Thời đại sắt đá (2) [Age of Iron] - J. M. Coetzee
2024-06-08
Thời
đại sắt đá (2) [Age of Iron]
J. M. Coetzee
(Giải
Nobel Văn học 2003)
Dịch giả: Anh Thư
Chương 2
Florence
đã về, không chỉ đem theo hai đứa con gái nhỏ mà cả Bheki, con trai mười lăm tuổi
nữa.
Tôi
nói “Florence, nó ở đây lâu không? Làm gì có chỗ cho nó?”
Florence
đáp “Nó không ở với tôi thì sẽ rắc rối. Chị tôi không trông được nó. Tình hình ở
Guguletu rất xấu”.
Vậy
là bây giờ tôi có năm người ở sân sau. Năm người, một con chó, hai con mèo. Gặp
trường hợp này, một bà già cô đơn chả biết làm thế nào.
Hồi
đầu tháng lúc Florence ra đi, tôi đảm bảo với cô là sẽ lo được việc nhà. Cố
nhiên tôi đã bỏ mặc hết. Chẳng bao lâu sau gian gác đầy mùi chua loét, chăn gối
bẩn thỉu, bột tan vãi khắp nơi. Bây giờ tôi xấu hổ nhìn cô đi xem xét các chỗ,
tay chống nẹ, mũi đánh hơi và nhìn tôi bất lực. Rồi cô ta ra tay dọn dẹp. Đến
cuối ngày nhà bếp và nhà tắm bóng lộn, phòng ngủ sạch sẽ ngăn nắp, bàn ghế thơm
mùi xi. Tôi nói chiếu lệ “Florence, thật là tuyệt. Không có cô tôi chả biết làm
thế nào”. Tất nhiên tôi biết chứ, nghĩa là tôi sẽ trở lại với cái tính bàng
quan trì trệ của tuổi già.
Xong
việc của tôi, Florence quay sang làm những việc riêng, đặt nồi súp lên bếp rồi
đem hai con gái nhỏ vào nhà tắm. Nhìn cô ta tắm cho chúng, lau mặt mũi chân tay
bằng những động tác mạnh mẽ, dứt khoát, mặc cho bọn trẻ kêu rên, tôi nghĩ bụng
người đàn bà này thật đáng khâm phục. Cũng may mà cô ta không phải mẹ tôi!
Tôi
ra gặp thằng bé đang thơ thẩn trên sân. Trước kia nó có tên là Digby, bây giờ
là Bheki. Tuổi nhỏ nhưng nó đã cao lớn, có cái nhìn nghiêm nghị như Florence.
Tôi nói “Không ngờ cháu đã lớn thế”. Nó không đáp. Nó không còn là đứa nhỏ tươi
cười như trước đây khi chạy ra chuồng thỏ ôm một con vào ngực. Chắc nó đang buồn
vì phải xa bạn và trốn về đi chơi với hai em nhỏ ở sân sau.
Tôi
hỏi Florence “Trường đóng cửa từ bao giờ?”
-
Từ tuần trước. Các trường ở Guguletu, Langu Nyanga đều đóng. Trẻ con chẳng biết
làm gì, chỉ dạo quanh gây sự ở các phố. Ở đây tôi còn trông được nó.
-
Không có bạn, nó càng sốt ruột.
Cô
ta nhún vai, không cười. Tôi chưa bao giờ thấy cô ta cười. Có lẽ chỉ ngồi riêng
với các con cô ta mới cười.
Florence
hỏi “Người này là ai thế?”
Tôi
nói “Anh ta tên là Vercueil. Vercueil, họ Verskeuil hay Verskuil gì đó. Thấy
anh ta bảo thế. Tôi chưa bao giờ nghe thấy tên đó. Tôi để anh ta ở đây ít lâu.
Anh ta có con chó. Bảo bọn trẻ nếu chơi với nó thì đừng đùa quá. Chó con dễ cắn
bậy lắm”.
Florence
lắc đầu.
Tôi
nói “Nếu anh ta gây rắc rối, tôi sẽ mời đi. Nhưng anh ta không làm gì bậy thì
không mời đi được”.
Một
ngày mát và có gió. Tôi mặc áo ngủ ngôi trên hiên. Dưới sân, Vercueil đang chữa
máy cắt cỏ. Bọn con gái đến xem. Đứa lớn, theo Florence nói, tên là Hope (chắc
cô ta không nói tên thật). Nó ngồi cách đó một quãng, hai tay kẹp vào đùi, anh
ta không nhìn nó. Nó đi đôi dép đỏ mới mua. Đứa bé, tên là Beauty, cũng đi dép
đỏ, lảng vảng gần sân cỏ, chân đá lung tung, thỉnh thoảng ngồi sụp xuống.
Tôi
nhìn con bé đi đến chỗ Vercueil, hai tay giang ra nắm chặt. Nó suýt ngã vào máy
nhưng anh ta túm được tay nó kéo ra. Nó loạng choạng, ngã vào người anh ta. Anh
ta lại lôi nó ra xa hơn. Như hai người đang đùa với nhau vậy. Chẳng lẽ anh
chàng Vercueil nghiêm túc cũng biết đùa?
Beauty
lại nhảy đến. Anh ta tránh. Bỗng anh ta đặt chiếc máy cắt cỏ đang tháo dở sang
bên, một tay nắm con bé, tay kia nắm được Hope, cả ba xoay tròn, chậm rồi nhanh
dần. Hope đi dép đỏ phải chạy theo đứa bé quay lơ lửng trên không và kêu lên
khoái chí. Con chó nhỏ sau cổng thấy thế cũng nhảy cỡn sủa ầm ĩ. Rất vui!
Vừa
lúc đó Florence xuất hiện, ba người đang quay dừng lại. Florence nói gì đó.
Hope bỏ tay Vercueil và kéo em ra ngoài. Hai đứa bỏ đi chỗ khác. Nghe cửa đóng
sầm. Con chó tiếc cảnh vui vừa rồi rít lên. Vercueil quay lại với máy cắt cỏ. Nửa
giờ sau, trời bắt đầu mưa.
Thằng
lớn, Bheki, ngồi trên giường Florence đang xem những tạp chí cũ. Góc phòng,
Hope nhìn nó cầu nguyện. Chán xem báo rồi, Bheki đi ra ngoài chơi ném bóng quần
vợt lên cửa nhà xe. Nghe tiếng bóng đập thình thình rất khó chịu. Tôi phải lấy
gối áp lên hai tai mà vẫn nghe thấy. Tôi bực mình lên tiếng hỏi “Bao giờ trường
mở lại?” Florence đáp “Để tôi bảo nó thôi đi”, một phút sau không còn tiếng
thình thình nữa.
Năm
ngoái, khi bắt đầu có những chuyện rắc rối ở trường, tôi nói với Florence “Vào
thời của tôi, con người coi giáo dục như một thứ đặc quyền. Cha mẹ phải tiết kiệm
lắm mới có tiền cho con cái đi học. Thế đó, ai nghĩ đến đốt trường là điên rồ”.
Florence
đáp “Thời nay khác rồi”.
-
Cô tán thành việc trẻ con đốt trường học ư?
Florence
nói “Không thể nào bảo chúng nó khác được đâu. Bây giờ mọi thứ đã thay đổi rồi.
Với chúng nó thì chẳng còn bố mẹ gì hết”.
Tôi
nói “Vô lý. Bao giờ mà chẳng có bố mẹ”. Chúng tôi nói đến đó rồi thôi.
Về
chuyện rắc rối ở các trường học, không thấy đài, ti vi hay báo chí đả động gì hết.
Ngoài kia người ta tính cho tất cả đám trẻ đất nước này được sung sướng ngồi
vào bàn học và dạy chúng về hình vuông cạnh huyền cùng loài vẹt ở rừng rậm
Amazone. Tôi biết được những sự kiện ở Guguletu là do Florence nói lại, hoặc đứng
ngoài hiên nhìn về phía đông bắc, cụ thể là hôm nay Guguletu không bị đốt, hoặc
nếu có cũng chỉ cháy tí chút thôi.
Đất
nước này đang cháy âm ỉ, nhưng dù với ý muốn tốt đẹp nhất thì tôi cũng chỉ quan
tâm phần nào thôi. Quan tâm thật sự của tôi đã hướng cả vào bên trong, mọi sự vật
và lời nói dành cho sự vật đang chạy khắp cơ thể. Một sự chiếm đóng nhục nhã,
đôi khi còn lố bịch nữa. Quần áo của ông chủ ngân hàng bị cháy thì người ta đem
chuyện ấy ra cười đùa, nhưng một kẻ ăn mày bị đốt chết thì chẳng ai nói đến.
Tôi không sao chịu nổi. Tôi muốn kêu to với Florence “Cô hãy nhìn tôi đây này!
Tôi cũng đang bị đốt chết đây!”
Tôi
luôn luôn cẩn thận với từng chữ của lời nói để không bị mắc kẹt. Mỗi khi đọc
sách, tôi nhảy dòng, thậm chí đôi khi nhảy cả đoạn, mắt lúng liếng chỉ muốn tìm
bóng dáng một chữ đang nấp kín ở đâu đó.
Trong
bóng tối, nằm đơn độc trên giường, ý muốn tìm ấy càng thôi thúc mạnh. Tôi cảm
thấy bị cuốn vào đó, tưởng mình như đứa trẻ mặc áo dài trắng, đội mũ rơm, đi
trên bãi cát mênh mông trống vắng. Chim bay quanh người. Tôi giữ chặt mũ, cắm
chân xuống đất đi ngược chiều gió. Lát sau, đến chỗ vắng không có ai nhìn mình,
tôi không phải cố nữa. Thư giãn, rồi như có một bàn tay đẩy sau lưng. Tôi nhẹ
người, không cưỡng lại. Lúc đó chỉ đi từ từ, rồi chạy, để cơn gió mang đi.
Đêm
đêm gió mang tôi tới Người lái buôn thành Venice. Shylock, anh chàng Do
thái lên tiếng “Chẳng phải tôi cũng ăn, ngủ và thở như bà đấy ư?” Anh vung lưỡi
gươm, đầu gươm dính mảnh thịt máu nhỏ ròng “Chẳng phải tôi cũng chảy máu như bà
đấy ư?” Anh chàng Do thái có bộ râu dài, đội mũ chóp, nhảy múa như điên trên
sân khấu.
Giả
thử có ai ở đây, tôi cũng khóc lên như thế. Nhưng không có ai. Không có ai thì
có Florence. Cô là người duy nhất phải chịu đựng những giờ phút mỗi khi nỗi sợ
hãi từ trong tôi phát ra thiêu cháy cả lá cây trên cành. Tôi muốn nghe những lời
thốt ra “Sẽ không sao đâu”. Tôi muốn được ai đó ôm vào ngực, Florence, hay bất
kỳ ai cũng được.
Đêm
qua nằm trên giường, kê gối dưới hông, tay đặt lên ngực để chỗ đau khỏi lan rộng,
đồng hồ chỉ 3 giờ. Rồi tôi nghĩ thèm được như Florence ngủ trong phòng, các con
nằm chung quanh, bốn mẹ con mỗi người ngủ một kỉêu, hơi thở vừa mạnh vừa trong
trẻo.
Tôi
nghĩ bụng, xưa kia mình đã có đủ mọi thứ. Bây giờ mọi người có đủ mọi thứ, còn
tôi chẳng có gì.
Bốn
mẹ con thở đều, không vấp váp, êm như tiếng quả lắc đồng hồ.
Tôi
gập đôi tờ giấy, viết cho Florence mấy chữ “Đêm hôm qua tôi không ngủ được. Tôi
sẽ dậy muộn. Cô bảo bọn trẻ yên lặng. Cám ơn cô. E.C.” Tôi xuống nhà và đặt mảnh
giấy ở bàn bếp. Rồi tôi run rẩy quay về giường nằm, uống viên thuốc lúc bốn giờ,
nhắm mắt. khoanh tay chờ ngủ mà vẫn không ngủ được.
Tôi
không thể có được những gì cần ở Florence. Những gì muốn cũng không thể có được.
Năm
ngoái, khi đứa bé mới ra đời, tôi đánh xe đưa Florence đến Brackenfell, nơi chồng
cô ta làm việc. Chắc cô ta tưởng tôi chỉ đưa đến đó rồi quay xe về. Nhưng tôi
tò mò, muốn nhìn mặt anh kia và xem vợ chồng họ gặp nhau ra sao, vì thế tôi
theo cô ta đi vào.
Hôm
ấy đã là cuối chiều thứ bảy. Từ chỗ đậu xe, chúng tôi theo con đường đất khá
dài, qua vài dẫy nhà lụp sụp, đến một chỗ có người mặc bộ đồ lao động đang đứng
sau lưới thép, quanh chân anh ta có đám gà con đang tìm ăn. Hope, đứa con gái,
vùng chạy lên bám tay vào lưới thép. Anh chàng kia và Florence chỉ cần nhìn
nhau là đủ.
Chẳng
ai có thì giờ chào hỏi. Anh ta, William, chồng Florence, đang làm một thứ việc
không thể dừng tay. Việc anh ta là tóm lấy một con gà, dốc ngược và kẹp nó vào
hai đầu gối, lấy sợi dây thép nhỏ vào chân rồi chuyển cho người thứ hai, trẻ tuổi
hơn, cậu ta treo con gà lên móc, con gà đập cánh, kêu quang quác, móc nằm trong
dây chuyền đưa con gà vào nhà nơi có người thứ ba mặc quần áo dầu, người đầy
móc đứng sẵn nắm đầu con gà, kéo dài cổ và chặt một nhát bằng con dao nhỏ rồi
quẳng đầu nó vào chiếc thùng đựng đầu gà để gần đó.
Việc
của William là thế. Nhìn cảnh ấy tôi nghĩ thầm nếu biết như thế đã chẳng dám
xem. Anh ta làm việc ấy cả sáu ngày trong tuần. Chỉ có mỗi việc buộc chân gà.
