Thời đại sắt đá (5 – hết) [Age of Iron] - J. M. Coetzee
2024-06-29
Thời
đại sắt đá (5 – hết) [Age of Iron]
(Giải
Nobel Văn học 2003)
Dịch giả: Anh Thư
Chương 4
Tôi
mơ thấy Florence, một giấc mơ hay ảo mộng. Trong mơ, tôi thấy cô ta lại đi xuống
đại lộ Chính phủ, tay dắt Hope và cõng Beauty trên lưng. Cả ba mẹ con đều đeo mặt
nạ. Tôi cũng có ở đấy cùng đám đông đủ loại người và tầng lớp tập hợp chung
quanh. Không khí như ngày hội. Tôi có nhiệm vụ trình diễn một vở.
Nhưng
Florence không dừng lại xem. Cô ta nhìn thẳng và cứ đi như qua một đám hồn ma.
Mắt
trên mặt nạ như mắt trong những tranh cổ Địa Trung Hải, to, hình bầu dục, con
ngươi ở giữa trông như hạnh nhân của một nữ thần.
Tôi
đứng giữa đại lộ đối diện với toà nhà Nghị viện, những người đứng chung quanh
xem tôi làm ảo thuật với lửa. Trên cao là những cây chò rất to. Nhưng tôi không
nghĩ đến trò mình đang làm. Tôi chăm chú nhìn Florence. Chiếc áo choàng đen buồn
thảm của cô ta đã rơi đâu mất. Gió thổi nhàu chiếc quần trắng, cô ta đi chân đất,
đầu để trần, ngực bên phải cũng để trần, cô ta đi qua thật nhanh, đứa bé đeo mặt
nạ, trần truồng, lon ton chạy bên cạnh, đứa kia giơ tay chỉ trỏ.
Nữ
thần này là ai mà đến trong ảo mộng, ngực để trần rồi vụt đi thế nhỉ? Đó là
Aphrodite, nhưng không phải Aphrodite với nụ cười đáng yêu, người đỡ đầu của những
khoái lạc, mà chỉ là hình dáng xưa cũ, khẩn trương, chỉ như tiếng khóc dồn dập
trong đêm tối, tiếng khóc của máu và đất, xuất hiện trong chốc lát cho mọi người
thấy rồi đi luôn.
Nữ
thần không để lại dấu hiệu hay tiếng gọi nào. Mắt mở trắng dã. Nữ thần thấy mà
không thấy gì.
Tôi
trình diễn với lửa nhưng vẫn đứng đó, sững sờ. Ngọn lửa từ người tôi phát ra
xanh như màu băng tuyết. Tôi không cảm thấy đau đớn gì hết.
Đó
là ảo mộng trong giấc mơ đêm qua, nhưng nó đến từ thời gian bên ngoài. Nữ thần
đi qua, qua mãi, vẻ ngạc nhiên và tiếc thương, tôi không thể nhìn theo được.
Tuy tôi vẫn nhìn ngắm cơn lốc đến từ ảo mộng, nhưng nữ thần và các con cô ta đều
trống rỗng, người đàn bà theo sau cũng không có mặt, người đàn bà thường mang
những vòng lửa ngoằn ngoèo như rắn trên đầu ấy, vẫn đập tay, vừa khóc vừa nhảy
múa.
Tôi
kể lại giấc mơ cho Vercueil nghe.
Anh
ta hỏi “Có thật thế không?”
“Thật
ư? Tất nhiên là không rồi. Nó cũng chẳng đáng tin cậy nữa kia. Florence thì có
dính dáng gì đến Hy lạp. Những hình bóng trong giấc mơ có ý nghĩa khác. Đó chỉ
là dấu hiệu về những vật khác thôi”
Anh
ta hỏi vặn “Có thật thế không? Cô ta có thật không?” khiến tôi cụt hứng tuy vẫn
không chịu tránh né. “Bà còn thấy gì khác nữa?”
Tôi
cảm thấy phải theo đà câu chuyện, khẽ đáp “Thấy gì khác nữa? Còn gì khác nữa
sao? Anh biết à?”
Anh
ta lắc đầu, vẻ chán ngán.
Tôi
nói “Mấy ngày qua anh biết tôi thế nào rồi. Tôi vẫn đứng bên bờ sông chờ đến lượt.
Chờ xem có ai chỉ đường cho tôi qua sông. Từng ngày từng phút tôi vẫn ở đây chờ.
Đó là những gì tôi thấy. Anh cũng thấy chứ?”
Anh
ta không nói gì.
“Cái
lý do tôi chống việc quay lại bệnh viện là nếu vào đó họ sẽ bắt tôi ngủ. Đó là
cách họ làm đối với động vật, do lòng tốt của họ thôi, nhưng họ cũng làm như thế
với con người. Họ sẽ bắt tôi ngủ mà không được mơ thấy gì hết. Họ sẽ buộc tôi
phải ăn quả độc để ngủ lơ mơ, để ngã xuống sông chết đuối và trôi đi. Vì vậy
tôi không bao giờ qua sông được. Tôi không chịu để điều đó xảy ra. Tôi đã mất
bao nhiêu công phu không thể nhắm mắt được.
Vercueil
hỏi “Vậy bà muốn thấy gì?”
-
Tôi muốn thấy anh thực sự là thế nào
Anh
ta nhún vai, tần ngần “Vậy tôi là ai?”
-
Là người thôi. Một người không mời mà đến. Tôi chỉ nói được thế thôi. Anh có thể
nói thêm được gì nữa không?
Anh
ta lắc đầu “Không”.
Tôi
nói “Nếu anh muốn làm gì giúp, tôi nhờ anh lắp bộ ăng ten cho cái đài”.
-
Bà không muốn tôi đem ti vi lên cho bà ư?
-
Tôi chẳng có lòng dạ nào coi ti vi. Tôi sẽ phát ốm với nó.
-
Coi ti vi làm sao mà ốm được. Đó chỉ là hình ảnh.
-
Không phải chỉ có hình ảnh. Sau hình ảnh là những con người. Họ phát những hình
ảnh ấy để làm người ta phát ốm. Anh biết tôi nói gì chứ.
-
Hình ảnh không thể làm cho bà ốm được.
Đôi
khi như anh ta muốn trái ý tôi, khiêu khích tôi, gây sự với tôi, xem tôi bực
mình như thế nào. Cách anh ta nói đùa vụng về, chẳng hấp dẫn tí nào, lại khiến
tôi muốn ngả theo.
-
Tôi chỉ yêu cầu anh lắp giùm ăng ten thôi.
Anh
ta xuống nhà. Lát sau khệ nệ bưng ti vi lên gác. Anh ta để ti vi quay mặt vào
giường, lắp ăng ten, bật mở rồi đứng sang một bên. Lúc đó đang là buổi chiều. Một
ngọn cờ phấp phới trên nền trời xanh. Một đội kèn chơi quốc thiều nước Cộng
hoà.
Tôi
bảo “Tắt đi”.
Anh
ta càng vặn to hơn.
Tôi
hét “Tắt ngay đi!”
Anh
ta quay lại nhìn mắt tôi đang long lên. Rồi tôi ngạc nhiên thấy anh ta ngọ nguậy,
ngoáy mông, giang tay, búng ngón tay, không ngờ anh ta có thể nhảy múa theo điệu
nhạc. Miệng anh ta còn lẩm bẩm nữa. Lẩm bẩm những gì tôi không hiểu.
Tôi
lại hét “Thôi đi!”
Một
bà già đã rụng hết răng lên cơn điên. Chắc anh ta thấy tôi rất lạ. Anh ta vặn
nhỏ tiếng.
-
Thôi đi!
Anh
ta tắt ti vi, khẽ nói “Bà đừng thất vọng thế”
-
Vercueil, anh đừng dở hơi, đừng đùa thế, đừng có đem tôi ra đùa.
-
Nhưng sao bà lại có tâm trạng thế được?
-
Vì tôi sợ xuống địa ngục sau khi cứ phải nghe mãi bài Die stem (tiếng
Afrikaans: Giọng nói).
Anh
ta lắc đầu nói “Bà yên tâm. Nên kiên nhẫn đi. Mọi thứ sắp kết thúc cả rồi”.
-
Tôi không có thì giờ để mà kiên nhẫn được. Anh có thể có thì giờ, nhưng tôi thì
không.
Anh
ta lại lắc đầu, nhe răng nhìn tôi “Có lẽ bà cũng có thì giờ”.
Trong
khoảnh khắc, trời cao như bỗng mở tung với ánh sáng chói loà rọi xuống. Cả một
đời chỉ toàn nhận những hung tin bây giờ bỗng như nghe tin tốt lành, tôi mỉm cười
hỏi lại “Thật thế à?” Anh ta gật. Chúng tôi nhìn nhau cười như hai người điên.
Anh ta lại giơ ngón tay lên búng, trông như một con chim điên xoè hết lông
cánh, nhảy lại điệu khi nãy. Rồi anh ta bước ra ngoài, trèo lên thang nối dây
ăng ten bị đứt, và chiếc đài lại nghe được.
Nhưng
có gì đâu mà nghe? Thời buổi bây giờ các làn sóng âm thanh chập vào nhau quá
nhiều đến nỗi âm nhạc không thể nào phát tử tế được. Tôi nghe bài Một người
Mỹ ở Paris rồi ngủ đi lúc nào không biết, lúc tỉnh dậy chỉ còn nghe thấy tiếng
tít tít dồn dập. Tiếng ở đâu phát ra? Từ một con tàu trên biển chăng? Từ con
tàu cổ lỗ nào chạy bằng hơi nước đang rẽ sóng giữa vịnh Walvis với đảo
Ascencion chăng? Tiếng mã Morse đánh không nhanh, cũng không chậm, cứ đánh mãi
trên biển cho đến chiều tối chăng? Họ phát thông điệp gì thế nhỉ? Nhưng điều đó
có gì quan trọng đâu? Tiếng tí tách như mưa, mưa có ý nghĩa, an ủi tôi, giúp
tôi nằm yên dễ chịu, chờ thời gian trôi đi, cho đến lúc tôi uống viên thuốc ngủ
nữa.
-
Mẹ
bảo mẹ không muốn ai bắt mẹ phải ngủ. Sự thật là mẹ không chịu nổi nếu như
không được ngủ. Ít ra thuốc Diconal cũng làm mẹ ngủ được hoặc giả như ngủ. Cái
đau giảm bớt, thời gian trôi nhanh, chân trời hé mở, mẹ tập trung chú ý, như mảnh
chai cứa vào người cho nỗi đau dịu đi một lát, để mẹ có thể nín thở, xòe tay,
duỗi chân. Mẹ tự nhủ phải cám ơn giây phút đã giúp cho thân thể mẹ vô tri vô
giác, tâm hồn mộng mị, nửa người mẹ thoát ra ngoài để bắt đầu bồng bềnh trôi.
Nhưng
khoảng thời gian trì hoãn ấy không bao giờ kéo dài. Đám mây lại kéo đến trùm
lên đầu, ý nghĩ rối rắm, mẹ lại rơi vào cuộc sống dầy đặc đám ruồi nhặng điên dại.
Mẹ lắc đầu, muốn xua đuổi chúng đi. Mẹ giơ tay, mở to mắt nhìn những đường gân
xanh trên đôi bàn tay, nhìn tấm khăn phủ giường, rồi quật xuống nhanh như chớp.
Mẹ chợt thiếp đi, chợt tỉnh lại nhìn bàn tay mình. Giữa những khoảnh khắc ấy,
có lẽ một giờ đã trôi đi trong nháy mắt, mẹ chẳng biết gì hết, vật lộn với một
thứ gì dầy và đặc quánh trong miệng làm mẹ cứng lưỡi, như mẹ vừa từ đáy biển
nhoi lên mặt nước, lắc đầu. Cổ họng chát đắng mùi diêm sinh, mẹ tự nhủ, có lẽ
mình điên mất rồi! Vị đắng ấy làm mẹ điên mất rồi!
Đã
có lần mẹ đứng nhìn bức tường, tay mẹ cầm bút chì, đầu vót nhọn. Các chữ trên
tường dạng chân, nhảy múa, chẳng có nghĩa gì, như chữ của mẹ hoặc ai đó trong mẹ.
Mẹ
gọi cho bác sĩ Syfret nói “Hình như thuốc Diconal ngày càng có nhiều phản ứng xấu.
Tôi muốn hỏi xem ông có thể kê thứ thuốc gì khác cho tôi được không? “
Bác
sĩ Syfret đáp “Tôi không biết là bà vẫn tự coi mình như bệnh nhân của tôi. Bà
nên vào bệnh viện cho họ săn sóc tốt hơn. Tôi không thể tiến hành giải phẫu
trên điện thoại được”.
Mẹ
nói “Tôi chỉ hỏi ông thế thôi. Thuốc Diconal làm tôi luôn luôn mê sảng. Liệu
tôi có thể dùng thuốc nào khác được không?”
-
Tôi đã bảo không thể chữa trị nếu không trực tiếp gặp bà. Tôi không làm việc kiểu
đó, các đồng nghiệp của tôi cũng không làm kiểu đó.
Mẹ
im lặng rất lâu khiến ông ta có thể tưởng đã mất mẹ rồi. Thực ra mẹ chỉ phân
vân thôi. Con hiểu không? Mẹ muốn nói: tôi mệt lắm, mệt muốn chết. In manus
tuas (tiếng Latin: Xin phó mặc cho ông): ông hãy nhận tôi và săn sóc cho
tôi, nếu không được thì tuỳ ông xem có cách nào tốt nhất vậy.
Mẹ
nói “Tôi xin hỏi ông câu nữa. Loại phản ứng như ở tôi, những người khác cũng có
phản ứng như thế không?”
-
Bệnh nhân phản ứng bằng nhiều cách khác nhau. Đúng đấy, rất có thể phản ứng ở
bà là do thuốc Diconal.
Mẹ
nói “Vậy nếu có dịp nào thay tim, tôi nhờ ông gọi điện kê cho tôi một đơn thuốc
mới qua hiệu thuốc Avalon trên phố Mill nhé. Bác sĩ ạ, tôi không ảo tưởng về
tình trạng của tôi đâu. Tôi không cần chăm sóc, chỉ cần giúp tôi đỡ đau thôi”.
-
Bà Curren, nếu bà thay đổi ý kiến và muốn gặp tôi, bà chỉ việc nhấc điện thoại
là xong, ngày hay đêm cũng được.
Một
giờ sau có chuông reo ngoài cửa. Người của hiệu thuốc đem đơn mới đến cho mẹ,
thuốc dùng trong mười bốn ngày.
Mẹ
gọi hiệu thuốc hỏi “Tylox có phải là thuốc mạnh nhất không?”
-
Nghĩa là sao?
-
Ý tôi muốn hỏi đó có phải là thứ thuốc cuối cùng không?
-
Bà Curren, chẳng có loại thuốc nào như thế. Không có thuốc nào là đầu, thuốc
nào là cuối.
Mẹ
dùng hai viên thuốc mới. Cơn đau bỗng tan đi một cách kỳ diệu, mẹ hưng phấn, có
cảm giác như được sống lại. Mẹ tắm, ngồi vào giường, định đọc sách nhưng rồi ngủ
thiếp đi. Một giờ sau mẹ tỉnh. Cơn đau lại dần dần bò đến, làm mẹ buồn nôn và lại
thấy xuất hiện bóng dáng quen thuộc của sự buồn nản.
Thuốc
trị đau chỉ là tia sáng chốc lát rồi bóng tối lại dầy đặc gấp đôi.
Vercueil
bước vào.
Mẹ
nói “Tôi đã uống thuốc mới nhưng chẳng thấy khá hơn chút nào. Có lẽ thuốc chỉ mạnh
hơn một chút thôi”.
Vercueil
nói “Bà cứ uống thêm đi. Không phải chờ bốn giờ sau mới uống nữa”.
Đúng
là lời khuyên của một anh nghiện rượu.
Mẹ
nói “Tôi sẽ uống. Nhưng lúc nào thích thì uống, mà uống tất cả một lúc cũng được
chứ sao”.
Hai
người im lặng.
Mẹ
hỏi “Tại sao anh lại chọn tôi?”
-
Tôi đâu có chọn bà.
-
Tại sao anh đến đây, đến ngôi nhà này?
-
Nhà bà không có chó.
-
Gì nữa?
-
Tôi nghĩ bà sẽ không gây khó khăn.
-
Tôi đã gây khó khăn gì chưa?
Anh
ta bước đến gần mẹ. Mặt anh ta sưng lên. Hơi thở anh ta có mùi rượu. Anh ta nói
“Nếu bà muốn tôi giúp, tôi sẽ giúp”. Anh ta vươn người tới, tay nắm vào cổ mẹ,
ngón cái khẽ ân vào thanh quản, ba ngón khoằm ôm dưới tai. Mẹ khẽ nói “Đừng” và
gạt tay anh ta ra. Mẹ rưng rưng nước mắt. Mẹ cầm tay anh ta đập vào ngực, như
muốn than vãn, một cử chỉ xưa nay mẹ chưa từng làm.
Mẹ
ngồi im một lúc. Anh ta vẫn ngả vào người mẹ, như muốn để mẹ sử dụng anh ta.
Con chó sục mũi vào cạnh giường ngửi hai người.
Mẹ
nói “Anh để con chó ngủ với tôi được không?”
-
Taị sao thế?
-
Cho ấm thôi.
-
Nó không chịu đâu. Tôi ngủ đâu nó ngủ đấy.
-
Vậy anh cũng ngủ đây đi.
Anh
ta đi xuống nhà. Mẹ chờ lâu, uống viên thuốc nữa. Rồi đèn ở cầu thang tắt. Mẹ
nghe anh ta cởi giày. Mẹ nói “Anh cũng bỏ cả mũ ra nữa, cho nó khác đi”.
Anh
ta nằm lên trên khăn trải giường, dựa lưng vào mẹ. Mẹ ngửi thấy mùi chân bẩn.
Anh ta khẽ huýt sáo. Con chó nhảy tới, xoay mình nằm vào chỗ giữa chân anh ta
và chân mẹ. Y như cây gươm của Tristan, giữ cho hai người lương thiện.
Viên
thuốc tỏ ra rất có hiệu lực. Suốt nửa giờ, trong khi anh ta và con chó ngủ, mẹ
nằm im không động đậy, không thấy đau, tâm hồn tỉnh táo, nhanh nhậy. Một luồng
ánh sáng chạy qua trước mắt, mẹ thấy đứa bé Beauty được mẹ nó cõng trên lưng chạy
đến, nhong nhong nhìn phía trước. Rồi ảo ảnh đó mờ đi, lại thấy một đám bụi, bụi
Borodino, quay cuồng trước mắt như những bánh xe của thần chết.
Mẹ
bật đèn. Lúc này đã nửa đêm.
Mẹ
sẽ kéo màn che ngay bây giờ. Đây không thể có nghĩa một câu chuyện của thân thể,
mà của tâm hồn chứa trong thân thể ấy. Mẹ sẽ không cho con thấy những gì con
không chịu nổi, cảnh người đàn bà trong ngôi nhà cháy, chạy từ cửa sổ này sang
cửa sổ khác, nhìn qua song cửa kêu cứu.
Vercueil
và con chó ngủ rất yên bên cạnh những cơn thác buồn rầu đang đổ xuống. Những
cơn thác trút hết tội, chờ cho tâm hồn xuất hiện. Tâm hồn mới nhập đạo, ướt át,
mù quáng, ngu dốt.
Bây
giờ tôi mới biết tại sao anh ta không sử dụng được mấy ngón tay đó nữa. Đó là một
tai nạn trên biển. Họ phải rời bỏ con tàu. Trong lúc vật lộn, tay anh ta bị kẹt
trong dây tời và dập nát. Suốt đêm anh ta lênh đênh trên chiếc bè với bảy người
khác và một chú bé, chờ chết. Hôm sau họ được một chiếc tàu kéo của Nga đến cứu,
và tay anh ta cũng được chữa chạy nhưng lúc đó đã quá muộn.
Tôi
hỏi “Anh có học được tiếng Nga nào không?”
Anh
ta bảo chỉ nhớ được một từ kha ra sô.
-
Không ai nói gì đến Borodino à?
-
Tôi không nhớ đến Borodino.
-
Anh không tính ở lại với người Nga sao?
Anh
ta nhìn tôi với vẻ khó hiểu.
Từ
đó anh ta không bao giờ ra biển nữa.
Tôi
hỏi “Anh có nhớ biển không?”
Anh
ta đáp dứt khoát “Tôi không bao giờ đặt chân lên tàu nữa”.
-
Tại sao?
-
Vì tôi sẽ không may mắn nếu lần sau còn lên tàu.
-
Làm sao mà biết được chứ? Nếu anh tin ở mình thì có thể đi trên mặt nước được nữa
kia. Anh không tin là có những điều tin tưởng thì làm được sao?
Anh
ta im lặng.
-
Hoặc sẽ có một cơn lốc đến bốc anh lên khỏi mặt nước và đặt anh xuống đất khô
ráo. Còn có cá heo nữa. Cá heo cứu thuỷ thủ sắp chết đuối, phải thế không? Tại
sao anh không trở thành thuỷ thủ được?
-
Chẳng bao giờ nghĩ trước hay biết trước được đâu.
Tôi
khẽ bấm vào ngón tay đeo nhẫn “Anh có cảm thấy gì không?”
-
Không, các đường gân tê liệt cả rồi.
Tôi
vẫn biết anh ta có chuyện để nói, và bây giờ anh ta bắt đầu nói ra bằng những
ngón của một bên tay. Chuyện của người đi biển. Tôi có tin được không? Tin hay
không cũng chẳng sao. Chẳng có điều nói dối nào mà không có chút sự thật trong
đó. Chỉ cần nghe như thế nào thôi.
Anh
ta cũng đã làm việc trên bến, bốc vác hàng. Anh ta nói có một hôm bốc hàng ở cần
cẩu anh ta bỗng ngửi thấy mùi gì, mở ra thấy có một xác người, hoá ra người đó
trốn vào đấy và chết đói.
Tôi
hỏi “Người đó từ đâu đến?”
-
Trung Quốc. Ở xa lắm.
Anh
ta cũng đã làm việc cho Hội bảo vệ súc vật, trông cũi chó.
-
Vì thế mà anh thích chó ư?
-
Tôi vẫn thích chó.
-
Anh có con chó nào để thay cho trẻ không?
Anh
ta chỉ ậm ừ, không nói rõ. Trước đây anh ta thường lựa xem câu nào tôi hỏi là
đáng nghe, câu nào không đáng nghe.
Tuy
nhiên, tôi dần dần chắp lại câu chuyện một cuộc đời cũng đen tối như bất cứ cuộc
đời nào khác trên trái đất này. Tôi không hiểu rồi sau khi kết thúc giai đoạn với
một bà già trong ngôi nhà rộng lớn này, anh ta sẽ còn gặp chuyện gì khác nữa? Một
bàn tay anh ta bị co quắp, không thể làm việc bình thường được. Kỹ năng kéo dây
của một thuỷ thủ cũng mất rồi. Không còn thông thạo được như người khác. Quãng
đời dang dở của anh ta không có người vợ bên cạnh. Đơn độc. Stoksiealleen (tiếng
Afrikaans: Chỉ là một cây que). Một cây que trên cánh đồng hoang. Một tâm hồn lẻ
loi, cô đơn. Ai sẽ chăm sóc cho anh ta đây?
-
Sau khi tôi đi rồi, anh sẽ làm gì?
-
Tôi tiếp tục sống.
-
Chắc chắn là thế rồi, nhưng sẽ có ai trong đời anh nữa?
Anh
ta mỉm cười khiêm tốn. “Tôi cần có ai trong đời nữa sao?”
Không
phải một câu đáp mà là một câu hỏi thật sự. Anh ta không biết nữa. Chính anh
ta, một con người thô sơ, đang hỏi tôi như thế.
-
Phải. Tôi nghĩ anh cần có một người vợ, nếu anh không cho ý kiến đó là lập dị.
Ngay cả người đàn bà anh đã đưa về đây, nếu như trong lòng anh còn nghĩ đến chị
ta.
Anh
ta lắc đầu.
“Nhưng
thôi, tôi không nói chuyện anh lấy vợ đâu, mà nói chuyện khác cơ. Tôi hứa sẽ
chăm sóc anh, trừ khi tôi không biết sau khi chết có thể làm gì được. Có lẽ
không làm gì được đâu, hoặc có cũng rất ít. Mọi việc ở đây đều có luật lệ của
nó, dù người ta mong muốn thế nào cũng chưa chắc có thể thoát khỏi. Không ai được
phép có chuyện bí mật hoặc kín đáo theo dõi. Vậy chẳng có cách nào giữ được một
khoảng riêng tư trong lòng mình hay trong lòng bất cứ ai. Mọi thứ có thể bị xóa
sạch, không chừa một thứ gì. Ý nghĩ đó thật ghê sợ. Đủ ghê sợ để người ta phải
nổi loạn, để nói rằng nếu mọi sự phải như vậy thì tôi thà rút đi còn hơn. Đây,
tôi trả lại tấm vé đây. Nhưng tôi e rằng ngay cả việc trả lại tấm vé cũng không
được phép, dù với lý do nào.
“Vì
thế anh không nên sống cô đơn, mà tôi thì có thể sẽ đi hẳn.”
Anh
ta ngồi trên giường quay lưng về phía tôi. Anh ta cúi xuống vuốt ve con chó
đang dựa vào đầu gối.
-
Anh hiểu tôi nói gì không?
Anh
ta ậm ừ trong miệng, một thứ ậm ừ có thể là đồng ý nhưng thật ra chẳng có nghĩa
gì.
-
Không, anh không hiểu đâu. Anh chẳng hiểu gì hết. Không phải triển vọng cô đơn
của anh làm tôi lo sợ, mà chính là triển vọng của tôi.
Mỗi
ngày anh ta đều ra ngoài mua hàng. Tối đến nấu ăn, rồi lảng vảng theo dõi xem
tôi có ăn được không. Tôi chẳng bao giờ thấy đói, nhưng không dám nói thẳng cho
anh ta biết. Tôi chỉ nhẹ nhàng bảo “Anh cứ đứng nhìn thế tôi không ăn được”, rồi
cất đi một chỗ sau đó cho con chó.
Món
anh ta thích làm nhất là bánh mì trắng rán với trứng và cá ngừ, đổ sốt cà chua
lên trên. Tôi nghĩ bụng giá mình biết trước thì đã dạy anh ta vài bài học về nấu
nướng.
Tuy
anh ta có cả ngôi nhà để muốn ngồi đâu thì ngồi, nhưng thực tế anh ta sống với
tôi trong phòng. Anh ta vứt túi không và giấy gói ra sàn. Giấy viết tung toé đầy
nhà như những bóng ma. Tôi kêu “Anh vứt rác ra ngoài đi”. Anh ta hứa “Tôi sẽ vứt”.
Nhưng có lúc anh ta vứt, có lúc để lại càng nhiều hơn.
Chúng
tôi cùng nằm chung một giường, như trang giấy gập đôi, như hai mảnh đời chập
vào nhau, như những bạn cũ cùng phòng, cùng giường tầng, hợp lại như vợ chồng. Lectus
genialis, lectus adversus (tiếng Afrikaans: Một chiếc giường êm ái, một chiếc
giường chống lại). Mỗi khi bỏ giày ra, trông móng chân anh ta như sừng màu vàng
gần thành nâu. Anh ta không dám thò chân xuống nước, chỉ sợ ngã và rơi vào những
khoảng sâu thẳm không thở được. Một sinh vật trên cạn, sinh vật của không khí,
như những con châu chấu ma trong truyện của Shakespeare với cẳng dài cứng của
con dế và móng như mạng nhện. Hàng đàn những con đó theo gió kéo nhau ra biển,
xa đất liền, rồi mệt mỏi bám vào nhau chết đuối trên Đại Tây Dương. Chúng bị nuốt
hết, không còn một mống. Những đôi cánh gãy trên biển thở dài như một rừng lá,
hàng triệu con mắt lờ đờ nhìn đám cua bò chung quanh, bám vào chúng và nhai
ngâu nghiến.
Anh
ta ngáy.
Mẹ
nằm bên người chồng tưởng tượng để viết cho con đây. Con tha lỗi cho mẹ nếu
hình ảnh đó khiến cho con giận mẹ. Người ta phải yêu cái gì gần mình nhất. Phải
yêu cái gì nắm lấy được, như con chó biết yêu vậy.
Bà
V.
-
Ngày
23 tháng Chín, ngày mặt trời đi qua đường phân điểm. Mưa tầm tã từ bầu trời đã
che kín núi non, bầu trời xuống thấp đến mức có thể cầm cán chổi mà đụng tới được.
Có tiếng thình thịch như một bàn tay to bằng nước đập trên nóc nhà, vỗ vào mái
ngói, vào những ống máng dã hết hồi âm, nghe bì bì như không khí biến thành nước.
Vercueil
hỏi “Cái gì thế này nhỉ?”
Anh
ta cầm chiếc hộp gỗ nhỏ màu hồng có nắp bản lề. Mở nắp thì trong hộp hiện ra một
chàng thanh niên tóc dài mặc bộ đồ kiểu cũ. Xoay góc khác thì hình ấy lại biến
thành những vệt sáng bạc dưới mặt kính.
-
Đó là tấm ảnh ngày xưa, từ hồi chưa có ảnh.
-
Ai thế?
-
Tôi không rõ. Có thể đó là anh em gì đó của ông tôi.
-
Nhà bà như viện bảo tàng ấy nhỉ.
(Anh
ta đã vào những phòng cảnh sát đột nhập).
-
Trong bảo tàng thì các đồ vật đều có nhãn. Đây là bảo tàng mà nhãn đã rơi đâu mất.
Một bảo tàng mục nát. Một bảo tàng phải đưa vào bảo tàng.
-
Nếu bà không cần nữa thì bán đi.
-
Nếu anh muốn thì bán đi. Bán cả tôi nữa.
-
Để làm gì?
-
Để lấy xương, lấy tóc. Bán cả răng của tôi nữa. Trừ phi anh cho là tôi chẳng
còn đáng gì hết. Rất tiếc là chúng ta không có chiếc xe trẻ con thường dùng để
đẩy người đi. Anh có thể đẩy tôi xuống Đại lộ, hoặc đem tôi đến một chỗ tối,
thí dụ đống rác và vứt tôi ở đó.
Mỗi
khi muốn hút thuốc, anh ta thường ra ngoài hiên. Bây giờ anh ta hút ngay ở đầu
cầu thang, để khói thuốc bay vào phòng. Tôi không thể chịu được. Nhưng bây giờ
đã đến lúc phải quen dần với những gì tôi không chịu được.
Anh
ta bước đến nhìn tôi giặt đồ lót trong chậu. Tôi đau người, không cúi xuống được.
Chắc anh ta thấy ngứa mắt, bảo “Để tôi giặt cho”. Tôi từ chối. Giặt xong tôi
không với tay đến dây phơi. Anh ta phơi hộ tôi, phơi đồ lót của một bà già. Anh
ta có vẻ buồn bã, chẳng nhiệt tình chút nào.
Cái
đau trong người tôi mỗi lúc một dữ dội, tôi rùng mình, tái mặt, mồ hôi lạnh lã
chã. Có lúc anh ta cầm lấy tay tôi. Tôi giẫy giụa trong tay anh ta như con cá cắn
câu. Tôi biết lúc đó trông bộ dạng tôi thật xấu, bộ dạng thường có ở người đang
say mê làm tình, tàn nhẫn và lợi dụng. Anh ta không thích nhìn cái vẻ đó, quay
mặt đi. Còn tôi, tôi nghĩ cứ để anh ta nhìn cho biết như thế là thế nào.
Anh
ta có con dao trong túi. Không phải loại dao gấp mà lưỡi dao có đầu nhọn bọc vỏ
cây. Lúc nằm trên giường, anh ta để con dao cùng với tiền bên cạnh, trên mặt
sàn.
Vậy
là tôi được bảo vệ. Tử thần sẽ phải suy nghĩ trước khi định bước qua con chó và
con người này.
Anh
ta hỏi “La tinh là cái gì?”
Tôi
đáp, đó là thứ ngôn ngữ đã chết rồi, chỉ người chết mới dùng ngôn ngữ ấy.
Anh
ta nói “Thật thế à?” Xem ra anh ta có vẻ thích thú.
Tôi
nói “Thật thế đấy. Hiện nay ngôn ngữ ấy chỉ dùng ở những cuộc tang lễ. Tang lễ
và những đám cưới vớ vẩn”.
-
Bà thử nói xem.
Tôi
đọc một đoạn Virgil, đoạn dành cho những người chết không được nhắm mắt:
Nec
ripas datur horrendas et rauca fluenta
Transprotare
prius quam sedibus ossa quierunt.
Centum
errant annos volitantque havec littora cirum:
Tum
demum admissi stagna exoptata revisunt.
(Nó
cũng không được trao cho bờ dòng chảy khủng khiếp và khàn khàn
Họ
muốn vượt qua xương trước khi ổn định cuộc sống.
Họ
lang thang hàng trăm năm và bay dọc theo những bờ biển này:
Rồi
cuối cùng họ quay trở lại cái ao mong muốn.)
Anh
ta hỏi “Thế nghĩa là gì?”
-
Nghĩa là nếu anh không đem thư gửi cho con gái tôi, tôi sẽ phải sống khổ một
trăm năm nữa.
-
Không thể thế được.
-
Được chứ. Ossa là từ trong nhật ký. Tức là những ngày mà cuộc đời mình đã được
ghi trong đó.
Rồi
anh ta lại nói “Bà đọc la tinh nữa đi”. Tôi đọc, thấy anh ta nghe và môi cũng mấp
máy theo. Tôi đoán anh ta muốn thuộc. Nhưng không phải thế. Đó chỉ là những âm
tiết dài ngắn tác động đến mạch máu và cổ họng của anh ta thôi.
-
Bà dạy những thứ đó à? Nghề của bà đó à?
-
Phải, nghề của tôi đấy. Tôi sống bằng nghề đó. Đem tiếng nói cho người chết.
-
Vậy ai trả lương cho bà?
-
Những người đóng thuế. Nhân dân Nam Phi, cả lớn lẫn bé.
-
Bà dạy tôi được không?
-
Tôi có thể dạy anh. Dạy phần lớn những từ La mã thôi, còn Hy lạp thì tôi không
chắc lắm. Tôi còn có thể dạy được, nhưng sẽ chẳng có thì giờ mà học hết đâu.
Tôi
có thể thấy anh ta khoái chí.
Tôi
nói “Học la tinh anh sẽ thấy rất dễ. Có thể nhớ được nhiều”.
Lại
một thách thức nữa, một sự thân mật nữa mà tôi biết. Tôi như người dàn bà với một
anh chồng có nhân tình đang giấu giếm, mắng mỏ anh ta, buộc anh ta phải chung
thuỷ. Nhưng tôi nói anh ta không thèm để tai. Anh ta chẳng giấu giếm gì hết.
Cái dốt của anh ta là có thật. Dốt và ngây thơ.
Tôi
bảo “Sao không thấy anh nói gì thế nhỉ? Anh cứ nói xem những lời vừa rồi đưa
anh đến đâu?”
Nhưng
anh ta đang ở ngưỡng cửa, không bước qua được. Anh ta đứng chững lại, không nói
gì, nheo mắt và nấp sau làn khói thuốc lá để tôi không nhìn thấy.
Con
chó chạy quanh anh ta rồi chạy đến chỗ tôi, rồi chạy đi, không chịu ngồi yên một
chỗ.
Chả
có lý người được phái đi là con chó, chứ không phải anh ta?
Mẹ
nghĩ con sẽ chẳng bao giờ được gặp anh ta đâu.
Mẹ
muốn gởi cho con một tấm ảnh nhưng lần trước máy ảnh đã bị chúng lấy trộm rồi.
Dù sao anh ta cũng không phải thứ người ăn ảnh. Mẹ đã nhìn ảnh anh ta trên thẻ
chứng minh. Trông như một tên tù vừa ra khỏi bóng tối nhà giam, bị đẩy vào căn
buồng sáng trưng, bắt đứng dựa vào tường, nghe họ quát bảo phải đứng nghiêm. Tấm
ảnh như họ bức hiếp anh ta phải chụp.
Anh
ta giống như một trong những sinh vật nửa huyền thoại, xuất hiện mờ ảo, hình
dáng mơ hồ biến trong bụi rậm, có thể đó là người hay thú, hoặc chỉ là chấm bẩn
trong thuốc tráng phim, không được chứng minh, không được chứng nhận. Hoặc nằm ở
bên lề tấm hình, trong bẫy kẹp của cánh tay, hay cẳng chân, hoặc sau gáy.
Mẹ
hỏi anh ta “Anh có muốn sang Mỹ không?”
-
Tại sao?
-
Để đem thư của con tôi đi. Đáng lẽ gửi bưu điện, anh có thể đích thân mang đi.
Bay sang Mỹ rồi bay về. Sẽ chỉ như một cuộc phiêu lưu thôi. Còn hơn đi tàu thuỷ.
Con gái tôi sẽ gặp anh, chăm nom anh. Tôi sẽ mua vé trước. Anh đi được không?
Anh
ta cười hô hố. Mẹ biết có những câu nói đùa mẹ đã đánh trúng tâm lý anh ta.
Mẹ
bảo “Tôi nói thật đấy”.
Nhưng
sự thật đó không phải một đề nghị nghiêm túc. Mẹ hình dung Vercueil với đầu tóc
cắt ngắn, mặc quần áo rẻ tiền, ngồi láng cháng ở phòng khách nhà con, chỉ muốn
uống rượu nhưng ngại không dám đòi, còn con thì ở phòng bên, trẻ con đang ngủ,
chồng đang ngủ, ngồi nghiền ngẫm bức thư như một lời thú tội điên rồ này, mẹ
không dám nghĩ đến chuyện đó. Con sẽ nghiến răng nói “Tôi không cần bức thư này!
Tôi đã phải sáng đây để trốn tránh những chuyện đó, tại sao nó còn tôi sang đây
chứ?”
Mẹ
vẫn còn thì giờ mở xem những tấm ảnh mấy năm qua con gởi từ Mỹ về. Mẹ thấy hình
như con bấm máy trên một cái nền lộn xộn. Thí dụ mặt mũi hai đứa trẻ ngồi trong
xuồng máy lẫn với sóng gợn trên mặt hồ và màu xanh của lá cây linh sam lẫn màu
da cam của những chiếc áo phao chúng mặc vào người, y như nước và những thứ
khác đều cùng một màu. Mẹ nhìn màu sắc sán lạn trong ảnh mà mê người, tưởng như
ảnh có chất cao su hoặc nhựa, sờ vào thấy ran rát. Không hiểu tại sao những vật
liệu xa lạ với mẹ ấy, có lẽ xa lạ với cả loài người, được chế tạo, thổi hơi và
đeo vào người hai đứa trẻ, gợi cho mẹ nghĩ rất nhiều về cái thế giới con đang sống,
và tại sao tinh thần mẹ suy sụp khi nhìn thấy thế? Mẹ không biết nữa. Nhưng vì
những điều mẹ viết đây thỉnh thoảng đưa mẹ từ chỗ không biết gì đến chỗ bắt đầu
biết được, phải nói là mẹ mất hết can đảm, không dám nghĩ rằng những đứa trẻ của
con sẽ chẳng bao giờ chết đuối. Với những hồ nước ấy, ở vùng đất nhiều sông hồ ấy,
chẳng may xuồng bị lật thì những chiếc áo phao có cánh màu da cam giúp cho mấy
đứa trẻ của con nổi bồng bềnh trên mặt nước, rồi sẽ có xuồng máy đến kéo chúng
lên, và mọi thứ sẽ trở lại bình thường.
Sau
tấm ảnh con ghi đó là khu giải trí. Mặt hồ và rừng cây được kiểm soát và đặt
tên lại.
Con
bảo sẽ không có thêm con nữa. Giới hạn tuổi để có con sắp hết. Hai đứa trẻ ấy
như hạt giống được gieo trong gió tuyết Mỹ sẽ chẳng bao giờ chết đuối, tuổi thọ
của chúng sẽ là bảy mươi lăm và có thể nhiều hơn nữa. Ngay mẹ đây, sống ở vùng
biển mà nước đã nuốt chửng cả những người lớn, mỗi năm tuổi thọ càng giảm đi,
thế mà mẹ còn có cái chết không được sáng tỏ. Huống chi hai đứa trẻ của con,
thua kém về quyền lợi so với mọi người, bơi lội ở khu giải trí đó hỏi còn hy vọng
gì? Chúng sẽ chết ở tuổi bảy mươi lăm hay tám mươi lăm trong tình trạng ngu ngốc
như khi chúng ra đời thôi.
Chẳng
lẽ mẹ mong cho hai đứa cháu mình chết hay sao? Lúc này đây, giở những trang thư
con có cảm thấy ghê tởm không? Con có kêu lên rằng bà già này điên rồ không?
Chúng
không phải là cháu mẹ. Chúng quá xa vời, không thể là cháu của mẹ ở bất cứ dạng
nào. Mẹ không để lại sau một gia đình đông con. Chỉ một đứa con gái, một người
mới kết thân và một con chó.
Mẹ
hoàn toàn không mong muốn họ chết. Cuộc đời của hai đứa trẻ đã gạt bỏ mẹ dù sao
cũng coi như chết rồi. Không đâu, mẹ mong cho những đứa trẻ của con sống. Nhưng
những chiếc áo phao con đeo vào cho chúng sẽ không đảm bảo cho chúng sống được.
Cuộc sống chỉ là cát bụi dính vào kẽ chân. Cuộc sống là cát bụi dính vào răng lợi.
Cuộc sống là ăn phải cát bụi.
Hoặc
cuộc sống đang chết đuối. Rơi xuống nước, rơi xuống sàn.
-
Thời
gian của mẹ đã gần hết. Mẹ sẽ phải nhờ đến sự giúp đỡ của những gì là gần gũi
nhất. Đã đến lúc phải kết thúc câu chuyện buồn này thôi. Không phải mẹ nghi ngờ
sự giúp đỡ của Vercueil. Đã đến lúc cuối rồi, mẹ chẳng còn nghi ngờ gì anh ta nữa.
Trong anh ta vẫn còn lảng vảng một chút lo lắng cho mẹ, điều mà anh ta không thốt
ra được. Mẹ đã ngã xuống và anh ta đã kịp đỡ mẹ. Khi đến đây, không phải anh ta
ngã mà được mẹ nâng đỡ đâu. Bây giờ thì mẹ hiểu không phải mẹ ngã và anh ta
nâng đỡ, mà cả hai cùng ngã vào nhau, lảo đảo đứng dậy và từ đó đã tin cậy
nhau.
Tuy
thế mẹ có thể tưởng tượng còn lâu anh ta mới là y tá, là vú nuôi, là người nuôi
mẹ. Người anh ta khô cạn. Rượu anh ta uống không phải nước mà là lửa. Có lẽ vì
thế mà mẹ không thể tưởng tượng anh ta có con, vì tinh trùng của anh ta khô, có
màu nâu như của nhuỵ hoa hoặc cát bụi ở cái xứ sở này.
Mẹ
cần anh ta có mặt, an ủi, giúp đỡ, nhưng anh ta cũng cần mẹ giúp. Anh ta cần
cái thứ chỉ người đàn bà mới cho đàn ông được. Không phải quyến rũ mà là quy nạp.
Anh ta không biết yêu là thế nào. Mẹ không nói đến những chuyển động của linh hồn
mà một cái gì đơn giản hơn. Anh ta không biết yêu, cũng như đứa trẻ chẳng biết
yêu là thế nào. Không biết đâu là khóa kéo, là nút khuy. Không biết cái gì sẽ
đi đến đâu. Không biết làm như thể nào và phải làm cái gì.
Càng
gần đến lúc kết thúc, anh ta càng tỏ ra trung thực hơn. Tuy vậy mẹ vẫn phải cầm
tay anh ta để chỉ chỗ.
Mẹ
nhớ hôm mẹ và anh ta cùng ngồi trong xe, anh ta đưa hộp diêm và bảo mẹ làm đi.
Mẹ rất phẫn nộ. Nhưng như thế thì mẹ đâu có công bằng với anh ta? Hình như bây
giờ anh ta đã quan niệm rõ về cái chết hơn một cô gái đồng trinh quan niệm về
tình dục. Cũng vẫn là tò mò như nhau thôi. Cái tò mò của một con chó ngửi vào bẹn
nó, vẫy đuôi, rồi thè cái lưỡi đỏ và ngu ngốc như dương vật.
Hôm
qua anh ta giúp mẹ đi tắm, áo mẹ tuột ra và mẹ bắt gặp anh ta nhìn chòng chọc.
Y như bọn trẻ trên phố Mill vậy, cái nhìn của anh ta chẳng có gì là đứng đắn. Đứng
đắn là điều không thể giải thích được, là cái nền cho mọi đạo lý là điều mà ta
không thể làm. Ta không chăm chú nhìn lúc linh hồn rời khỏi thể xác, vì nước mắt
đã che mờ hoặc ta che mắt bằng tay. Ta không chăm chú nhìn những vết sẹo đã
khép kín, đã khâu kín, nơi mà linh hồn cố sức bỏ đi nhưng rồi buộc phải trở lại.
Mẹ
hỏi anh ta cho mèo ăn chưa. Anh ta bảo “Rồi” nhưng là nói dối. Vì đám mèo đã bị
anh ta đuổi đi hết. Mẹ cần gì đâu? Không, mẹ chẳng cần gì nữa. Sau khi đã chăm
sóc cho con, chăm sóc anh ta, trong lòng mẹ chẳng còn bất cứ gì. Như người ta
thường nói, còn gì thì cũng tiêu ma hết.
Đêm
qua, tự nhiên lạnh ghê gớm, mẹ định gọi con để từ biệt. Nhưng mẹ biết con sẽ
không đến. Mẹ thầm nhắc tên con “con gái ơi, con của mẹ ơi”. Mẹ thầm gọi trong
bóng tối, nhưng tất cả chỉ thể hiện trong ánh sáng, tấm ảnh con mà không phải
con. Mẹ nghĩ bụng thế là cắt đứt hết rồi, ngay cả thời gian cũng cắt đứt rồi.
Bây giờ không còn gì giữ mẹ lại được nữa.
Nhưng
mẹ lại ngủ thiếp, rồi tỉnh dậy, mẹ vẫn còn đây, sáng nay rất mạnh khoẻ. Có lẽ
không phải mẹ gọi con đâu. Có lẽ mẹ lạnh vì nghe bên kia biển gọi mẹ bước ra khỏi
thân xác mà mẹ không biết đó thôi.
Con
thấy không, mẹ vẫn còn tin ở tình yêu của con.
Mẹ
sắp sửa cho con thoát khỏi những lời lẽ ràng buộc con đây. Con không cần phải
thương mẹ. Con hãy dành chút suy nghĩ cho người đàn ông bị bỏ rơi này đi, anh
ta không biết bơi, cũng chưa biết bay.
Mẹ
ngủ, rồi tỉnh dậy trong cái lạnh, ruột gan mẹ, tim mẹ xương tủy mẹ, tất cả đều
lạnh toát. Cửa ra hiên mở toang, màn cửa tung bay trong gió.
Vercueil
đứng ngoài hiên nhìn lá cây xào xạc. Mẹ sờ vào tay anh ta, sờ ngực, sờ vai, và
khúc xương ở cột sống. Mẹ run lập cập, lên tiếng hỏi “Anh nhìn gì thế?”
Anh
ta không trả lời. Mẹ đứng sát lại. Dưới kia là cả một khoảng tối, lá cây rung động,
xào xạc, như trèo những nấc thang lên bóng tối.
Mẹ
hỏi “Đã đến lúc chưa?”
Mẹ
quay vào giường, chui vào đống khăn lạnh tối om. Màn cửa mở, rồi anh ta đến nằm
cạnh mẹ. Lần đầu tiên mẹ không ngửi thấy gì hết. Anh ta đưa tay ra ôm mẹ, giữ mẹ
rất chặt, khiến mẹ thở dốc. Cái ôm đó chẳng có chút gì gọi là nồng ấm.
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét