Thời đại sắt đá (1) [Age of Iron] - J. M. Coetzee
2024-06-01
Thời
đại sắt đá (1) [Age of Iron]
J. M. Coetzee
(Giải
Nobel Văn học 2003)
Dịch giả: Anh Thư
Lời mở đầu
Tặng
V.H.M.C. (1904-1985).
Z.C.
(1912-1988).
N.G.C.
(1966-1989).
Ở
thành phố Captown, Nam Phi, một bà cụ bị ung thư sắp chết. Bà tên là Curren, một
giáo sư văn chương cổ điển. Suốt đời bà phải chống lại sự dối trá tàn ác của
chê độ phân biệt chủng tộc, tránh xa những chuyện khủng khiếp. Nhưng đến một
lúc bà đành phải cam chịu và chấp nhận cơn điên khùng đã mất hết tính người của
chế độ ấy.
Trong
một bức thư gởi cho con gái đã bỏ chạy sang Mỹ, bà kể lại những chuyện quái đản
xảy ra trong những ngày bà sắp qua đời. Bà đã chứng kiến một vụ đốt cháy thị trấn
của người da đen gần nơi bà ở, trong đó bà thấy xác chết đã bị bắn nát của đứa
con trai người giúp việc bà trước đây. Một thiếu niên da đen đi hoạt động phải
trốn chạy trong nhà bà cũng bị các lực lượng an ninh bắt giết. Những ngày cuối
cùng của đời mình, bà chỉ còn biết sống cùng một anh chàng vô gia cư nhưng nát
rượu đã tìm đến chỗ bà trú ngụ và bà chỉ còn biết chia sẻ với anh ta những điều
uất ức và nỗi thất vọng trong cuộc sống con người.
Chương 1
Phía
sau nhà để xe có một lối đi nhỏ, chắc con còn nhớ, con và các bạn con thỉnh thoảng
vẫn đến đó chơi. Bây giờ chỗ đó hoang vắng, không dùng làm gì, chỉ có gió thổi
lá rụng thành đống mục nát.
Hôm
qua đi đến cuối đường, mẹ chợt trông thấy một túp nhà bằng hộp giấy, bên ngoài
che tấm vải nhựa, bên trong có người đang nằm co, một người mẹ nhận ra đã từng
gặp anh ta trên đường phố. Anh ta cao lớn, gầy guộc, da sần sùi, răng khấp khểnh,
mặc bộ đồ màu xám rộng lùng thùng với chiếc mũ đã tuột vành. Anh ta nằm nhưng vẫn
đội mũ, vành gấp lại để gối đầu. Một kẻ vô gia cư. Cũng như nhiều kẻ vô gia cư
khác, anh ta lang thang ở những nơi đỗ xe trên phố Mill, xin tiền những khách
mua hàng, uống nước ở chân cầu, ăn những thứ người ta vứt lại trong đồ hộp. Cứ
đến tháng Tám thì những người vô gia cư như anh ta rất khổ, vì đó là tháng mưa.
Nằm trong hộp giấy, anh ta duỗi thẳng người ra như con rối, miệng há hốc. Quanh
người anh ta xông lên một mùi hôi kinh tởm, mùi nước đái, rượu ngọt, áo quần ẩm
mốc, và mùi gì nữa chả biết. Tóm lại là không sạch.
Mẹ
đứng nhìn anh ta một lúc, vừa nhìn vừa ngửi. Chính anh ta đích thân tìm đến chỗ
mẹ vào những ngày này đây.
Hôm
ấy mẹ được tin của bác sĩ Syfret. Tin không tốt, nhưng là tin gửi cho mẹ và của
riêng mẹ mà thôi, không thể từ chối được. Mẹ phải nhận và đem về, không dám lắc
đầu hay khóc lóc. Mẹ nói “Cám ơn bác sĩ đã thành thật”. Bác sĩ bảo “Chúng tôi sẽ
làm tất cả những gì có thể. Rồi chúng ta sẽ cùng nhau giải quyết chuyện này”.
Nói thế nhưng sau vẻ bề ngoài thân thiện ấy mẹ biết ông ta đã thoái thác. Việc
ai nấy lo. Ông ta chỉ hết lòng với người còn sống thôi, với người sắp chết thì
không.
Bước
ra khỏi xe, mẹ đã bắt đầu thấy sợ. Đóng cửa nhà xe lại, mẹ run khắp người, phải
cắn chặt răng nắm chặt túi xách để giữ bình tĩnh. Cũng chỉ đến lúc ấy mẹ mới
nhìn ra đám hộp giấy và anh ta.
-
Anh làm gì ở đây thế? – mẹ nói giọng hơi gắt – không ở đây được đâu. Anh phải
đi đi.
Anh
ta không động đậy, vẫn nằm nguyên trong hộp, giương mắt nhìn không hiểu sao ở
đây lại có đôi tất mới, áo choàng xanh, váy loà xoà, mớ tóc bạc xén thành vệt đỏ
hỏn ở da đầu một bà già, trông như trẻ con vậy.
Anh
ta rụt chân lại, từ từ ngồi dậy. Không nói một lời, anh ta quay lưng về phía mẹ,
rũ miếng vải nhựa đen, rồi gập đôi, gập bốn, gập tám. Anh ta lấy ra chiếc túi
(in chữ HÀNG KHÔNG CANADA) và kéo khóa đóng lại. Mẹ đứng sang bên. Anh ta đứng
dậy, đi qua mặt mẹ, bỏ lại đống hộp giấy, cái chai không và mùi nước đái. Quần
trễ xuống, anh ta xắn lên. Mẹ chờ cho anh ta đi hẳn, còn nghe thấy tiếng anh ta
bỏ miếng vải nhựa bên kia hàng rào.
Vậy
là chỉ trong một giờ đã có hai chuyện, cái tin mẹ đã sợ từ lâu, và anh ta đến
như để do thám, chả biết sẽ báo trước điều gì. Tin đám cú vọ ăn xác thối đến rất
nhanh. Mẹ không biết có thể tránh mặt chúng được bao lâu nữa. Bọn chuyên sục sạo
ở Cap Town không hề bớt một tên nào. Chúng đi chân đất mà không lạnh, ngủ ngoài
trời mà không đau ốm, đói khát mà không hao mòn. Chúng được rượu hâm nóng từ
bên trong. Lửa rượu thiêu cháy những gì là truyền nhiễm lây lan trong máu
chúng. Sau bữa tiệc chúng vét sạch. Bọn ruồi nhặng bay tứ tung, mắt thao láo,
không biết thế nào là thương xót. Những kẻ thừa kế đấy.
Mẹ
đi rất chậm vào ngôi nhà trống. Mọi âm hưởng trong nhà đã tan biến hết. Bước
chân của mẹ trên sàn nghe nhạt nhẽo buồn tẻ. Mẹ thèm khát được thấy con ở đây
biết chừng nào. Để con ôm mẹ, an ủi mẹ! Mẹ đã bắt đầu hiểu được ý nghĩa thật sự
của ôm ấp. Ôm ấp để được ôm ấp. Ôm ấp để cho con cháu được nằm trong vòng tay của
tương lai, để được sống sau khi chết, để có được niềm vui. Mỗi khi ôm con, mẹ đều
nghĩ thế. Con trẻ sinh ra để có mẹ. Sự thật là từ nay cho đến khi kết thúc cuộc
đời, mẹ chỉ biết nói với con thế thôi. Mẹ mong con biết chừng nào! Mẹ ước gì có
thể đi lên gác, đến chỗ con, ngồi ở giường con, vuốt tóc con, thầm nói vào tai
con như mẹ vẫn nói mỗi sáng trước khi con đi học “Đến giờ rồi, dậy đi con!” Con
sẽ quay lại, người con nóng hổi, hơi thở thơm mùi sữa, mẹ bế con và bảo “Hãy ôm
chặt mẹ đi nào!” Đó là câu nói thầm kín mẹ chẳng bao giờ nói ra. Nó chỉ có
nghĩa là mẹ mong được con đáp lại bằng câu “Mẹ không được buồn, mẹ sẽ không chết,
mẹ vẫn sống mãi trong lòng con”.
Sống!
Con là cuộc sống của mẹ, mẹ yêu con như yêu bản thân của cuộc sống. Mỗi sáng bước
ra khỏi nhà, mẹ nhấp nước lên đầu ngón tay giơ cao trước gió. Nghe gió lạnh từ
tây bắc thổi đến, từ chỗ con đang ở, mẹ đứng lâu hít thở, tập trung suy nghĩ,
hy vọng qua hàng vạn dặm núi sông có hơi thở của con đến với mẹ, đem theo cả
mùi sữa còn đọng trên đầu, trên cổ.
Từ
nay trở đi, bổn phận của mẹ là phải cưỡng lại ý nghĩ về cái chết. Yêu con, yêu
cuộc sống, tha thứ cho cuộc sống, mẹ sẽ ra đi không chút nào ân hận. Mẹ sẽ ôm lấy
cái chết của riêng mẹ thôi.
Mẹ
viết những dòng này để làm gì nhỉ? Trả lời: mẹ viết cho con nhưng không phải
cho con, mà viết cho mẹ, viết cho con trong lòng mẹ. Cả buổi chiều mẹ bận rộn dọn
dẹp các ngăn kéo, vứt bỏ những giấy tờ không cần thiết. Chập tối mẹ ra ngoài.
Túp lều giấy sau nhà để xe đã được dựng lại như trước, bên ngoài trùm miếng vải
nhựa đen. Người đó vẫn nằm cong queo bên trong. Bên cạnh anh ta là một con chó
đang vểnh tai, vẫy đuôi. Con chó lông đen, đốm trắng, chỉ to hơn con chuột một
tí.
Mẹ
nói “Này, không được đốt lửa ở đây, nghe chưa? Tôi không muốn ai đốt lửa ở đây,
cũng không muốn có chuyện rắc rối”.
Anh
ta ngồi dậy, xoa chân, mắt nhìn lơ láo như không biết mình đang ở đâu. Mặt anh
ta dài như mặt ngựa, da dẻ sần sùi, mắt quẫng thâm, rõ ràng là đôi mắt của người
nghiện rượu. Mắt anh ta xanh kỳ lạ, có vẻ như đang đau ốm thật.
Mẹ
hỏi “Anh có muốn ăn uống gì không?”
Anh
ta theo mẹ vào bếp. Con chó theo sau. Mẹ cắt cho anh ta miếng bánh kẹp thịt.
Anh ta cắn miếng bánh nhưng hình như đã quên nhai, đứng dựa lưng vào bậu cửa.
Ánh đèn chiếu vào cặp mắt xanh ngơ ngác. Con chó rên ư ử. Lát sau mẹ sốt ruột
nhắc “Tôi phải dọn dẹp đây”, rồi bước ra, đóng cửa bếp. Anh ta không nói gì, lẳng
lặng bỏ đi. Ra đến góc đường, mẹ thấy anh ta quăng miếng bánh. Con chó nhảy lên
đớp.
Vào
thời của con làm gì có lắm người vô gia cư như thế này. Bây giờ họ là một phần
của đời sống ở đây rồi. Họ có làm gì cho mẹ phải sợ không? Không. Họ chỉ thỉnh
thoảng ăn xin, trộm cắp, vứt bẩn, làm ồn, và say rượu, chẳng có gì ghê gớm. Có
sợ là mẹ sợ bọn trẻ miệng còn hôi sữa mà tham lam như cá mập. Có lẽ cánh cửa
nhà tù cũng đang đợi chúng. Còn trẻ măng mà sao chúng coi rẻ tuổi niên thiếu,
coi rẻ thời buổi kỳ diệu, coi rẻ thời tâm hồn chúng đang độ lớn. Tâm hồn và các
bộ phận trong cơ thể chúng như đã tàn tạ, không phát triển. Còn những anh em da
trắng của chúng bên kia ranh giới chia cắt cũng thế, mỗi ngày càng chui rúc và
ngủ kỹ trong kén. Đâu còn những buổi học bơi, cưỡi ngựa, tập múa ba lê, đánh cầu
trên sân cỏ. Cuộc sống của chúng lặng lẽ trôi sau những bức tường rào có chó dữ
canh gác bên ngoài. Đâu còn những đứa trẻ đáng yêu tóc vàng, ngây thơ, mặt mày
rạng rỡ dịu dàng như các thiên thần. Những gì chưa ra đời cũng bị lãng quên ở
ngay nơi chúng sống. Chúng ngây thơ như những ấu trùng, béo trắng, ngâm trong mật
để hút ngọt qua làn da mỏng manh. Tâm hồn chúng chết lịm trong thứ hạnh phúc trừu
tượng.
Tại
sao mẹ lại cho người đó ăn? Nếu con chó đó (có lẽ anh ta ăn cắp con chó ở đâu
đó) mẹ cũng cho thế. Như mẹ thường cho con bú vậy. Có để mà cho và cho tất cả
những gì mình có, chẳng phải là điều vẫn thôi thúc ta hay sao? Từ thân hình tàn
héo như của một người già cũng muốn vắt cạn cho đến giọt sữa cuối cùng. Muốn
cho đi. Muốn bồi bổ. Giá thử lúc này anh ta muốn bầu vú của mẹ để đổi lấy cái
chết, mẹ cũng sẵn sàng cho được.
Sáng
nay lúc đem cà phê đến, mẹ thấy anh ta đái xuống cống. Nhưng anh ta không tỏ ra
ngượng ngập.
Mẹ
hỏi “Anh muốn làm việc không? Ở đây có nhiều việc cho anh làm đấy”.
Anh
ta không nói gì, vẫn uống cà phê, hai tay ôm lấy cái cốc.
Mẹ
nói “Thế là anh phí phạm cuộc đời mình. Anh đâu còn là trẻ con nữa? Anh sống
như vậy sao được? Sao anh có thể lang thang suốt ngày mà không làm gì hết? Tôi
không thể nào hiểu được”.
Đúng
là mẹ không thể nào hiểu được. Mẹ rất ghét cái thói ươn hèn, gặp sao hay vậy, để
mình dần dần tan rã.
Anh
ta làm cho mẹ rất khó chịu. Lần đầu tiên anh ta nhìn thẳng vào mẹ rồi nhổ xuống
đất, ngay cạnh chân mẹ, một bãi đặc quánh vàng khè lẫn màu nâu của cà phê. Rồi
anh ta vứt chiếc cốc vào chỗ mẹ và bỏ đi.
Thế
đấy. Anh ta không nhổ vào người mẹ, mà nhổ trước mặt để mẹ trông thấy mà suy
nghĩ. Cách nói của anh ta thế đấy. Một thứ ngôn ngữ đi trước ngôn ngữ. Nhìn mẹ
rồi nhổ. Cái nhìn gì lạ thế nhỉ? Cái nhìn đối với người đàn bà ở vào tuổi có thể
làm mẹ anh ta. Đây, cà phê của bà đây!
Đêm
qua không thấy anh ta ngủ chỗ cũ. Đống hộp giấy cũng không còn. Mẹ đi quanh chỗ
đó bỗng nhìn thấy cái túi Hàng không Cananda ở lán củi, và một chỗ anh ta đã dọn
để ngủ. Mẹ biết chắc thế nào anh ta cũng quay lại.
Viết
được sáu trang rồi. Toàn viết về một người mẹ chưa gặp bao giờ và sẽ chẳng bao
giờ gặp. Tại sao mẹ viết về anh ta? Vì anh ta cũng là mẹ mà không phải là mẹ.
Vì mẹ thấy được mẹ trong cái nhìn của anh ta mà không thể nào viết ra được. Nếu
không như vậy, những dòng mẹ viết đây chẳng là thế nào, chỉ là tiếng kêu rên trầm
bổng. Viết về con chó của anh ta cũng là viết về mẹ. Viết về ngôi nhà cũng là
viết về mẹ. Anh ta, ngôi nhà, con chó, dù viết thế nào mẹ cũng chỉ muốn những lời
này giúp mẹ bước được tay đến chỗ con. Nếu là ở thế giới khác, mẹ chả cần đến
những lời đó. Mẹ chỉ việc xuất hiện ở cửa nhà con và bảo “Mẹ đến thăm con đây”,
thế là đủ. Mẹ sẽ ôm con và được con ôm mẹ. Nhưng ở thế giới này, lúc này, mẹ phải
đến với con bằng những lời như vậy. Ngày ngày mẹ biến thành lời và gói nó vào
trang giấy như gói kẹo, những chiếc kẹo vẫn dành cho con gái mẹ, cho ngày sinh
của con, ngày con ra đời. Đó là những lời ngoài thân thể mẹ, là những giọt sữa
của mẹ, để khi mở ra con sẽ nhận lấy, bú lấy, hấp thụ. Người ta bảo đó là những
giọt sữa đã quá cũ, của người già, được gói lại bằng tình yêu, thứ tình yêu chỉ
cảm thấy đối với người ta hiến dâng, để được ngấu nghiến hoặc vứt bỏ.
Mưa
tầm tã suốt buổi chiều. Tối đến mới nghe tiếng lạch cạch ngoài cổng, và một
phút sau có tiếng chân con chó chạy trên hiên.
Mẹ
đang coi ti vi. Một vị mục sư hay phó mục sư nào đó đang thông báo cho cả nước.
Mẹ đứng nghe. Mỗi khi họ nói mẹ đều đứng nghe để tỏ ra tự trọng (trước một tiểu
đội hành quyết, ai mà dám ngồi?). Ons buig nie voor dreigmente nie, ý
ông ta nói “Chúng ta không khuất phục sự đe doạ”. Trước sau các bài diễn văn của
họ chỉ có thế.
Cánh
màn sau lưng mở ra. Mẹ biết đó là anh ta, một người mẹ không biết tên. Anh ta
nhìn thấy mẹ qua tấm gương. Mẹ vặn nhỏ tiếng đủ nghe, dù không nghe rõ lời cũng
nghe được những tiết tấu Phi châu nện huỳnh huỵch xuống đất như tiếng búa. Anh
ta với mẹ cùng nghe. Nỗi nhục của cuộc sống ở đây, dưới quyền họ, là mỗi khi mở
tờ báo hay mở ti vi chẳng khác nào như quỳ xuống để họ đái lên mình. Sống dưới
quyền họ là sống dưới những bụng phệ, những bọng đái của họ. Đã có lúc mẹ nhủ
thầm “Các người sắp đến ngày tận số rồi!”. Vậy mà đến tận bây giờ họ vẫn còn sống
nhăn, sống lâu hơn mẹ.
Mẹ
chuẩn bị đi mua hàng. Vừa mở cửa nhà xe thì mẹ lên cơn đau. Cơn đau giống như một
con chó nhảy đến cắn vào lưng. Mẹ kêu lên, không cử động được nữa. Anh ta ở đâu
xuất hiện và đưa mẹ vào nhà.
Mẹ
nằm nghiêng trên ghế dài. Phải nằm nghiêng như thế mới đỡ đau. Anh ta đứng chờ.
Mẹ bảo “Anh ngồi xuống đi…” Anh ta ngồi xuống. Cơn đau bắt đầu giảm. Mẹ nói “Tôi
bị ung thư. Bệnh đã ăn vào xương tuỷ nên mới đau thế”.
Không
chắc anh ta hiểu mẹ nói gì.
Im
lặng một lúc. Rồi anh ta lên tiếng “Nhà này rộng lắm. Bà có thể cho ở trọ được
đấy”.
Mẹ
làm ra vẻ mệt mỏi.
Anh
ta nói tiếp “Bà có thể cho sinh viên thuê phòng”.
Mẹ
ngáp, tưởng như răng sắp rụng hết, phải đưa tay che miệng. Nếu là trước kia thì
mẹ đã thấy ngượng. Bây giờ mẹ không ngượng nữa.
Mẹ
nói “Tôi có một cô giúp việc. Cô ta đi thăm bà con đến cuối tháng mới về. Anh
có bà con gì không?”
Nói
lạ! Có bà con là thế nào? Tôi có bà con không? Anh có phải là bà con của tôi
không? Không đâu. Có lẽ chỉ Florence mới đủ tư cách để nói cô ta có bà con.
Anh
ta không đáp. Có vẻ như anh ta không có con, không có con ở đời này, mà cũng
không có cả tuổi trẻ trong quá khứ nữa. Mặt anh ta xương xẩu, da sần sùi. Nếu
nhìn vào đầu con rắn không thể hình dung nó già hay trẻ, thì cũng không thể thấy
được bóng dáng một đứa trẻ đàng sau khuôn mặt anh ta. Mắt anh ta xanh lè như mắt
động vật, đâu có thể nhìn vào đôi mắt ấy mà thấy được đứa trẻ?
Mẹ
nói “Chồng tôi với tôi đã chia tay từ lâu. Ông ấy đã mất. Tôi có đứa con gái ở
Mỹ. Nó ra đi năm 1976, đến nay vẫn chưa về. Nó lấy một anh chồng Mỹ. Sanh được
hai cháu”.
Con
gái mẹ. Con là da thịt của da thịt mẹ. Chính con đấy.
Anh
ta rút bao thuốc lá. Mẹ nói “Xin đừng hút thuốc trong nhà”.
Mẹ
lại nói “Anh tàn tật thế nào? Anh bảo là có phụ cấp tàn tật hả?”
Anh
ta giơ bàn tay phải. Ngón cái và ngón trỏ duỗi ra, ba ngón kia cụp trong lòng
bàn tay. Anh ta nói “Mấy ngón này không cử động được”.
Mẹ
nhìn ba ngón cụp, móng tay đầy những ghét bẩn, bàn tay sần sùi, rõ ràng không
phải do lao động.
-
Có phải do tai nạn không?
Anh
ta gật. Cái gật chẳng nói lên điều gì.
Mẹ
nói “Tôi sẽ thuê anh cắt cỏ”.
Suốt
một giờ, anh ta thờ thẫn đem kéo ra cắt lá ở hàng rào và mấy đám cỏ đã mọc
ngang đầu gối. Rồi anh ta bỏ đó. Anh ta nói “Loại việc này không phải của tôi”.
Mẹ trả tiền một giờ làm cho anh ta. Lúc bỏ đi anh ta vấp chân vào khay thức ăn
của mèo, làm vung vãi khắp nơi.
Nói
chung anh ta chẳng được việc gì, chỉ làm phiền. Nhưng mẹ có chọn anh ta đâu.
Anh ta tự đến đó thôi. Hoặc giả anh ta chọn nhà nào không có chó. Nhà này chỉ
có mèo.
Có
người lạ nên đám mèo nhốn nháo. Chúng vừa thò ra thì đã bị chó nhảy đến vồ, phải
trốn đàng sau cửa. Hôm nay mèo không chịu ăn. Mẹ đoán chúng không ưa thức ăn để
trong tủ lạnh. Mẹ pha ít nước nóng vào thịt. (Chả biết thịt gì, hải cẩu hay cá
voi?) Chúng vẫn chăm chỉ lượn quanh, quệt đuôi vào đĩa. Mẹ bảo “Ăn đi!” và đẩy
đĩa thức ăn đến. Con to giơ chân và không thèm đụng vào đĩa. Mẹ bực mình quát “Không
ăn thì cút đi! Mệt với chúng mày lắm!” rồi mẹ ném cái dĩa vào chúng. Có điều lạ
là tiếng quát vừa rồi khiến mẹ thấy thú vị. Tốt với người như thế đủ rồi! Tốt với
mèo như thế cũng đủ rồi! Mẹ lại hét “Chúng mày chết hết cả đi!” Đám mèo bỏ chạy.
Móng chân của chúng cào rách cả thảm nhựa.
Ai
cần gì chứ? Khi có tâm trạng ấy mẹ chỉ muốn đặt tay lên bàn và lấy dao chặt đứt,
không cần suy nghĩ. Mẹ cần gì cái thân thể đã phản bội mình? Nhìn bàn tay, nhìn
quanh tìm dụng cụ, nhưng mẹ chỉ thấy cái móc dùng khều đồ vật. Cả đôi chân này,
cả đôi nạng xa xa này, việc gì phải mang chúng đi khắp nơi? Việc gì phải mang
chúng vào giường, để dưới chăn, ôm lấy nhau mà không ngủ được giữa bao nhiêu thứ
bề bộn chung quanh? Rồi cái bụng này nữa, sao cứ sôi ùng ục? Rồi con tim này nữa,
sao cứ đập hoài? Chúng còn liên quan gì đến mẹ nữa?
Trước
khi chết, ốm đau là để cho cơ thể thích ứng dần với sự héo hắt. Dòng sữa nuôi nấng
ta cạn dần, chua loét, xa rời bộ ngực và ta bắt đầu lắng chìm trong cuộc sống
khác. Nhưng cuộc sống ban đầu này, cuộc sống trên cơ thể trái đất này, liệu có
thể tốt hơn được không? Mặc dù bao nhiêu tăm tối, thất vọng, điên khùng, mẹ vẫn
không thể nào từ bỏ tình yêu đối với cuộc sống.
Lúc
đau mẹ uống hai viên thuốc của bác sĩ Syfret rồi nằm trên ghế dài. Vài giờ sau
mẹ tỉnh dậy, ngơ ngác, người lạnh toát, mẹ lần mò lên gác rồi để nguyên quần áo
chui vào giường.
Nửa
đêm mẹ chợt thấy hình như có ai trong phòng. Nhưng đoán chỉ có thể là anh ta.
Anh ta hoặc mùi của anh ta, xuất hiện rồi biến mất.
Có
tiếng cạch ở đầu cầu thang. Mẹ đoán anh ta vào phòng đọc sách, bật đèn. Mẹ cố
nghĩ xem trên bàn có giấy tờ gì cần phải giấu đi không nhưng đầu óc lơ mơ không
nghĩ gì được. Anh ta xem các kệ sách. Mẹ đoán anh ta sắp xếp lại cho gọn với đống
báo cũ. Rồi anh ta ngắm những bức tranh trên tường. Tranh Sophie Schliemann ở
kho tàng Agamemnon, tranh Demeter lấy cắp ở bảo tàng Anh. Rồi anh ta khẽ rút
ngăn kéo bàn. Ngăn trên toàn những thư từ, biên lai, tem cũ và ảnh. Anh ta
không quan tâm. Ngăn dưới có hộp xì gà đựng tiền lẻ các loại. Anh ta thò ngón
tay cong queo lấy ra hai đồng năm peseta, đủ để đổi sang tiền rand, nhét vào
túi.
Anh
ta không phải là thiên thần. Chỉ như loại côn trùng nấp trong khe tường, chờ
lúc tối đèn bò ra sục sạo.
Nghe
anh ta ra đầu cầu thang, khẽ mở hai lần khoá. Mẹ muốn nói thầm cho anh ta nghe:
anh chỉ là đồ rác rưởi, chỉ là thứ ký ức đã chết yểu, nhưng lúc ấy đầu của mẹ mụ
đi, chẳng còn biết gì nữa.
Mẹ
nằm cả ngày trên giường. Chẳng muốn làm gì, chẳng muốn ăn gì. Mẹ đọc Tolstoy,
không phải đọc chuyện nổi tiếng vê ung thư đâu, vì mẹ đã quá biết rồi, nhưng đọc
chuyện về một thiên thần đến ở chung với anh thợ giày. Giả thử có cơ hội, mẹ sẽ
đi bộ xuống phố Mill tìm thiên thần riêng đem về nhà giúp mẹ được đấy. Nhưng
không có đâu. May ra vùng ngoại ô có thiên thần nào đó ngồi hong nắng ngủ gật
trên cột cây số, chờ cơ hội. Có lẽ ở trại những người thất nghiệp chứ ở phố
Mill hay ngoại ô đều không có. Các thiên thần đã bỏ vùng ngoại ô mà đi cả rồi.
Mỗi khi có người lạ ăn mặc rách rưới đến gỗ cửa thì đó chỉ là kẻ vô gia cư, một
anh nghiện rượu, hay một tâm hồn lảng vảng nào thôi. Thế mà sao lòng ta vẫn
thèm muốn được thấy ngôi nhà yên tĩnh rung lên cùng tiếng hát thiên thần như
trong truyện cổ tích vậy.
Ngôi
nhà đã mệt vì chờ đợi, đã chán không muốn gắn vào nhau nữa. Ván sàn đã không
còn rung nữa. Dây điện cách ly đã khô cứng, dễ gẫy, các ống nước han rỉ. Ốc vít
ở ống máng đã rời ra, tuột khỏi gỗ mục. Mái ngói đầy rêu. Ngôi nhà xây tử tế
nhưng không có tình yêu, bây giờ lạnh lẽo, chây ỳ, sắp chết. Những bức tường
tuy đã được mặt trời châu Phi chiếu rọi nhưng không bao giờ ấm lên được, dù những
viên gạch được bàn tay của các phạm nhân xây nên đã luôn luôn toả sáng.
Hè
năm ngoái, khi đám thợ đến lắp cống, mẹ thấy họ moi ra những ống cũ. Họ chui xuống
hai thước, nhặt những gạch vỡ và sắt rỉ, cả móng ngựa nữa, nhưng không thấy có
xương người. Công trường này chưa hề có bóng người, chỉ là chỗ của hồn ma và
các thiên thần, chẳng có gì thú vị.
Mẹ
viết thư này không phải để bộc lộ những gì trong lòng mẹ. Nó bộc lộ điều gì đó,
nhưng không phải là trái tim của mẹ.
Sáng
nay xe không nổ máy, mẹ phải yêu cầu anh ta, người đến ở nhờ, ra đẩy giúp. Mẹ
ngồi trong, anh ta đẩy xe ra lối đi. Rồi anh ta đập tay vào mui xe hét to “Đi
được rồi!” Máy nổ. Mẹ quay xe ra đường cái. Được một quãng, mẹ dừng lại nói với
anh ta qua làn khói “Tôi phải đi Fish Hoek. Anh muốn đi không?”
Thế
là hai người cùng đi, con chó ngồi ghế sau, ngồi chiếc xe Hillman màu xanh từ
thời con còn nhỏ. Đã một lúc lâu mà hai người không nói câu nào. Xe chạy qua bệnh
viện, trường Đại học, toà Giám mục. Con chó gác đầu lên vai mẹ hứng gió thổi
vào mặt. Xe leo lên đồi Wynberg. Bên kia đồi là một con dốc dài, mẹ tắt máy cho
xe tự lăn dọc bờ biển. Càng lăn nhanh, tay lái càng rung bần bật. Con chó khoái
chí rên ư ử. Hình như lúc đó mẹ cũng mỉm cười, có lẽ nhắm mắt nữa.
Xuống
đến chân đồi, xe chậm dần. Mẹ liếc nhìn anh ta. Anh ta vẫn ngồi im, thản nhiên.
Khá đấy! Mẹ nghĩ bụng.
Mẹ
nói “Hồi còn nhỏ, tôi thường nhảy xe đạp không phanh xuống cái dốc này. Xe đạp
của ông nội tôi. Ông ấy hay đố tôi làm thế. Tôi chả biết sợ là gì. Trẻ con
không quan niệm chết là thế nào. Chẳng bao giờ chúng nghĩ rằng có lẽ mình không
chết.
“Tôi
thường nhảy xe đạp của ông anh đi xuống những dốc cao hơn thế này. Càng nhanh
càng thấy khoái, cảm thấy như sự sống bung ra ngoài da thịt. Con bướm khi mới
ra đời chắc cũng cảm thấy như vậy”.
Với
chiếc xe cũ kỹ này, ta vẫn có thể thoải mái và tự lăn dọc bờ biển. Nếu là xe mới,
hễ tắt máy thì tay lái bị khóa lại. Hẳn anh cũng biết thế. Nhưng đôi khi người
ta sai lầm hoặc quên đi, không để xe bám đường, thế là xe quay ngang và lao xuống
biển.
Lao
xuống biển. Vật lộn sau tay lái bị khóa chặt, trong khi ta cố ngoi lên nhìn
bong bóng lấp lánh ánh mặt trời. Điều đó xảy ra không? Có nhiều người làm thế
không? Nếu ta đứng trên đỉnh Chapman vào buổi chiều thứ bảy có thể thấy cảnh
người ta lao xe xuống biển như thế được không?
Mẹ
nói tiếp “Có một chuyện tôi muốn kể anh nghe. Hồi còn nhỏ, vào những năm đầu thế
kỷ, gia đình tôi thường ra biển vào những ngày lễ Giáng sinh. Đó là thời của xe
bò. Người ta đi xe bò suốt từ Uniondale ở miền Đông đến vịnh Plettenberg ở cửa
sông Piesangs, đi hàng trăm dặm mà không biết phải mất bao nhiêu ngày. Người ta
cắm lều nghỉ lại bên đường.
Một
trong những chỗ dừng chân là đỉnh đèo. Ông bà tôi ngủ trong xe, mẹ tôi và các
con nằm gầm xe. Chuyện là như thế này: trong đêm vắng trên đỉnh đèo, mẹ tôi
chui vào chăn cùng các anh chị tôi, ngắm nhìn các ngôi sao trên trời qua khe
bánh xe bò. Lúc ngắm nhìn, mẹ tôi tưởng các ngôi sao di chuyển. Không biết là
các ngôi sao di chuyển hay bánh xe di chuyển, từ từ, rất chậm. Mẹ tôi nghĩ: làm
thế nào bây giờ? Nếu xe di chuyển thì sao đây? Có nên báo cho mọi người biết
không? Nếu cứ nằm yên để xe lăn xuống chân núi mà ông bà lại nằm trong đó thì
sao? Nhưng nếu chỉ là tưởng tượng thế thôi, thì sao?
“Mẹ
tôi sợ hãi, tim đập thình thình, nhìn sao di chuyển, nghĩ bụng không biết có
nên gọi ai không. Nghe tiếng xe cọt kẹt, mẹ tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết,
trong giấc ngủ toàn mơ thấy chết. Đến sáng mẹ tôi tỉnh dậy thấy mọi thứ vẫn
bình thường. Xe vẫn còn đó, ông bà vẫn còn đó, ai nấy khoẻ mạnh, chẳng có chuyện
gì hết”.
Đã
đến lúc anh ta phải nói gì đi chứ, hoặc nói về đồi núi, về xe hơi, xe đạp, về bản
thân hoặc tuổi nhỏ. Nhưng anh ta vẫn lầm lì, im lặng.
Mẹ
lại nói tiếp “Mẹ tôi không nói lại cho ai biết về những gì bà nghĩ đêm trước.
Có lẽ mẹ tôi chờ đến khi đẻ tôi mới nói chăng. Tôi nghe bà kể lại nhiều lần bằng
nhiều cách. Gia đình vẫn đi tiếp đến sông Piesangs. Ôi cái tên sao mà rực rỡ và
đáng yêu thế! Tôi chắc đó phải là nơi đẹp nhất trần gian. Mấy năm sau khi mẹ
tôi qua đời, tôi đến thăm vịnh Plettenberg và lần đầu trông thấy sông Piesangs.
Không phải sông, chỉ là một lạch nước đầy rong rêu, tối đến đầy muỗi, một nơi để
các đoàn người dừng chân, để trẻ con hò hét, để những người lớn đi chân đất mặc
quần cụt mang bếp ga nướng xúc xích. Chẳng phải Thiên đường một tí nào. Cũng chẳng
phải chỗ để hàng năm người ta đến chơi sau bao nhiêu ngày trèo đèo lội suối”.
Lúc
này xe đã leo lên đường Boyes. Thật y như nhân vật Rocimante trong truyện, muốn
cũng không làm được gì vì đã già yếu. Mẹ nắm chặt tay lái, cố thúc cho xe đi tới.
Lên
đến Muizenberg, nhìn xuống vịnh Giả Tạo, mẹ dừng xe tắt máy. Con chó lại rên ư ử.
Mẹ cho nó ra ngoài. Nó ngửi đống đá, bụi cây, rồi co chân đái. Mẹ và anh ta đứng
nhìn, không nói gì.
Anh
ta đã lên tiếng. Anh ta nói “Bà đi nhầm đường đấy. Lẽ ra phải xuống chân đồi”.
Mẹ
cố tỏ ra không buồn nản. Xưa nay mẹ chỉ mong mọi người cho mẹ là tài giỏi. Bây
giờ mới thấy mình bất tài hơn bao giờ.
Mẹ
hỏi “Anh từ vùng Mũi đến đây à?”
“Phải”.
“Anh
sống cả đời ở đó ư?”
Anh
ta có vẻ khó chịu. Mẹ hỏi hai câu thế là quá nhiều.
Một
con sóng to, dài hơn trăm thước, đang cuộn vào bờ. Một người lom khom lướt ván
trên ngọn sóng. Bên kia vịnh, dãy núi Hottentots Hà Lan đứng sừng sững trên nền
trời xanh trong. Có lẽ mắt mẹ thèm khát cảnh vật nên thấy thế. Biển. Núi. Mẹ muốn
những hình ảnh biển và núi chôn sâu trong lòng để đi đâu cũng thấy. Sao mẹ có
thể thèm khát tình yêu đối với cuộc sống này đến thế.
Đàn
chim sẻ đến đậu trên bụi cây gần chỗ mẹ đứng. Chúng rỉa lông rồi bay đi. Người
lướt ván khi nãy đã vào bờ, đi trên bãi cát. Bỗng mẹ rướm lệ. Mẹ tự hỏi hay do
mình chớp mắt. Sự thật là mẹ khóc. Mẹ gục đầu vào tay lái, chỉ hơi nức nở, rồi
oà lên khóc như muốn trút hết mọi thứ trong tim trong phổi. “Xin lỗi”, rồi mẹ
bình tĩnh nói tiếp “Xin lỗi, tôi chả hiểu tại sao mình lại thế”.
Lẽ
ra mẹ không cần xin lỗi. Anh ta đâu có để ý chuyện đó.
Mẹ
lau mắt, khịt mũi rồi bảo “Ta đi chứ?”
Anh
ta mở cửa xe huýt một tiếng sáo. Con chó nhảy vào xe. Con chó biết nghe lời. Chắc
anh ta lấy cắp con chó ở một gia đình tử tế.
Đúng
là xe đi nhầm đường.
Anh
ta bảo “Quay ngược lại”.
Mẹ
thả phanh tay, lùi một quãng rồi rú ga. Xe rung lên rồi đứng lại. Mẹ bảo “Xe
này chưa bao giờ đi lùi”.
Anh
ta chỉ tay, lên giọng như anh chồng dạy vợ lái xe “Quay sang bên kia đường”.
Mẹ
cho xe chạy một quãng xuống chân đồi, rồi sang bên kia đường. Bỗng một tiếng
còi réo lên, chiếc xe Mercedes màu trắng vụt qua bên cạnh. Mẹ há hốc miệng “Tôi
không trông thấy”.
-
Đi đi! – anh ta quát.
Mẹ
ngạc nhiên nhìn anh chàng người lạ quát tháo. Anh ta vẫn nhìn mẹ quát nữa “Đi
đi!”
Máy
nổ. Mẹ im lặng quay xe lại. Đến góc phố Mill, anh ta đòi xuống.
Giày
và chân anh ta bốc lên một mùi hôi thối. Phải có bít tất mới, có giày mới cho
anh ta. Phải cho anh ta tắm rửa nữa. Mỗi ngày anh ta phải tắm, phải thay đồ
lót, phải có giường nằm, phải có một mái nhà, phải ăn ba bữa và phải có tiền ở
ngân hàng nữa. Phải cho anh ta quá nhiều. Như thế là quá nhiều đối với người
đang thèm chui vào lòng mẹ để tìm an ủi.
Cuối
buổi chiều anh ta mới quay lại. Mẹ cố quên đi những gì xẩy ra, đưa anh ta vào
vườn và chỉ cho anh ta thấy những việc cần làm. Mẹ nói “Thí dụ anh có thể tỉa
lá. Anh có biết tỉa lá không?”
Anh
ta lắc đầu. Không, anh ta không biết. Hoặc không muốn.
Ở
góc vườn, chỗ cây rậm rạp, dây leo phủ kín chiếc ghế cũ bằng gỗ sồi và cái chuồng
thỏ. Mẹ nói “Phải dọn sạch chỗ này đi”.
Anh
ta nhấc đám dây leo. Chuồng thỏ nằm trên nền đất, bên trong có một đống xương
khô, kể cả bộ xương của thỏ con, cổ bị bẻ gẫy.
Mẹ
nói “Đám thỏ này của con trai người giúp việc cho tôi. Tôi cho nó nuôi chơi. Rồi
nó chuyển đi nơi khác. Còn đám thỏ này chết đói. Lúc ấy tôi nằm viện, chả biết
gì hết. Về đến nhà tôi thất vọng thấy chẳng ai đoái hoài gì đến tình trạng ở
góc vườn. Đám sinh vật này không biết nói, cũng chả biết kêu khóc”.
Những
quả ổi rụng khắp mặt đất, đầy sâu bọ, chất thành một đống bầy nhầy ở gốc cây. Mẹ
bảo “Tôi chỉ ước chi cây đừng có quả, thế mà nó vẫn có quả”.
Con
chó chạy đến chõ mũi vào chuồng ngửi. Thỏ chết lâu rồi, không còn mùi gì nữa.
Mẹ
bảo “Anh có thể làm được gì cứ làm, miễn là chỗ này không hoang vắng nữa”.
Anh
ta hỏi “Tại sao thế?”
Mẹ
đáp “Thì tôi thích thế. Tôi không muốn chỗ này bẩn thỉu”.
Anh
ta nhún vai, mỉm cười.
Mẹ
nói “Nếu anh muốn có tiền thì phải làm. Chẳng lẽ anh muốn tôi cho không hay
sao?”
Phần
thời gian còn lại của buổi chiều, anh ta dọn đống dây leo và đám cỏ, thỉnh thoảng
ngước mắt nhìn ra xa làm như không biết mẹ đứng trên gác nhìn xuống. Đến năm giờ,
mẹ trả tiền cho anh ta. Mẹ nói “Tôi biết anh không phải dân làm vườn. Tôi cũng
chả muốn biến anh thành người khác. Nhưng chúng ta không thể làm việc theo kiểu
từ thiện được”.
Anh
ta cầm tiền, gấp lại, bỏ vào túi, quay mặt về phía khác để khỏi nhìn mẹ. Rồi
anh ta khẽ hỏi “Tại sao thế?”
“Vì
không đáng phải đối xử với anh như vậy”.
Anh
ta vẫn mỉm cười. Cười một mình. “Đáng gì? Ai đáng gì đâu?”
Ai
đáng gì đâu? Mẹ tức giận, ném túi tiền vào anh ta. “Vậy thì anh tin vào điều
gì? Chỉ cần những gì anh muốn ư? Thôi, cầm lấy đi!”
Anh
ta lẳng lặng cầm lấy túi tiền, dốc ra ba chục rand và một ít xu lẻ, rồi trả lại
túi. Rồi anh ta bỏ đi, con chó chạy theo sau. Khoảng nửa giờ sau anh ta quay lại.
Lúc đó mẹ đã nghe thấy tiếng lanh canh chai lọ.
Anh
ta tìm được chiếc đệm, loại đệm gấp thường đem ra bãi biển. Trong cái tổ bụi bặm
giữa đống củi, anh ta thắp nến để đầu giường, nằm hút thuốc, con chó ngồi dưới
chân.
Mẹ
nói “Trả lại tiền cho tôi”.
Anh
ta thọc tay vào túi, rút ra mấy tờ giấy bạc. Mẹ cầm lấy. Không đủ, nhưng không
sao.
Mẹ
nói: “Khi nào cần tiền, anh cứ hỏi. Tôi không keo kiệt đâu. Anh cũng nên cẩn thận
với cây nến. Tôi không muốn xảy ra hoả hoạn”.
Mẹ
bước ra ngoài, một phút sau quay lại.
Mẹ
nói “Anh bảo tôi nên biến ngôi nhà này thành chỗ trọ cho sinh viên? Thực ra tôi
có thể làm hơn thế. Tôi có thể biến nơi này thành chỗ ở của những người ăn xin.
Tôi có thể mở hàng cháo, mở quán trọ. Nhưng tôi không làm thế. Tại sao vậy? Vì
đất nước này chẳng còn gì là tinh thần từ thiện nữa. Vì những người nhặt từ thiện
cũng khinh rẻ nó, còn những người cho thì cho với trái tim miễn cưỡng. Từ thiện
mà không đi từ trái tim đến trái tim thì có nghĩa gì? Anh tưởng từ thiện là thế
nào? Cháo ư? Tiền ư? Từ thiện là từ la tinh chỉ trái tim. Nhận hay cho đều khó
như nhau. Phải cố gắng lắm mới được. Mong anh học được điều ấy. Mong anh học được
điều gì đó chứ không nằm khàn thế này”.
Mẹ
nói dối đấy thôi. Từ thiện, caritas, chẳng liên quan gì đến trái tim hết. Nhưng
nếu những điều mẹ cầu nguyên đều dựa trên từ nguyên giả dối thì có sao? Hình
như anh ta không nghe mẹ nói gì. Có lẽ với đôi mắt lanh lẹn ấy, anh ta băn
khoăn về rượu hơn mẹ tưởng. Hoặc anh ta chẳng quan tâm đến gì hết. Quan tâm là
cái gốc đích thực của từ thiện. Mẹ chờ cho anh ta quan tâm, nhưng anh ta không
hề quan tâm. Anh ta đã ở ngoài phạm vi của sự quan tâm, không cần quan tâm đến
cái gì hết.
Cuộc
sống ở đất nước này chẳng khác gì cuộc sống trên con tàu sắp chìm, một con tàu
cũ kỹ mà thuyền trưởng thì say bét nhè, thuyền viên thì cáu gắt, phao cứu hộ
thì thủng, vì thế mẹ phải luôn để chiếc đài sóng ngắn ở cạnh giường. Phần lớn
thời gian dài chỉ nói để mà nghe, nhưng đến đêm, nếu chịu khó tìm sẽ thấy những
đài phát âm nhạc. Đêm qua mẹ nghe đi nghe lại một đài không biết ở đâu phát.
Helsinki? Đảo Cook? Họ phát quốc thiều các nước, nhạc hay tuyệt trần, thứ nhạc
đã bỏ ta mà đi từ nhiều năm nay, nay trở lại như đến từ các ngôi sao đã đổi dạng,
nghe dịu dàng, chứng tỏ những gì ta cho đi sẽ có ngày trở lại, bao bọc quanh ta
trong một vũ trụ khép kín, tròn như quả trứng.
Mẹ
nằm trong đêm tối, nghe nhạc từ các vì sao dội đến, nghe tiếng lào xạo, ù ù,
như bụi sao băng, mẹ mỉm cười, lòng rộn ràng cảm tạ những tin tốt lành từ xa
xăm gởi đến. Mẹ nghĩ chỉ có một ranh giới không thể khép lại được, đó là ranh
giới trên kia, giữa nước Cộng hoà Nam Phi và lãnh địa của bầu trời, nơi mẹ phải
tìm đến, mà không cần có hộ chiếu.
Bị
tiếng nhạc quyến rũ (mẹ nghĩ có lẽ đó là của Backhausen), chiều nay mẹ ngồi vào
đàn piano chơi vài bản cũ, những khúc dạo clavier của Bach, của Chopin, của
Brahms, những bản của Novello và Angener bị mối xông rách tả tơi, gần thành bụi.
Mẹ chơi tồi hơn bao giờ, đọc nhầm những hợp âm như cách đây nửa thế kỷ, ngón
tay lập cập vì bệnh đã vào xương tuỷ, không chữa được nữa. (Mẹ nhớ đến những
khúc xương được các nhà khảo cổ ca tụng, xương có bệnh hoặc bị đầu tên bắn vỡ,
những khúc xương được lịch sử ghi lại từ thời chưa có lịch sử).
Rồi
sau khi đã mệt với sự ngọt ngào của nhạc Brahms, mẹ nhắm mắt đánh hợp âm, ngón
tay rờ rẫm tìm hợp âm quen thuộc, những chỗ ngày xưa gọi là hợp âm chết, hợp âm
của lòng mình. (Đây là mẹ nói về mẹ thời trước thời của con, đi qua phố vào chiều
thứ Bảy nóng nực, nghe trong ngôi nhà trước mặt vọng ra tiếng đàn cô gái đồng
trinh mò mẫm tìm những nốt nhạc thèm khát đã bỏ đi tự bao giờ. Đó là những ngày
tươi đẹp nhưng buồn thảm, và bí ẩn nữa, những ngày còn thơ ngây.)
“Jerusalem!”
Mẹ khẽ hát lên, đánh vào hợp âm ngày xưa mẹ từng nghe khi ngồi dưới chân bà ngoại.
“Người đã xây dựng Jerusalem ở nơi đây chăng?”
Cuối
cùng mẹ lại quay về với Bach, vụng về đánh lại bài fuga ở Quyển Một. Âm thanh rối
rắm, dòng nhạc mờ ảo, nhưng qua vài nhịp thì âm nhạc đích thực lại xuất hiện,
thứ nhạc không bao giờ chết, rất tin tưởng và trong sáng.
Mẹ
chỉ chơi để mẹ nghe thôi. Chợt phím đàn cạch một tiếng, có bóng người qua cửa sổ,
mẹ biết anh ta đang đứng nghe bên ngoài.
Mẹ
lại cố chơi nhạc Bach để cho anh ta nghe. Xong nhịp cuối, mẹ đậy đàn lại, để
tay lên đùi ngắm bức chân dung ngoài bìa, người có chiếc cằm bạnh mỉm cười mắt
long lanh nhìn mẹ. Mẹ nghĩ đó mới thực là chân dung có tinh thần, không giống
như chân dung trong miếu thờ! Nay tinh thần ấy đang ở đâu? Đã bay lên tầng cao
khí quyển cùng âm hưởng từ bàn tay mẹ mò mẫm chăng? Âm nhạc còn nhảy nhót trong
lòng mẹ ư? Hay đã tìm đường đến với con người mặc quần áo xộc xệch đang đứng
nghe ngoài cửa kia? Hay trái tim hai người, nơi xuất phát của tình yêu, đã buộc
chặt vào nhau qua những hợp âm mẹ vừa dạo trên đàn?
Chuông
điện thoại reo. Một bà ở ngôi nhà bên kia đường gọi báo cho biết có một kẻ lang
thang đang rình mò bên ngoài. Mẹ đáp “Không phải kẻ lang thang đâu, anh ta giúp
việc cho tôi đấy”.
Mẹ
đã thôi không trả lời điện thoại. Mẹ không muốn nói chuyện với ai khác ngoài
con và người trong bức chân dung, người hạnh phúc trên thiên đường. Vậy mà con
và người đó chẳng thấy gọi cho mẹ.
Thiên
đường. Mẹ hình dung thiên đường là một sảnh đường khách sạn có trần cao trong
đó nghệ thuật âm nhạc phức hợp nhẹ nhàng vang lên qua hệ thống loa công cộng, một
nơi ta có thể ngồi gọn trong ghế bành bọc da mà không đau, một sảnh đường chứa
đầy những người thiêm thiếp nghe âm nhạc, trong khi mọi linh hồn khác đi qua đi
lại như những làn hơi. Một nơi đông đảo linh hồn. Không biết họ có mặc quần áo
không nhỉ? Hình như có, nhưng trên tay không có gì. Một nơi ta không đem theo bất
cứ gì ngoài quần áo trừu tượng và ký ức trong đầu, ký ức tạo ra bản thân. Một
nơi không có sự cố. Như nhà ga xe lửa sau khi đã bỏ hết toa tàu. Ngồi nghe âm
nhạc thiên thần và vô tận ấy, ta không chờ đợi gì hết, chỉ nghe ký ức nhắn nhủ
bên tai.
Có
thể ngồi yên trong ghế bành nghe nhạc mà không lo ngôi nhà mình đã đóng hết cửa,
bên trong tăm tối, còn đám mèo không được ăn vẫn lảng vảng ngoài vườn được
không? Có thể, nếu không thiên đường để làm gì? Chết mà không người thừa kế –
xin lỗi phải nói điều này – thật không tự nhiên chút nào. Để được bình an, tâm
hồn thanh thản, ta cần biết sau ta thì đến tiếp người đó phải có mặt trong căn
phòng ta từng sống.
Mẹ
nghĩ đến những trang trại bỏ hoang khi đi qua vùng Karoo ở bờ biển phía Tây. Chủ
những trang trại này đã bỏ chạy lên thành phố từ nhiều năm, cửa ngõ đóng ván, cổng
khóa chặt. Bây giờ chỉ có một dãy nhà giặt, khói phun đầy trời, trẻ chơi đùa ở
sân sau, thấy xe đi qua là giơ tay vẫy. Một vùng đất trong quá trình dân chủ.
Những kẻ thừa kế lặng lẽ xuất hiện. Vùng đất bị chiếm bằng vũ lực, bị sử dụng,
phá đi phá lại, mấy năm nay bỏ hoang. Có lẽ những kẻ chiếm đất cũng yêu quý
vùng này nhưng chỉ yêu quý khi họ còn trẻ. Bây giờ thì lịch sử tuyên án, họ
không còn yêu quý nữa.
Sau
mỗi lần có chuyện gì, họ bắt người ta chìa ra xem có lấy gì của họ không. Một
hòn sỏi, một chiếc lông chim cũng không được. Thậm chí họ còn xem có giấu hạt cải
nào trong kẽ móng tay không.
Tất
cả đều chỉ là những con số, cộng vào nhau như thế, trừ đi trừ lại, chia đi chia
lại, đến lúc đầu óc rối bù. Ngày nào mẹ cũng tính, trong lòng nhen nhóm một hy
vọng rằng trường hợp của mẹ không phải là sai phạm. Nhưng ngày nào mẹ cũng đứng
trước tình trạng như cũ, tức là phải chết và quên lãng. Từ trong phòng khám,
bác sĩ Syfret nói “Chúng ta phải đối mặt với sự thật”. Nghĩa là phải đối mặt với
bế tắc. Nhưng ông ta có đối mặt với nó đâu, chỉ có mẹ thôi.
Mẹ
nghĩ đến những tù nhân đứng trên miệng hố, chờ đến khi bị bắn xác họ sẽ rơi xuống
đó. Họ van nài đội hành quyết, họ khóc, nói đùa, xin hối lộ, hứa cho tất cả những
gì họ có, cả nhẫn ở ngón tay, cả quần áo đang mặc. Bọn lính chỉ cười. Dù sao
thì chúng cũng lấy hết, lấy cả răng vàng trong miệng họ nữa.
Chỉ
có nỗi đau chạy qua người mẹ. Không có sự thật. Một ảo ảnh sẽ bất ngờ đem mẹ đi
khỏi ngôi nhà trống này, để mặt trời chiếu qua cửa sổ vào chiếc phòng không, hoặc
đem mẹ tới vịnh Giả Tạo có nền trời xanh trong veo, phẳng lặng, đến một thế giới
mẹ đã sống cả đời nhưng trong đó không có mẹ. Ngày lại ngày, đời mẹ trốn tránh
và sợ hãi chính cái nhìn của mình. Sự thật duy nhất còn lại chỉ có cái chết. Mẹ
không thể nào chịu nổi khi nghĩ đến cái chết. Mẹ luôn luôn nghĩ đến chuyện
khác, không dám nghĩ đến cái chết, không dám nghĩ đến sự thật.
Mẹ
cố ngủ. Đầu óc trống rỗng. Mẹ bắt đầu cảm thấy yên tĩnh. Sắp ngủ được rồi đây,
mẹ nghĩ bụng. Tốt nhất là ngủ cho ngon. Đúng vào lúc sắp quên hết bỗng một cái
gì bật ra, kéo mẹ lại, và cái đó chỉ có thể gọi là thật. Mẹ vùng dậy. Nằm thức
trên giường, mọi thứ lại yên. Một con ruồi đậu trên má mẹ, xoa tay xoa chân, bắt
đầu thăm dò. Nó chạy qua mắt mẹ còn đang mở, mẹ muốn chớp mắt để đuổi nó đi
nhưng không chớp được. Bằng con mắt vừa là của mẹ vừa không phải của mẹ, mẹ
nhìn con ruồi. Phải nói là nó đang liếm môi. Mẹ không thể nhận ra bộ mặt của những
cơ quan trên mình nó động đậy. Nhưng nó đang ở trên người và đang chạy qua người
mẹ. Nó là sinh vật của thế giới khác.
Đã
hai giờ chiều. Mẹ nằm trên ghế dài, hoặc trên giường, cố nhấc đít vì chỗ ấy đau
hơn cả. Mẹ tưởng tượng đến Esther Williams, đến những cô gái mũm mĩm mặc áo tắm
loè loẹt, thoải mái bơi ngửa nhìn trời xanh, vỗ nước hát, nghĩ đến những cây
đàn ghita vô hình bật dây phần phật, nghĩ đến miệng các cô gái, hình vòng cung
tròn trặn, đỏ chót. Họ đang hát gì thế nhỉ. Hoàng hôn…từ biệt…Tahiti. Bỗng mẹ
thấy thèm muốn được coi lại Savoy xưa, mua vé bằng tiền xu nay được đem nấu chảy
chỉ còn vài đồng trong ngăn kéo, một mặt khắc hình George VI, ông vua tốt bụng
hay nói lắp, còn mặt kia có đôi chim họa mi. Chim hoạ mi. Mẹ chưa từng nghe họa
mi bao giờ, và sẽ không bao giờ được nghe nữa. Mẹ ôm ấp sự ham muốn, nỗi tiếc
thương, nhà vua, các cô gái bơi, ôm ấp bất cứ gì đến với mẹ.
Mẹ
ngồi dậy mở ti vi. Một kênh có bóng đá. Kênh khác có một người da đen đặt tay
lên quyển Kinh Thánh, cầu nguyện cho mẹ bằng thứ ngôn ngữ gì chẳng rõ. Một cánh
cửa mẹ mở cho thế giới tràn vào, thế giới ấy sẽ đến với mẹ. Nhìn qua cánh cửa
như nhìn vào đường ống vậy.
Ba
năm trước có một vụ trộm (mẹ đã viết trong thư, chắc con còn nhớ). Bọn trộm chỉ
lấy những gì chúng có thể mang đi được. Trước khi bỏ đi chúng lục lọi các ngăn
kéo, lật đệm giường, đập vỡ cốc chén chai lọ, vứt các bát đĩa đựng thức ăn ra đầy
nhà.
Mẹ
ngạc nhiên hỏi viên thám tử “Tại sao chúng phải làm thế? Làm thế thì chúng được
cái gì?”
Anh
ta đáp “Chúng nó là thế. Bọn thú vật!”
Sau
vụ đó mẹ cho lắp song sắt lên cửa sổ. Một người Ấn độ béo phục phịch đến lắp.
Sau khi bắt vít và đặt song sắt lên khung cửa, anh ta đổ keo lên đầu đinh và giải
thích “Làm thế chúng không tháo ra được” Lúc ra về anh ta còn đập vào tay mẹ
nói “Bây giờ bà đã an toàn rồi”.
“Bây
giờ bà an toàn rồi”. Y như lời của người coi vườn thú mỗi tối khóa cửa để bảo vệ
chim đô đô không cất cánh và vô tích sự. Con đô đô cuối cùng già yếu, quá thời
đẻ trứng. “Bây giờ bà an toàn rồi”. Con đô đô bị nhốt chặt trong khi bọn tìm mồi
vẫn rình rập bên ngoài. Con đô đô quang quác trong tổ, chỉ ngủ một mắt mệt mỏi
chờ đến sáng. Nhưng nó được an toàn trong lồng, không ai đụng đến song sắt, dây
điện. Còn có điện thoại để gọi cấp cứu khi cần, còn dây cáp truyền hình để tiếp
nhận ánh sáng của thế giới bên ngoài, còn ăng ten để nghe tiếng nhạc từ các vì
sao dội đến.
Truyền
hình. Tại sao mẹ lại xem truyền hình? Khi nào cũng vậy, chỉ thấy cuộc diễu hành
của các vị chính trị. Nhìn những khuôn mặt bệ vệ, trơ tráo, đã quen từ thưở bé,
mẹ cảm thấy tối sầm, muốn nôn mửa. Đó là bọn con trai xưa kia toàn ngồi cuối lớp,
mặt mày vênh váo, ngu ngốc, nay lớn lên đề bạt thành những người cai trị đất nước.
Chúng và cha mẹ, cô cậu, anh chị chúng, đều là một lũ châu chấu ma, mắc dịch,
trải khắp nước, chỉ biết ngấu nghiến nuốt chửng cuộc sống mọi người. Nhưng sao
mẹ lại xem chúng trên ti vi dù biết là khủng khiếp, đáng căm ghét? Sao mẹ lại
cho chúng vào nhà? Vì chế độ cai trị của họ hàng châu chấu ma ấy là sự thật ở
Nam Phi, một sự thật khiến mẹ muốn nôn mửa. Chúng không bận tâm đến bất chấp hợp
pháp. Chúng vứt bỏ hết lý trí, cho là không quan trọng. Điều hấp dẫn đối với
chúng là quyền lực, và vô ý thức của quyền lực. Chúng phè phỡn, nói như nuốt
tươi cuộc sống, rồi ợ chua. Chúng là những bọn thú biết nói. Chúng ngồi với
nhau một chỗ, tranh luận sự việc và ra nghị định như những nhát búa: chết này,
chết này, chết này. Chúng không sợ mùi hôi thối. Mắt chúng híp như mắt lợn,
chúng mang trong người cái ranh ma của những thế hệ nông dân. Chúng còn tìm
cách hại nhau nữa. Chúng lấy dần những mảnh đất mà nông dân phải mấy chục năm mới
làm ra được. Đó là bọn Phi châu mới, bụng ỏng, cằm bạnh, ngồi ghế cơ quan, những
Cetshwayo, những Dingane da trắng. Chúng mang sức nặng của quyền lực ấn xuống.
Những hòn dái to tướng của chúng ấn xuống vợ con, ấn cho tóe lửa. Trái tim của
chúng không còn một tia lửa nào. Trái tim chúng nặng nề, chậm chạp, như những
chiếc bánh đúc làm bằng máu.
Thông
điệp của chúng không thay đổi. Rất ngu ngốc, mãi mãi vẫn ngu ngốc. Sau nhiều
năm ngẫm nghĩ về từ nguyên, chúng đạt được chiến công, đó là những sự ngu ngốc
lên trình độ của đức tính. Chúng gây sợ hãi, tước bỏ cảm giác, bắt câm miệng, bắt
chết, chúng gây kinh ngạc làm cho bất tỉnh. Từ sợ hãi đi đến mất cảm giác, thờ
ơ, lãnh đạm. Ngu ngốc làm năng lực trở thành đờ đẫn, bàng quan, không suy nghĩ,
không cảm thấy gì. Từ sợ hãi đến choáng váng, sững sờ. Từ ngu ngốc đến choáng
váng, ngạc nhiên, biến thành đá. Thông điệp của chúng là không bao giờ thay đổi.
Thông điệp của chúng biến con người thành đá.
Mẹ
cùng anh ta ngồi xem ti vi nhưng chẳng khác gì con chim giương mắt nhìn con rắn,
bị con rắn mê hoặc sắp nuốt chửng. Mê hoặc là tỏ lòng tôn kính cái chết. Vào
quãng tám chín giờ, mọi người tề tựu xem chuyến phô diễn, y như cuộc diễu hành
của các giám mục trong chiến tranh Franco vậy. Chúng nghiên cứu các hiện tượng
để chứng minh cho mọi người thấy cái chết như thế nào. Cái chết muôn năm! Chúng
kêu gào đe doạ. Phải giết chết bọn trẻ. Phải giết chết cuộc sống. Chúng là giống
lợn rừng chưa bị thiến, ăn sống nuốt tươi cả con cháu của chúng, biến thành cuộc
chiến của thú rừng.
Mẹ
tự nhủ đây không phải mẹ xem chúng nói đâu mà xem sự thật là thế nào đàng sau sự
dối trá đó. Nhưng làm gì có sự thật?
Mẹ
thiếp đi (đây là mẹ vẫn viết về chuyện hôm qua), rồi đọc sách, rồi lại thiếp
đi. Mẹ pha ấm trà, đặt đĩa hát lên máy. Từng nhịp một, biến tấu của Goldberg dựng
đứng trong không gian. Mẹ bước ra cửa sổ. Trời đã gần tối. Anh ta ngồi hút thuốc,
dựa lưng vào nhà đốm lửa lập loè ở đầu điếu thuốc. Có lẽ anh ta trông thấy mẹ,
có lẽ không. Cả hai nghe ngóng.
Lúc
này mẹ chắc anh ta cũng nghĩ anh ta đang chờ mẹ làm tình.
Tuy
ý nghĩ đó chợt đến và mẹ cảm thấy ghê tởm nhưng mẹ vẫn nghĩ, không e ngại. Anh
ta và mẹ đã dính vào nhau, mắt nhắm nghiền, cùng đi xuống con đường xưa. Không
phải như hai bạn đồng hành! Như người đi xe buýt ở vùng Sicily, mặt kề mặt,
thân kề thân với người xa lạ. Có lẽ đó là cuộc sống ở kiếp sau, không phải
trong hành lang với chiếc ghế bành và âm nhạc, nhưng là trên xe buýt đầy chật
người không biết nơi định đến và đi đâu. Xe chỉ đủ chỗ để đứng, đứng mãi mỏi
chân, ép mình với những người xa lạ. Không khí đặc quánh, nặng nề, toàn nghe tiếng
thở dài, lầm bầm, chửi rủa, xin lỗi. Da thịt tiếp xúc ồ ạt. Luôn nhìn vào mắt
nhau. Cuộc sống riêng tư thế là chấm dứt.
Anh
ta ngồi xổm trên sân, hút thuốc, nghe ngóng. Hai linh hồn, của anh ta, của mẹ,
quấn vào nhau, đê mê. Như côn trùng chụm đuôi vào nhau, hai đầu quay hai phía,
nằm im, nghe lồng ngực giật giật tưởng là đang thở. Hoàn toàn yên lặng, đê mê.
Anh
ta quẳng điếu thuốc. Tia lửa bắn toé khi điếu thuốc rơi xuống đất. Rồi lại tối
đen.
Mẹ
nghĩ đến ngôi nhà này. Thế giới này, ngôi này này, âm nhạc này, nghĩ đến tất cả.
Mẹ
nói “Đây là con gái tôi. Đứa con gái tôi đã nói với anh rồi. Nó đang sống ở Mỹ”.
Nhìn trong ảnh, anh ta thấy khuôn mặt con dễ thương, một thiếu phụ ngoài ba
mươi, nền sau lưng là cánh đồng xanh, con giơ tay giữ mớ tóc bay trong gió. Con
có vẻ tự tin. Đúng là bây giờ con đang như thế, con là một phụ nữ đã tìm thấy
chính mình.
-
Đây là những đứa con của vợ chồng nó.
Hai
cậu bé đội mũ, mặc áo, đi ủng, đeo găng và đứng bên người tuyết, chờ bấm máy ảnh.
Tạm
nghỉ. Mẹ cùng anh ta ngồi trong bếp. Mẹ dọn trà và bánh quy Marie để trước mặt
anh ta. Bánh quy Marie là thức ăn cho người già, những người không còn răng.
-
Có một chuyện tôi muốn anh làm giúp trước khi tôi chết. Tôi muốn gởi một số giấy
tờ cho con gái tôi. Nhưng chỉ gởi sau thôi. Việc này quan trọng, nhưng tôi
không tự đi gởi được. Tôi chuẩn bị mọi thứ, gói ghém, dán tem. Anh chỉ việc đem
gói đó giao cho quầy bưu điện. Anh giúp tôi được không?
Anh
ta quay người có vẻ không bằng lòng.
-
Nếu tôi làm được thì đã không nhờ anh giúp. Nhưng chả có cách nào khác, vì tôi
sẽ không còn sống nữa.
Anh
ta nói “Bà không nhờ ai khác được ư?”
-
Được chứ. Nhưng tôi chỉ yêu cầu anh thôi. Đây là những giấy tờ và thư riêng,
cho con gái tôi thừa kế, đó là tất cả những gì tôi có thể cho nó, tất cả những
gì tôi nhận từ đất nước này. Tôi không muốn bất cứ ai khác mở nó ra đọc.
Giấy
tờ riêng. Giấy tờ này, những lời này, hoặc con phải đọc ngay bây giờ nếu không
sẽ chẳng bao giờ đọc nữa. Liệu có đến tay con được không? Đã đến chưa? Hỏi để hỏi
mà thôi, vì mẹ biết sẽ chẳng bao giờ biết được câu trả lời. Với mẹ thì thư này
mãi mãi sẽ chỉ là những lời trong làn sóng, một thứ thông điệp trong chai có
dán tem Cộng hoà Nam Phi và đề tên con.
Anh
ta, người đưa tin, loay hoay chiếc thìa nói “Tôi cũng chả biết”.
Anh
ta không hứa. Mà dù có hứa thì cuối cùng anh ta cũng làm theo ý mình. Có dặn gì
đi nữa cũng không hiểu anh ta được, vì người chết không còn là người nữa. Quy
luật là như vậy. Mọi hợp đồng mất giá trị. Người chết không thể bị lừa, không
thể bị phản bội, trừ khi ta mang theo trong lòng và phạm tội ở đó.
Mẹ
nói “Không sao đâu. Tôi đã định yêu cầu anh đến đây ở và chăm sóc giùm đám mèo.
Để tôi thu xếp cách khác vậy”.
Thu
xếp cách nào khác? Ở Ai cập, họ chôn mèo theo chủ. Mẹ cũng muốn như thế sao? Muốn
thấy những đôi mắt vàng khè chạy đi chạy lại, tìm đường chui ra khỏi hầm tối
hay sao?
Mẹ
nói “Tôi sẽ bỏ chúng thôi. Chúng đã quá già, không cho đi đâu được”.
Trước
cảnh anh ta im lặng, những lời của mẹ chỉ như nước vỗ vào đá.
Mẹ
lại nói “Tôi phải làm gì cho chúng chứ, nhưng chẳng làm được gì hết. Ở vào địa
vị tôi, chắc anh cũng nghĩ thế”.
Anh
ta lắc đầu. Không phải thế. Đúng là không phải thế. Trước sau thì một đêm đông
nào đó, khi ngọn lửa nhân tạo trong mạch máu không còn đủ nóng để duy trì anh
ta nữa, anh ta sẽ chết. Anh ta sẽ chết ngoài cửa hay trên một lối đi, hai tay
khoanh trên ngực. Người ta sẽ tìm thấy anh ta cùng con chó này hay con chó khác
nằm bên cạnh kêu ư ử và liếm mặt. Người ta sẽ cho anh ta lên xe chở đi, bỏ lại
con chó trên phố, và thế là hết. Chẳng thu xếp gì, chẳng để lại gì, cũng chẳng
có lăng miếu gì hết.
Anh
ta nói “Để tôi đem cái gói của bà ra bưu điện”.
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét