the old man had raised
their eyes and were looking up over the nearest mountaintop. “We haven’t had
locusts in seven years,” one said, and the other, “They go in cycles, locusts
do.” And then: “There goes our crop for this season!”
But
they went on with the work of the farm just as usual, until one day, when they
were coming up the road to the homestead for the midday break, old Stephen
stopped, raised his finger, and pointed. “Look, look!” he shouted. “There they
are!”
Margaret
heard him and she ran out to join them, looking at the hills. Out came the
servants from the kitchen. They all stood and gazed. Over the rocky levels of
the mountain was a streak of rust-colored air. Locusts. There they came.
At
once, Richard shouted at the cookboy. Old Stephen yelled at the houseboy. The
cookboy ran to beat the rusty plowshare, banging from a tree branch, that was
used to summon the laborers at moments of crisis. The houseboy ran off to the
store to collect tin cans—any old bits of metal. The farm was ringing with the
clamor of the gong, and the laborers came pouring out of the compound, pointing
at the hills and shouting excitedly. Soon they had all come up to the house,
and Richard and old Stephen were giving them orders: Hurry, hurry, hurry.
And
off they ran again, the two white men with them, and in a few minutes Margaret
could see the smoke of fires rising from all around the farmlands. When the
government warnings came, piles of wood and grass had been prepared in every
cultivated field. There were seven patches of bared, cultivated soil, where the
new mealies were just showing, making a film of bright green over the rich dark
red, and around each patch now drifted up thick clouds of smoke. The men were
throwing wet leaves onto the fires to make the smoke acrid and black. Margaret
was watching the hills. Now there was a long, low cloud advancing, rust-colored
still, swelling forward and out as she looked. The telephone was
ringing—neighbors to say, Quick, quick, here come the locusts! Old Smith had
already had his crop eaten to the ground. Quick, get your fires started! For,
of course, while every farmer hoped the locusts would overlook his farm and go
on to the next, it was only fair to warn the others; one must play fair.
Everywhere, fifty miles over the countryside, the smoke was rising from a
myriad of fires. Margaret answered the telephone calls and, between them, stood
watching the locusts. The air was darkening—a strange darkness, for the sun was
blazing. It was like the darkness of a veldt fire, when the air gets thick with
smoke and the sunlight comes down distorted—a thick, hot orange. It was
oppressive, too, with the heaviness of a storm. The locusts were coming fast.
Now half the sky was darkened. Behind the reddish veils in front, which were
the advance guard of the swarm, the main swarm showed in dense black clouds,
reaching almost to the sun itself.
Margaret
was wondering what she could do to help. She did not know. Then up came old
Stephen from the lands. “We’re finished, Margaret, finished!” he said. “Those
beggars can eat every leaf and blade off the farm in half an hour! But it’s
only early afternoon. If we can make enough smoke, make enough noise till the
sun goes down, they’ll settle somewhere else, perhaps.” And then: “Get the
kettle going. It’s thirsty work, this.”
So
Margaret went to the kitchen and stoked up the fire and boiled the water. Now
on the tin roof of the kitchen she could hear the thuds and bangs of falling
locusts, or a scratching slither as one skidded down the tin slope. Here were
the first of them. From down on the lands came the beating and banging and
clanging of a hundred petrol tins and bits of metal. Stephen impatiently waited
while Margaret filled one petrol tin with tea—hot, sweet, and
orange-colored—and another with water. In the meantime, he told her about how,
twenty years back, he had been eaten out, made bankrupt by the locust armies.
And then, still talking, he lifted the heavy petrol cans, one in each hand,
holding them by the wooden pieces set cornerwise across the tops, and jogged
off down to the road to the thirsty laborers.
By
now, the locusts were falling like hail on the roof of the kitchen. It sounded
like a heavy storm. Margaret looked out and saw the air dark with a crisscross
of the insects, and she set her teeth and ran out into it; what the men could
do, she could. Overhead, the air was thick—locusts everywhere. The locusts were
flopping against her, and she brushed them off—heavy red-brown creatures,
looking at her with their beady, old men’s eyes while they clung to her with
their hard, serrated legs. She held her breath with disgust and ran through the
door into the house again. There it was even more like being in a heavy storm.