Hoặc anh ta lần lượt thay chân người khác, treo lên móc, chặt cổ gà. Việc đó mỗi
tháng kiếm được một trăm rand, cộng thêm các bữa ăn. Một việc anh ta đã
làm mười lăm năm. Cho nên không thể không sợ rằng mấy con gà được tôi nhồi bánh
mì, sữa tươi, hành tỏi, ít ra cũng đã bị kẹp trong đầu gối anh chỗ này, bố những
đứa con của Florence. Từ năm giờ sáng lúc tôi còn đang ngủ, anh ta đã phải dậy
để nước rửa các gầm chuồng, đổ thức ăn vào máng, quét dọn, rồi ăn sáng xong là
bắt đầu mổ giết, nhổ lông, rửa ráy ướp lạnh, đóng gói hàng nghìn đầu và chân
gà, hàng trăm thước ruột gà, hàng núi lông gà.
Nhìn
cảnh đó lẽ ra tôi bỏ đi ngay, phóng xe về nhà để cố quên đi tất cả. Nhưng tôi vẫn
đứng lại bên ngoài lưới thép, mê mải nhìn ba người xử lý cái chết của giống con
chim không biết bay nữa. Con bé đứng bên ngoài ngón tay móc vào lưới, cũng nhìn
một cách say mê. Giết và chết rất khó mà cũng rất dễ thế đấy.
Đến
năm giờ là cuối ngày, tôi phải tạm biệt. Trong lúc tôi đánh xe về ngôi nhà trống
vắng, William đưa Florence và các con về chỗ họ. Anh ta tắm rửa, cô ta đổ gạo
vào nồi nấu cháo gà bằng bếp dầu, rồi cho con cái ăn. Hôm đó là thứ Bảy. Một số
công nhân ở các nơi khác đến thăm viếng lẫn nhau hoặc giải trí. Florence và
William đã có thể cho bọn trẻ ngủ ở chiếc giường chung rồi hai người đi dạo lúc
trời tối còn ấm áp.
Họ
đi dọc lề đường, kể lại cho nhau nghe những gì xảy ra tuần trước, kể về đời sống
của mỗi người.
Lúc
họ về bọn trẻ đã ngủ say. Họ treo trước giường một tấm chăn cho được kín đáo. Rồi
hai người có cả đêm dành cho nhau, cả đêm trừ một nửa giờ Florence phải bỏ ra
ngoài cho con bú trong bóng tối.
Sáng
chủ nhật – William – không phải tên thật, chỉ là do người ta biết đến ở chỗ làm
việc thôi – mặc quần và đội mũ, đi đôi giày tử tế. Anh ta cùng Florence ra bến
xe buýt, cô ta cõng đứa bé, còn anh ta dắt Hope. Họ đi xe buýt đến Luilsrivier,
rồi ngồi taxi về nhà cô chị ở Guguletu là nơi họ gửi thằng con trai.
Đã
quá mười giờ và bắt đầu nóng nực. Lễ nhà thờ kết thúc. Phòng khách đầy người
thăm, nói chuyện ầm ĩ. Một lúc sau, đám đàn ông ra về. Đã đến lúc Florence giúp
cô chị nấu ăn. Hope nằm lăn ra sàn ngủ. Một con chó ở đâu chạy vào liếm nước nó
bị đuổi đi, con bé vẫn còn ngủ khi nó được bế đặt lên ghế dài. Lúc vắng người,
Florence đưa cho cô chị số tiền ăn uống, giày dép, sách vở mua cho thằng Bheki,
cô chị cất tiền vào trong người. Rồi Bheki xuất hiện chào mẹ. Đám đàn ông khi
nãy không biết đi đâu bây giờ quay lại. Họ ăn trưa, ăn gà của trại hoặc nhà máy
hoặc cơ sở nào chả biết, ăn với cơm, bắp cải và nước sốt. Các bạn Bheki đứng
bên ngoài gọi vào. Nó ăn vội rồi đứng lên bỏ đi.
Mọi
chuyện đã diễn ra và phải diễn ra như thế. Một buổi chiều bình thường ở Châu
Phi, thời tiết xậm đen, ngày giờ mệt mỏi. Hầu như có thể nói rằng cuộc sống nhất
định phải như thế.
Đã
đến lúc mọi người phải ra về. Họ lại đi bộ đến trạm xe buýt. Lần này Hope ngồi
lên vai bố. Xe buýt đến. Họ chia tay. Xe buýt chở Florence và hai con đến
Mowbray, từ đây đi xe buýt khác về phố The George, rồi lại sang xe thứ ba về phố
Kloof. Từ Kloof, họ đi bộ. Về đến phố Schoonder, bóng chiều trải dài trên đường.
Lúc này Hope đã mệt. Florence phải cho nó ăn tối, phải tắm cho đứa nhỏ, rồi phải
giặt cho xong đống quần áo còn để lại từ hôm trước.
Ít
ra thì anh ta cũng không giết trâu bò. Tôi tự nhủ, anh ta chỉ giết gà thôi, những
con gà có đôi mắt ngơ ngác và mang ảo tưởng là mình quan trọng. Đầu óc tôi đã
không sao rời khỏi trại gà, nhà máy, doanh nghiệp, nơi anh chồng của người đàn
bà sống bên tôi đang làm việc ngày ngày đi đi lại lại, đi tới đi lui, đi ra đi
vào, giữa cái mùi của máu và lông gà, giữa những tiếng quàng quạc ghê sợ, hết
ngửng lên lại cúi xuống, rồi tóm rồi buộc, rồi treo. Trong khi ngồi nhìn ra
ngoài cửa sổ, tôi nghĩ đến tất cả đàn ông trên mảnh đất Nam Phi này giết gà,
đào đất, chở hết xe này đến xe khác, nghĩ đến tất cả những người đàn bà hái
trái và khâu lỗ khuy. Liệu có bao giờ và ai đó đếm hết được những con người, những
xẻng đất, những trái táo, những lỗ khuy, những con gà ấy? Cả một gầm máy lao động,
cả một gầm trời đo đếm, y như suốt ngày ngồi nhìn đồng hồ, cứ thấy mỗi giây xuất
hiện là giết, là làm cho cuộc sống của mình mất đi.
Từ
khi Vercueil có tiền của tôi, anh ta uống rượu lu bù, không chỉ uống vang mà
còn uống brandy nữa. Có ngày anh ta nhịn đến tận trưa, để lúc uống sẽ thấy
chất rượu càng hấp dẫn hơn. Nhiều khi quá say, anh ta bỏ nhà đi từ giữa sáng.
Hôm
nay không nắng lắm, anh ta chỉ đi một lúc là quay về. Tôi đang ở trên gác hiên,
anh ta không trông thấy, ra sân ngồi tựa lưng vào tường, con chó nằm ngay bên cạnh.
Thằng con trai của Florence cũng đang ở đó với một thằng bạn tôi chưa gặp bao
giờ. Hope thì chăm chú theo dõi chúng. Chúng mở chiếc radio nhỏ, tiếng nói lạo
xạo kêu bùng bùng, nghe khó chịu hơn cả tiếng đập của bóng quần vợt.
Vercueil
gọi hai đứa “Nước, đem nước tới đây”.
Thằng
bạn Bheki bước đến ngồi cạnh anh ta. Tôi không nghe rõ hai người trao đổi những
gì. Thằng bạn chìa tay nói “Đưa đây”.
Vercueil
khẽ đập vào tay nó.
-
Đưa đây cho tôi – nó quỳ xuống móc cái gì đó trong túi của Vercueil.
Vercueil
chống lại một cách yếu ớt.
Thằng
bé mở nắp chai đổ hết rượu brandy ra đất. Rồi quăng chai sang một bên.
Chai vỡ. Tôi suýt nữa kêu lên: làm gì ngu thế!
Thằng
bé nói “Người ta đang biến anh thành một con chó đấy! Anh muốn làm chó hay sao?”
Con
chó của Vercueil kêu ăng ẳng.
Vercueil
líu lưỡi “Cút đi”.
Thằng
bé nói “Đồ chó! Đồ nát rượu!”
Nó
quay lưng lại đi về phía Bheki, dáng khệnh khạng. Tôi nghĩ thằng bé này làm ra
vẻ quan trọng và đó cũng là cách cư xử của những người bảo vệ cuộc đời, tôi cầu
mong Chúa đừng cho ta gặp phải những người như vậy.
Con
bé đến ngửi chỗ rượu đổ và nhăn mũi.
Vercueil
xua tay nói “Cả mày cũng cút đi”. Con bé không động đậy, nhưng rồi nó quay người
chạy thẳng về phòng mẹ.
Tiếng
nhạc vẫn vang lên. Vercueil lăn ra ngủ ở ngay vách tường, con chó ngả vào đầu gối
anh ta. Tôi quay đi tiếp tục đọc sách. Một lúc sau mặt trời chui vào đám mây.
Không khí lạnh dần. Bắt đầu có mưa phùn. Con chó rũ người chạy vào lán củi.
Vercueil cũng đứng dậy vào theo. Tôi thu gọn đồ đạc.
Trong
lán củi bỗng có chuyện. Trước hết con chó chạy ùa ra ngoài, quay đầu lại sủa,
sau đến Vercueil. Rồi hai thằng bé theo ra. Thằng bạn Bheki đứng gần, Vercueil
giơ cạnh tay đánh mạnh một nhát vào gáy nó. Thằng bé lặng người ngạc nhiên và
rít lên một tiếng. Tôi đứng trên hiên cũng nghe rõ. Nó đánh lại, Vercueil lảo đảo
suýt ngã. Con chó chạy chung quanh sủa vang. Thằng bé lại đánh Vercueil nhát nữa,
lần này cả Bheki cũng tham gia. Tôi hét bọn trẻ “Thôi ngay đi!” Chúng chẳng
thèm nghe. Vercueil nằm dưới đất. Chúng đá anh ta. Bheki rút dây lưng quất. Tôi
gọi to “Florence! Bảo chúng nó thôi đi!” Vercueil đưa tay lên che mặt chống đỡ.
Con chó nhảy vào Bheki. Bheki đá lui con chó, tiếp tục cầm dây lưng quất
Vercueil. Tay nắm chắc thành hiên, tôi quát nữa “Thôi ngay đi không tao báo cảnh
sát!”
Rồi
Florence xuất hiện. Cô ta hét ầm lên, bọn trẻ lùi lại. Vercueil cố ngồi dậy.
Tôi đi thật nhanh xuống dưới.
Tôi
hỏi Florence “Thằng bé này là ai thế?”
Đang
nói gì với Bheki, cô ta ngừng lại nhìn tôi, tôi không ưa cái kiểu nhìn của cô
ta, hống hách và bắng nhắng.
Florence
đáp “Nó là bạn học ở trường”.
Tôi
bảo “Nó phải về nhà đi. Thế này là quá lắm không chịu được. Sân sau nhà tôi
không phải là chỗ đánh nhau, làm ầm ĩ, không phải chỗ cho người lạ ra vào”.
Có
máu chảy ở miệng Vercueil. Kể cũng lạ, mặt sần sùi thế mà cũng có máu. Trông
như mật ong trộn với tro vậy.
Florence
nói “Nó không phải người lạ. Nó đến chơi thôi”.
Bheki
nói “Phải có giấy phép mới đến được ư?” Nó và thằng bạn nhìn nhau. “Chúng tôi
phải có giấy phép ư?” Chúng chờ tôi đáp, vẻ thách thức. Chiếc radio vẫn phát một
thứ tiếng gì không phải tiếng người, nghe rất mệt. Tôi chỉ muốn giơ tay lên
bưng lấy tai.
Tôi
nói “Tôi không nói giấy phép. Nhưng các cậu có quyền gì mà đến đây đánh người
này. Người này đang ở đây. Đây là nhà anh ta”.
Mũi
Florence phập phồng.
Tôi
quay lại nói với cô ta “Phải, anh ta sống ở đây. Và đây cũng là nhà anh ta”.
Florence
nói “Anh ta sống ở đây nhưng là đồ bỏ đi, đồ vô tích sự”.
-
Juis moer! – Vercueil nói. Anh ta nhấc mũ ra, tay cầm vào vành mũ, rồi
giơ lên như muốn đánh cô ta – Juis moer! (Đúng là điên rồ! Tiếng Afrikaans)
Bheki
giằng lấy mũ ném lên nóc nhà xe. Con chó sủa ầm ĩ. Chiếc mũ lăn dần xuống dốc
mái.
Tôi
nhỏ giọng nói riêng với Florence “Anh ta không phải là đồ bỏ đi. Không có ai là
bỏ đi hết. Chúng ta đều là người với nhau cả”.
Nhưng
Florence không thích nghe giảng giải. Cô ta nói “Đồ vô tích sự còn uống rượu.
Suốt ngày chỉ uống rượu. Tôi không thích anh ta ở đây”.
Có
phải anh ta vô tích sự thật không? Có lẽ đúng thế. Vô tích sự là một thành ngữ
cổ của nước Anh, đến nay ít nghe ai nói.
Tôi
bảo “Anh ta làm liên lạc cho tôi”.
Florence
nhìn tôi vẻ hoài nghi.
Tôi
nói “Anh ta giúp tôi gởi thư”.
Cô
ta nhún vai. Vercueil cầm lấy mũ rồi cùng con chó thờ thẫn đi ra. Tôi nghe tiếng
anh ta cài then cổng. Tôi nói “Bảo bọn trẻ đừng động đến anh ta. Anh ta chẳng
làm gì hại ai hết”.
Như
con mèo già bị đám mèo đực mới lớn đuổi cắn Vercueil lánh về một chỗ kín để chữa
trị vết thương. Tôi hình dung trước cái cảnh mình sẽ như một bà già đi tìm con
mèo, đến các công viên khẽ gọi “Ông Vercueil! Ông Vercueil!”.
Florence
thì tự hào ra mặt vì việc Bheki tống khứ được anh chàng vô tích sự, nhưng cô ta
đoán hễ trời mưa là thế nào anh ta cũng quay lại. Còn tôi, tôi đoán rằng anh ta
không về chừng nào mấy thằng bé kia còn ở đây. Tôi bảo Florence “Cô làm thế thì
Bheki và đứa bạn của nó tưởng có thể giơ tay đánh người lớn mà không bị trừng
phạt. Đó là sai lầm. Dù cô nghĩ thế nào đi nữa. Vercueil cũng là bậc huynh trưởng
của chúng nó!”.
-
Cô càng nhân nhượng, chúng càng hỗn láo. Cô bảo là khâm phục thế hệ con trai của
cô vì chúng nó chẳng sợ gì hết. Cô hãy coi chừng, lúc đầu chúng nó có thể bất
chấp chuyện sống của bản thân chúng, nhưng rồi sau cùng chúng sẽ bất chấp cả cuộc
sống của mọi người khác. Cô khâm phục chúng như thế là không hay đâu.
-
Tôi cứ nghĩ mãi về những gì cô nói hôm trước. Cô bảo là thời buổi này chẳng còn
cha mẹ gì nữa. Tôi không thể tin đó là cô nói thật. Không có cha mẹ thì con cái
làm sao lớn lên được. Có những việc đốt phá, giết chóc, những hành động nhẫn
tâm, kể cả việc chặn đánh ông Vercueil vừa rồi. Thử hỏi ai có lỗi? Tất nhiên là
cha mẹ có lỗi, vì họ bảo con cái “Chúng mày muốn làm gì thì tùy, bây giờ chúng
mày đã lớn rồi. Bố mẹ thôi, không bảo được nữa”. Thực ra có đứa con nào muốn
nghe cha mẹ nói thế? Nó sẽ bỏ đi với tâm trạng hoang mang, nghĩ bụng “Bây giờ
mình chẳng còn cha mẹ nữa. Thà cha mẹ chết đi cho xong”. Cô rũ bỏ trách nhiệm với
chúng là đẩy chúng vào chỗ chết đấy.
Florence
lắc đầu dứt khoát “Không đâu”.
“Cô
nhớ năm ngoái cô nói gì khi thấy việc phi lý xảy ra trên phố không? Cô bảo cô “trông
thấy một bà bị chúng đốt, bà ta kêu cứu nhưng đám trẻ cứ đứng đó cười, không những
thế chúng còn đổ thêm dầu vào bà ta nữa”. Chính cô nói “trông thấy những cảnh
như thế tôi làm sao mà sống được”.
Phải,
đúng là tôi nói thế. Nhưng ai đã biến chúng thành kẻ ác độc như vậy? Chính bọn
da trắng đã biến chúng thành độc ác! Đúng thế đấy! – Cô ta thở dài, buồn bã.
Chúng tôi đang ngồi trong bếp. Cô ta đang ủi quần áo, cầm bàn ủi nhấn mạnh xuống.
Cô ta ngước nhìn tôi, tôi khẽ nắm lấy tay cô ta. Cô ta nhấc bàn ủi lên, để lại
trên mặt vải một miếng cháy xém.
Không
tình thương, tôi nghĩ bụng. Đây là một cuộc sống không tình thương, không giới
hạn. Một cuộc sống xứng đáng nhưng đã bỏ lỡ.
Tôi
khẽ nói tiếp “Một ngày kia chúng lớn lên, cô tưởng chúng không còn ác độc nữa
sao? Chúng sẽ trở thành cha mẹ như thế nào nếu người ta bảo là cái ác của cha mẹ
đã qua rồi? Liệu có thể tái tạo được cha mẹ không khi ý tưởng về cha mẹ trong
lòng ta đã bị phá huỷ? Chúng đấm đá đánh đập anh ta chỉ vì anh ta uống rượu.
Chúng đốt chết người ta mà còn đứng đó cười. Vậy chúng sẽ đối xử với con cái
chúng như thế nào? Liệu chúng còn có thể yêu thương được nữa không? Trong con mắt
ta, trái tim chúng đã biến thành đá, vậy cô bảo sao? Cô sẽ bảo “nó không phải
là con tôi, nó là con người da trắng, nó là quỷ do người da trắng tạo nên”. Có
phải cô chỉ biết nói thế thôi? Cô đổ hết tội cho người da trắng là xong chứ gì?”
Florence
nói “Không, không đúng. Tôi không để mặc các con tôi”. Cô ta vội gấp khăn lại. “Chúng
nó là những đứa con ngoan. Chúng sắt đá lắm. Tôi tự hào về chúng”. Cô ta trải mấy
chiếc áo gối lên mặt bàn. Tôi chờ cô ta nói tiếp nhưng không thấy nói gì thêm nữa.
Cô ta không quan tâm đến việc tranh luận với tôi.
Tôi
suy nghĩ về những đứa trẻ được gọi là sắt đá ấy. Bản thân của Florence đâu phải
là sắt đá? Cái tuổi sắt đá. Sau đó là tuổi đồng chắc? Bao lâu nữa thì cái tuổi
mềm yếu sẽ trở lại chu kỳ của nó, trở lại tuổi đất sét, tuổi trái đất. Một bà mẹ
khắc khổ, có trái tim sắt đá, đẻ những đứa con là chiến binh của dân tộc? “Tôi
tự hào về chúng”, cô ta nói thế để tự che đậy cho mình hay che đậy cho chúng?
Còn
tôi? Trái tim của tôi ở đâu trong tất cả những chuyện này? Đứa con duy nhất của
tôi đang ở xa đây hàng ngàn dặm, sống an toàn. Tôi sẽ trở thành tro bụi, và tôi
còn thiết gì nữa khi tuổi trẻ đang bị khinh rẻ, khi bọn chúng ở trường bảo nhau
chớ bao giờ cười, chớ bao giờ khóc, mà chỉ giơ nắm đấm như giơ búa? Phải chăng
thời này không đúng lúc của nó, cái thời chui lên từ lòng đất, thời bị khinh rẻ,
vô lý? Nhưng rút cuộc thì cái gì sinh ra tôi sắt đá nếu không phải đó là tuổi của
đá hoa cương? Chẳng phải ta đã có những voortrekkers (tiếng Afrikaans: “người
tiên phong”, “người tìm đường”), những thế hệ voortrekkers nối tiếp, những
lớp trẻ Phi Châu nghiêm nghị, cứng rắn, hành quân hát những bài ca yêu nước,
chào cờ và nguyện chết cho tổ quốc đó sao? Ons sal lewe, ons sal sterwe. (tiếng
Afrikaans: Chúng ta sẽ sống, chúng ta sẽ chết) Chẳng phải vẫn còn những tên da
trắng cuồng tín thuyết giáo cho chế độ cũ, chế độ kỷ luật, lao động, bảo thủ,
hy sinh, chết chóc, dạy cho những trẻ còn quá nhỏ để buộc dây giày cho chúng đó
sao? Từ đầu đến cuối chỉ là cơn ác mộng! Tinh thần Geneva chiến thắng ở Châu
Phi. Calvin khoác áo dài đen, tỉnh khô, thản nhiên xoa tay hài lòng với hậu thế,
miệng cười lạnh lùng. Calvin chiến thắng, tái sinh trong bọn giáo điều và bọn
săn lùng kẻ ngoại đạo ở cả hai phía. Bỏ được tất cả những cái đó phía sau lưng
thì may mắn biết chừng nào!
Thằng
bạn Bheki đến bằng chiếc xe đạp màu đỏ, bánh to màu xanh nhạt. Đêm qua trước
lúc đi ngủ tôi còn trông thấy chiếc xe ngoài sân, bóng loáng dưới ánh trăng.
Bây giờ sáng nay nhìn ra ngoài cửa sổ, chiếc xe vẫn còn đó. Tôi uống vài viên
thuốc buổi sáng rồi ngủ thêm vài giờ nữa. Tôi mơ thấy mình bị mắc kẹt trong đám
đông. Người ta đẩy tôi, đánh tôi, chửi tôi bằng những lời doạ dẫm bậy bạ tôi
không sao hiểu được. Tôi đánh lại nhưng tay tôi như tay trẻ con, chỉ đánh phù
phù như đánh hơi.
Có
tiếng ai nói to làm tôi tỉnh dậy. Tiếng của Florence với người nào đó. Tôi rung
chuông gọi, rung một lần, hai lần, ba lần, bốn lần. Cuối cùng Florence mới đến.
-
Florence, ai ở ngoài ấy thế?
Florence
nhặt chiếc vỏ chăn dưới đất, gấp lại để dưới chân giường rồi trả lời:
-
Chẳng có ai đâu.
-
Đêm qua thằng bạn của con cô có ở lại đây không?
-
Có. Đêm tối nó không dám về bằng xe đạp, nguy hiểm lắm.
-
Vậy nó ngủ ở đâu?
Florence
nghĩ ngợi. “Ở nhà xe. Bheki với nó ngủ trong nhà xe”.
-
Làm sao chúng vào nhà xe được?
-
Chúng mở cửa sổ.
-
Trước khi làm thế, sao chúng không hỏi tôi?
Florence
im lặng nhặt chiếc khay.
-
Florence này, thằng bé đó định ở lại nhà xe ư? Chúng ngủ trong xe của tôi hay
sao?
Florence
lắc đầu. “Tôi cũng chả biết. Bà phải hỏi chúng”.
Bữa
trưa, chiếc xe đạp vẫn còn đó. Hai thằng ấy đi đâu không rõ. Tôi ra hộp thư thấy
có chiếc xe cảnh sát màu vàng đỗ bên kia đường, trong xe có hai người mặc đồng
phục, người ngồi phía bên này đang ngủ, áp mặt vào cửa kính.
Tôi
ra hiệu cho người ngồi sau tay lái. Xe nổ máy, người đang ngủ bật dậy, chiếc xe
trèo lên hè rồi quay vòng đến chỗ tôi đứng.
Tôi
tưởng họ bước ra ngoài xe nhưng họ vẫn ngồi im không nói gì, chờ tôi lên tiếng.
Một làn gió lạnh phía tây bắc thổi đến. Tôi kéo áo che cổ. Radio trong xe lạo xạo.
“Vier-drie-agt” (tiếng Afrikaans: 4-3-8), tiếng một người đàn bà nói. Họ không
để ý. Họ còn trẻ, mặc bộ đồ xanh.
Tôi
hỏi “Tôi có thể giúp được gì? Các anh chờ ai chăng?”
Bà
có thể giúp được gì ư? Tôi cũng chả biết. Bà cứ nói xem, bà có thể giúp chúng
tôi được gì?
Tôi
nghĩ bụng, vào cái thời của tôi, cảnh sát nói năng với phụ nữ rất lễ phép chứ
đâu có thế. Vào cái thời của tôi, trẻ con không đến trường học. Vào cái thời của
tôi ngày nay câu đó chỉ còn thấy trong những bức thư gởi đến toà báo. Các cụ rất
giận dữ, chỉ biết đặt bút viết câu đó, coi như vũ khí cuối cùng. Bây giờ thì “vào
cái thời của tôi” đã hết rồi. Nó đã trở thành quá khứ trong cuộc sống.
-
Nếu các anh định tìm hai thằng đó thì tôi xin nói là chúng đã được tôi cho phép
ở đây rồi.
-
Bà bảo hai thằng nào?
-
Hai thằng đến đây chơi chứ ai. Chúng là học sinh ở Guguletu.
Tiếng
đài trong xe kêu òng ọc.
-
Không đâu bà ơi. Tôi chả biết thằng nào ở Guguletu hết. Bà muốn chúng tôi tìm hộ
bà ư?
Họ
nhìn nhau như có ý trêu chọc. Tôi nắm tay nắm cửa xe. Áo để hở, gió lạnh lùa
vào cổ, vào ngực. Tôi nói bằng giọng khinh khỉnh “Vào cái thời của tôi cảnh sát
không nói với phụ nữ như thế đâu”. Rồi tôi quay lưng đi vào.
Phía
sau, đài trong xe lại quang quác như con gà mái. Có lẽ họ cố tình tạo ra thế.
Tôi không thèm để ý. Một giờ sau, chiếc xe màu vàng ấy vẫn còn đỗ ngoài cổng.
Tôi
bảo Florence “Thật tình tôi muốn cô đuổi thằng bé ấy về nhà. Nó sẽ gây rắc rối
cho thằng con cô đấy”.
Florence
đáp “Tôi không đuổi nó về được. Nếu nó đi thì Bheki cũng đi theo. Chúng nó là
thế”. Cô ta chụm hai ngón tay giơ lên trời “Chúng nó ở đây an toàn hơn. Ở
Guguletu luôn có chuyện rắc rối. Cảnh sát bất ngờ ập đến, bắn lung tung”.
Chúng
bắn ở Guguletu sao? Florence biết thế ư? Cô ta biết cả những chuyện cách đây
hàng ngàn dặm. Còn tôi chả biết gì hết. Những tin tức tôi nhận được đâu có nói
gì về những chuyện rắc rối, bắn giết. Đất nước này, theo tôi biết, chỉ có những
người láng giềng sống với nhau vui vẻ.
-
Nếu chúng về đây trốn tránh những vụ đánh nhau thì cảnh sát đuổi theo chúng làm
gì chứ?
Florence
thở dài. Từ khi đẻ đứa nhỏ, hình như trong lòng cô ta chứa chất điều gì bất
mãn. Cô ta nói “Thừa bà, xin bà đừng hỏi tôi. Tại sao cảnh sát đuổi theo bọn
nó, tại sao họ bắn và bỏ chúng vào tù? Xin bà đừng hỏi tôi nữa”.
Tôi
nói “Thôi được, tôi không hỏi nữa. Nhưng tôi không muốn nhà này của tôi biến
thành chỗ cho những kẻ chạy trốn khỏi thành phố về trú ngụ”.
Florence
dướn người, vặn lại “Nhưng tại sao không được chứ? Tại sao không được chứ?”
Tôi
mở vòi nước nóng, cởi quần áo, cố ngồi vào bồn tắm ngâm mình xuống nước. Tại
sao không được? Tôi cúi đầu, tóc rũ xuống đầy mặt, chạm vào nước. Những đường
gân xanh ở chân tôi nổi lên, trông như những chiếc que. Một bà già ốm đau, xấu
xí, cố bám lấy những gì còn lại. Một người bức xúc với cái chết đang đến từ từ,
càng muốn sống. Cảnh tượng chẳng thú vị chút nào. Có lẽ cũng sắp kết thúc rồi.
Nhà
tắm không có chuông, tôi lên tiếng gọi “Florence!” Chỉ có âm thanh dội lại từ
những đường ống trên trần và bức tường trắng. Khó mà tưởng tượng Florence nghe
thấy tiếng tôi gọi. Nếu nghe được, sao cô ta không vào?