The iron roof was reverberating, and the clamor of beaten iron from the lands
was like thunder. When she looked out, all the trees were queer and still,
clotted with insects, their boughs weighted to the ground. The earth seemed to
be moving, with locusts crawling everywhere; she could not see the lands at
all, so thick was the swarm. Toward the mountains, it was like looking into
driving rain; even as she watched, the sun was blotted out with a fresh onrush
of the insects. It was a half night, a perverted blackness. Then came a sharp
crack from the bush—a branch had snapped off. Then another. A tree down the
slope leaned over slowly and settled heavily to the ground. Through the hail of
insects, a man came running. More tea, more water were needed. Margaret
supplied them. She kept the fires stoked and filled tins with liquid, and then
it was four in the afternoon and the locusts had been pouring across overhead
for a couple of hours.
Up
came old Stephen again—crunching locusts underfoot with every step, locusts
clinging all over him—cursing and swearing, banging with his old hat at the
air. At the doorway, he stopped briefly, hastily pulling at the clinging
insects and throwing them off, and then he plunged into the locust-free living
room.
“All
the crops finished. Nothing left,” he said.
But
the gongs were still beating, the men still shouting, and Margaret asked, “Why
do you go on with it, then?”
“The
main swarm isn’t settling. They are heavy with eggs. They are looking for a
place to settle and lay. If we can stop the main body settling on our farm,
that’s everything. If they get a chance to lay their eggs, we are going to have
everything eaten flat with hoppers later on.” He picked a stray locust off his
shirt and split it down with his thumbnail; it was clotted inside with eggs.
“Imagine that multiplied by millions. You ever seen a hopper swarm on the
march? No? Well, you’re lucky.”
Margaret
thought an adult swarm was bad enough. Outside, the light on the earth was now
a pale, thin yellow darkened with moving shadow; the clouds of moving insects
alternately thickened and lightened, like driving rain. Old Stephen said,
“They’ve got the wind behind them. That’s something.”
“Is
it very bad?” asked Margaret fearfully, and the old man said emphatically,
“We’re finished. This swarm may pass over, but once they’ve started, they’ll be
coming down from the north one after another. And then there are the hoppers.
It might go on for three or four years.”
Margaret
sat down helplessly and thought, Well, if it’s the end, it’s the end. What now?
We’ll all three have to go back to town. But at this she took a quick look at
Stephen, the old man who had farmed forty years in this country and been
bankrupt twice before, and she knew nothing would make him go and become a
clerk in the city. Her heart ached for him; he looked so tired, the worry lines
deep from nose to mouth. Poor old man. He lifted up a locust that had got
itself somehow into his pocket, and held it in the air by one leg. “You’ve got
the strength of a steel spring in those legs of yours,” he told the locust
good-humoredly. Then, although for the last three hours he had been fighting
locusts, squashing locusts, yelling at locusts, and sweeping them in great
mounds into the fires to burn, he nevertheless took this one to the door and
carefully threw it out to join its fellows, as if he would rather not harm a
hair of its head. This comforted Margaret; all at once, she felt irrationally
cheered. She remembered it was not the first time in the past three years the
men had announced their final and irremediable ruin.
“Get
me a drink, lass,” Stephen then said, and she set a bottle of whiskey by him.
In
the meantime, thought Margaret, her husband was out in the pelting storm of
insects, banging the gong, feeding the fires with leaves, while the insects
clung all over him. She shuddered. “How can you bear to let them touch you?”
she asked Stephen. He looked at her disapprovingly. She felt suitably humble,
just as she had when Richard brought her to the farm after their marriage and
Stephen first took a good look at her city self—hair waved and golden, nails
red and pointed. Now she was a proper farmer’s wife, in sensible shoes and a
solid skirt. She might even get to letting locusts settle on her, in time.
Having
tossed down a couple of whiskeys, old Stephen went back into the battle, wading
now through glistening brown waves of locusts.
Five
o’clock. The sun would set in an hour. Then the swarm would settle. It was as
thick as ever overhead. The trees were ragged mounds of glistening brown.
Margaret
began to cry. It was all so hopeless. If it wasn’t a bad season, it was
locusts; if it wasn’t locusts, it was army worms or veldt fires. Always
something. The rustling of the locust armies was like a big forest in a storm.
The ground was invisible in a sleek brown surging tide; it was like being
drowned in locusts, submerged by the loathsome brown flood. It seemed as if the
roof might sink in under the weight of them, as if the door might give in under
their pressure and these rooms fill with them—and it was getting so dark.
Through the window, she looked up at the sky. The air was thinner; gaps of blue
showed in the dark moving clouds. The blue spaces were cold and thin; the sun
must be setting. Through the fog of insects, she saw figures approaching. First
old Stephen, marching bravely along, then her husband, drawn and haggard with
weariness, and behind them the servants. All of them were crawling with
insects. The sound of the gongs had stopped. Margaret could hear nothing but
the ceaseless rustle of myriads of wings.
The
two men slapped off the insects and came in.
“Well,”
said Richard, kissing her on the cheek, “the main swarm has gone over.”
“For
the Lord’s sake!” said Margaret angrily, still half crying. “What’s here is bad
enough, isn’t it?” For although the evening air was no longer black and thick
but a clear blue, with a pattern of insects whizzing this way and that across
it, everything else—trees, buildings, bushes, earth—was gone under the moving
brown masses.
“If
it doesn’t rain in the night and keep them here,” Stephen said, “if it doesn’t
rain and weight them down with water, they’ll be off in the morning at
sunrise.”
“We’re
bound to have some hoppers,” said Richard. “But not the main swarm. That’s
something.”
Margaret
roused herself, wiped her eyes, pretended she had not been crying, and fetched
them some supper, for the servants were too exhausted to move. She sent them
off to the compound to rest.
She
served the supper and sat listening. There was not one maize plant left, she
heard. Not one. They would get the planting machines out the moment the locusts
had gone. They must start all over again.
What
was the use of that, Margaret wondered, if the whole farm was going to be
crawling with hoppers? But she listened while they discussed the new government
pamphlet that told how to defeat the hoppers. You must have men out all the
time, patrolling the farm, to watch for movement in the grass. When you find a
patch of hoppers—small, lively black things, like crickets—then you dig
trenches around the patch or spray them with poison from pumps supplied by the
government. The government wanted every farmer to cooperate in a world plan for
eliminating this plague forever. You must attack locusts at the source—hoppers,
in short. The men were talking as if they were planning a war, and Margaret
listened, amazed.
In
the night, it was quiet, with no sign of the armies that had settled outside,
except that sometimes a branch snapped or a tree could be heard crashing down.
Margaret
slept badly, in the bed beside Richard, who was sleeping like the dead. In the
morning, she woke to yellow sunshine lying across the bed—clear sunshine, with
an occasional blotch of shadow moving over it. She went to the window. Old
Stephen was ahead of her. There he stood, outside, gazing down over the bush.
And she gazed, astounded—and entranced, much against her will. For it looked as
if every tree, every bush, all the earth, were lit with pale flames. The
locusts were fanning their wings to free them of the night dews. There was a
shimmer of red-tinged gold light everywhere.
She
went out to join the old man, stepping carefully among the insects. The two
stood and watched. Overhead the sky was blue—blue and clear.
“Pretty,”
said old Stephen with satisfaction.
Well,
thought Margaret, we may be ruined, we may be bankrupt, but not everyone has
seen a locust army fanning their wings at dawn.
Over
the slopes in the distance, a faint red smear showed in the sky. It thickened
and spread. “There they go,” said old Stephen. “There goes the main army, off
south.”
And
now, from the trees, from the earth all around them, the locusts were taking
wing. They were like small aircraft maneuvering for the takeoff as they tried
their wings to see if they were dry enough. Off they went. A reddish-brown
steam was rising off the miles of bush, off the farmlands—the earth. Again the
sunlight darkened.
And
as the clotted branches lifted, the weight on them lightening, there was
nothing left but the black spines of branches and tree trunks. No
green—nothing. All morning they watched, the three of them—Richard having
finally got up—as the brown crust thinned and broke and dissolved, flying up to
mass with the main army, now a brownish-red smear in the southern sky. The
lands, which had been filmed with the green of the new, tender mealie plants,
were stark and bare. A devastated landscape—no green, no green anywhere.
By
midday, the reddish cloud had gone. Only an occasional locust flopped down. On
the ground lay the corpses and the wounded. The African laborers were sweeping
them up with branches and collecting them in tins.
“Ever
eaten sun-dried locust, Margaret?” asked old Stephen. “That time twenty years
ago when I went broke, I lived on mealie meal and dried locusts for three
months. They aren’t bad at all—rather like smoked fish, if you come to think of
it.”
But
Margaret preferred not even to think of it.
After
the midday meal, the men went off to the lands. Everything was to be replanted.
With a bit of luck, another swarm would not come travelling down just this way.
But they hoped it would rain very soon, to spring some new grass, because the
cattle would die otherwise; there was not a blade of grass left on the farm. As
for Margaret, she was trying to get used to the idea of three or four years of
locusts. Locusts were going to be like the weather from now on—always imminent.
She felt like a survivor after a war; if this devastated and mangled
countryside was not ruin—well, what then was ruin?
But
the men ate their supper with good appetites.
“It
could have been worse” was what they said. “It could be much worse.”
➖➖➖

Nhận xét
Đăng nhận xét