Mẹ
yêu quý, tôi thầm nghĩ, mẹ nhìn con đây này, mẹ giơ tay ra đi!
Tôi
rùng mình từ đầu đến chân. Tôi nhắm mắt và nhìn thấy mẹ tôi như bà vẫn thường
xuất hiện trong tấm áo của người già, che kín mặt.
Tôi
khẽ nói “Mẹ hãy đến đây với con!”.
Nhưng
bà không đến. Bà giang rộng đôi tay như cánh diều hâu và bay thẳng lên trời. Bà
bay cao mãi, cao mãi. Lên đến tầng mây, xuyên qua mây, và bay mãi. Càng lên cao
càng trông bà trẻ ra. Tóc bà đen lại, làn da tươi tắn. Những mảnh áo cũ như lá
khô rơi khỏi người bà, để lộ tấm áo xanh có lông chim ở lỗ khuy bà thường mặc
như tôi nhớ từ hồi nhỏ, từ cái thời thế giới còn trẻ và mọi thứ đều muốn gì có
nấy.
Bà
cứ bay hoài, bay trong sự hoàn thiện vĩnh cửu của tuổi trẻ, không thay đổi, vẫn
cười, vẫn khoan khoái, quên hết mọi thứ và bay vào vòng đai quả cầu tròn của
thiên đường. “Mẹ ơi nhìn con này!” tôi chỉ nói nhỏ trong căn phòng tắm trống rỗng.
Năm
nay mưa sớm. Đã mưa đến tháng thứ tư. Sờ tay vào tường là có ngay vệt ẩm. Có những
chỗ vôi vữa rơi rụng và quần áo tôi có mùi đăng đắng của nấm mốc. Tôi lại thèm
được mặc đồ lót khô ráo có mùi của nắng, chỉ có thế thôi! Hãy cho tôi được một
lần nữa đi dạo trên lối đi vào chiều hè, giữa đám trẻ có làn da bánh mật vừa ở
trường về, cười nói rộn ràng. Người chúng toả mùi mồ hôi thanh thoát của tuổi
trẻ, giữa những cô gái mỗi năm mỗi đẹp thêm, đẹp nữa. Nếu không ước như vậy thì
những gì trước đây còn, sẽ còn mãi, chẳng bao giờ hết, từ đáy lòng tôi hàm ơn
đã được ban cho một chút diệu kỳ trong thế giới của những điều kỳ diệu này.
Tôi
ngồi trên giường viết những dòng này, đầu gối tôi khép chặt chống lại cái lạnh
tháng Tám. Hàm ơn: tôi viết chữ ấy và đọc đi đọc lại. Nghĩa là thế nào nhỉ?
Trong mắt tôi, những chữ ấy dầy đặc, tối đen, bí ẩn. Rồi có một cái gì đó xảy đến.
Tim tôi từ từ mở bung ra, như trái lựu mở đôi bộc lộ những hạt nhỏ tình yêu.
Hàm ơn và trái lựu là hai tiếng chị em.
Sáu
giờ sáng nay, mưa to làm tôi thức dậy. Mưa xối xả chảy tràn bờ máng đã khô cứng,
thấm vào mái ngói đã nứt nẻ. Tôi xuống nhà, pha ấm trà, quấn chăn vào người, ngồi
xem những hóa đơn trong tháng.
Có
tiếng cạch ngoài cổng và bước chân đi vào. Một bóng người cúi lom khom trùm bao
nhựa đen chợt hiện bên cửa sổ.
Tôi
ra ngoài hiên lên tiếng gọi trong làn mưa nặng nề “Ông Vercueil!” Không ai trả
lời. Tôi rụt vai, khép áo ngủ, bước ra ngoài mưa. Đôi dép viền lông cừu ướt
sũng. Tôi lội nước qua sân. Ở lối vào lán củi, tôi vấp phải một người. Vercueil
đang đứng đó, quay lưng về phía tôi. Anh ta lên tiếng chửi thề.
Tôi
quát “Vào trong kia! Vào nhà đi! Không đứng đây được!”
Anh
ta vẫn trùm bao nhựa, theo tôi vào bếp. Tôi bảo “Bỏ cái đồ ướt ấy bên ngoài”.
Tôi giật mình thấy có một người nữa theo sau. Một người đàn bà, nhỏ bé đứng đến
vai tôi, nhưng đã già, hoặc ít ra là không trẻ, bộ mặt tinh khôn, da dẻ nhợt nhạt.
Tôi
hỏi “Ai thế này?”
Vercueil
quay nhìn tôi, đôi mắt vàng khè, thách thức. Tôi thầm mắng anh ta: đồ chó!
Tôi
lạnh lùng nói “Các người chờ hết mưa rồi đi đi” rồi tôi quay lưng không nhìn họ
nữa.
Tôi
về phòng thay quần áo, khóa cửa, đem sách ra đọc. Tôi buồn ngủ nên chữ nghĩa cứ
nhảy đi đâu mất như lá rụng. Mắt tôi díp lại, quyển sách rời khỏi bàn tay lúc
nào không biết.
Lúc
tỉnh dậy tôi nghĩ ngay đến việc đuổi họ ra khỏi nhà.
Không
thấy người đàn bà kia đâu, nhưng Vercueil đã ở trong phòng khách, nằm cuộn tròn
trên ghế dài, tay để đầu gối, đầu vẫn còn đội nón. Tôi lay anh ta. Anh ta thức
giấc, liếm môi, ậm ừ ngái ngủ. Tôi chợt nhớ đến hình ảnh y như thế của con gái
tôi mỗi sáng gọi nó dậy đi học. “Đến giờ rồi!” Gọi xong tôi kéo màn cửa, tắt
đèn nghe con lầm bầm trong miệng. “Dậy đi con yêu của mẹ, đến giờ rồi!” Tôi nói
khẽ vào tai con, chưa vội giục giã để tôi còn ngồi vuốt tóc nó, những ngón tay
tôi chứa đựng tình yêu, trong khi nó còn cố nằm lại. Cứ nằm mãi như thế đi! Tôi
đặt tay lên đầu con gái. Dòng sữa tình yêu qua tay tôi chạy sang người nó.
Bây
giờ tiếng lẩm bẩm ngái ngủ dễ thương của nó được thể hiện ở cổ họng của người
đàn ông này đây! Tôi có nên ngồi xuống bên cạnh, nhấc mũ và vuốt mớ tóc bạc của
anh ta không? Tôi bỗng rùng mình ghê tởm. Yêu thương một đứa trẻ sao mà dễ thế,
nhưng yêu một đứa trẻ đã trở thành một cái gì khác thì sao mà khó thế! Xưa kia
anh ta đã từng bưng tai, nhắm mắt, đê mê trôi nổi trên bụng một người đàn bà
như để hút máu. Anh ta cũng đã qua cửa rộng bước ra ánh sáng bên ngoài, biết thế
nào là tình yêu của người mẹ, amor matris (tiếng Afrikaans: ma trận tình
yêu). Rồi với thời gian, anh ta héo hắt đi chỉ còn một mình, khô cằn, còi cọc,
rúm ró, sống khổ, sống đơn chiếc, thiếu thốn như mọi cuộc sống trong trường hợp
này còn thiếu dinh dưỡng hơn bao nhiêu người khác. Một con người ở tuổi trung
niên còn mút chai, còn thèm khát được chiều chuộng nhưng còn cố hoảng hốt đạt
được đến chỗ đó.
Trong
khi tôi đứng nhìn anh ta, người đàn bà bước vào phòng. Chị ta không thèm nhìn
tôi, loạng choạng rơi mình xuống đống gối trên sàn. Chị ta có mùi nước hoa. Nước
hoa của tôi. Florence bước vào với vẻ giận dữ.
Tôi
nói “Florence, cô đừng yêu cầu tôi giải thích. Cứ để mặc họ. Họ ngủ để quên đi
chuyện gì đó”.
Đôi
mắt kính của Florence lấp lánh. Cô ta định nói gì nhưng tôi ngăn lại. “Cứ để mặc
ho. Cô yên tâm. Họ không ở lại đây đâu”.
Tuy
tôi đã giật nước nhiều lần, thứ mùi kinh tởm trong nhà vệ sinh vẫn không bay đi
hết. Tôi quẳng chăn chiếu ra ngoài mưa.
Sau
đó lúc bọn trẻ ngồi ăn sáng trong bếp với Florence, tôi lại xuống nhà. Không cần
rào đón, tôi nói thẳng với Bheki:
-
Tôi nghe nói cậu và bạn của cậu ngủ trong nhà xe của tôi. Tại sao cậu không xin
phép tôi?
Bheki
im lặng, không nhìn lên. Florence tiếp tục nướng bánh.
-
Tại sao các cậu không xin phép tôi? Trả lời đi!
Đứa
con gái nhỏ ngừng nhai bánh, chằm chằm nhìn tôi.
Tại
sao tôi lại đối xử lố bịch như thế nhỉ? Vì tôi đang tức. Có thể tôi đang mệt mỏi
vì bị người khác lợi dụng. Vì chúng ngủ trong xe tôi. Xe và nhà là của tôi. Tôi
đã lẫn đâu chứ.
May
mà lúc đó Vercueil xuất hiện, không khí đỡ căng thẳng. Anh ta đi qua bếp ra
ngoài hiên, không nhìn ngang nhìn ngửa. Tôi theo ra. Con chó thích thú nhảy
câng câng. Nó nhảy cả vào người tôi, chân nó ướt nên làm bẩn chiếc váy. Không
ai muốn trách mắng một con chó.
Tôi
bảo anh ta “Anh hãy bảo bạn anh đi đi”.
Anh
ta không đáp, mắt nhìn bầu trời đầy mây.
Tôi
bực mình quát “Anh hãy bảo chị ta đi ngay! Không tôi đuổi đấy!”
Anh
ta vẫn lờ đi.
Tôi
gọi Florence “Cô giúp tôi với”.
Người
đàn bà nằm úp mặt xuống đống gối, mép chảy dãi. Florence đưa tay kéo. Chị ta uể
oải đứng dậy. Florence nửa dắt nửa đẩy, thúc chị ta ra ngoài. Vercueil bước
theo. Tôi mắng “Thế này thì quá lắm!”
Hai
thằng kia đem xe đạp đi. Chúng làm như không biết có chuyện gì ở đây, phóng xe
ra phố Schoonder, Bheki ngồi lom khom trên thanh ngang còn bạn nó đạp.
Người
đàn bà kia lè nhè văng bậy, chửi Florence bằng một lô một lốc những lời tục
tĩu. Florence ranh mãnh nhìn tôi nói “Đó cũng là đồ bỏ đi!”
Tôi
bảo Vercueil “Tôi không muốn thấy mặt người đàn bà này nữa”.
Chiếc
xe đạp của hai đứa xuất hiện ở đầu phố Schoonder, phóng về phía này. Thằng bạn
Bheki cúi đầu đạp. Chiếc xe cảnh sát màu vàng hôm qua chạy theo sau.
Góc
phố đang có nhiều chiếc xe tải nhỏ đỗ ở đó. Xe chở đường ống, gậy và vật tư chữa
ống nước. Cạnh xe có một khoảng nhỏ đủ cho xe đạp lách qua. Nhưng lúc đó chiếc
xe màu vàng phóng đến chỗ hai đứa, một cánh cửa bỗng bật mở quật vào chúng. Chiếc
xe đạp mất tay lái rơi ra. Tôi nhìn thấy rõ Bheki lăn xuống, tay ôm đầu, chân
thằng kia còn dính vào bàn đạp, nó chỉ biết giơ tay lên che mặt. Giữa tiếng xe
cộ ồn ào ở phố Mill, tôi còn nghe thấy cả tiếng thân người đập xuống đất đánh
huỵch, kèm theo tiếng kêu “A” thật to khi chiếc xe đạp văng vào xe tải. Tôi
thét lên “Trời đất ơi!” không nhận ra giọng của mình nữa. Thời gian như ngừng lại
rồi tiếp tục trôi. Trong khoảnh khắc ấy, một đứa giơ tay chống đỡ khỏi lăn xuống
cống. Tiếng tôi thét vọng ra tận góc Schoonder trong buổi sáng yên lành của một
ngày bình thường, vừa lúc chiếc xe màu vàng cũng rẽ ngoặt ở góc đường.
Một
con chó như chó săn ở đâu chạy đến. Con chó của Vercueil ra ngửi. Con kia không
đếm xỉa gì đến nó, lè lưỡi liếm hè đường. Tôi muốn đến gần nhưng không cử động
được. Người tôi lạnh toát, chân tay bủn rủn, chợt nghĩ mình sắp ngất tuy cả đời
tôi chưa bao giờ ngất. Tôi lại nghĩ đất nước này ngất thì có! Lạy Chúa đất nước
này đâu còn nữa!
Cửa
mở, một người mặc quần áo lao động màu xanh xuất hiện. Anh ta đá con chó săn một
phát, nó giật bắn mình rồi bỏ chạy. Anh ta thốt lên “Giêsu!” rồi cúi người xuống
thằng bé đang bị mắc vào khung xe đạp.
Tôi
run rẩy bước đến gọi “Florence!” Không thấy cô ta đâu.
Người
kia nhấc xe đạp để qua một bên. Bheki đang nằm dưới thằng bé kia. Mặt nó nhăn
nhó, nhắm mắt, liếm môi. Con chó của Vercueil định đến liếm nó. Tôi khẽ doạ nó “Cút
đi!” đưa chân đẩy nó ra. Con chó lại vẫy đuôi.
Cạnh
tôi bỗng có một chị nữa. Chị ta lau tay hỏi “Những đứa trẻ này bán báo hả?
Chúng là trẻ bán báo, có phải không?” Tôi lắc đầu.
Người
đàn ông mặc đồ xanh ngồi dạng chân trên đầu hai đứa, vẻ như băn khoăn thế nào
đó. Tôi nghĩ anh ta nên nhấc đứa đang nằm sấp đè lên Bheki. Nhưng anh ta không
làm thế. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao. Nhìn kiểu thằng bé nằm tôi thấy có cái gì
không tự nhiên.
Người
đàn bà nói “Để tôi đi gọi xe cứu thương”.
Tôi
cúi xuống nhấc cánh tay thằng bé. Anh ta nói vội “Khoan đã! Cẩn thận đấy!”
Tôi
đứng thẳng dậy, đầu óc choáng váng, phải nhắm mắt lại.
Anh
ta luồn tay dưới vai thằng bé nâng nó ra khỏi Bheki rồi đặt nó xuống hè đường.
Bheki mở mắt.
Tôi
gọi “Bheki!” Nó lặng lẽ nhìn tôi, không nói gì cả. Tôi bảo “Không sao hết”. Nó
nhìn tôi biết tôi nói dối nhưng kệ. Tôi lại bảo “Xe cứu thương sắp đến”.
Florence
đã có mặt. Cô ta quỳ bên con khẽ vỗ vào đầu, cuống quýt hỏi. Nó lẩm bẩm vài
câu. Cô ta ngừng tay nghe nó nói. Tôi giải thích “Chúng nó đâm vào xe tải”. Người
mặc áo xanh nói “Đó là xe tải của tôi”. Tôi nói “Cảnh sát đẩy chúng nó vào. Thật
kinh tởm. Họ đúng là hai viên cảnh sát đã ở đây hôm qua”.
Florence
luồn một tay nâng đầu Bheki. Nó từ từ ngồi dậy. Một chiếc giày bị văng đi, một
chỗ ở quần rách toang, thấm máu. Nó nhăn mặt gỡ chỗ rách ở vết thương. Bàn tay
nó cũng toác, vài chỗ bóc da. Tôi nói “Xe cứu thương sắp đến rồi”. Florence nói
“Không cần xe cứu thương”.
Cô
ta nhầm. Lúc này thằng bé kia đã lật ngửa. Người thợ chữa nước cởi áo bịt dòng
máu đang chảy trên mặt nó. Máu vẫn tiếp tục chảy. Nhấc áo lên thấy mặt nó bị
toác một miếng như bị dao hàng thịt chém. Máu tràn xuống mắt thằng bé. Tóc nó
dính đầy máu bóng nhẫy. Máu nhỏ cả xuống hè đường, bắn ra khắp nơi. Tôi chưa
bao giờ thấy máu có thể đen và đặc như vậy. Tôi nghĩ tim nó rất khoẻ nên mới
tuôn ra nhiều máu thế.
Anh
thợ chữa nước hỏi “Xe cứu thương có đến không? Tôi không làm sao cầm được máu”.
Anh ta toát mồ hôi, xoay đủ kiểu ngồi. Giày của anh ta cũng lõng bõng những
máu.
Tôi
chợt nhớ hồi con mười một tuổi, lúc cắt bánh bị dao cứa đứt ngón tay cái. Mẹ vội
đưa con đến phòng cấp cứu ở Groote Schuur. Hai mẹ con ngồi chờ đến phiên phải lấy
vải buộc chặt ngón tay để cầm máu. Con chỉ hỏi mẹ “Con có sao không?” Mẹ khẽ
đáp “Họ sẽ chữa và khâu tay cho con. Chỉ mấy mũi khâu thôi, đau một tí thôi”.
Hôm
ấy vào chiều thứ Bảy, nhưng bệnh nhân vẫn rất đông. Thấy có một người đi giày
trắng, mặc đồ lớn, cứ khạc máu vào đĩa. Rồi một thanh niên nằm thẳng, phanh ngực,
cởi thắt lưng, ôm một bọc vải thấm máu trên bụng. Máu chảy ra sàn, ra ghế. Một
tí máu nhỏ nhoi ở ngón tay của con thấm gì đâu so với đống máu nơi ấy? Chỉ mất
vài giọt trong kho máu của con mà cũng là của mẹ đó thôi. Đất nước này có thiếu
gì máu chảy. Chồng Florence mặc áo dầu đeo ủng lội trong máu đấy. Những con bò
đem ra chém đứt cổ cũng phun máu như cá voi phun nước đấy. Mảnh đất khô ráo này
lõng bõng những máu của các sinh vật đấy thôi, đất nước này đã uống hàng sông
máu mà có bao giờ thấy chán đâu.
Tôi
bảo anh thợ chữa nước “Để tôi”. Anh ta tránh ra. Tôi quỳ xuống nhấc cái áo sũng
máu để sang bên. Máu tràn xuống mặt mũi thằng bé. Tôi lấy ngón cái và ngón trỏ
kẹp chặt chỗ vết thương bị toác. Con chó của Vercueil lại mò đến. Tôi gắt “Đuổi
nó đi!” Anh thợ chữa nước đá nó một phát. Nó kêu ăng ẳng bỏ chạy. Vercueil đâu ấy
nhỉ? Có đúng là anh ta vô tích sự không? Tôi bảo anh thợ chữa nước “Anh gọi điện
thoại nữa đi”.
Ngón
tay tôi kẹp chặt cũng cầm được khá nhiều máu. Chỉ lỏng tay một lúc là máu ộc
ra. Chỉ có máu, không có gì khác. Như máu của con và của mẹ. Chưa bao giờ tôi
thấy máu vừa đỏ lại vừa đen như thế. Có lẽ vì máu chảy trên làn da mềm mại của
tuổi trẻ như thế, mà trong tay tôi thì máu càng đậm và bóng hơn máu thường. Tôi
nhìn máu, vừa thấy lạ vừa thấy sợ, càng nhìn càng sợ. Nhưng không thể vì sợ mà
không làm gì để ngăn máu chảy. Tôi tự hỏi tại sao? Rồi tôi tự trả lời vì máu rất
quý, quý hơn cả vàng bạc kim cương, vì máu chỉ là một. Máu là cái ao chung được
phân ra cho cuộc sống riêng của mỗi chúng ta. Máu thuộc về thiên nhiên, chỉ cho
ta mượn, không cho hẳn, để ta giữ chung, tin cậy và bảo tồn nó, tưởng như máu
chảy trong chúng ta, tưởng thế thôi, nhưng sự thật là ta sống trong nó.
Một
biển máu đọng lại, phải chăng lúc tận thế là như vậy? Máu của tất cả. Như biển
Baikal vừa đỏ vừa đen dưới bầu trời xanh Siberi lạnh lẽo, như những tảng đá bao
quanh, như những bờ tuyết trắng đông đặc lại. Máu của toàn thể nhân loại chăng?
Không đâu. ở một chỗ khác, nơi đập nước ngăn bằng đất bùn, dây thép gai vây
quanh và mặt trời sáng chói, nhiều dân bản địa Châu Phi và những người lãnh đạo
họ đã dựng lại rất nhiều.
Máu
thiêng liêng bị khinh rẻ. Con, da thịt của da thịt mẹ, máu huyết của máu huyết
mẹ, mỗi tháng vẫn chảy ra trên đất nước người đó.
Đã
hai chục năm nay mẹ không ra máu nữa. Căn bệnh cắn nát người, người mẹ đã khô rồi,
không có máu, từ từ lạnh toát. Có cái gì đó mẹ không dám nghĩ đến. Mang trong bụng
những thứ lớn lên lạnh lùng bẩn thỉu ấy, mang mầm mống quá hạn tự nhiên ấy, mẹ
không thể chịu được, mẹ không thể thoả mãn cái đói của chúng, mỗi ngày những đứa
con trong bụng mẹ đòi ăn nhiều hơn, chúng không lớn mà chỉ to xác, mọc răng, mọc
nanh vuốt, mãi mãi thản nhiên đòi ăn. Chúng khô dần. Đêm đêm mẹ cảm thấy chúng
xoay mình trong thân hình khô héo của mẹ, chúng không duỗi chân đạp như đứa con
thật mà chúng đổi tư thế, tìm chỗ mới để gặm nhấm, như trứng côn trùng nằm
trong một cơ thể khác, lớn lên gặm dần cơ thể ấy một cách không thương tiếc. Trứng
lớn dần trong mẹ. Phải, là mẹ, của mẹ. Mẹ viết những dòng này mà rùng mình lo sợ,
nhưng đó là sự thật. Là cái trứng của những đứa con gái chị em với cuộc sống của
con gái mẹ. Ôi, thật đáng ghê sợ khi lòng người mẹ đi đến chỗ phải tự nhại
mình! Một bà già héo hắt khom lưng trên mình đứa trẻ, tay dính máu. Hình ảnh thật
xấu xa như trường hợp của tôi lúc này vậy. Tôi đã sống rất lâu. Chỉ còn cái chết
bị thiêu sống mới là cái chết xứng đáng. Bước vào lửa, cháy như ngọn đuốc, phút
cuối cùng cảm thấy những người chia sẻ với mình cũng hoảng sợ gào khóc, dùng giọng
nói cứng rắn ít khi dùng để được cháy và mất hẳn, được thoát nợ, rời bỏ thế giới
mà lòng nhẹ nhõm. Lớn lên quái gở, ra đời không đúng lúc, là dấu hiệu mình đã
quá thời. Đất nước này đang vậy. Đã đến lúc phải vứt nó vào lửa, phải chấm dứt,
phải cho nó mọc lên từ đống tro tàn.
Lúc
xe cứu thương đến, người tôi cứng đơ không nhấc chân lên được. Tôi vừa rời tay,
vết thương lại toác ra. Tôi bảo “Thằng bé mất nhiều máu lắm”. Người trên xe cứu
thương đáp gọn “Không nghiêm trọng”. Vạch mí mắt thằng bé, anh ta nói “Chấn
thương. Chuyện xảy ra thế nào?”
Bheki
ngồi ở giường, cởi quần, hai tay ngâm vào chậu nước. Florence quỳ trước mặt
băng bó chân cho nó.
Tại
sao cô bỏ tôi một mình để trông nó? Tại sao cô không ở lại giúp một tay?
Tôi
cự nự. Tất nhiên rồi, chẳng lẽ tôi không đúng lấy một lần ư?
Florence
đáp “Tôi không muốn dính đến cảnh sát”.
Vấn
đề không phải thế. Cô để tôi một mình chăm sóc thằng bạn của con cô. Tại sao
tôi phải là người chăm sóc cho nó chứ? Nó chẳng là cái gì đối với tôi hết.
Bheki
hỏi “Nó đâu rồi?”
“Nó
bị chấn thương. Họ mang nó đến bệnh viện Woodstock”
“Chấn
thương là thế nào?”
Nó
hôn mê. Nó bị đập vào đầu. Cậu biết tại sao bị như thế không?
Nó
đáp “Họ đẩy chúng tôi”.
Phải,
họ đẩy các cậu. Tôi trông thấy thế. May mà cậu còn sống đấy. Cả hai còn sống.
Tôi sẽ làm đơn kiện.
Bheki
và mẹ nó nhìn nhau. Florence nói lại “Chúng tôi không muốn dính đến cảnh sát.
Bà chả làm thế nào chống lại được cảnh sát đâu”. Hai mẹ con lại nhìn nhau và có
vẻ cùng đồng ý.
Nếu
không kiện thì họ sẽ tiếp tục đối xử như họ muốn. Dù không đi đến đâu cũng phải
chống lại, không chỉ nói riêng cảnh sát, tôi nói cả những người cầm quyền. Phải
cho họ thấy là ta không sợ. Chuyện này quan trọng. Bheki, họ có thể giết cậu đấy.
Mà họ chống cậu vì cái gì cơ chứ? Cậu và thằng bạn cậu đã làm gì?
Florence
thắt nút băng ở chân nó và rỉ tai nó, nó bỏ tay ra ngoài chậu. Mùi thuốc khử
trùng xông lên.
Tôi
hỏi “Có đau lắm không?”
Nó
lật ngửa bàn tay. Máu còn rỉ ở mảng vết thương. Những vết thương danh dự chăng?
Có thể xếp vào loại vết thương danh dự, vết thương chiến đấu được không? Nhìn
hai bàn tay chảy máu, tôi có cảm tưởng nó cố nén khóc. Nó chỉ là đứa trẻ thôi,
chỉ đi xe đạp thôi.
Tôi
nói “Thằng bạn cậu, có nên báo cho cha mẹ nó biết không?”
Florence
nói “Để tôi gọi điện”.
Florence
ra gọi điện. Cô ta nói to và nói lâu. Cô nhắc đến bệnh viện Woodstock.
Vài
giờ sau có người gọi qua điện thoại công cộng, một người đàn bà muốn gặp
Florence.
Florence
báo cáo lại “Nó không ở bệnh viện”.
Tôi
hỏi “Mẹ nó đấy à?”
“Bà
ngoại nó”.
Tôi
gọi cho bệnh viện Woodstock, tôi nói “Tôi có hỏi tên nó được đâu. Nó bị hôn mê
lúc họ đem nó đi”.
Người
kia đáp “Không có bệnh nhân nào có tên ấy”.
“Nó
bị một vết thương rất to ở trán”.
Người
kia nhắc lại “Không có”. Tôi bỏ máy.
Bheki
nói “Họ làm việc cho cảnh sát đấy. Xe cứu thương, bác sĩ, cảnh sát, tất cả đều
một giuộc”.
“Thế
thì vô lý” tôi nói.
Chẳng
ai tin vào xe cứu thương nữa đâu. Họ có bắt đài liên lạc với cảnh sát.
Vô
lý.
Nó
mỉm cười dễ thương, có vẻ như khoái với cơ hội lên lớp cho tôi, để tôi biết sự
thật ở đời thường là như thế nào. Tôi, một bà già sống cô đơn, không con cái,
chẳng còn biết gì. Nó bảo “Đúng thế đấy. Bà cứ nghe rồi sẽ biết”.
-
Tại sao cảnh sát lại đuổi theo các cậu?
-
Họ không đuổi theo tôi. Họ đuổi theo tất cả mọi người. Tôi chẳng làm gì hết.
Nhưng thấy bất cứ ai họ cũng cho đó là học sinh, tìm cách bắt bớ. Chúng tôi chẳng
làm gì hết. Chúng tôi chỉ bảo là không đi học vì họ đang tiến hành khủng bố
chúng tôi. Họ đúng là quân khủng bố.
-
Tại sao các cậu không chịu đi học?
-
Học để làm gì? Để chúng tôi thích hợp với chế độ apacthai ư?
Tôi
lắc đầu, quay sang Florence. Cô ta không che dấu một nụ cười. Con cô ta đúng.
Dù sao cũng mặc nó. Tôi bảo “Tôi đã quá già ốm với chuyện này rồi. Tôi không thể
tin là cô để con cô lang thang ngoài phố, chờ cho đến khi kết thúc chế độ
apacthai. Apacthai không thể chết ngay ngày mai hay ngày kia đâu. Nó làm thế chỉ
hại cho tương lai của nó thôi”.
Bheki
hỏi với giọng thách thức tôi, ra vẻ thắng thế “Phải tiêu diệt chế độ apacthai,
hay tôi phải đi học thì cái nào quan trọng hơn?”
Tôi
chán ngán trả lời “Không thể lựa chọn như thế”. Nhưng tôi có đúng không nhỉ? Nếu
không lựa chọn thế, thì lựa chọn cái gì đây? Tôi đề nghị “Hãy đưa cậu đến
Woodstock. Nếu đi phải đi ngay bây giờ”.
Trông
thấy Vercueil, Florence sững người. Nhưng tôi khăng khăng bảo “Phải để anh ta
đi cùng, đề phòng xe hỏng”.
Tôi
đánh xe cho tất cả đi Woodstock. Ngồi cạnh Vercueil mùi hôi hơn bao giờ hết,
cái mùi còn thảm khốc nữa. Florence và Bheki im lặng ngồi sau xe. Xe cố leo dốc
đến bệnh viện. Tôi vẫn còn tỉnh táo để đỗ xe và chúc mũi xuống đầu dốc.
Người
ở bàn thường trực nói “Tôi đã bảo không có người như thế ở đây. Không tin bà
vào xem bảng đi”.
Tôi
rất mệt nhưng lẽo đẽo đi theo Florence và Bheki qua các phòng nam. Đang giờ nghỉ
trưa. Chim bồ câu rù rì gọi nhau trên cây bên ngoài. Chúng tôi không thấy đứa
nào bị quấn băng trên đầu, chỉ có mấy ông già đang mặc đồ ngủ ngồi nhìn lên trần
nghe đài phát thanh. Tôi nghĩ bụng họ đều là anh em của tôi hết. Đây mới là chỗ
của tôi.
Tôi
ra quầy hỏi “Nếu họ không đem nó đến đây thì đem đi đâu?”
Thử
hỏi Groote Schuur xem.
Tôi
đỗ xe ở Groote Schuur đã kín đặc. Chúng tôi phải chờ nửa giờ ở cổng, xe vẫn để
nổ máy. Florence ngồi nói chuyện với con, Vercueil mở mắt trừng trừng, còn tôi
thì ngáp. Y như một ngày cuối tuần buồn ngủ ở Châu Phi vậy, y như đánh xe cho
gia đình đi chơi vậy. Chúng tôi có thể bày trò chơi chữ để giết thì giờ, nhưng
mời ba người này chơi thì họ biết gì? Chơi chữ là trò trước kia tôi thường chơi
một mình, nhớ lại lúc đó. Những người thuộc tầng lớp trung lưu chúng tôi, tầng
lớp sung túc, ngày Chủ nhật thường ra ngoại ô đến bờ biển có cảnh đẹp, chiều đến
uống trà với bánh ngọt, ăn dâu và kem, ngồi trong phòng trà nhìn ra phía tây chỗ
có cảnh biển.
Một
chiếc xe quay ra, có chỗ cho chúng tôi vào đậu. Vercueil nói “Tôi ngồi lại
ngoài này”.
Tôi
hỏi bàn thường trực “Người bị chấn thương ở đầu ở đâu?”
Chúng
tôi đi dọc hành lang đông người tìm đến tầng C-5, chui vào thang máy chật ních
với bốn phụ nữ Hồi giáo, trùm khăn, tay cầm đĩa thức ăn. Bheki thấy mình băng
bó nên giấu tay ra sau lưng. Qua C-5, đến C-6, vẫn không thấy thằng bé.
Florence giữ một cô y tá lại hỏi. Cô ta nói “Thử sang nhà mới xem”. Tôi mệt quá
lắc đầu nói “Tôi chịu, không đi được nữa, cô và Bheki cứ đi đi. Tôi đợi ngoài
xe”.
Đúng
là tôi rất mệt, hông đau, tim đập thình thịch, miệng đắng ngắt. Nhưng tôi chợt
nhìn ra thấy có rất nhiều người đau ốm. Họ làm tôi bực bội, sợ hãi. Đàn ông,
đàn bà, da đen, da trắng, họ đi lại trong hành lang nhìn nhau bằng những con mắt
ganh tị, họ nhìn tôi rất gần, cảm thấy từ người tôi phát ra mùi chết chóc. “Đồ
lừa đảo!” Hình như họ khẽ nói với tôi như thế, sắp sửa nắm lấy cánh tay tôi kéo
lại. “Bà tưởng có thể tiếp tục ở lại chỗ này được ư? Bà không biết thể lệ ư?
Đây là ngôi nhà của bóng tối, của đau khổ, phải qua đây trên đường đi đến chỗ
chết. Đây là chỗ tuyên án mọi người, là kỳ hạn ngồi tù trước khi bị hành quyết”.
Những con chó săn già đi tuần tiễu trong hành lang, chú ý không cho phạm nhân
nào chạy trốn lên trời, lên thế giới sáng sủa hưởng lộc trên kia. Chỗ này là địa
ngục, còn tôi là cái bóng đang trốn chạy. Bước qua cửa, tôi rùng mình lo sợ.
Chúng
tôi ngồi đợi ngoài xe, Vercueil và tôi, như một đôi đã lấy nhau quá lâu, lầm
lì, không thèm nói. Tôi nghĩ có lẽ mình đã quen với mùi hôi của anh ta và cùng
với Nam Phi tôi cũng cảm thấy thế, không biết chừng đã quen với mùi hôi của nó?
Hôn nhân là số phận, ta lấy nhau thế nào sẽ thành ra thế. Chúng tôi ở Nam Phi
thì sẽ trở thành người Nam Phi, xấu xí, tối tăm, lờ đờ, dấu hiệu duy nhất của sự
sống là những con chó răng nanh khi ta thoáng gặp. Nam Phi là con chó già xấu
tính nằm lim dim ở lối đi vào, chờ đến lúc thức dậy. Ai mà đặt một cái tên ngẫu
hứng cho một đất nước như thế. Ta hãy hy vọng họ sẽ đổi tên khi bắt đầu lại.
Một
tốp mấy cô y tá đi qua, cười nói vui vẻ. Họ vừa xong việc. Tôi nghĩ bụng mình vừa
thoát khỏi tay họ. Nhưng rồi tôi lại nghĩ giá được họ chăm sóc cho thì tốt hơn,
khăn trải giường sạch sẽ những bàn tay lanh lẹn xoa dịu khiến mình sẽ đỡ được
bao nhiêu vất vả. Nhưng tại sao tôi lại không chịu? Tôi cảm thấy nghẹn trong cổ,
nước mắt muốn tràn ra, tôi quay mặt đi chỗ khác. Tôi biết đó chỉ là cơn mưa
bóng mây, như thời tiết nước bốc hơi. Nhưng sự thật là càng lúc tôi càng dễ
khóc, càng dễ thẹn. Có lần tôi quen biết một người đàn bà (mẹ kể chuyện này được
chứ con?) rất dễ sướng trong lúc làm tình. Bà ta bảo cái sướng ấy chạy trong
người làm bà ta rùng mình liên tục như sóng cuộn. Tôi tự hỏi sao có thể sống với
một cơ thể như vậy được? Chẳng lẽ cái sướng ấy biến mình thành nước sao? Bây giờ
thì tôi đã có câu trả lời. Đó chỉ là một loạt những cảm giác của nước mắt, làm
cho mình loãng ra. Không phải nước mắt của đau đớn mà nước mắt buồn tủi, nỗi buồn
nhẹ nhàng, thoáng qua, như màu xanh, không xanh đậm, mà xanh nhạt của bầu trời
xa xăm, giống như những ngày đông vắng sương mù. Đó chỉ là những điều riêng, là
một lúc náo động trong cái ao của tâm hồn, điều mà tôi không còn bận tâm giấu
giếm nữa.
Tôi
lau nước mắt, khịt mũi. Tôi bảo Vercueil “Anh chẳng cần ngượng thay cho tôi.
Tôi khóc mà không có lý do gì. Tôi cám ơn anh đã cùng đi”.
Anh
ta nói “Tôi không hiểu bà cần tôi làm gì”.
-
Khó có thể cô đơn mãi được. Có vậy thôi. Tôi không chọn anh, nhưng anh đang có
mặt tại đây, và thế là đủ. Anh đã đến. Giống như tôi có đứa con vậy. Làm sao mà
chọn con được. Nó tự đến thôi.
Anh
ta nhìn ra xa mỉm cười ranh mãnh.
Tôi
nói “Vả lại, anh đã đẩy xe giúp tôi. Nếu không dùng xe được, tôi chỉ có việc nằm
kẹt ở nhà”.
-
Xe bà chỉ cần có bình ắc quy mới thôi.
-
Tôi không cần ắc quy mới. Anh không hiểu gì sao? Có cần giải thích không? Xe
này cũ rồi, nó thuộc về một thế giới hầu như không còn tồn tại nữa, nhưng mà nó
vẫn còn chạy được. Những gì còn lại của thế giới ấy, những gì còn chạy được,
tôi cố bám lấy. Tôi thích hay ghét cũng không quan trọng. Lạy Chúa, sự thật là
tôi thuộc về nó cũng chỉ như tôi thuộc về cái gì đã thành xưa cũ. Đây là một thế
giới trong đó xe cộ không thể tuỳ thuộc ở chỗ khi nào anh muốn chạy thì nó chạy.
Ở cái thế giới của tôi, anh phải thử bộ phận tự khởi động. Nếu nó không chạy,
anh phải thử bằng cách quay tay. Nếu nó vẫn nhất định không chạy thì phải có
người đẩy. Còn nếu xe đã không chạy thì anh phải ngồi xe đạp hoặc đi bộ về nhà.
Đó, sự vật là như thế trong cái thế giới mà tôi thuộc về nó. Ở đây tôi thấy dễ
chịu, vì nó là một thế giới tôi hiểu được. Tôi thấy không cần phải thay đổi gì
hết.
Vercueil
không nói gì hết.
Tôi
nói thêm “Còn nếu anh tưởng tôi là một loại hoá thạch của quá khứ, thì đã đến
lúc anh cũng nên tự hỏi lại mình. Anh đã thấy đấy, lớp trẻ thời nay nghĩ thế
nào về rượu chè, nằm vật vạ và mặc sự đời. Anh cứ đứng đấy. Ở nước Nam Phi
tương lai, mọi người đều phải làm việc, kể cả anh. Có thể anh không thích cái
triển vọng đó, nhưng anh nên chuẩn bị cho mình thì hơn”.
Chỗ
đỗ xe đã gần tối. Florence đâu nhỉ? Cái đau ở hông làm tôi mệt bã người. Đã quá
giờ tôi phải uống thuốc.
Tôi
nghĩ về ngôi nhà trống vắng, về đêm dài nằm ngủ. Tôi lại ứa nước mắt. Dễ khóc
thế đấy.
Tôi
nói “Tôi đã kể anh nghe về con gái của tôi ở Mỹ. Nó là tất cả đối với tôi. Tôi
chưa nói cho nó biết toàn bộ sự thật về tình trạng của tôi. Nó biết là tôi đau ốm,
biết là tôi đã được mổ, nó nghĩ là mổ thành công và tôi đã khá hơn. Ban đêm nằm
trên giường tôi nhìn vào cái hố đen ngòm tôi sẽ rơi xuống đó, chỉ có nghĩ đến
nó tôi mới giữ được tỉnh táo. Tôi tự nhủ, mình đã cho cuộc đời này một đứa con,
đã thấy nó trưởng thành, thấy nó được an toàn trong cuộc sống mới, điều tôi đã
làm ấy không bao giờ có thể lấy đi của tôi được. Ý nghĩ đó là chiếc gối cho tôi
bám chặt vào mỗi khi gặp giông tố”.
-
Có một nghi thức nhỏ thỉnh thoảng giúp tôi giữ được bình tĩnh. Tôi tự nhủ: ở
đây, bên này thế giới là hai giờ sáng, vậy là sáu giờ chiều ở bên nó. Thử tưởng
tượng đi, sáu giờ chiều. Tưởng tượng nữa, tưởng tượng đủ mọi thứ đi. Nó vừa đi
làm về, treo áo lên mắc, mở tủ lạnh lấy gói đậu, đổ đậu vào bát, rồi lấy hai củ
hành ra bóc. Hãy tưởng tượng những thứ đó đi, hãy tưởng tượng cái thế giới nó
đang làm việc ấy, thế giới của những mùi vị và âm thanh ấy. Hãy tưởng tượng một
buổi chiều hè ở Bắc Mỹ, đám ruồi bu ngoài cửa sổ, lũ con nít í ới gọi nhau
ngoài đường phố. Hãy tưởng tượng con gái tôi trong nhà, sống cuộc sống của nó,
tay cầm hành ở một đất nước nó sẽ sống và chết trong hoà bình. Thời gian trôi
đi, đất nước ấy cũng như đất nước này và cả thế giới, đều sống cùng một nhịp.
Hãy tưởng tượng những cái đó trôi đi như thế nào, trôi đi với nơi này sáng nơi
kia tối. Nó đi ngủ, nằm mơ màng, bên cạnh chồng trên chiếc giường cưới, ở một đất
nước thanh bình. Tôi nghĩ đến thân hình nó, vững vàng, sống thật thanh thoát.
Tôi thèm được ôm nó. Tôi muốn nói với nó tự đáy lòng “Mẹ cám ơn con”. Tôi cũng
muốn nói “Hãy cứu mẹ!” Nhưng không bao giờ nói được!
Anh
hiểu không? Anh hiểu không?
Cửa
xe mở. Vercueil nghiêng người ra xa, dựa đầu vào khung cửa, để một chân xuống đất.
Tôi nghe anh ta lẩm bẩm. Chắc anh ta mong Florence quay lại cứu, vì anh ta đã
chán chẳng muốn nghe những lời tôi rên rỉ, giọng đòi hỏi.
Tôi
vẫn nói “Có điều tôi chả bao giờ đòi hỏi một ai đó phải ôm lấy mình, an ủi
mình, cứu mình. An ủi với tình yêu phóng lên phía trước chứ không bao giờ quay
ngược lại, đó là quy luật, một quy luật sắt thép. Khi một người già bắt đầu
bênh vực cho tình yêu thì mọi thứ trở nên đe doạ. Bậc cha mẹ mà bò vào giường với
đứa con là không tự nhiên.
Thế
nhưng tự mình cắt đứt mọi sự đụng chạm ấy, cắt đứt tất cả những gì gắn bó ta với
cuộc sống, thì rất khó! Như một con tàu rời bến, những sợi dây buộc đứt rơi lả
tả, con tàu lên đường cho một chuyến đi rằng dài.
Người
thân cũng chia tay. Sao mà buồn thế! Lúc nãy nhìn thấy những cô y tá đi ngang
qua đây, tôi đã định ra khỏi xe nộp mình cho các cô ấy, nộp mình cho bệnh viện,
để họ cởi bỏ quần áo đặt tôi lên giường và dùng tay xoa bóp, tôi thèm muốn được
có bàn tay họ trên người, những bàn tay biết đụng chạm. Chẳng phải ta thuê những
người ấy, những cô gái ấy, những đứa trẻ ấy, để có được bàn tay của họ đụng chạm
và xoa bóp đấy ư? Nếu không thì bàn tay của họ sẽ héo đi và không còn đáng yêu
nữa. Ta đã đem ánh sáng đến cho họ và gọi họ là thiên thần, họ đến từ cõi chết
của đêm tối và bảo ta đã đến lúc ra đi. Có lẽ thế. Nhưng có lẽ cũng vì họ đưa
ra đổi mới một sự đụng chạm đã bị tan vỡ.
Vercueil
nói nhỏ nhẹ “Bà hãy nói điều đó với con gái bà. Nó sẽ đến”.
-
Không.
-
Bà nói ngay bây giờ đi. Bà gọi điện sang Mỹ nói với nó là bà cần nó ở đây.
-
Không.
-
Đừng để sau này mới nói. Vì lúc đó đã quá trễ. Nó sẽ không tha thứ cho bà đâu.
Phản
ứng của anh ta như cái tát vào mặt.
Tôi
nói “Có những điều anh không hiểu được. Tôi không hề có ý định gọi con gái tôi
về. Tôi có nhớ nó nhưng không muốn nó về đây. Vì thế tôi mới gọi đó là nỗi nhớ.
Nỗi nhớ phải đi một đường dài, đến cùng trời cuối đất”.
Anh
ta đáng khen ở chỗ không bị hoang mang vì câu chuyện vô nghĩa ấy. Anh ta nói “Tuỳ
bà. Nếu bà không nói với con gái bà thì tuỳ bà”.
Tôi
nói “Anh có thể tin là tôi sẽ không nói với nó” (Sao tôi lại nói dối thế nhỉ).
Giọng tôi có cái gì đó không kiềm chế được. “Tôi muốn nhắc để anh biết, đất nước
này không bình thường đâu nhé. Dân chúng không được tự ý đi lại”.
Anh
ta không thèm đỡ lời.
-
Con gái tôi sẽ không về chừng nào mọi thứ ở đây được thay đổi. Nó đã thề như vậy.
Nó sẽ không trở về cái đất Nam Phi như nó, anh và tôi đã biết. Chắc chắn nó sẽ
không làm đơn xin với – có thể gọi họ là gì nhỉ? – với những kẻ đó để xin phép
về. Nó bảo nó sẽ về khi nào những kẻ đó bị treo ngược lên cột đèn. Lúc đó nó sẽ
tới để ném đá vào chúng và được nhảy nhót trên đường phố.
Vercueil
nhe răng cười toe toét, răng anh ta vàng khè như răng ngựa già.
Tôi
nói “Anh không tin điều tôi nói, nhưng có lẽ một ngày kia anh sẽ gặp nó và sẽ
thấy. Nó rất sắt đá. Tôi không muốn nó phản bội lời thề”.
Anh
ta nói “Bà cũng sắt đá đấy chứ”.
Rồi
hai người im lặng. Có gì đó đổ vỡ trong tôi.
Tôi
buột miệng nói “Nghe anh nói như có gì đó đổ vỡ trong tôi vậy. Nếu tôi cũng sắt
đá thì không có gì đổ vỡ như thế được”. Rồi tôi không biết nói gì hơn.
Mấy
người đàn bà khi nãy chúng tôi gặp trong thang máy đi qua đó. Một người đàn ông
nhỏ bé mặc đồ xanh đội mũ trắng đi kèm. Anh ta đưa họ lên xe rồi chở đi.
Vercueil
hỏi “Con gái bà đã làm gì mà phải bỏ đi?”
-
Nó không làm gì hết. Nó chỉ chán thôi. Nó không muốn về nữa. Nó tìm một cuộc sống
khác. Nó có chồng, lập gia đình. Làm như thế là tốt hơn cả, có nghĩa hơn cả.
-
Nhưng nó có quên đâu.
-
Không, nó không quên. Nhưng tôi phải nói rằng người ta sẽ quên dần. Tôi không
thể hình dung được nhưng điều đó sẽ xảy đến. Nó nói “Tôi sinh ra ở Châu Phi, ở
Nam Phi”. Tôi đã nghe nó dùng câu nói đó khi nói chuyện. Hình như đấy chỉ là nửa
câu đầu. Chắc còn nửa câu sau nhưng không nghe nó nói. Thế là câu nói lơ lửng
trong không khí như trẻ sinh đôi bị lạc nhau vậy. “Tôi sinh ra ỏ Nam Phi và sẽ
không bao giờ trở lại nơi đó nữa”. “Tôi sinh ra ở Nam Phi và một ngày kia tôi sẽ
trở về”. Chả biết câu nào lạc với câu nào.
-
Vậy nó là người biệt xứ.
-
Không nó không phải là kẻ biệt xứ. Chỉ có tôi mới là người biệt xứ.
Anh
ta đã biết nói chuyện với tôi. Đã biết nghe chuyện. Tôi chợt muốn dừng lại, muốn
bảo anh ta “Nói chuyện với anh rất vui!” nhưng rồi tôi im lặng và lại ứa nước mắt.
Tôi
không biết anh ta có con hay không. Tôi cũng không biết đàn ông có nghĩ như vậy
không. Nhưng khi có một đứa con trong mình, thì ta cho nó cuộc sống của ta, nhất
là với đứa con đầu lòng. Cuộc sống không còn đi một mình nữa, cuộc sống không
còn là của mình nữa, mà là của đứa bé. Vì thế thật sự là ta không chết, ta chỉ
đơn giản chuyển giao cuộc sống, cuộc sống đã có một lúc ở trong ta nay được để
lại sau. Như anh thấy đó, tôi chỉ là một cái vỏ mà con tôi đã để lại. Cái gì xảy
đến với tôi không quan trọng. Cái gì xảy đến với người già không quan trọng. Thật
tình tôi không mong anh hiểu cho một kẻ ra đứng bên lề cái lúc sắp ra đi cũng
đáng sợ vậy. Dù chỉ được chạm đầu ngón tay thôi, người ta cũng không muốn bỏ
đi.
Lúc
này Florence và con cô ta đã ra, đang đi đến chỗ chúng tôi.
Vercueil
nói “Lẽ ra bà nên sang đó với con gái bà”.
Tôi
cười đáp “Tôi không đủ tiền để sang chết bên Mỹ. Không ai có thể làm thế, trừ
người Mỹ”.
Florence
nhảy vào ngồi phịch xuống ghế sau, làm xe chao đảo.
Tôi
hỏi “Có thấy nó không?”
Cô
ta đáp “Có”. Mặt cô ta lạnh tanh. Bheki bước vào ngồi cạnh.
Tôi
hỏi “Rồi sao nữa?”
Florence
đáp “Có tìm thấy nó, nó nằm trong bệnh viện này”.
-
Nó khoẻ chứ?
-
Nó khoẻ.
Tôi
bực mình “Tốt. Cám ơn cô đã cho biết”.
Xe
chạy đi. Mọi người im lặng. Về đến nhà, Florence mới nói “Họ để nó nằm trong bệnh
viện cùng với mấy ông già. Khiếp quá. Có một ông điên, suốt ngày hét la chửi thề,
các cô y tá sợ không dám đến gần. Sao họ lại để thằng bé nằm trong phòng đó cơ
chứ. Chỗ nó nằm không phải là bệnh viện mà là phòng chờ tang lễ”.
Phòng
chờ tang lễ. Mấy chữ đó cứ luẩn quẩn trong óc tôi. Tôi định ăn mà không còn bụng
dạ nào ăn được.
Tôi
tìm Vercueil trong lán củi. Anh ta đang làm gì đó với chiếc giày dưới ánh nến.
Tôi nói “Tôi trở lại bệnh viện. Anh đi với tôi được không?”
Căn
phòng Florence mô tả ở tận cuối ngôi nhà và còn phải đi xuống hầm, qua bếp mới
đến được chỗ ấy.
Đúng
như cô ta nói, một người đầu cạo trọc lóc gầy như cái que, ngồi trên giường, đập
tay vào đùi, miệng hát oang oang. Lưng ông ta đeo dải băng đen buộc xuống chân
giường. Ông ta hát gì? Tôi không nhận ra lời bài hát ấy. Tôi đứng ngoài cửa
không dám vào, sợ trông thấy tôi ông ta sẽ thôi hát và giơ cánh tay gầy guộc
đen xì vào mặt tôi chăng.
Vercueil
nói “Hoang tưởng. Ông ta mắc bệnh hoang tưởng”.
Tôi
khẽ đáp “Không, còn tệ hơn thế”.
Vercueil
nắm khuỷu tay tôi, tôi để cho anh ta dẫn vào.
Hai
chiếc bàn dài ở giữa phòng để một đống khay. Một người ho khạc ra một đám trắng,
y như phổi ông ta bị rách. Vercueil nói “Trong góc kia”.
Thằng
bé không biết chúng tôi là ai. Tôi cũng không nhận ra thằng bé mà ngón tay của
tôi đã dính bết máu của nó. Đầu nó băng kín, mặt nó sưng vù, cánh tay trái bó
vào người, nó mặc bộ đồ xanh nhạt của bệnh viện.
Tôi
bảo “Cậu đừng nói. Chúng tôi đến xem cậu có bị gì không thôi”.
Nó
hé đôi môi sưng vù rồi ngậm lại.
Cậu
có nhớ ra tôi không? Tôi là bà cụ được mẹ của Bheki giúp việc đấy. Sáng nay mọi
việc xảy ra như thế nào tôi đã biết. Cậu cố khoẻ lại đi. Tôi đem cho cậu ít
trái cây này. Tôi để quả táo và quả lê lên chiếc bàn nhỏ.
Nó
không có biểu hiện gì.
Lúc
trước tôi đã không thích thằng bé này. Bây giờ tôi cũng không thích. Trong lòng
tôi chẳng có tí cảm tình gì đối với nó. Có những người mới gặp đã có ngay cảm
tình, có những người vừa thấy mặt đã không ưa. Thế ra thằng bé này không giống
như Bheki. Nó không có sức quyến rũ. Nó có cái gì đó như ngu ngốc, cố tình ngu
ngốc, ngang bướng, khó bảo. Nó là một trong những đứa trẻ sớm có kiểu nói như
ông cụ, mới mười hai tuổi đã vứt lại thời niên thiếu, biến thành thứ người già
dặn. Loại người đơn giản thì khác, nhanh nhẹn, tháo vát, biết chịu đựng hơn người
thường, không hoài nghi, không thành kiến, không đùa cợt, không ham muốn, rất
vô tư lự. Lúc nó nằm trên hè đường tôi đã tưởng nó sắp chết nên cố cứu nó. Thật
lòng tôi nghĩ bỏ sức cứu người khác còn hơn.
Tôi
nhớ có lần tôi nuôi một con mèo, một con mèo mướp già bị sưng miệng không há ra
được. Tôi đem nó về từ lúc nó quá yếu không cựa quậy nổi, cho nó uống sữa bằng ống,
uống thuốc kháng sinh. Lúc nó khoẻ, tôi thả nó ra và vẫn cho nó ăn. Quanh năm
nó chỉ sang nhà hàng xóm ăn vụng. Rồi nó biến đâu mất. Vậy mà suốt thời gian ấy,
kể lúc nó ốm đau được tôi ôm trên lòng, nó vẫn cưỡng lại và đối với tôi như kẻ
thù. Tôi thấy thằng bé này đối với tôi cũng thế. Tuy mở mắt nhưng nó không thấy
gì, không nghe tôi nói gì.
Tôi
quay sang Vercueil nói “Ta đi chứ?” Tôi chợt sờ vào tay kia của thằng bé, do ý
thức xui giục.
Tôi
chỉ sờ bằng đầu ngón tay thôi, nhưng cảm thấy như nó khó chịu, nó rụt tay lại
như bị điện giật.
Tôi
tự nhủ: chỉ là tôi thay mặt mẹ cậu không có mặt thôi. Rồi tôi nói to cho nó
nghe thấy “Đừng vội xét”.
Đừng
vội xét? Tôi nói thế nghĩa là sao? Nhưng tôi không hiểu thì ai hiểu? Chắc chắn
nó không hiểu. Trong trường hợp này nó càng khó hiểu. Mấy lời nói đó buộc khỏi
miệng đã như lá rụng. Lời nói của đàn bà chẳng có gì đáng kể, lời nói của một
bà già lại càng không đáng kể, nhất là của đàn bà da trắng.
Đúng,
tôi là người da trắng. Khi nghĩ đến người da trắng, tôi thấy gì? Tôi thấy bầy cừu
(bầy, chứ không phải một con) ăn cỏ trên cánh đồng bụi bậm, dưới ánh nắng chói
chang. Tôi lại nghe tiếng vó ngựa rầm rập, rồi một loạt những tiếng khác lộn xộn,
nghe quen như tiếng be be của bầy cừu gọi nhau. Rồi thấy đám lợn rừng, mắt trắng
dã ở đâu chạy đến, nhe răng gầm gừ “Chết! Chết!”. Thật chẳng hay gì, nhưng thằng
bé rụt lại không muốn bị một bà già da trắng chạm vào tay nó, dù người đó không
phải là tôi.
Tôi
lại cố giải thích.
Tôi
nói “Trước khi về nghỉ hưu, tôi là giáo viên, tôi dạy học”.
Vercueil
đứng bên kia giường nhìn tôi chằm chặp, nhưng tôi đâu có nói chuyện với anh ta.
Tôi
nói tiếp “Nếu cậu dự lớp Thucydides, có thể cậu biết qua về những gì xảy đến
cho nhân loại trong thời kỳ nhân loại sinh ra ta và sống với ta ấy”.
Mắt
thằng bé như mơ màng, lòng trắng đục mờ, con ngươi lờ đờ, đen như mực in. Tuy
đã được uống thuốc an thần, nó biết là tôi đứng đó, biết tôi là ai, biết tôi
đang nói với nó. Biết nhưng nó không nghe, cũng như nó chưa bao giờ nghe bất cứ
giáo viên nào, ngồi như phỗng ở cuối lớp, nói gì cũng không vào tai, chỉ chờ
chuông báo hết giờ.
-
Thucydides viết về những người làm ra luật lệ và tuân theo luật lệ. Cũng theo
luật lệ họ đã giết chết toàn bộ giai cấp thù địch không trừ một ai. Tôi chắc hầu
hết những ai đã chết đều cảm thấy hình như người ta đã mắc một sai lầm ghê gớm,
vì dù luật lệ là thế chăng nữa cũng không thể nhắm vào họ. Lúc bị cắt cổ, lời
cuối cùng họ thốt ra là “Tôi…!”. Tiếng “Tôi” ấy là sự phản kháng, một tiếng ngoại
lệ.
-
Có ngoại lệ không nhỉ? Sự thật là nếu có thể nói, tất cả chúng ta đều đòi có
ngoại lệ. Mỗi điều lệ đều có trường hợp riêng. Tất cả chúng ta đều đòi được hưởng
cái lợi của sự hoài nghi.
-
Nhưng có những thời người ta không có quyền nghe những điều ấy, những ngoại lệ ấy,
những khoản nhân từ ấy. Không có thì giờ, thế là ta phải qua luật lệ. Thật thảm
hại, cực kỳ thảm hại. Đó là những gì anh có thể học được ở Thucydides. Rất tiếc
là chúng ta đang bước vào một thời buổi như vậy. Chúng ta bước vào đó với trái
tim chìm đắm. Chẳng thể hoan nghênh được.
Bỗng
nó rụt tay kia vào dưới chăn, đề phòng tôi chạm vào nữa.
Tôi
nói “Thôi chào, chúc cậu ngủ ngon, ráng mau khoẻ lại”.
Ông
già ngoài kia không hát nữa. Bàn tay ông ta vỗ đều lên đùi như đôi cá sắp chết.
Mắt ông ta trợn ngược, nước dãi chảy xuống cằm.
Xe
không chạy được. Vercueil lại phải đẩy.
Tôi
nói “Thằng bé đó khác với Bheki, rất khác”.
Hôm
nay tôi đã nói hơi nhiều, không kiềm chế được. “Tôi không muốn tỏ ra như vậy,
nhưng nó làm tôi bực mình. Tôi rất tiếc Bheki đã bị ảnh hưởng của nó. Nhưng tôi
biết sẽ có hàng vạn đứa như nó. Nhiều hơn loại như vậy. Thế hệ đang lên đấy”.
Chúng
tôi về nhà. Tuy không mời, anh ta vẫn theo vào.
Tôi
nói “Tôi phải đi ngủ đây. Mệt quá rồi”. Anh ta không có ý bỏ đi. “Anh có muốn
ăn gì không?”
Tôi
đem thức ăn để trước mặt anh ta, uống thuốc đầy đủ rồi chờ đó.
Anh
ta dùng tay khoằm cắt một lát bánh, phết bơ rồi cắt phô mai. Móng tay của anh
ta rất bẩn. Không biết anh ta đã sờ vào những gì nữa. Thế mà đây lại là người
tôi thổ lộ tâm tình, là người tôi rất tin cậy. Tại sao tôi lại đi con đường ngoằn
ngoèo đến thế nhỉ?
Đầu
óc tôi như cái ao để ngón tay anh ta thọc vào khuấy. Không có ngón tay ấy, nó lắng
đọng, tù hãm.
Một
con đường không có hướng. Không hướng thì tự tìm ra hướng. Đi như con cua vậy.
Móng
tay bẩn của anh ta thọc vào tôi.
Anh
ta nói “Trông bà rầu rĩ lắm”.
“Tôi
rất mệt”.
Anh
ta nhe bộ răng dài nhai bánh.
Anh
ta chỉ nhìn không nói gì. Ở người anh ta vẫn còn phảng phất hơi rượu. Rượu làm
cho dịu, giữ cho người ta bớt giận dữ. Nó giúp ta tha thứ. Anh ta uống rượu từ
tiền trợ cấp. Suốt đời anh ta sống bằng trợ cấp. Anh ta là ông V. mà tôi nói đến.
Nói và viết. Nói để mà nói. Còn đối với thế hệ đang lên, không uống rượu, cũng
không nói chuyện được, chỉ có có thể dạy thôi. Bàn tay và móng tay chúng sạch sẽ.
Chúng là những người theo thánh giáo mới, nắm luật lệ, tuân thủ luật lệ. Chúng
ghét rượu là thứ làm yếu luật lệ, làn tan cả luật lệ. Chúng hoài nghi tất cả những
gì lười biếng, chịu đựng, chỉ biết quanh quẩn một xó. Chúng hoài nghi những bài
diễn văn nói loanh quanh.
Tôi
nói “Tôi cũng ốm nữa, ốm và mệt. Mệt và ốm. Tôi có đứa con trong bụng mà không
đẻ ra được. Không thể đẻ vì nó sẽ không ra đời. Vì nó không thể sống ở ngoài
tôi được. Nó là tù nhân của tôi hoặc tôi là tù nhân của nó. Nó đập cửa mà không
thể bỏ đi. Ngày nào cũng diễn ra như vậy. Đứa con bên trong đang đập cửa. Con
gái tôi là đứa con đầu lòng. Nó là cuộc sống của tôi. Đứa này là đứa thứ hai. Đứa
của kiếp sau. Tôi không cần đến. Anh có muốn xem ti vi không?”
-
Tôi tưởng bà muốn đi ngủ?
-
Không, bây giờ không chỉ còn mình tôi nữa. Dù sao đứa con trong tôi cũng đập rất
mạnh. Nó đã uống thuốc rồi, đang ngủ lơ mơ. Anh thấy đấy, bao giờ tôi cũng uống
hai viên. Một cho tôi, một cho nó.
Chúng
tôi ngồi bên nhau trên ghế dài. Người có bộ mặt hồng hào đang được phỏng vấn.
Hình như anh ta là chủ một trại thú, cho các hãng phim thuê voi và sư tử.
Người
phỏng vấn hỏi “Xin anh kể cho nghe về một loài vật hải ngoại anh đã từng gặp”.
Tôi
đứng dậy nói “Để tôi đi pha trà”.
Vercueil
hỏi “Trong nhà còn gì khác không?”
Rượu
anh đào.
Tôi
cầm chai rượu anh đào quay lại thấy anh ta đang đứng ở kệ sách. Tôi tắt ti vi rồi
hỏi “Anh đang xem gì vậy?”
Anh
ta giơ một cuốn sách nặng.
Tôi
nói “Anh sẽ thấy cuốn đó rất hay. Người đàn bà đó đã cải trang làm đàn ông, đi
qua cả Palestine kỳ bí. Đó là thế kỷ trước. Bà ta là một trong những phụ nữ Anh
rất dũng cảm. Nhưng bà ta không chụp hình. Ảnh là của một tay minh hoạ nhà nghề”.
Chúng
tôi cùng giở trang. Người minh họa đã khéo vẽ nên những bức ảnh cắm trại dưới
ánh trăng, những núi đá lởm chởm trên sa mạc, những đền miếu hoang tàn với
không khí bí ẩn. Chưa ai làm được như vậy để biến Nam Phi thành một vùng đất bí
ẩn. Bây giờ thì quá muộn rồi. Trong đầu óc mọi người thì vùng đất này chỉ còn
là nơi bằng phẳng, chói chang, không có bóng râm cũng không có chiều sâu.
Tôi
nói “Anh thích gì cứ đọc. Trên gác còn có nhiều sách. Anh thích đọc sách không?”
Vercueil
bỏ sách xuống nói “Bây giờ tôi đi ra ngoài đây”.
Tôi
chợt thấy lúng túng. Sao thế? Nói thật ra là tôi không ưa cái mùi của anh ta.
Vì tôi không hề nghĩ đến Vercueil mặc đồ lót. Trông chân anh ta gầy gò hơn.
Móng chân xù xì, xương xẩu.
Tôi
nói “Tôi hỏi anh một câu được không? Trước kia anh sống ở đâu? Tại sao anh bắt
đầu đi lang thang?”
Vercueil
đáp “Tôi sống ở biển. Tôi đã nói với bà điều đó rồi”.
-
Nhưng người ta đâu có sống ở biển. Đâu có thể đẻ ở biển. Anh có ở biển suốt đời
đâu?
-
Tôi làm trên tàu kéo.
-
Rồi sao?
Anh
ta lắc đầu.
Tôi
nói “Tôi chỉ hỏi thế thôi. Chúng tôi thích biết một chút về những người ở gần
mình. Điều đó hoàn toàn là tự nhiên”.
Anh
ta nhếch mép cười, một bên răng nanh chĩa ra vừa dài vừa vàng. Tôi nghĩ bụng
anh ta còn giấu giếm những gì. Nhưng là điều gì? Một tình yêu bi thảm chăng?
Hay là tù tội chăng? Rồi tôi cũng mỉm cười.
Cả
hai chúng tôi đứng cười, mỗi người có lý do riêng để mà cười.
Tôi
nói “Nếu anh thích, cứ việc ngủ trên ghế dài”
Anh
ta lưỡng lự. “Con chó thường ngủ với tôi”.
Hôm
qua tôi có thấy con chó đâu?
Nếu
tôi không về, nó cũng không đến.
Hôm
qua tôi không thấy con chó. Chừng nào anh ta không cho nó ăn thì nó cần gì biết
anh ta ngủ ở đâu. Tôi ngờ rằng anh ta bịa chuyện con chó như nhiều đàn ông thường
bịa chuyện về vợ đang chờ ở nhà. Mặt khác, có lẽ vì con chó mà tôi tin anh ta.
Chó thường đánh hơi được người xấu, nó còn biết đi tuần tiễu nữa.
Con
chó chả làm tôi ấm lên chút nào. Nhà đã quá nhiều mèo rồi. Mèo với đàn bà là đủ.
Còn anh ta, sau khi lang thang trên biển với chiếc tàu kéo, chẳng qua là bị rơi
vào đây thôi.
Tôi
nói “Tuỳ anh”. Tôi để anh ta đi ra, làm như không để ý trên tay anh ta còn cầm
chai rượu anh đào. Tôi nghĩ bụng thật đáng thương hại. (Đó là ý nghĩ của tôi
khi những viên thuốc kéo tôi vào giấc ngủ). Vào lúc hiếm hoi này hai chúng tôi
có thể cùng ở trong nhà được chứ, tôi trên gác, anh ta dưới nhà. Như vậy ban
đêm tôi có sẵn người. Dù sao mỗi khi cần đến là có người để tôi gọi trong đêm tối.
Là mẹ hay ai thì cũng sẵn sàng cho mẹ được.
Từ
khi tôi tuyên bố với Florence là sẽ làm đơn gởi đến Quảng trường Caledon định
kiện hai viên cảnh sát, nhưng hình như họ chỉ cho phép kiện nếu có “người trực
tiếp liên quan”.
Viên
sĩ quan ở bàn thường trực nói “Bà cho biết đặc điểm, rồi chúng tôi sẽ điều tra.
Tên hai thằng bé là gì?”
-
Không được phép của chúng nó, tôi không thể nói ra tên.
Anh
ta đặt bút xuống. Đó là một thanh niên, gọn gàng sạch sẽ, một trong những lớp cảnh
sát mới được đào tạo qua loa ở Cape Town để có thể đối phó với những người chủ
trương tự do nhân văn chủ nghĩa.
Tôi
nói “Tôi không biết anh có tự hào với bộ đồng phục ấy không, nhưng các đồng
nghiệp của anh ở ngoài phố đã làm nó mất thể diện. Họ còn làm tôi mất thể diện
nữa. Tôi lấy làm xấu hổ. không phải xấu hổ cho họ mà xấu hổ cho tôi. Anh không
cho tôi kiện vì anh bảo tôi không liên quan. Nhưng tôi rất liên quan, trực tiếp
liên quan nữa kia. Anh hiểu tôi nói gì không?”
Anh
ta không trả lời, đứng thẳng người, cảnh giác sẵn sàng với những điều sẽ xảy
ra. Người đằng sau anh đang xem giấy tờ, làm như không nghe thấy gì. Nhưng chẳng
có gì đáng sợ. Tôi không còn gì để nói, hoặc ít nhất cũng chả còn bụng dạ nào
nghĩ ra điều gì.
Vercueil
ngồi đợi trong xe ở phố Buitenkam. Tôi nói “Tôi thật là ngu ngốc”, và suýt
khóc. Tôi đã bảo họ “Các anh làm cho tôi xấu hổ”. Có lẽ họ đang cười nhau Eke
ou kruppel dame met die kaffertjie (tiếng Afrikaans: Eke bà già què với chiếc
kaffir). Nhưng làm sao tôi nghĩ thế nào khác được? Có lẽ tôi nên đơn giản mà tự
nhận rằng từ nay trở đi phải sống và sống trong cùng sự nhục nhã. Có lẽ nhục
nhã chỉ là cái tên dành cho những gì tôi thường cảm thấy thôi, không hơn gì.
Cái đó dành cho lối sống của những người sống mà nghĩ thà chết còn hơn.
Nhục
nhã. Chịu cúi đầu. Chết trong cái sống.
Hai
người im lặng một lúc lâu.
Vercueil
nói “Bà cho tôi vay mười rand được không? Đến thứ năm tôi mới có tiền trợ
cấp. Hôm ấy tôi sẽ trả lại cho bà”.
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét