Nhà giả kim (1) - Paulo Coelho
2024-08-17
Nhà
giả kim (1)
Paulo Coelho
Dịch giả: Lê Chu Cầu
Bản tiếng Anh: The Alchemist
Translated by Clifford E. Landers
Vào truyện
Nhà
luyện kim đan cầm lấy quyển sách mà một người trong đoàn lữ hành mang theo. Quyển
sách đã cũ và long gáy nhưng ông vẫn đọc được tên tác giả: Oscar Wilde. Mở ra đọc,
ông thấy có một câu chuyện về hoa thủy tiên. Dĩ nhiên, ông không lạ gì truyền
thuyết về chàng Narziss xinh trai, ngày ngày soi mặt trên hồ nước để tự chiêm
ngưỡng sắc đẹp của mình. Chàng say mê chính mình đến nỗi một ngày kia nghiêng
quá đà, ngã xuống hồ và chết đuối. Thế là từ nơi đó mọc lên một bông hoa đẹp,
mang tên chàng Narziss nọ. Nhưng Oscar Wilde không kết thúc câu chuyện như thế
mà kể rằng sau khi chàng chết, những nàng tiên trong rừng hiện ra, thấy hồ nước
ngọt kia giờ đã biến thành một đầm lầy mặn vì nước mắt.
“Vì
sao em khóc?” – các nàng tiên hỏi.
“Vì
em thương tiếc chàng Narziss”, hồ nước đáp.
“Phải
rồi. Các chị chẳng ngạc nhiên tí nào. Và tuy tất cả chúng ta đều theo đuổi
chàng nhưng chỉ mình em được chiêm ngưỡng sắc đẹp tuyệt vời ấy”.
“Chàng
xinh trai đến thế ư?”, hồ nước ngơ ngác hỏi.
“Còn
ai biết điều này rõ hơn là em chứ?” – các nàng tiên ngạc nhiên – “ngày nào mà
chàng chẳng cúi người soi mình trên mặt hồ”.
Nghe
thế, hồ nước im lặng hồi lâu rồi mới đáp: “Đúng là em khóc chàng Narziss, nhưng
em chưa bao giờ để ý rằng chàng đẹp trai đến thế. Em khóc chàng vì mỗi lần
chàng soi người trên mặt hồ thì em mới thấy được sắc đẹp của chính em hiện lên
rõ trong đôi mắt chàng”.
“Quả
là một câu chuyện tuyệt vời”, nhà luyện kim đan nói.
-
PHẦN MỘT
1🐫
Khi
cậu chăn cừu Santiago xua được đàn cừu về đến ngôi nhà thờ cổ và hoang phế thì
trời đã sẩm tối. Ngôi nhà thờ này đã bị sập mái từ khá lâu rồi và nơi xưa kia
là phòng thay áo lễ nay sừng sững một cây dâu tằm to tướng. Cậu quyết định ngủ
qua đêm tại đấy. Thế là cậu lùa lũ cừu qua khung cửa đã hư hại rồi chắn lại bằng
vài thanh gỗ để đêm đến lũ vật khỏi chui ra. Tuy vùng này không có chó sói
nhưng đã có đêm một con cừu chui ra ngoài khiến hôm sau cậu mất cả ngày đi tìm.
Rồi cậu trải áo khoác trên nền đất, ngả lưng và dùng quyển sách đang dọc dở làm
gối. Trước khi ngủ, cậu tự nhủ sau này phải tìm những sách dày hơn để vừa có thể
đọc được lâu, vừa có thể dùng làm gối tốt hơn. Khi cậu thức giấc thì trời còn tối
mịt. Nhìn lên trời cao, cậu thấy sao lấp lánh giữa những xà ngang. “Mình còn muốn
ngủ tiếp mà”, cậu thầm nghĩ. Cậu lại vừa mơ giấc mơ y hệt cách đây một tuần và
lần này cũng thức giấc giữa cơn mơ. Cậu ngồi dậy, uống một hớp vang rồi dùng loại
gậy của người chăn cừu đánh thức từng con một. Càng ngày cậu càng có cảm tưởng
là lũ vật cùng thức dậy một lượt với mình như thể có một sự hòa điệu thần bí giữa
đời cậu và những con vật từ hai năm nay đi theo cậu, nay đây mai đó, tìm thức
ăn và nước uống. “Chúng đã quá quen với mình nên biết luôn cả giờ giấc của mình”,
cậu nghĩ. Nhưng sau một lúc suy ngẫm cậu lại thấy có thể ngược lại lắm, rằng cậu
đã quen với giờ giấc của bầy cừu. Một vài con chưa chịu dậy ngay. Cậu lấy gậy
đánh thức, gọi tên từng con một. Cậu luôn luôn có cảm tưởng lũ cừu hiểu biết những
gì mình nói. Cho nên đôi lúc cậu đọc cho chúng nghe vài đoạn trong những quyển
sách mà cậu đặc biệt thích, hoặc cậu triết lí về cuộc sống đơn độc và niềm vui
của người chăn cừu, hay là bình phẩm về những tin mới biết được nơi những thành
phố câu thường đi qua. Nhưng từ hai ngày nay cậu hầu như chỉ nói về một đề tài:
cô con gái của một nhà buôn ở cái thành phố nhỏ mà bốn ngày nữa cậu và lũ cừu sẽ
đến. Năm ngoái là lần đầu tiên cậu đến nhà người lái buôn này, chủ một cửa hàng
vải vóc. Ông ta đòi phải xén lông cừu ngay trước cửa hàng để khỏi bị lọc lừa. Lần
đó một người quen đã giới thiệu với cậu cửa hàng này và giờ đây cậu lại dẫn bầy
cừu đến đó.
2🐫
“Tôi
muốn bán lông cừu”, lần đó cậu đã nói với ông nhà buôn kia như thế. Cửa tiệm
đang đầy khách hàng nên ông ta yêu cầu chàng chăn cừu đợi đến xế trưa. Thế là cậu
ngồi ngay xuống lề đường trước cửa hiệu, lôi trong bị ra một quyển sách.
“Mình
không biết là chăn cừu mà cũng đọc được sách đấy”, một giọng con gái cất lên
ngay cạnh cậu.
Đúng
là một cô gái đất Andalusia (Andalusia: vùng phía nam Tây Ban Nha, sát Đại Tây
Dương và Địa Trung Hải), với mái tóc đen dài và đôi mắt phảng phất nét người
Mauren (Người Mauren (tiếng Anh: Moor): một sắc dân du mục ở Bắc Phi, đã đô hộ
Tây Ban Nha từ thế kỉ VIII đến thế kỉ XV) xâm lược xưa kia.
“Bởi
vì giống cừu còn dạy tôi biết được nhiều điều hơn là sách vở”, cậu đáp.
Hai
người trò chuyện tíu tít suốt hơn hai tiếng. Cô gái cho biết mình là con người
chủ tiệm kia và kể về cuộc sống đơn điệu, ngày nào như ngày nấy ở đó. Về phần
mình, cậu chăn cừu kể về phong cảnh vùng Andalusia và về những tin mới lạ ở những
nơi cậu đã đi qua. Cậu lấy làm vui sướng vì có người lắng nghe chuyện mình.
“Anh
học đọc sách như thế nào?”, cô muốn biết.
“Trong
trường học, như mọi người khác”, cậu đáp.
“Nhưng
nếu anh đọc sách được thì sao anh chỉ thành một người chăn cừu bình thường
thôi?”.
Cậu
bối rối vì tin chắc rằng cô sẽ không hiểu nổi cậu. Để tránh né trả lời, cậu tiếp
tục kể về hành trình của mình và đôi mắt nhỏ phảng phất mắt người Mauren của cô
gái khi tròn xoe, lúc nheo lại vì kinh ngạc. Thời gian trôi qua, còn cậu thầm ước
ngày hôm ấy đừng bao giờ chấm dứt, hoặc là bố cô cứ tiếp tục để cậu chờ thêm ba
ngày nữa. Cậu thấy một cảm giác khác lạ chưa từng biết đến: đó là mơ ước được sống
ổn định một nơi. Có cô gái này bên cạnh thì chẳng còn ngày nào là nhàm chán nữa.
Nhưng rồi ông nhà buôn đến, bảo xén cho lông bốn con cừu, trả tiền ngay rồi bảo
cậu sang năm trở lại.
3🐫
Bây
giờ chỉ còn có bốn ngày đường nữa là đến thành phố kia. Cậu nao nức nhưng lòng
lại bồn chồn: biết đâu cô gái đã quên cậu lâu rồi. Thiếu gì người chăn cừu đi
qua đấy để bán lông cừu.
“Chẳng
cần”, cậu nói to với bầy cừu, “bề gì tao cũng quen khối con gái ở bao thành phố
khác”.
Nhưng
trong thâm tâm cậu biết mình không thể chẳng cần, vì rằng bất cứ người chăn cừu,
người thủy thủ hay người khách thương nay đây mai đó nào cũng có ở đâu đó một kẻ
khiến cho họ quên mất thú vui được tự do giang hồ đi cùng trời cuối đất.
4🐫
Trời
hửng sáng. Cậu chăn cừu lùa lũ vật đi về hướng mặt trời mọc.
‘Loài
vật chẳng bao giờ phải tự quyết định về bất cứ chuyện gì’, cậu nghĩ. ‘Có lẽ vì
vậy mà chúng quấn quýt với mình’.
Nhu
cầu duy nhất của lũ cừu là ăn và uống. Bao lâu còn dẫn chúng đến được những đồng
cỏ mượt mà của vùng Andalusia thì chúng vẫn mãi là những người bạn thân thiết,
dù cho một ngày như mọi ngày với những giờ tẻ nhạt trôi qua từ lúc hừng đông đến
khi mặt trời lặn, dù cho chúng không hề đọc một quyển sách trong cuộc sống ngắn
ngủi và không bao giờ hiểu được tiếng người ta kháo nhau về những chuyện mới lạ
ở nơi này nơi nọ. Được cho ăn và cho uống là chúng hài lòng. Với chúng thì thế
là đủ. Đổi lại, chúng là những người bạn đồng hành đem lại niềm vui, cống hiến
nhiều len và thỉnh thoảng cả thịt nữa.
‘Nếu
bất chợt mình biến thành một kẻ hung ác, giết hết con này đến con khác thì chắc
khi cả lũ chết gần hết rồi chúng mới biết’, cậu thầm nghĩ. ‘Vì chúng mù quáng
tin vào mình, chứ không còn tin ở bản năng của chúng nữa. Chỉ bởi vì mình là kẻ
dẫn chúng đến những đồng cỏ xanh và nguồn nước mát.’
Cậu
chợt ngạc nhiên trước những suy nghĩ này của chính mình. Có lẽ ngôi nhà thờ cổ
này cùng với cây dâu tằm bị ma ám rồi chăng. Dù sao đi nữa thì cũng tại hai thứ
này mà cậu mơ giấc mơ kia thêm lần thứ hai và vô cớ tức bực với những người bạn
đồng hành trung thành của mình. Cậu uống một ngụm vang còn lại của chiều hôm
trước và kéo áo khoác sát mình hơn. Cậu biết chỉ ít giờ nữa, khi mặt trời đứng
bóng thì sẽ quá nóng, không lùa cừu đi trên đồng cỏ được nữa. Lúc đó cả nước
Tây Ban Nha sẽ ngủ giấc trưa hè. Nóng tới tận chiều, thế mà cậu vẫn phải tha
theo người chiếc áo khoác. Nhưng mỗi khi sắp càu nhàu về cái áo nặng như cùm
kia thì cậu lại thấy biết ơn nó vì nhờ nó mà sáng ra cậu không bị rét run người.
‘Mình
luôn luôn phải phòng khi thời tiết giở chứng bất thường’, cậu nghĩ và thấy sung
sướng có cái áo khoác nặng.
Cái
áo, cũng như cuộc đời cậu, có ý nghĩa của nó. Sau hai năm rong ruổi, cậu biết
tường tận mọi thành phố vùng Andalusia và cả mục đích của đời mình, đó là: đi
du hành. Cậu định lần này sẽ giải thích cho cô gái biết vì sao mà cậu, một gã
chăn cừu bình thường, lại biết đọc. Cho tới năm mười sáu tuổi cậu còn theo học
trong một chủng viện. Cha mẹ cậu mong cậu sẽ trở thành linh mục; được như thế
thì mọi gia đình nông dân bình thường như gia đình cậu sẽ rất tự hào. Vì chính
những người nông dân này đến nay cũng chỉ sống nhờ ăn và uống, chẳng khác gì bầy
cừu của cậu. Thế là cậu được học tiếng Latinh, tiếng Tây Ban Nha và thần học.
Nhưng từ nhỏ cậu đã mơ ước đi cùng khắp thế giới bao la và điều này đối với cậu
quan trọng hơn là biết về Chúa và tội lỗi của loài người. Rồi vào một buổi xế
trưa, nhân dịp về nhà thăm cha mẹ, cậu thu hết can đảm nói với bố rằng mình
không muốn trở thành linh mục, mà muốn được đi đây đó.
5🐫
“Từ
bốn phường trời thiên hạ đã đến nơi đây rồi, con ạ”, lần ấy bố cậu nói. “Họ đến
để tìm sự mới lạ, nhưng rồi thì họ vẫn mãi là chính họ. Họ leo lên đồi để xem
thành quách rồi cho rằng quá khứ hay ho hơn hiện tại. Dù tóc họ vàng hay da họ
ngăm, nói chung họ cũng giống như dân thành phố này cả thôi”.
“Nhưng
con chưa biết các thành quách ở đất nước họ”, cậu đáp.
“Khi
đã quen phong thổ và phụ nữ vùng này rồi thì những người đàn ông nọ nói rằng họ
muốn vĩnh viễn ở lại đây”, ông bố nói tiếp.
“Con
cũng rất muốn biết về phụ nữ và đất nước của họ”, cậu thú nhận. “Vì thật ra họ
có hề ở lại đây mãi đâu”.
“Họ
thừa tiền, thừa bạc con ạ”, ông bố đáp. “Còn vùng mình chỉ có người chăn cừu mới
phải nay đây mai đó thôi”.
“Thế
thì con sẽ làm kẻ chăn cừu”.
Ông
bố không nói gì nữa cả. Hôm sau ông cho cậu một túi tiền đựng ba đồng tiền vàng
cổ Tây Ban Nha. “Bố tình cờ tìm thấy trong ruộng nhà ta cách đây lâu rồi. Lẽ ra
là tiền để cho con được nhận vào nhà thờ đấy. Con lấy mà mua một đàn cừu, rồi
đi khắp nơi khắp chốn cho đến khi con hiểu ra rằng làng mạc, thành quách vùng
mình tuyệt vời nhất, phụ nữ vùng mình xinh đẹp nhất.”
Rồi
ông ban phúc chúc lành cho cậu. Cậu đọc thấy trong mắt bố cũng chính niềm mơ ước
được phiêu du. Nó vẫn sống mãi trong ông sau hàng chục năm tìm cách lãng quên
qua những lo toan sao cho có cái ăn, cái uống hằng ngày và một chốn nương thân.
6🐫
Chân
trời đỏ ối, mặt trời dần lên. Cậu chăn cừu nhớ đến lần chuyện trò với bố và cảm
thấy sung sướng; từ đó đến nay cậu đã qua nhiều thành quách và quen biết nhiều
phụ nữ nhưng không có ai giống như cô gái cậu sẽ gặp lại trong ít ngày tới. Cậu
có cái áo khoác, một quyển sách mà cậu có thể đổi lấy một quyển khác và một đàn
cừu. Nhưng cái chính là mỗi ngày cậu đều thực hiện được ước mơ của mình: đi khắp
đó đây. Khi nào chán vùng Andalusia bao la, cậu có thể bán bầy cừu để trở thành
thủy thủ. Rồi khi chán biển cả, cậu có thể thăm thú mọi thành phố, làm quen với
bao phụ nữ và thử mọi phương cách để đạt hạnh phúc. “Mình thật không hiểu nổi
làm sao người ta có thể tìm thấy Chúa trong lớp học cho chúng sinh được”, cậu
nghĩ trong lúc ngắm nhìn mặt trời lên.
Vì
cậu luôn tìm những con đường mới để đi nếu điều kiện cho phép, nên dù đã nhiều
lần qua lại vùng này nhưng trước đây cậu chưa từng vào ngôi nhà thờ hoang tàn nọ.
Thế giới bao la vô cùng tận; giả thử cứ để cho bầy cừu dẫn đi thì chắc hẳn cậu
sẽ còn phát hiện được nhiều điều hay ho nữa. “Chúng không nhận ra rằng ngày
ngày chúng đi đường mới. Chúng không biết đồng cỏ khác nhau và bốn mùa thay đổi,
vì chúng chỉ lo có mỗi chuyện ăn và uống.
Nhưng
biết đâu con người cũng y như thế”, cậu nghĩ. “Ngay chính mình cũng không nghĩ
đến cô gái nào khác từ khi quen con gái chủ tiệm vải nọ.” Cậu nhìn trời và áng
chừng sẽ đến Tarifa trước giữa trưa. Ở đấy cậu có thể đổi quyển sách lấy quyển
dầy hơn, mua đầy bình rượu vang, cạo râu, cắt tóc. Cậu định chuẩn bị cho bảnh để
đi gặp cô gái chứ không muốn thắc mắc rằng biết đâu một gã chăn cừu khác với một
bầy cừu lớn hơn đã đến đó trước cậu và hỏi cưới nàng rồi. “Chỉ khi nào có khả
năng thực hiện được giấc mơ thì cuộc sống mới đáng sống”, cậu cân nhắc trong
lúc nhìn trời lần nữa và rảo bước. Cậu chợt nhớ ra rằng ở Tarifa có một bà già
giải đoán được mộng mị. Mà tối hôm qua cậu lại mơ y như lần trước.
7🐫
Bà
lão dẫn khách vào phòng trong của ngôi nhà, ngăn với phòng khách bởi tấm mành
làm bằng các dải nylon sặc sỡ. Ở đấy có một cái bàn, hai cái ghế và một hình
Chúa Jesu.
Bà
lão ngồi rồi bảo cậu ngồi theo. Xong, bà nắm lấy hai bàn tay cậu, khẽ lẩm bẩm đọc
kinh.
Nghe
như kinh của người Zigeuner (Zigeuner: (tiếng Anh: gypspy) một sắc dân “du cư”,
gốc từ Ấn Độ, sang châu Âu từ thế kỉ XV). Trong cuộc hành trình cậu đã từng gặp
không ít người Zigeuner rồi; họ cũng đi khắp nơi này nơi khác tuy không chăn cừu
như cậu. Người ta bảo rằng dân Zigeuner chuyên lọc lừa. Người ta còn nói thêm rằng
họ liên minh với ma quỷ, rằng họ cướp trẻ thơ, bắt chúng làm nô lệ trong các
khu lều âm u của họ. Thuở nhỏ cậu rất sợ bị người Zigeuner bắt cóc, thành ra
khi bà lão nắm tay thì nỗi sợ xưa lại ập đến.
“Nhưng
bà ta treo hìng Chúa Jesu trên tường mà”, cậu tìm cách tự trấn an. Cậu không muốn
tay mình run lên để bà lão không nhận ra được rằng mình đang sợ. Cậu thầm đọc
kinh lạy Cha.
“Lạ
thật”, bà lão nói, mắt vẫn nhìn chăm chắm đôi bàn tay cậu; rồi im bặt.
Cậu
càng thêm lo. Bà lão nhận thấy tay cậu bỗng dưng run lên. Cậu vội rụt tay về.
“Tôi
đến đây không phải để nhờ xem chỉ tay”, cậu nói và ân hận đã đến chốn này.
Trong một khoảnh khắc cậu nghĩ tốt hơn cả nên trả tiền rồi chuồn thẳng. Đúng là
cậu đã quá quan trọng hóa giấc mơ của mình.
“Cậu
đến đây vì muốn tìm hiểu về giấc mơ”, bà lão đáp. “Mà mơ là ngôn ngữ của Chúa.
Nếu người nói bằng ngôn ngữ thế gian thì ta giải đoán được. Nhưng nếu người nói
bằng ngôn ngữ của tâm hồn thì chỉ mình cậu có thể hiểu được thôi. Tuy thế ta
cũng thử xem sao”.
“Lại
một kế mọn”, cậu chăn cừu nghĩ. Tuy thế cậu muốn thử một lần xem sao. Chẳng gì
người chăn cừu cũng liều đối phó với chó sói và khô hạn, vì thế mà nghề này mới
hứng thú.
“Tôi
nằm mộng hai lần liên tiếp”, cậu nói. “Mơ thấy mình và bầy cừu đang trên đồng cỏ,
chợt một đứa trẻ không biết từ đâu đến, chơi với bầy cừu. Đúng ra tôi không
thích có ai quấy rầy lũ cừu của tôi vì chúng vốn sợ người lạ. Nhưng trẻ con
luôn nô đùa với chúng được mà không làm chúng hoảng. Tôi không hiểu tại sao. Do
đâu mà cừu biết được tuổi tác của người nhỉ?”.
“Vào
chuyện chính đi thôi”, bà lão ngắt lời. “Ta còn một cái nồi to đang đặt trên bếp
cần phải trông chừng. Hơn nữa cậu chỉ có chút tiền còm thì không thể làm ta mất
nhiều thời giờ được.”
“Đứa
trẻ chơi với bầy cừu một lúc”, cậu ngượng nghịu kể tiếp. “Rồi chợt nó nắm tay
tôi dẫn đến Kim Tự Tháp bên Ai Cập.”
Cậu
chờ một chút để chờ phản ứng của bà lão nhưng bà chẳng nói gì.
“Rồi
ở Kim Tự Tháp bên Ai Cập”, cậu nhấn mạnh sáu chữ sau để bà lão rõ, “đứa bé nói
với tôi: “nếu anh đến đây thì anh sẽ tìm thấy một kho tàng chôn giấu bí mật,
không ai biết.” Rồi khi nó định chỉ cho tôi chỗ chính xác của kho tàng thì tôi
thức giấc. Cả hai lần đều y như vậy.”
Bà
lão im lặng thêm một lúc rồi lại cầm lấy hai bàn tay cậu chăn cừu, chăm chú
nhìn.
“Bây
giờ ta không đòi cậu chút thù lao nào hết”, bà lão nói. “Nhưng ta muốn được hưởng
một phần mười kho tàng khi cậu tìm thấy nó.”
Cậu
chăn cừu cười vui thích. Nhờ một kho tàng trong mơ mà cậu tiết kiệm đươc chút
tiền còm hiện có. Đúng là một bà lão Zigeuner có khác, ngờ nghệch hết sức.
“Được
thôi, bà giải đoán đi”, cậu đáp.
“Trước
đó cậu phải thề sẽ trả ta một phần mười kho tàng là tiền công cho điều ta sắp
giải đoán.”
Cậu
thề và bà lão yêu cầu cậu lặp lại lời thề trước hình Chúa.
“Đây
là một giấc mơ thuộc ngôn ngữ thế gian”, bà lão nói, “do đó ta có thể giải đoán
được. Nhưng việc giải đoán này rất khó. Thành ra ta được hưởng một phần kho
tàng của cậu cũng đáng thôi.
Ý
nghĩa nó như thế này: cậu hãy đi đến Kim Tự Tháp Ai Cập. Tuy ta chưa từng nghe
nói đến cái tháp đó bao giờ nhưng một khi đứa trẻ đã chỉ đường cho cậu thì nhất
định phải có. Cậu sẽ tìm thấy ở đấy cái kho tàng khiến cậu giàu to.”
Cậu
chăn cừu sửng sốt rồi thất vọng. Nếu chỉ có thế thì cậu chẳng cần mất công tới
đây làm gì. Song dẫu sao cậu cũng chưa phải trả gì hết.
“Nếu
chỉ để biết có bấy nhiêu thì lẽ ra tôi không cần mất thì giờ như thế này”, cậu
nói.
“Chính
vì thế mà ta đã nói rồi, rằng đây là một giấc mơ khó đoán. Những việc tưởng chừng
như đơn giản trong cuộc sống thì thật ra là những việc hết sức phi thường, chỉ
những bậc trí giả mới thấu hiểu nổi. Ta không phải là bậc trí giả nên phải dùng
cách khác, chẳng hạn phải xem chỉ tay”.
“Thế
tôi phải đến Ai Cập bằng cách nào đây?”
“Ta
chỉ có thể giải đoán mộng thôi chứ không biết phải làm sao để biến chúng thành
thật được. Chính vì thế mà ta phải sống nhờ vào thù lao khách trả.”
“Còn
nếu tôi không bao giờ tới đươc Ai Cập thì sao ?”
“Thì
ta không được trả thù lao. Không phải là lần đầu tiên đâu.”
Rồi
bà lão không nói gì thêm nữa mà chỉ bảo cậu về đi vì bà đã mất quá nhiều thì giờ
cho cậu rồi.
8🐫
Cậu
chăn cừu thất vọng ra về và nhất quyết không bao giờ tin vào mộng mị nữa. Rồi cậu
chợt nhớ còn phải giải quyết một vài việc: mua thức ăn, đổi sách lấy một quyển
dầy hơn. Sau đó cậu ra ngoài bãi chợ, ngồi trên ghế băng thưởng thức rượu vang
mới mua.
Hôm
ấy trời rất nóng và chẳng hiểu sao vang lại làm cậu phấn chấn. Lũ cừu được gửi
gắm chăm sóc cẩn thận nơi chuồng của một người bạn cậu mới quen ở lối vào thành
phố. Cậu quen biết nhiều người ở vùng này. Cậu thích đi nhiều cũng vì thế. Luôn
luôn kết được bạn mới mà không cần mất trọn thì giờ để sống bên họ. Nếu lúc nào
cũng chỉ quen một số người thôi, như ở trường đạo, thì họ sẽ trở thành một phần
không thể tách rời khỏi cuộc đời mình. Khi đã như thế thì họ muốn thay đổi cuộc
đời mình. Rồi khi ta không muốn thay đổi như họ muốn thì họ sẽ thất vọng. Vì
hình như ai cũng tưởng mình biết rất rõ người khác phải sống như thế nào cho
đúng, trong khi lại mù mờ về cuộc sống của chính bản thân mình. Giống như bà
lão giải mộng kia không biến nổi giấc mơ thành hiện thực vậy.
Cậu
muốn chờ cho đến khi mặt trời xuống thấp nữa mới dẫn đàn cừu đi tiếp. Chỉ còn
hơn ba ngày nữa là cậu sẽ gặp lại cô con gái của nhà buôn nọ.
Cậu
bắt đầu đọc quyển sách mới nhận được của linh mục thành Tarifa. Sách dầy lắm và
ngay trang đầu đã nói về một đám tang mà tên các nhân vật phức tạp quá. Nếu một
ngày nào đó mình viết sách, cậu nghĩ, mình sẽ chỉ cho nhân vật này xuất hiện tiếp
nhân vật khác để người đọc khỏi rối trí.
Tập
trung đọc một lúc cậu mới thấy hay vì truyện viết về một đám tang trên tuyết trắng
đã đem đến cho cậu một cảm giác tươi mát dưới cái nắng trưa gay gắt này. Cậu
đang mê mải đọc thì một ông già đến ngồi cạnh và bắt chuyện.
“Họ
làm gì đấy ?” ông già hỏi, tay chỉ những người đi lại hối hả trên bãi chợ.
“Làm
việc”, cậu đáp cụt ngủn chủ ý cho thấy mình đang say mê đọc.
Nhưng
thật ra cậu đang nghĩ đến việc sẽ xén lông cừu trước mắt cô con gái chủ tiệm để
cô thấy cậu giỏi giang, làm được nhiều việc không dễ tí nào. Cậu đã nhiều lần
tưởng tượng cảnh ấy và lần nào cô gái cũng sửng sốt khi cậu giải thích cho cô
biết rằng phải xén lông cừu từ sau tới trước. Cậu cũng ráng nhớ vài ba giai thoại
để có thể vừa làm vừa kể cô nghe. Phần lớn những giai thoại này cậu đọc trong mấy
quyển sách nào đó nhưng lại muốn kể như thể chính mình đã chứng kiến. Đàng nào
thì cô cũng không biết thực hư được vì cô không biết đọc.
Nhưng
ông già không chịu buông. Ông kêu rằng mệt, khát và xin một hớp vang. Cậu đưa
ông chai rượu, hi vọng rồi sẽ được để yên.
Nhưng
ông già cứ nhất định bắt chuyện. Ông hỏi cậu đang đọc gì đấy. Cậu muốn tỏ ra bất
lịch sự và đổi sang ghế khác quá nhưng bố cậu đã dạy phải kính trọng người già
cả. Thành ra cậu đưa quyển sách cho ông, vì hai lí do: một là cậu không đọc được
đúng tên sách, hai là nếu ông già không biết đọc thì có lẽ ông sẽ xấu hổ và tự
sang ngồi ghế khác.
“Hừm…”,
ông già ậm ừ rồi săm soi nhìn quyển sách như thể nó là một vật lạ. “Quyển này
tuy là một tác phẩm lớn nhưng rất nhàm chán”.
Cậu
chăn cừu sửng sốt. Không những ông già biết chữ mà còn đã đọc quyển sách đó rồi
nữa. Nếu đúng là nhàm chán như ông già nói thì còn kịp để đổi lấy quyển khác.
“Nó
cũng nói về cùng một vấn đề như mọi quyển sách khác thôi”, ông già nói tiếp. “Rằng
con người không có khả năng lựa chọn lấy vận mệnh của mình. Và kết thúc rằng ai
cũng tin vào cái điều bịp bợm nhất thế gian”.
9🐫
“Điều
bịp bợm ấy là gì ?” cậu chăn cừu ngơ ngác hỏi.
“Đó
là: vào một lúc nhất định trong đời, chúng ta không làm chủ được vận mệnh của
mình nữa và rồi đời mình sẽ do định mệnh đưa đẩy. Đó chính là điều dối trá nhất
thế gian!”
“Cháu
thì không thế”, cậu đáp. “Người ta muốn cháu trở thành thầy tu nhưng cháu đã
quyết định làm kẻ chăn cừu.” “Thế là phải lắm,” ông già nói. “Bởi cậu thích đi
đây đi đó nhiều mà.”
“Ông
này đọc được ý nghĩ của mình”, cậu ngẫm ngĩ. Trong lúc ấy ông già lần giở sách,
không có vẻ gì muốn trả lại cả. Cậu chăn cừu nhìn bộ quần áo khác thường ông
già mặc trên người. Trông ông như một người Arập, điều không có gì lạ ở vùng
này. Châu Phi chỉ cách Tarifa có vài giờ đường thôi; chỉ cần dùng thuyền nhỏ vượt
eo biển (Châu Phi cách Tây Ban Nha bởi eo biển Gibraltar) hẹp là tới. Người Arập
thường đến thành phố này mua sắm và ngày nào cũng nhiều lần lâm râm đọc những
bài kinh lạ tai của họ.
“Ông
từ đâu đến?” cậu hỏi.
“Từ
nhiều nơi.”
“Không
ai có thể đến cùng lúc từ nhiều nơi khác nhau được”, cậu nói. “Cháu là kẻ chăn
cừu và biết nhiều nơi nhưng đến thì chỉ từ một thành phố thôi; nó ở gần một nơi
thành cổ. Cháu sinh ra ở đấy.”
“Thế
thì có thể nói sinh quán ta ở Salem.”
Cậu
chăn cừu không biết Salem ở đâu, nhưng không hỏi tiếp để khỏi bị xem là dối
nát. Cậu nhìn những người lăng xăng đi lại trên bãi chợ một lúc lâu, người nào
cũng có vẻ rất bận rộn.
“Salem
giờ ra sao ?”, cậu hỏi, mong tìm được chút manh mối.
“Vẫn
thường”.
Chẳng
lần ra được chút gì. Cậu chỉ biết Salem không ở trong vùng Andalusia, bởi nếu
có thì cậu đã nghe nói tới rồi.
“Thế
ông làm gì ở Salem?” cậu hỏi tới.
“Ta
làm gì ư ?” Ông già bật cười ha hả. “Ta là vua xứ Salem !”
‘Người
ta cứ hay nói những chuyện lạ lùng’, cậu nghĩ thầm. “Đôi khi chơi với lũ cừu
còn thích hơn vì chúng câm, chỉ biết tìm thức ăn và nước uống. Sách cũng giúp
ta đỡ buồn bằng cách kể ta nghe những chuyện hay ho mỗi khi ta muốn nghe. Nhưng
khi trò chuyện với người thì có thể họ sẽ nói những điều quái lạ khiến ta chịu
không biết phải tiếp tục nói gì.”
“Tên
ta là Melchisedek”, ông già nói. “Cậu có bao nhiêu cừu ?”
“Tạm
đủ”, cậu nghi ngại đáp. Ông này muốn biết quá nhiều về cậu.
“Thế
thì phiền lắm đấy vì ta sẽ không giúp cậu được gì nếu cậu cho rằng có đủ cừu”.
Đến
đây thì cậu bực mình thực sự. Cậu có cầu được giúp đỡ gì đâu; ông già xin cậu
rượu vang, bắt chuyện và mượn sách đấy chứ.
“Ông
cho cháu xin lại quyển sách. Cháu phải trở lại chỗ bầy cừu rồi dẫn chúng đi tiếp.”
“Nếu
cậu trả thù lao cho ta một phần mười số cừu của cậu thì ta sẽ chỉ cậu cách đến
được cái kho tàng chôn giấu bí mật đó”, ông già nói.
Đến
đây cậu chợt nhớ lại giấc mơ và bỗng thấy mọi sự như sáng tỏ. Mụ già giải mộng
tuy không đòi gì hết nhưng bây giờ lão già này, có thể là chồng mụ lắm, sẽ lấy
của cậu đổi lại một lời chỉ dẫn vô giá trị về một kho tàng không hề có. Chắc hẳn
lão cũng là dân Zigeuner thôi.
Cậu
chưa kịp mở miệng thì ông già đã cúi nhặt một cây que rồi viết trên mặt cát.
Khi cúi như thế, có gì đó lóe sáng trên ngực ông làm cậu lóa mắt. Nhưng ông
già, bằng một động tác phải nói là quá nhanh nhẹn ở vào tuổi ông, vội kéo áo
khoác che lên. Khi mắt không còn lóa nữa, cậu đọc những gì ông già vừa viết.
Trên
mặt cát bãi chợ là tên bố mẹ cậu. Cậu đọc về cuộc đời mình, những trò chơi thua
nhỏ. Những đêm lạnh lẽo trong chủng viện; cậu đọc tên con gái chủ tiệm vải mà
chính cậu còn chưa biết. Cậu đọc những chuyện của mình mà cậu chưa từng thổ lộ
cùng ai – như vụ cậu lấy trộm súng của bố để đi săn hươu, chuyện lần đầu tiên
trong đời tự thân tìm biết dục tính là gì.
10🐫
“Ta
là vua xứ Salem”, ông già dõng dạc nói.
“Tại
sao một vị vua lại đi trò chuyện với một kẻ chăn cừu tầm thường nhỉ?” cậu thắc
mắc hỏi, có hơi xấu hổ về xuất thân của mình.
“Có
nhiều lí do. Nhưng lí do chính là cậu đã thành công trong sự đeo đuổi vận mệnh
của mình.”
Cậu
chăn cừu chẳng hiểu thế nào là vận mệnh.
“Vận
mệnh chính là điều mà anh luôn luôn muốn đạt được. Khi còn trẻ ai ai cũng biết
vận mệnh của mình là gì.
Trong
đoạn đời này mọi sự đều đơn giản và người ta dám mơ mộng đủ thứ về những điều họ
muốn làm trong đời. Nhưng rồi, theo thời gian, một sức mạnh thần bí sẽ tìm cách
thuyết phục ta rằng con đường đời như ta mơ ước sẽ không thể nào thực hiện được
đâu.”
Cậu
chăn cừu chẳng hiểu gì lắm những gì ông già nói. Tuy thế, cậu vẫn muốn biết sức
mạnh thần bí kia nghĩa là gì. Rồi cô gái con chủ tiệm vải sẽ tròn xoe mắt nghe
cậu giảng cho mà xem.
“Đó
là một lực thần bí xem ra có vẻ không tốt lành nhưng trong thực tế lại giúp
chúng ta đi hết con đường đời của mình. Lực thần bí này chuẩn bị cho tinh thần
và ý chí ta sẵn sàng, bởi sự thật vĩ đại trên hành tinh này chính là: bất kể
anh là ai, anh làm gì, khi anh thật tâm mong muốn điều gì thì điều mong muốn đó
sẽ được hình thành trong cõi Tâm linh vũ trụ (Weltenseele; Soul of the
Universe). Đó sẽ là nhiệm vụ của anh trên trái đất.”
“Ngay
cả khi chỉ là mong muốn được đi đây đi đó hay là được lấy con gái nhà buôn vải
hay sao ?”
“Hoặc
mơ ước tìm kho báu chẳng hạn. Tâm linh vũ trụ được nuôi dưỡng bởi hạnh phúc của
con người, bởi cả sự bất hạnh, tị hiềm và ghen tuông nữa. Nhiệm vụ duy nhất của
mỗi chúng ta là thực hiện con đường mình đã chọn. Tất cả chỉ là một. Rồi khi
anh quyết chí muốn điều gì thì toàn vũ trụ sẽ chung sức để anh đạt được điều ấy.”
Cả
hai ngồi lặng thinh hồi lâu, quan sát người qua kẻ lại trên bãi chợ. Rồi ông
già lên tiếng trước.
“Tại
sao cậu chọn nghề chăn cừu ?”
“Vì
cháu thích đi đây đi đó.”
Ông
già chỉ vào một người bán kem với chiếc xe kéo màu đỏ hai bánh đậu ở một góc
bãi chợ. “Khi còn nhỏ người bán kem kia cũng muốn đi đây đi đó lắm. Nhưng mà
anh ta thấy nên mua một xe kem để kiếm tiền và dành dụm đã. Khi nào đủ tiền anh
ta sẽ sang châu Phi chơi một tháng. Anh ta không hề hiểu rằng người ta lúc nào
cũng có thể thực hiện được ước mơ của mình.”
“Lẽ
ra anh ta nên làm kẻ chăn cừu”, cậu buột miệng nói to.
“Anh
ta quả cũng có nghĩ thế đấy”, ông già nói. “Nhưng mà nghề bán kem được coi trọng
hơn là chăn cừu. Họ có nhà cửa, còn người chăn cừu phải ngủ ngoài đồng trống.
Thiên hạ thích gả con gái cho người bán kem hơn cho gã chăn cừu.”
Chàng
trai thấy tim mình đau nhói khi nghĩ đến con gái chủ tiệm vải. Chắc hẳn trong
thành phố của cô cũng có một người bán kem.
“Nói
cho cùng con người coi việc kẻ khác đánh giá anh bán kem hay cậu chăn cừu quan
trọng hơn là thực hiện điều thâm tâm mình muốn.”
Nói
đến đây ông già lật sách, đọc qua loa. Chàng chăn cừu đợi một lúc rồi mới lên
tiếng cắt ngang, giống như lúc đầu cậu bị cắt ngang. “Tại sao ông nói với cháu
về những điều này?”
“Vì
chính cậu đã cố gắng đi theo tiếng gọi của thâm tâm và giờ đây sắp bỏ cuộc.”
“Lúc
nào ông cũng xuất hiện vào đúng giây phút quyết đinh sao ?”
“Không
phải lúc nào cũng dưới hình dáng này, nhưng ta luôn luôn xuất hiện, dưới một dạng
nào đó. Đôi khi dưới dạng một giải pháp tốt, một ý kiến xuất thần. Có lần, vào
lúc quyết định, ta tạo hoàn cảnh thuận lợi hơn. Vân vân. Nhưng phần lớn người
ta không nhận ra điều ấy.”
Ông
già kể rằng tuần trước ông, dưới dạng một viên đá, đã đến với một người tìm đá
quý. Người đó đã bỏ tất cả để tìm ngọc lục bảo. Ông ta đã làm việc ròng rã năm
năm ở một con sông và đã đập viên đá chỉ để tìm lấy một viên ngọc lục bảo. Bấy
giờ người tìm ngọc đã định bỏ cuộc rồi, trong khi chỉ cần một hòn đá nữa thôi,
một hòn đá duy nhất nữa, là sẽ tìm được ngọc. Chính vì người này đã tin theo tiếng
gọi của thâm tâm nên ông già quyết định ra tay giúp. Ông biến thành một viên đá
lăn tới chân người nọ. Người này, với tất cả phẫn nộ và tuyệt vọng của năm năm
mất trắng, liệng viên đá ra thật xa. Ông ta ném mạnh đến nỗi nó làm vỡ toang một
hòn đá khác, làm lộ ra viên ngọc lục bảo đẹp nhất thế gian.
“Con
người nhận thức rất sớm họ sống trên đời để làm gì”, ông già nói, giọng nhuốm vẻ
chua chát. “Có thể chính vì thế mà họ lại bỏ cuộc sớm. Đành thôi.”
Lúc
ấy cậu chăn cừu mới nhắc ông rằng hai người bắt đầu bằng câu chuyện kho tàng bị
chôn giấu.
“Kho
tàng được dòng sông đưa lên mặt nước rồi lại vùi xuống đáy”, ông già nói. “Nếu
cậu muốn biết gì về kho tàng của mình thì phải chịu trả ta một phần mười số cừu
của cậu”.
“Ông
không thích nhận một phần mười kho tàng hơn à?”
Ông
già tỏ vẻ không hài lòng. “Nếu cậu hứa trả bằng cái mình chưa sở hữu thì rồi sẽ
có lúc cậu mất đi ý chí đạt được nó đấy.”
Nghe
thế cậu chăn cừu bèn thú thật đã hứa trả một phần mười kho tàng cho bà già
Zigeuner rồi.
“Phải,
người Zigeuner khôn lắm”, ông già nói. “Dù sao thì cũng tốt vì cậu đã học được
rằng ở đời mọi thứ đều có giá của chúng cả. Đó chính là điều mà chúng ta, những
sứ thần đem ánh sáng đến soi rọi (Lichtbote; Warrior of the Light), muốn truyền
đạt.”
Ông
già đưa trả cậu quyển sách.
“Ngày
mai giờ này cậu đem một phần mười số cừu đến cho ta. Ta sẽ chỉ cho cậu con đường
tìm đến được kho tàng. Tạm biệt.”
Rồi
ông già bỏ đi, biến mất sau một góc tường.
11🐫
Chàng
trai cố đọc tiếp nhưng không tập trung nổi nữa. Cậu thấp thỏm và căng thẳng vì
biết những gì ông già nói là đúng sự thật. Cậu lại xe kem mua một cây kem rồi
cân nhắc xem có nên kể cho người bán kem những gì ông già vừa nói không. “Đôi
khi nên để yên cho mọi sự tiếp diễn là khôn ngoan hơn”, cậu nghĩ và bình tâm lại.
Nếu cậu nói ra thì biết đâu người bán kem sẽ băn khoan suốt vài ba ngày liền, rằng
có nên tung hê hết tất cả không, mà anh ta lại đã quá quen với cái xe kem rồi.
Cậu thấy đừng nên làm người bán kem phải lo nghĩ nữa. Thế là cậu đi lang thang
thơ thẩn trên đường phố, ra đến bến cảng. Ở đây có một ngôi nhà nhỏ với quầy
bán vé đi châu Phi. Ai Cập ở bên châu Phi mà!
“Cậu
cần gì ?” người đàn ông ngồi ở quầy hỏi.
“Mai
hẵng hay”, cậu đáp rồi vội vã đi ra. Chỉ cần bán đi một con cừu là đủ tiền qua
eo biển thôi mà. Ý nghĩ này khiến cậu băn khoăn.
“Lại
một tay mơ mộng vẩn vơ”, gã ngồi quầy nói với đồng nghiệp trong lúc cậu đi ra. “Hắn
cóc có tiền mua vé đâu.”
Lúc
đứng ở quầy vé, cậu chăn cừu nhớ tới lũ cừu của mình và chợt thấy cần phải về với
chúng. Trong vòng hai năm cậu đã học được hết mọi việc của nghề chăn cừu; cậu
xén lông được này, săn sóc các con có mang này, bảo vệ chúng trước chó sói này.
Và cậu cũng biết rành mọi đồng cỏ vùng Andalusia. Cậu biết cả giá mua và bán của
từng con một.
Cậu
chọn con đường vòng vo xa nhất để về chuồng của người bạn. Thành phố này cũng
có ngôi thành cổ, thế là cậu quyết định leo hết bậc thang đá, lên chỗ cao nhất
để ra ngồi nơi công sự. Có ai đó đã giải thích cho cậu rằng người Mauren đã qua
eo biển này chiếm cứ gần hết Tây Ban Nha trong nhiều năm. Cậu căm ghét người
Mauren, vì chính họ đã đưa người Zigeuner đến đây.
Từ
trên cao này cậu nhìn thấy gần hết thành phố, cả cái bãi chợ nơi cậu trò chuyện
với ông già. “Cái giây phút đã xui khiến ta gặp gỡ lão già kia thật là đáng
nguyền rủa”, cậu ngẫm nghĩ trong tuyệt vọng. Cậu chỉ muốn tìm mụ già giải mộng
thôi. Thế mà cả mụ lẫn lão già đều chẳng cần biết cho rằng cậu là một gã chăn cừu.
Hẳn họ là những người rất cô đơn, chẳng còn tin gì vào cuộc đời nữa nên không
hiểu rằng người chăn cừu gắn bó với lũ vật của mình như thế nào. Cậu biết rõ đặc
điểm của từng con một: con nào đi cà nhắc, con nào hai tháng nữa sẽ đẻ và con
nào lười nhất hạng. Cậu cũng biết phải xén lông thế nào, phải mổ thịt chúng ra
sao. Nếu cậu bỏ chúng mà đi thì chúng sẽ khốn khổ thôi.
Một
làn gió nhẹ thổi. Cậu biết loại gió này; người ta gọi nó là gió Levante (Levante:
vùng đất trải từ đông Địa Trung Hải tới sông Euphrat, sông Nil và bờ biển vùng
Tiểu Á), vì đám Mauren xưa đã từ phương Đông theo gió này mà tới đây. Trước
khi đến Tarifa cậu không hề biết rằng châu Phi gần đến thế. Nhưng cũng là mối
nguy lớn đấy, vì bất cứ lúc nào người Mauren cũng có thể lại tấn công sang được.
Gió
thổi mạnh hơn.
“Mình
kẹt giữa một bên là lũ cừu và một bên là cái kho tàng”, cậu nghĩ. Cậu phải chọn
giữa một bên là những gì quen thuộc, gần gũi và một bên là cái cậu muốn sở hữu.
Còn cô gái nữa chứ, nhưng cô không cần được cậu lo cho bằng bầy cừu vì cô không
lệ thuộc vào cậu. Có thể cô không còn cả nhớ cậu là ai nữa. Cậu dám chắc rằng nếu
hai ngày nữa cậu không xuất hiện ở đó thì cô cũng chẳng biết. Với cô thì một
ngày như mọi ngày; và khi ngày nào cũng như ngày nấy thì con người cũng chẳng
nhận biết được những việc hay ho xảy đến trong đời.
“Mình
đã giã từ cha mẹ và ngôi thành cổ của quê hương ra đi. Cha mẹ và ngôi thành cổ
đã quen với chuyện ấy rồi, giống như mình cũng đã quen vậy. Thế thì lũ cừu cũng
sẽ quen với sự vắng mặt của mình thôi”, cậu ngẫm nghĩ.
Từ
chỗ cao này cậu nhìn rất rõ bãi chợ. Người bán kem vẫn còn đó. Một đôi trai gái
còn trẻ ngồi trao nhau nụ hôn dài trên cái ghế cậu và ông già đã ngồi.
“Chà,
người bán kem”, cậu buột miệng rồi không nói tiếp vì gió Levante thổi thốc vào
mặt. Gió này tuy mang theo người Mauren thật, nhưng đưa đến cả mùi thơm của sa
mạc và hương thơm của các phụ nữ đeo khăn che mặt (phụ nữ nhiều nước theo đạo
Hồi thường đeo khăn che kín mặt, chỉ để hở hai mắt). Nó đem theo cả mùi mồ
hôi và giấc mơ của những người đàn ông một ngày nào đó đã lên đường vào chốn vô
định để tìm vàng, tìm sự phiêu lưu, tìm cả Kim Tự Tháp nữa. Cậu chợt ganh tị với
ngọn gió tự do kia và thấy rằng mình cũng có thể được tự do không kém. Chẳng có
gì ngăn cản được cậu, trừ chính cậu ra. Bầy cừu, cô con gái chủ tiệm vải, những
cánh đồng cỏ vùng Andalusia chỉ là những chặng trên con đường đời của cậu thôi.
12🐫
Hôm
sau, cậu chăn cừu dẫn theo sáu con cừu đến gặp ông già.
-
Cháu ngạc nhiên lắm, - cậu nói , - vì bạn cháu chịu mua ngay số cừu kia. Anh ta
bảo rằng đã từ lâu mơ ước được thành người chăn cừu và đây quả là dấu hiệu tốt
cho anh ấy.
-
Bao giờ cũng thế cả, - ông già đáp. – Cái đó gọi là nguyên lí thuận lợi (Guenstige
Prinzip; Principle of favorability). Lần đầu tiên khi ta liều chơi đỏ đen
thì thường là ta thắng. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ mà. (Tạm dịch “Anfaengerglueck;
beginner’’s luck” cho dễ hiểu).
-
Nhưng tại sao mới được chứ ?
-
Tại vì cuộc đời muốn rằng ta mãi đi theo con đường mình chọn.
Rồi
ông xem xét lũ cừu, phát hiện một con bị què. Cậu cả quyết rằng thật chẳng đáng
kể vì con cừu nọ thông minh nhất và cho nhiều lông nhất.
“Thế
kho tàng ở đâu hở ông ?” cậu hỏi.
“Ở
Kim Tự Tháp bên Ai Cập”.
Cậu
thót cả người. Bà già kia cũng nói y như thế mà chẳng đòi gì hết.
“Để
đến được đó thì cậu phải lần theo các dấu hiệu. Chúa vạch đường để người người
theo. Chỉ cần cậu biết nhận ra Người dùng dấu hiệu gì để vạch đường cho cậu”.
Cậu
chưa kịp nói gì thì có một con bướm bay lượn giữa cậu và ông già, làm cậu nhớ đến
ông nội của cậu. Hồi cậu còn nhỏ ông nội cậu bảo rằng bướm mang lại điềm lành,
tương tự như dế, cỏ ba lá bốn cánh và móng ngựa (Cỏ ba lá mà lại bốn cánh rất
hiếm. Móng ngựa được dân nhiều nước châu Âu treo trong nhà hoặc gắn trên xe,
coi đó là biểu tượng cho may mắn).
“Đúng
thế”, ông già nói vì đọc được cậu đang nghĩ gì. “Nó giống như ông nội cậu đã dạy
cậu vậy. Chúng cũng là những dấu hiệu đấy.”
Rồi
ông mở áo khoác. Cậu nhìn mà thán phục và nhớ tới ánh rực rỡ đã thấy hôm qua:
ông già đeo giáp che ngực bằng vàng ròng, gắn đầy đá quý đủ màu.
Nhất
định ông phải là vua thật rồi. Chắc ông khoác thêm áo ngoài là để tránh bị cướp
thôi.
“Cậu
hãy cầm lấy”, ông già nói và rứt từ giữa áo giáp bằng vàng kia một viên đá trắng
và một viên đen. “Hai viên đá này tên là Urim và Thummim. Viên đen nghĩa là có,
viên trắng nghĩa là không. Nếu cậu không tự mình nhận ra được dấu hiệu thì hai
viên đá này hữu ích cho cậu đấy. Phải luôn luôn đặt câu hỏi khách quan.
Song
tốt nhất là cậu tự quyết định lấy. Kho tàng nằm ở Kim Tự Tháp, cậu đã biết rồi.
Nhưng nhờ có ta cậu mới quyết định, nên cậu phải trả sáu con cừu.”
Cậu
nhét hai viên đá vào bị. Trong tương lai cậu sẽ tự mình quyết định lấy mọi chuyện.
“Đừng
bao giờ quên rằng tất cả là một tổng thể. Cũng đừng quên ngôn ngữ của dấu hiệu.
Nhất là đừng quên đi cho hết con đường mình tự chọn. Trước khi chia tay ta muốn
kể cho cậu nghe một câu chuyện:
Một
ngày nọ, một thương nhân gửi con trai của mình đến một nhà thông thái bậc nhất
không ai bằng để nhờ ông dạy cho người con bí quyết đạt được hạnh phúc. Anh con
trai đi ròng rã bốn mươi ngày xuyên qua sa mạc mới đến được tòa lâu đài nguy
nga ngự trên núi cao. Nhà thông thái anh muốn tìm đang ở đó.
Thay
vì gặp một vị thánh thì anh lại vào một gian phòng đầy người sinh hoạt tất bật.
Thương nhân hết đến rồi đi, người khác túm tụm ở các góc phòng bàn tán, một dàn
nhạc chơi các ca khúc lảnh lót, lại có cả một bàn tiệc đầy sơn hào hải vị cùng
đó. Nhà thông thái chuyện vãn với từng người một và anh ta phải chờ suốt hai tiếng
mới đến lượt mình được tiếp.
Nhà
thông thái lắng nghe anh ta trình bày rồi đáp rằng hiện ông không rảnh để chỉ dạy
anh bí quyết của hạnh phúc. Ông bảo anh hãy đi xem khắp lâu đài rồi hai tiếng
sau trở lại.
“Nhưng
ta yêu cầu anh làm hộ một điều”, nhà thông thái nói rồi đưa cho anh một muỗng
con có hai giọt dầu. “Trong lúc đi xem thì anh cầm theo muỗng này và nhớ giữ đừng
làm sánh dầu nhé.”
Anh
ta lên lầu, xuống lầu mắt không rời cái muỗng. Sau hai giờ anh quay lại gặp nhà
thông thái.
“Sao”,
ông hỏi, “anh đã thấy các tấm thảm Ba Tư quý giá trong phòng ăn của ta chưa ? Cả
cái vườn tráng lệ mà người làm vườn đã phải khổ công mười năm xây dựng ? và những
cuộn giấy da tuyệt hảo trong thư viện của ta nữa ?”
Anh
ta ngượng ngùng thú nhận rằng chẳng hề để mắt đến gì khác vì cứ phải chăm chăm
ngó nhìn muỗng dầu đã được giao phó.
“Thế
thì anh hãy đi thêm lần nữa và ngắm cho kĩ những thứ tuyệt mĩ trong thế giới của
ta”, nhà thông thái nói. “Không thể đặt tin tưởng vào một người khi mình không
hề biết người ấy sống trong một ngôi nhà như thế nào.”
Yên
dạ hơn, anh ta lại cầm muỗng đi một vòng. Lần này anh chăm chú xem xét những vật
quý treo trên tường và trên trần nhà. Anh ngắm khu vườn có núi vây quanh, với đủ
thứ hoa thơm cỏ lạ và mỗi tác phẩm nghệ thuật hoàn mỹ đều được để đúng chỗ
thích hợp. Trở lại gặp nhà thông thái anh kể chi tiết tất cả những gì đã nhìn
thấy.
-
Thế còn hai giọt dầu ta nhờ anh giữ đâu rồi? – nhà thông thái hỏi.
Nhìn
cái muỗng, anh ta hốt hoảng thấy mình đã làm sánh mất rồi.
-
Đây là điều duy nhất mà ta có thể khuyên anh, - nhà thông thái nhất thế gian
nói. “Bí quyết của hạnh phúc là biết ngắm nhìn mọi thứ tuyệt mỹ trên thế gian
này mà không hề quên hai giọt dầu trên muỗng.”“
Cậu
chăn cừu không nói gì cả. Cậu hiểu ý nghĩa câu chuyện ông vua vừa kể. Người
chăn cừu thích đi, đi mãi nhưng không bao giờ bỏ quên bầy cừu của mình.
Ông
già thân mật nhìn cậu rồi xòe cả hai bàn tay làm vài động tác lạ lùng trên đầu
cậu. Sau đó ông dẫn bầy cừu đi.
13🐫
Phía
trên cao thành phố Tarifa có một ngôi thành cổ do người Mauren xây. Ngồi trên
tường thành có thể trông thấy bãi chợ, người bán kem và một mẩu của châu Phi. Xế
trưa hôm ấy, Melchisedek, vua xứ Salem, ngồi trên chỗ tường thành nhô ra, hứng
gió Levante. Lũ cừu ở cạnh ông ngọ nguậy mãi vì lo sợ trước ông chủ mới và những
đổi thay vừa xảy ra. Bởi chúng vốn chỉ cần ăn và uống thôi mà.
Melchisedek
nhìn theo con tàu nhỏ chạy bằng hơi nước vừa rời bến. Ông sẽ không bao giờ gặp
lại cậu chăn cừu, cũng như ông đã không hề gặp lại Abraham (phải chăng
Coelho muốn ám chỉ “giao ước” giữa Đức Chúa Trời và Abraham về tương lai dân Do
Thái (Cựu Ước) ?) sau khi đã nhận một phần mười. Đó là phần việc của ông.
Thần
thánh không nên có mơ ước gì, bởi họ không tùy thuộc định mệnh. Tuy thế ông vua
xứ Salem vẫn thầm mong cậu chăn cừu sẽ thành công.
“Tiếc
rằng rồi cậu ấy sẽ sớm quên mất tên ta”, ông thầm nghĩ. “Lẽ ra ta phải nhắc đi
nhắc lại tên ta thường hơn để sau này cậu ấy sẽ kể về Melchisedek, vua xứ
Salem.” Rồi ông nhìn trời, nói với vẻ ăn năn: “Đúng là có cao ngạo thật đấy,
nhưng mà một ông vua già thỉnh thoảng cũng được phép tự hào về mình đấy chứ nhỉ.”
14🐫
“Châu
Phi thật lạ lùng,” cậu chăn cừu thầm nghĩ.
Cậu
ngồi trong một quán nước giống như nhiều quán nước khác mà cậu thấy nhan nhản dọc
các con đường hẹp của thành phố. Mấy người đàn ông hút chung một cái ống điếu
to xù, chuyền từ người này sang người khác. Chỉ trong vài giờ từ khi đến nơi cậu
đã được chứng kiến bao điều lạ: đàn ông nắm tay nhau đi ngoài đường phố, phụ nữ
dùng khăn che mặt và các thầy tu leo lên các tháp cao nghêu, ê a đọc kinh như
hát trong lúc mọi người quanh đấy quỳ lạy xì xụp, vập trán xuống nền đất.
“Đây
là tập tục của người ngoại đạo”, cậu tự nhủ. Thửa nhỏ cậu vẫn hay ngắm nhìn
trong ngôi nhà thờ ở nguyên quán pho tượng thánh Santiago de Compostela tay
vung thanh kiếm to bản, phóng ngựa qua những hình người trông giống như người
dân ở đây. Cậu thấy bất an và cô độc quá chừng. Những người ngoại đạo trông mới
dễ sợ làm sao.
Nhất
là do vội vã lên đường, cậu quên bẵng một điều - điều cỏn con duy nhất thôi -
khiến cậu có thể còn lâu mới đến được kho tàng: ở đất nước này người ta nói tiếng
Arập.
Khi
chủ quán lại gần, cậu chỉ vào một thứ thức uống trên bàn bên cạnh. Đó là thứ
trà đắng ngắt. Uống vang thú hơn nhiều.
Nhưng
cậu thấy không nên bận tâm vì chuyện ấy, mà chỉ nên nghĩ tới kho tàng thôi, bằng
cách nào và đi đường nào đến đấy. Cậu bán bầy cừu được khối tiền và cậu biết rằng
tiền như có ma thuật. Có tiền thì không đơn độc bao giờ. Không lâu đâu, có khi
chỉ vài ngày nữa thôi, cậu sẽ có mặt ở Kim Tự Tháp cho mà xem. Một ông già đầy
vàng trên ngực cần gì phải lừa cậu lấy sáu con cừu chứ.
Ông
già từng nói về dấu hiệu. Lúc ngồi trên tàu qua eo biển cậu đã ngẫm nghĩ về thứ
dấu hiệu này. Phải, cậu biết ý ông nói về cái gì chứ: hồi còn rong ruổi trên
các cánh đồng cỏ Andalusia cậu vẫn tập thói quen nhìn đất, nhìn trời tìm dấu hiệu
xem nên đi hướng nào. Cậu nghiệm ra rằng có một giống chim báo hiệu có rắn ở gần
đấy và một loại bụi cây cho biết quanh đấy có nước. Tất cả là do lũ cừu dạy cho
cậu đấy.
“Khi
Chúa đã dẫn dắt bầy cừu đi đúng đường thì Người cũng sẽ hướng dẫn con người y
như vậy”, cậu ngẫm nghĩ và yên dạ, thấy trà như bớt đắng hơn.
“Anh
là ai?” cậu nghe có người hỏi ngay bên cạnh bằng tiếng Tây Ban Nha. Cậu nhẹ cả
người. Cậu vừa nghĩ đến dấu hiệu, thế là có người xuất hiện ngay.
“Do
đâu mà anh biết tiếng Tây Ban Nha?” cậu hỏi. Anh chàng kia còn trẻ, mặc âu phục,
tuy màu da giống người bản xứ hơn. Khổ người và tuổi anh ta trạc như cậu.
“Ở
đây hầu như ai cũng nói được tiếng Tây Ban Nha cả. Đây tới đó chỉ mất ngót ngét
hai tiếng thôi mà.”
“Anh
ngồi xuống đây và gọi thức uống, tôi trả tiền”, cậu bảo anh ta. “Gọi cho tôi một
ly vang. Tôi ghét thứ trà này quá”.
“Ở
đây không có vang đâu”, anh kia đáp. “Đạo Hồi không cho phép uống rượu.”
Cậu
bèn kể rằng mình phải tới Kim Tự Tháp. Suýt tí nữa thì cậu buột miệng kể luôn về
kho tàng, nhưng kịp thôi vì nếu cậu kể ra thì nhất định anh chàng Arập kia sẽ
đòi chia chác mới chịu dẫn cậu đi. Cậu nhớ đến lời cảnh báo của ông già rằng
không nên hứa trả ai cái gì mình chưa thật có.
“Nếu
được thì tôi yêu cầu anh đi cùng tôi đến đó. Tất nhiên tôi trả tiền dẫn đạo”.
“Anh
đã mường tượng sẽ đi đến đó như thế nào chưa ?”.
Cậu
để ý thấy chủ quán đứng gần đấy dỏng tai nghe lỏm. Sự có mặt của ông làm cậu bực
mình. Nhưng đã tìm được người dẫn đường rồi thì cậu không bỏ lỡ dịp được.
“Anh
phải băng qua sa mạc Sahara; muốn thế anh phải có nhiều tiền. Tôi muốn biết anh
có đủ tiền không đã.”
Cậu
thấy câu hỏi thật lạ lùng. Nhưng cậu tin tưởng ở lời ông già, khi ông quả quyết
rằng nếu ta quyết tâm thì cả vũ trụ sẽ cùng chung sức.
Thế
là cậu moi bị lấy tiền cho anh chàng nọ xem. Chủ quán cũng xích lại nhìn. Rồi
hai người lớn tiếng với nhau bằng tiếng Arập.
“Mình
đi thôi”, anh chàng kia nói. “Hắn không muốn bọn mình ngồi đây”.
Cậu
chăn cừu như trút được gánh nặng, đứng dậy trả tiền; nhưng chủ quán túm tay cậu,
cao giọng nói một tràng dài đầy vẻ giận dữ. Cậu tuy sức trai nhưng ở trên đất lạ
thành thử đành phải để người bạn mới gỡ hộ thế bí, đẩy chủ quán sang một bên,
kéo cậu ra đường.
“Hắn
muốn lấy tiền của anh đó”, chàng kia nói. “Thành phố Tanger (Tanger : thành
phố cảng ở Bắc Marốc) này không như những nơi khác của châu Phi đâu. Đây là
một phố cảng mà cảng nào thì cũng đầy trộm cắp cả.”
Anh
bạn này thật đáng tin quá đi chứ. Chẳng gì anh ta cũng đã cứu cậu thoát cảnh
khó xử vừa rồi. Cậu đem tiền ra đếm.
“Ngày
mai bọn mình đã có thể đến Kim Tự Tháp rồi”, anh chàng kia nói rồi cầm tiền. “Nhưng
tôi phải tìm mua hai con lạc đà đã”.
Thế
là cả hai đi vòng vèo qua những ngõ ngách của Tanger. Đâu đâu cũng thấy bày
hàng quán. Cuối cùngt họ đến một bãi chợ to. Cả nghìn người đang mặc cả, mua,
bán. Rau quả xếp bên cạnh gươm dao. Thảm bày bên đủ loại ống điếu thuốc lào. Cậu
không rời mắt khỏi người bạn mới. Anh ta cầm trọn số tiền cậu có. Cậu muốn đòi
lại quá, nhưng sợ rằng như thế sẽ bất lịch sự. Dẫu sao cậu chưa biết gì về
phong tục của đất nước lạ này.
“Mình
chỉ cần coi chừng hắn thôi”, cậu tự trấn an; hơn nữa cậu to khỏe hơn anh chàng
kia mà.
Chợt
cậu nhìn thấy giữa đống rau quả một thanh kiếm tuyệt đẹp. Bao kiếm bằng bạc,
chuôi kiếm màu đen cẩn đá đủ màu. Cậu nhất quyết khi từ Ai Cập về sẽ mua thanh
kiếm này.
“Anh
hỏi hộ người bán hàng xem thanh kiếm giá bao nhiêu”, cậu định nói với anh chàng
kia như thế thì mới hỡi ôi ! Trong lúc ngắm nhìn thanh kiếm cậu đã để gã kia lọt
khỏi tầm mắt, dù chỉ có hai giây thôi. Tim cậu thót lại. Cậu sợ phải quay đầu
tìm vì trực giác cho cậu biết điều gì đã xảy ra. Cậu đăm đăm nhìn thanh kiếm
thêm một lúc nữa đến lúc đủ can đảm nhìn quanh.
Quanh
cậu là chợ với biết bao kẻ buôn, người bán lớn tiếng rao hàng, mặc cả; thảm bày
cạnh trái phỉ, rau sống chen giữa mâm bạc, đàn ông nắm tay nhau, đàn bà che mặt,
mùi thơm ngào ngạt của các món ăn lạ. Còn người bạn kia đã biệt tăm, chẳng để lại
chút dấu vết gì.
Mới
đầu cậu còn cố tin rằng hai người sơ ý mà lạc nhau nên đứng nán lại đó một lúc,
chờ gã nọ. Một lát sau có người leo lên tòa tháp kia ngân nga đọc kinh. Mọi người
quỳ vập trán xuống đất, ngân nga theo. Sau đó họ - cần mẫn như đàn kiến - gỡ quầy
hàng, rời khỏi chợ.
Mặt
trời dần lặn. Cậu nhìn theo cho đến khi mặt trời xuống khuất sau những ngôi nhà
màu trắng dựng quanh chợ. Cậu hồi tưởng rằng mới đó, khi mặt trời mọc, mình còn
ở một châu lục khác, còn là một gã chăn cừu, chủ một bầy cừu sáu mươi con và có
hẹn với một cô gái. Sáng nay, trên cánh đồng cỏ, cậu còn điểm qua một lần suốt
các chặng đường của cuộc đời mình. Thế mà giờ đây, khi mặt trời lặn, cậu đứng
trên một đất nước xa lạ, không hiểu nổi cả tiếng người ta nói. Cậu không còn là
gã chăn cừu nữa; trắng tay; ngay cả vài đồng lẻ để quay về, lần nữa làm lại cuộc
đời cũng không có nốt.
“Mọi
sự diễn ra chỉ từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn thôi”, cậu quá nản chí.
Cậu thấy thương thân vì đôi khi cuộc đời thay đổi hẳn chỉ trong khoảnh khắc,
nhanh đến nỗi không hiểu chuyện gì đã xảy đến với mình.
Thật
ra cậu rất xấu hổ khi phải khóc. Không bao giờ cậu khóc trước bầy cừu cả. Nhưng
giờ đây cậu đứng giữa chợ không một bóng người, quê nhà xa tít tắp. Cậu khóc.
Khóc vì Chúa thật bất công nên mới bắt một người vững tin vào giấc mơ của mình
phải chịu số phận này.
“Khi
còn chăn cừu thì mình rất hạnh phúc và đem lại niềm vui cho mọi người chung
quanh. Người ta mong mình đến và tiếp đón ân cần. Bây giờ mình buồn nản và bất
hạnh. Phải làm sao đây? Mình sẽ giận và hoài nghi hết mọi người chỉ vì có một kẻ
đã lừa gạt mình. Mình sẽ thù ghết tất cả những kẻ tìm được kho tàng vì mình
không tìm được kho tàng của mình. Và rồi đây mình sẽ ôm rịt lấy chút của cải có
được, vì mình quá hèn mọn không thể chinh phục thế giới.”
Cậu
mở bị, xem thử còn những gì. Biết đâu khi ăn trên tàu còn sót lại chút bánh mì.
Nhưng cậu chỉ tìm thấy quyển sách dày, cái áo khoác và hai viên đá ông già cho.
Nhìn
hai viên đá cậu thấy nhẹ cả người. Cậu đã đổi sáu con cừu lấy hai viên đá quý từ
cái áo giáp bằng vàng. Cậu có thể bán lấy tiền mua vé về nước. “Từ nay mình phải
khôn hơn”, cậu tự nhủ rồi nhặt hai viên đá ra khỏi bị để đút túi quần. Đây là một
phố cảng và gã kia nói đúng ở một điểm: cảng lúc nào cũng đầy kẻ cắp. Bây giờ
thì cậu chợt hiểu vì sao người chủ quán nổi giận: ông chỉ muốn nói cho cậu hiểu
rằng đừng nên tin gã kia.
“Mình
như mọi người thôi: nhìn thế giới và thấy theo ý mình muốn chứ không phải như
trong thực tế.”
Cậu
ngắm nghía hai viên đá, gượng nhẹ sờ, tay cảm nhiệt độ và mặt láng của chúng.
Chúng là tất cả gia tài của cậu. Chỉ cần sờ chúng là cậu thấy lòng thanh thản dần.
Chúng gợi nhớ đến ông già.
“Chỉ
cần cậu tha thiết muốn thì cả vũ trụ sẽ tác động để cậu đạt được”, ông già đã
nói thế.
Cậu
suy nghĩ thật lung tung để hiểu ý ông. Cậu đang đứng giữa một bãi chợ vắng
tanh, không tiền, không cừu. Nhưng hai viên đá rõ ràng là một bằng cớ cậu đã gặp
một ông vua mà ông vua này biết về chuyện đời cậu, biết về khẩu súng của bố cậu
và về kinh nghiệm tình dục lần đầu của cậu nữa.
“Hai
viên đá này dùng để dự báo. Chúng tên là Urim và Thummim.” Cậu nhét đá vào bị
và muốn thử một lần xem sao. Ông già bảo rằng phải đặt cậu hỏi thật rõ ràng vì
đá chỉ hữu ích khi ta biết ta muốn cái gì. Thế là cậu hỏi: ông già còn tiếp tục
phù hộ cậu không ?
Cậu
lấy ra một viên. Câu trả lời là “Có”.
“Tôi
có tìm được kho tàng không ?” cậu hỏi tiếp rồi lại thò tay vào bị, định lấy ra
một viên đá thì cả hai viên đều rơi xuống đất, qua một lỗ thủng. Cậu không biết
bị của mình thủng. Cậu cúi xuống định nhặt lên. Song khi thấy chúng nằm trên nền
đất cậu lại nhớ đến một câu nói khác của ông già : “Hãy học cách nhận ra dấu hiệu
và đi theo nó”.
Đây
hẳn lại là một dấu hiệu. Cậu cười nhẹ nhõm rồi nhặt đá lên, nhét vào bị. Cậu sẽ
không vá bị; hai viên đá cứ việc rơi. Cậu hiểu rằng có những điều không nên hỏi
để khỏi lẩn tránh số phận. “Vả lại mình đã muốn là sẽ tự quyết định mà”, cậu nhớ
lại.
Dẫu
sao hai viên đá cũng đã cho cậu biết rằng ông già vẫn phù hộ cậu, khiến cậu
thêm vững tâm. Cậu lại nhìn quanh bãi chợ vắng tanh, nhưng không còn thấy tuyệt
vọng như lúc nãy nữa. Đây không phải là một thế giới lạ, chỉ mới thôi. Vả lại
đó chính là điều cậu vẫn ước ao : được biết những chân trời mới. Cho dù cậu
không bao giờ tới được Kim Tự Tháp đi nữa thì thế này cũng đã là đi xa hơn bất
cứ người chăn cừu nào cậu quen biết rồi. Chà, nếu họ biết được rằng chỉ cách
hai giờ tàu biển thôi mà có bao nhiêu là điều lạ. Tuy thế giới mới của cậu lúc
này mới chỉ là bãi chợ vắng tanh thôi, nhưng cậu đã được biết lúc chợ đông như
thế nào rồi và sẽ không bao giờ quên. Giờ cậu nhớ đến thanh gươm. Quả đấy là một
giá rất đắt cậu đã phải trả để ngắm nghía nó, nhưng trước kia cậu chưa từng được
thấy thanh kiếm nào đẹp như thế cả. Chợt cậu thấy rằng mình có thể nhìn cả thế
giới hoặc với con mắt của một kẻ khốn khổ bị cướp sạch hoặc của một kẻ phiêu
lưu trên đường đi tìm kho tàng. “Ta là một kẻ phiêu lưu đi tìm kho tàng”, cậu còn
nghĩ như thế trước khi thiếp đi vì mệt.
15🐫
Cậu
bừng mắt vì có ai đó thúc vào người. Hóa ra cậu nằm ngủ ngay giữa chợ, giờ lại
đang tấp nập.
Cậu
ngơ ngác nhìn quanh tìm lũ cừu của mình rồi sực nhớ ra mình đang ở một thế giới
khác. Song thay vì buồn phiền cậu lại thấy sung sướng. Bây giờ cậu không cần
tìm cỏ và nước nữa mà có thể đi tìm kho tàng. Không có tí tiền nào trong túi
nhưng cậu tin vào cuộc sống. Chiều tối hôm trước cậu đã quyết định thành một kẻ
phiêu lưu, giống như những nhân vật anh hùng cậu đọc trong sách.
Cậu
thong thả đi dạo trên bãi chợ. Các nhà buôn dựng quầy của họ. Cậu giúp một người
bán bánh kẹo dựng quầy. Khuôn mặt rạng rỡ nụ cười cho thấy ông ta vui vẻ, yêu đời
và sẵn sàng bắt đầu một ngày làm việc mới. Nụ cười này có nét gì đó làm cậu nhớ
đến ông già, vị vua đầy bí ẩn mà cậu đã gặp.
“Ông
già buôn này chắc chắn không phải bán bánh kẹo vì muốn sẽ có một ngày đi du lịch
hay vì muốn cưới được con gái một thương nhân. Ông làm bánh kẹo chỉ vì ông
thích”, cậu thầm nghĩ và thấy rằng mình cũng làm được điều ông vua già hồi đó
đã từng làm: nhận ra được một người đang đi gần hay đang xa rời con đường sống
của họ. Chỉ qua quan sát thôi. “Thật đơn giản, thế mà trước đây mình không hề
biết”.
Khi
quầy đã dựng xong, nhà buôn nọ đưa cậu cái kẹo đầu tiên ông làm ra. Cậu ăn, cám
ơn rồi đi tiếp. Đi được một quãng cậu mới chợt nhớ rằng quầy hàng nọ vừa do một
người nói tiếng Arập và một người nói tiếng Tây Ban Nha cùng dựng lên.
Và
hai người rất là hiểu nhau.
“Có
một thứ nằm ngoài câu chữ”, cậu nghĩ. “Trước đây mình đã nghiệm thấy như thế với
lũ cừu, giờ đây với cả con người”.
Cậu
học nhiều điều mới. Có những điều đã từng biết nhưng giờ đây thấy như mới vì
trước kia cậu không hề quan tâm. Và sở dĩ cậu không để tâm đến vì quá quen với
chúng. “Nếu mình học được cách giải đoán thứ ngôn ngữ không lời này thì mình sẽ
giải đoán được thế giới”.
“Tất
cả chỉ là một”, ông già đã nói.
Cậu
quyết định đi thong thả, chậm rãi qua các con đường hẹp của Tanger. Chỉ như thế
thì cậu mới nhận ra được dấu hiệu. Phải kiên nhẫn vô cùng, đó chính là đức tính
đầu tiên kẻ chăn cừu phải học. Cậu lại chợt nghiệm ra rằng mình đang áp dụng
vào trong thế giới mới lạ này những bài học mà lũ cừu đã dạy mình. “Tất cả chỉ
là một”, ông già đã nói.
16🐫
Người
bán hàng pha lê nhìn mặt trời lên rồi, như mọi buổi sáng, thấy lòng phiền muộn.
Ông đã ở nơi này suốt gần ba mươi năm nay, mở một cửa hàng nằm tận đỉnh dốc,
nơi chỉ có ít người qua lại. Bây giờ mà đổi thay, làm nghề gì khác thì đã quá
muộn màng. Cả đời ông học chỉ có mỗi một việc là mua và bán pha lê. Có một thời
cửa hàng ông đông khách lắm: khách thương Arập này, các nhà địa chất Anh và
Pháp này, lính Đức này, tất cả đều tiền đầy túi. Hồi đó nghề bán bình pha lê thật
tuyệt và ông hả hê hình dung mình sẽ giàu sụ, rồi khi về già được sống giữa các
bà vợ đẹp.
Nhưng
rồi thành phố Ceutar phát triển mạnh hơn Tanger và việc buôn bán bị xoay chiều.
Xóm giềng dọn đi gần hết, vẫn còn một ít cửa hàng vẫn còn trụ lại bên sườn núi.
Nhưng ai rỗi hơi leo tuốt lên cao chỉ vì vài ba hàng quán cơ chứ?
Nhưng
người bán pha lê không còn con đường nào khác. Ba mươi năm nay ông chỉ buôn và
bán hàng pha lê thì chọn nghề khác bây giờ là quá muộn.
Suốt
buổi sáng ông nhìn ra con đường lèo tèo hàng quán. Ông nhìn như thế hàng năm rồi
nên biết rõ giờ giấc từng cửa hàng một. Bỗng đâu trước giờ nghỉ trưa ít phút có
một gã ngoại quốc trẻ đứng trước tủ kính cửa hàng ông. Gã ăn mặc bình thường,
nhưng với đôi mắt lão luyện ông biết gã không có tiền. Tuy thế ông vẫn nấn ná
chưa đi ăn, định chờ thêm một lúc cho gã đi khỏi đã.
17🐫
Tấm
biển treo trước cửa cho biết chủ tiệm này nói được nhiều thứ tiếng. Cậu nhìn
người đàn ông sau quầy hàng.
“Cháu
có thể chùi sạch những bình này, nếu ông muốn”, cậu nói. “Như thế này thì chẳng
ai thèm mua đâu”.
Người
bán hàng pha lê nhìn cậu không nói gì.
“Cháu
chỉ xin ông trả một bữa ăn thôi.”
Ông
ta vẫn lặng thinh, còn cậu thấy phải tự quyết định. Trong bị có cái áo khoác,
chắc cậu sẽ không cần đến nó trên sa mạc. Thế là cậu lôi áo ra, dùng để lau
chùi ngay những li với bình hoa. Sau nữa giờ cậu lau sạch hết mọi thứ bầy trong
tủ kính, trong lúc đó có hai người khách đến mua vài cái li pha lê. Lau chùi
xong, cậu xin ông ta cho mình ăn.
“Ta
đi ăn chung”, người bán hàng pha lê nói.
Ông
ta treo một tấm biển trước cửa rồi hai người đi tới một cái quán nhỏ xíu trên
sườn núi. Khi họ đã ngồi vào cái bàn duy nhất trong quán, ông ta mới cười.
“Lẽ
ra cậu không cần phải lau chùi gì hết”, ông nói. “Điều răn của kinh Koran buộc
chúng tôi cho người đói ăn”
“Thế
tại sao ông lại cứ để cháu lau chùi?”. Cậu hỏi.
“Vì
những li, bình ấy bụi bặm bẩn thỉu. Hai chúng ta, cậu cũng như ta, đều phải gột
sạch những tư tưởng xấu trong đầu.”
Ăn
xong, người bán hàng pha lê nói với cậu: “Ta muốn cậu giúp việc cho ta. Hôm
nay, trong lúc cậu lau chùi thì có hai người đến mua hàng; đó là điềm lành”.
“Người
ta nói quá nhiều về điềm này, điềm nọ”, cậu thầm nghĩ. “Nhưng họ không ý thức
điều họ nói. Giống như mình không ý thức rằng đã từ lâu mình với lũ cừu giao cảm
với nhau bằng một thứ ngôn ngữ nằm ngoài tiếng nói.”
“Cậu
ưng làm việc cho ta chứ?”. Ông ta hỏi tới.
“Được,
cháu sẽ làm nốt ngày hôm nay”, cậu đáp. “Đến sáng sớm mai cháu sẽ lau chùi hết
mọi món hàng pha lê trong tiệm ông. Đổi lại cháu muốn có được đủ tiền để đi Ai
Cập ngay buổi sáng mai”.
Nghe
thế người bán pha lê bật cười. “Dù cậu có lau chùi số hàng của ta suốt một năm
và ngay cả khi cậu có được tiền hoa hồng kha khá do bán được hàng thì cậu vẫn
còn phải vay thêm tiền thì mới đến được Ai Cập. Giữa Tanger và Kim Tự Tháp là cả
nghìn cây số sa mạc”.
Tất
cả như chết lặng đi trong giây lát, như thể thành phố này chìm sâu trong giấc
ngủ. Không còn hàng quán nữa, không còn những nhà buôn mặc cả nữa, không còn những
người ngân nga trên tháp giáo đường, không còn cây kiếm báu với cán cẩn đá quí.
Không còn hi vọng và phiêu lưu nữa, hết luôn cả những ông vua già và những đường
đời tự vạch, hết luôn những kho tàng và Kim Tự Tháp. Cả thế giới như nín lặng bởi
vì tâm hồn cậu câm nín. Không đau đớn, không khổ, không thất vọng. Chỉ có một
cái nhìn trống không qua cửa quán ăn và một khát khao được chết, muốn rằng tất
cả chấm dứt ngay giây phút ấy.
Người
bán hàng pha lê lo lắng nhìn cậu. Tất cả sự vui sống mới đây ông thấy ở cậu như
chợt biến đâu mất hết.
”Ta
có thể cho cậu tiền để về nước”, ông an ủi. Cậu vẫn lặng thinh, rồi chợt đứng
phắt lên, kéo quần ngay ngắn, cầm lấy bị.
“Cháu
sẽ làm việc cho ông”, cậu đáp. Sau một lát, cậu nói tiếp: “Cháu cần tiền để mua
dăm ba con cừu”.
➖➖➖
Bản tiếng Anh
The Alchemist
Translated by Clifford E. Landers
TEN YEARS ON
I
REMEMBER RECEIVING A LETTER FROM THE AMERICAN publisher Harper Collins that
said that: “reading The Alchemist was like getting up at dawn and seeing
the sun rise while the rest of the world still slept.” I went outside, looked
up at the sky, and thought to myself: “So, the book is going to be published in
English!” At the time, I was struggling to establish myself as a writer and to
follow my path despite all the voices telling me it was impossible.
And
little by little, my dream was becoming reality. Ten, a hundred, a thousand, a
million copies sold in America. One day, a Brazilian journalist phoned to say
that President Clinton had been photographed reading the book. Some time later,
when I was in Turkey, I opened the magazine Vanity Fair and there was
Julia Roberts declaring that she adored the book. Walking alone down a street
in Miami, I heard a girl telling her mother: “You must read The Alchemist!”
The
book has been translated into fifty-six languages, has sold more than twenty
million copies, and people are beginning to ask: What’s the secret behind such
a huge success?
The
only honest response is: I don’t know. All I know is that, like Santiago the
shepherd boy, we all need to be aware of our personal calling. What is a
personal calling? It is God’s blessing, it is the path that God chose for you
here on Earth. Whenever we do something that fills us with enthusiasm, we are
following our legend. However, we don’t all have the courage to confront our
own dream.
Why?
There
are four obstacles. First: we are told from childhood onward that everything we
want to do is impossible. We grow up with this idea, and as the years
accumulate, so too do the layers of prejudice, fear, and guilt. There comes a
time when our personal calling is so deeply buried in our soul as to be
invisible. But it’s still there.
If
we have the courage to disinter dream, we are then faced by the second
obstacle: love. We know what we want to do, but are afraid of hurting those
around us by abandoning everything in order to pursue our dream. We do not
realize that love is just a further impetus, not something that will prevent us
going forward. We do not realize that those who genuinely wish us well want us
to be happy and are prepared to accompany us on that journey.
Once
we have accepted that love is a stimulus, we come up against the third
obstacle: fear of the defeats we will meet on the path. We who fight for our
dream, suffer far more when it doesn’t work out, because we cannot fall back on
the old excuse: “Oh, well, I didn’t really want it anyway.” We do want it and
know that we have staked everything on it and that the path of the personal
calling is no easier than any other path, except that our whole heart is in
this journey. Then, we warriors of light must be prepared to have patience in
difficult times and to know that the Universe is conspiring in our favor, even
though we may not understand how.
I
ask myself: are defeats necessary?
Well,
necessary or not, they happen. When we first begin fighting for our dream, we
have no experience and make many mistakes. The secret of life, though, is to
fall seven times and to get up eight times.
So,
why is it so important to live our personal calling if we are only going to
suffer more than other people?
Because,
once we have overcome the defeats—and we always do—we are filled by a greater
sense of euphoria and confidence. In the silence of our hearts, we know that we
are proving ourselves worthy of the miracle of life. Each day, each hour, is
part of the good fight. We start to live with enthusiasm and pleasure. Intense,
unexpected suffering passes more quickly than suffering that is apparently
bearable; the latter goes on for years and, without our noticing, eats away at
our soul, until, one day, we are no longer able to free ourselves from the
bitterness and it stays with us for the rest of our lives.
Having
disinterred our dream, having used the power of love to nurture it and spent
many years living with the scars, we suddenly notice that what we always wanted
is there, waiting for us, perhaps the very next day. Then comes the fourth
obstacle: the fear of realizing the dream for which we fought all our lives.
Oscar
Wilde said: “Each man kills the thing he loves.” And it’s true. The mere
possibility of getting what we want fills the soul of the ordinary person with
guilt. We look around at all those who have failed to get what they want and
feel that we do not deserve to get what we want either. We forget about all the
obstacles we overcame, all the suffering we endured, all the things we had to
give up in order to get this far. I have known a lot of people who, when their
personal calling was within their grasp, went on to commit a series of stupid
mistakes and never reached their goal—when it was only a step away.
This
is the most dangerous of the obstacles because it has a kind of saintly aura
about it: renouncing joy and conquest. But if you believe yourself worthy of
the thing you fought so hard to get, then you become an instrument of God, you
help the Soul of the World, and you understand why you are here.
Paulo Coelho
Rio de Janeiro
November 2002
Translated by Margaret Jull Costa
PROLOGUE
Translated by Clifford E.
Landers
THE
ALCHEMIST PICKED UP A BOOK THAT SOMEONE IN THE caravan had brought. Leafing
through the pages, he found a story about Narcissus.
The
alchemist knew the legend of Narcissus, a youth who knelt daily beside a lake
to contemplate his own beauty. He was so fascinated by himself that, one
morning, he fell into the lake and drowned. At the spot where he fell, a flower
was born, which was called the narcissus.
But
this was not how the author of the book ended the story.
He
said that when Narcissus died, the goddesses of the forest appeared and found
the lake, which had been fresh water, transformed into a lake of salty tears.
“Why
do you weep?” the goddesses asked.
“I
weep for Narcissus,” the lake replied.
“Ah,
it is no surprise that you weep for Narcissus,” they said, “for though we
always pursued him in the forest, you alone could contemplate his beauty close
at hand.”
“But…was
Narcissus beautiful?” the lake asked.
“Who
better than you to know that?” the goddesses said in wonder. “After all, it was
by your banks that he knelt each day to contemplate himself!”
The
lake was silent for some time. Finally, it said:
“I
weep for Narcissus, but I never noticed that Narcissus was beautiful. I weep
because, each time he knelt beside my banks, I could see, in the depths of his
eyes, my own beauty reflected.”
“What
a lovely story,” the alchemist thought.
-
PART ONE
THE
BOY’S NAME WAS SANTIAGO. DUSK WAS FALLING AS the boy arrived with his herd at
an abandoned church. The roof had fallen in long ago, and an enormous sycamore
had grown on the spot where the sacristy had once stood.
He
decided to spend the night there. He saw to it that all the sheep entered
through the ruined gate, and then laid some planks across it to prevent the
flock from wandering away during the night. There were no wolves in the region,
but once an animal had strayed during the night, and the boy had had to spend
the entire next day searching for it.
He
swept the floor with his jacket and lay down, using the book he had just
finished reading as a pillow. He told himself that he would have to start
reading thicker books: they lasted longer, and made more comfortable pillows.
It
was still dark when he awoke, and, looking up, he could see the stars through
the half-destroyed roof.
I
wanted to sleep a little longer, he thought. He had had the same dream that
night as a week ago, and once again he had awakened before it ended.
He
arose and, taking up his crook, began to awaken the sheep that still slept. He
had noticed that, as soon as he awoke, most of his animals also began to stir.
It was as if some mysterious energy bound his life to that of the sheep, with
whom he had spent the past two years, leading them through the countryside in
search of food and water. “They are so used to me that they know my schedule,”
he muttered. Thinking about that for a moment, he realized that it could be the
other way around: that it was he who had become accustomed to their schedule.
But
there were certain of them who took a bit longer to awaken. The boy prodded
them, one by one, with his crook, calling each by name. He had always believed
that the sheep were able to understand what he said. So there were times when
he read them parts of his books that had made an impression on him, or when he
would tell them of the loneliness or the happiness of a shepherd in the fields.
Sometimes he would comment to them on the things he had seen in the villages
they passed.
But
for the past few days he had spoken to them about only one thing: the girl, the
daughter of a merchant who lived in the village they would reach in about four
days. He had been to the village only once, the year before. The merchant was
the proprietor of a dry goods shop, and he always demanded that the sheep be
sheared in his presence, so that he would not be cheated. A friend had told the
boy about the shop, and he had taken his sheep there.
“I
NEED TO SELL SOME WOOL,” THE BOY TOLD THE merchant.
The
shop was busy, and the man asked the shepherd to wait until the afternoon. So
the boy sat on the steps of the shop and took a book from his bag.
“I
didn’t know shepherds knew how to read,” said a girl’s voice behind him.
The
girl was typical of the region of Andalusia, with flowing black hair, and eyes
that vaguely recalled the Moorish conquerors.
“Well,
usually I learn more from my sheep than from books,” he answered. During the
two hours that they talked, she told him she was the merchant’s daughter, and
spoke of life in the village, where each day was like all the others. The
shepherd told her of the Andalusian countryside, and related the news from the
other towns where he had stopped. It was a pleasant change from talking to his
sheep.
“How
did you learn to read?” the girl asked at one point.
“Like
everybody learns,” he said. “In school.”
“Well,
if you know how to read, why are you just a shepherd?”
The
boy mumbled an answer that allowed him to avoid responding to her question. He
was sure the girl would never understand. He went on telling stories about his
travels, and her bright, Moorish eyes went wide with fear and surprise. As the
time passed, the boy found himself wishing that the day would never end, that
her father would stay busy and keep him waiting for three days. He recognized
that he was feeling something he had never experienced before: the desire to
live in one place forever. With the girl with the raven hair, his days would
never be the same again.
But
finally the merchant appeared, and asked the boy to shear four sheep. He paid
for the wool and asked the shepherd to come back the following year.
AND
NOW IT WAS ONLY FOUR DAYS BEFORE HE WOULD BE back in that same village. He was
excited, and at the same time uneasy: maybe the girl had already forgotten him.
Lots of shepherds passed through, selling their wool.
“It
doesn’t matter,” he said to his sheep. “I know other girls in other places.”
But
in his heart he knew that it did matter. And he knew that shepherds, like
seamen and like traveling salesmen, always found a town where there was someone
who could make them forget the joys of carefree wandering.
The
day was dawning, and the shepherd urged his sheep in the direction of the sun.
They never have to make any decisions, he thought. Maybe that’s why they always
stay close to me.
The
only things that concerned the sheep were food and water. As long as the boy
knew how to find the best pastures in Andalusia, they would be his friends.
Yes, their days were all the same, with the seemingly endless hours between
sunrise and dusk; and they had never read a book in their young lives, and
didn’t understand when the boy told them about the sights of the cities. They
were content with just food and water, and, in exchange, they generously gave
of their wool, their company, and—once in a while—their meat.
If
I became a monster today, and decided to kill them, one by one, they would
become aware only after most of the flock had been slaughtered, thought the
boy. They trust me, and they’ve forgotten how to rely on their own instincts,
because I lead them to nourishment.
The
boy was surprised at his thoughts. Maybe the church, with the sycamore growing
from within, had been haunted. It had caused him to have the same dream for a
second time, and it was causing him to feel anger toward his faithful
companions. He drank a bit from the wine that remained from his dinner of the
night before, and he gathered his jacket closer to his body. He knew that a few
hours from now, with the sun at its zenith, the heat would be so great that he
would not be able to lead his flock across the fields. It was the time of day
when all of Spain slept during the summer. The heat lasted until nightfall, and
all that time he had to carry his jacket. But when he thought to complain about
the burden of its weight, he remembered that, because he had the jacket, he had
withstood the cold of the dawn.
We
have to be prepared for change, he thought, and he was grateful for the
jacket’s weight and warmth.
The
jacket had a purpose, and so did the boy. His purpose in life was to travel,
and, after two years of walking the Andalusian terrain, he knew all the cities
of the region. He was planning, on this visit, to explain to the girl how it
was that a simple shepherd knew how to read. That he had attended a seminary
until he was sixteen. His parents had wanted him to become a priest, and
thereby a source of pride for a simple farm family. They worked hard just to
have food and water, like the sheep. He had studied Latin, Spanish, and
theology. But ever since he had been a child, he had wanted to know the world,
and this was much more important to him than knowing God and learning about
man’s sins. One afternoon, on a visit to his family, he had summoned up the
courage to tell his father that he didn’t want to become a priest. That he
wanted to travel.
“PEOPLE
FROM ALL OVER THE WORLD HAVE PASSED through this village, son,” said his
father. “They come in search of new things, but when they leave they are
basically the same people they were when they arrived. They climb the mountain
to see the castle, and they wind up thinking that the past was better than what
we have now. They have blond hair, or dark skin, but basically they’re the same
as the people who live right here.”
“But
I’d like to see the castles in the towns where they live,” the boy explained.
“Those
people, when they see our land, say that they would like to live here forever,”
his father continued.
“Well,
I’d like to see their land, and see how they live,” said his son.
“The
people who come here have a lot of money to spend, so they can afford to
travel,” his father said. “Amongst us, the only ones who travel are the
shepherds.”
“Well,
then I’ll be a shepherd!”
His
father said no more. The next day, he gave his son a pouch that held three
ancient Spanish gold coins.
“I
found these one day in the fields. I wanted them to be a part of your
inheritance. But use them to buy your flock. Take to the fields, and someday
you’ll learn that our countryside is the best, and our women are the most
beautiful.”
And
he gave the boy his blessing. The boy could see in his father’s gaze a desire
to be able, himself, to travel the world—a desire that was still alive, despite
his father’s having had to bury it, over dozens of years, under the burden of
struggling for water to drink, food to eat, and the same place to sleep every
night of his life.
THE
HORIZON WAS TINGED WITH RED, AND SUDDENLY THE sun appeared. The boy thought
back to that conversation with his father, and felt happy; he had already seen
many castles and met many women (but none the equal of the one who awaited him
several days hence). He owned a jacket, a book that he could trade for another,
and a flock of sheep. But, most important, he was able every day to live out
his dream. If he were to tire of the Andalusian fields, he could sell his sheep
and go to sea. By the time he had had enough of the sea, he would already have
known other cities, other women, and other chances to be happy. I couldn’t have
found God in the seminary, he thought, as he looked at the sunrise.
Whenever
he could, he sought out a new road to travel. He had never been to that ruined
church before, in spite of having traveled through those parts many times. The
world was huge and inexhaustible; he had only to allow his sheep to set the
route for a while, and he would discover other interesting things. The problem
is that they don’t even realize that they’re walking a new road every day. They
don’t see that the fields are new and the seasons change. All they think about
is food and water.
Maybe
we’re all that way, the boy mused. Even me—I haven’t thought of other women
since I met the merchant’s daughter. Looking at the sun, he calculated that he
would reach Tarifa before midday. There, he could exchange his book for a
thicker one, fill his wine bottle, shave, and have a haircut; he had to prepare
himself for his meeting with the girl, and he didn’t want to think about the
possibility that some other shepherd, with a larger flock of sheep, had arrived
there before him and asked for her hand.
It’s
the possibility of having a dream come true that makes life interesting, he
thought, as he looked again at the position of the sun, and hurried his pace.
He had suddenly remembered that, in Tarifa, there was an old woman who
interpreted dreams.
THE
OLD WOMAN LED THE BOY TO A ROOM AT THE BACK of her house; it was separated from
her living room by a curtain of colored beads. The room’s furnishings consisted
of a table, an image of the Sacred Heart of Jesus, and two chairs.
The
woman sat down, and told him to be seated as well. Then she took both of his
hands in hers, and began quietly to pray.
It
sounded like a Gypsy prayer. The boy had already had experience on the road
with Gypsies; they also traveled, but they had no flocks of sheep. People said
that Gypsies spent their lives tricking others. It was also said that they had
a pact with the devil, and that they kidnapped children and, taking them away
to their mysterious camps, made them their slaves. As a child, the boy had
always been frightened to death that he would be captured by Gypsies, and this
childhood fear returned when the old woman took his hands in hers.
But
she has the Sacred Heart of Jesus there, he thought, trying to reassure
himself. He didn’t want his hand to begin trembling, showing the old woman that
he was fearful. He recited an Our Father silently.
“Very
interesting,” said the woman, never taking her eyes from the boy’s hands, and
then she fell silent.
The
boy was becoming nervous. His hands began to tremble, and the woman sensed it.
He quickly pulled his hands away.
“I
didn’t come here to have you read my palm,” he said, already regretting having
come. He thought for a moment that it would be better to pay her fee and leave
without learning a thing, that he was giving too much importance to his
recurrent dream.
“You
came so that you could learn about your dreams,” said the old woman. “And
dreams are the language of God. When he speaks in our language, I can interpret
what he has said. But if he speaks in the language of the soul, it is only you
who can understand. But, whichever it is, I’m going to charge you for the
consultation.”
Another
trick, the boy thought. But he decided to take a chance. A shepherd always
takes his chances with wolves and with drought, and that’s what makes a
shepherd’s life exciting.
“I
have had the same dream twice,” he said. “I dreamed that I was in a field with
my sheep, when a child appeared and began to play with the animals. I don’t
like people to do that, because the sheep are afraid of strangers. But children
always seem to be able to play with them without frightening them. I don’t know
why. I don’t know how animals know the age of human beings.”
“Tell
me more about your dream,” said the woman. “I have to get back to my cooking,
and, since you don’t have much money, I can’t give you a lot of time.”
“The
child went on playing with my sheep for quite a while,” continued the boy, a
bit upset. “And suddenly, the child took me by both hands and transported me to
the Egyptian pyramids.”
He
paused for a moment to see if the woman knew what the Egyptian pyramids were.
But she said nothing.
“Then,
at the Egyptian pyramids,”—he said the last three words slowly, so that the old
woman would understand—“the child said to me, ‘If you come here, you will find
a hidden treasure.’ And, just as she was about to show me the exact location, I
woke up. Both times.”
The
woman was silent for some time. Then she again took his hands and studied them
carefully.
“I’m
not going to charge you anything now,” she said. “But I want one-tenth of the
treasure, if you find it.”
The
boy laughed—out of happiness. He was going to be able to save the little money
he had because of a dream about hidden treasure!
“Well,
interpret the dream,” he said.
“First,
swear to me. Swear that you will give me one-tenth of your treasure in exchange
for what I am going to tell you.”
The
shepherd swore that he would. The old woman asked him to swear again while
looking at the image of the Sacred Heart of Jesus.
“It’s
a dream in the language of the world,” she said. “I can interpret it, but the
interpretation is very difficult. That’s why I feel that I deserve a part of
what you find.
“And
this is my interpretation: you must go to the Pyramids in Egypt. I have never
heard of them, but, if it was a child who showed them to you, they exist. There
you will find a treasure that will make you a rich man.”
The
boy was surprised, and then irritated. He didn’t need to seek out the old woman
for this! But then he remembered that he wasn’t going to have to pay anything.
“I
didn’t need to waste my time just for this,” he said.
“I
told you that your dream was a difficult one. It’s the simple things in life
that are the most extraordinary; only wise men are able to understand them. And
since I am not wise, I have had to learn other arts, such as the reading of
palms.”
“Well,
how am I going to get to Egypt?”
“I
only interpret dreams. I don’t know how to turn them into reality. That’s why I
have to live off what my daughters provide me with.”
“And
what if I never get to Egypt?”
“Then
I don’t get paid. It wouldn’t be the first time.”
And
the woman told the boy to leave, saying she had already wasted too much time
with him.
So
the boy was disappointed; he decided that he would never again believe in
dreams. He remembered that he had a number of things he had to take care of: he
went to the market for something to eat, he traded his book for one that was
thicker, and he found a bench in the plaza where he could sample the new wine
he had bought. The day was hot, and the wine was refreshing. The sheep were at
the gates of the city, in a stable that belonged to a friend. The boy knew a
lot of people in the city. That was what made traveling appeal to him—he always
made new friends, and he didn’t need to spend all of his time with them. When
someone sees the same people every day, as had happened with him at the
seminary, they wind up becoming a part of that person’s life. And then they
want the person to change. If someone isn’t what others want them to be, the
others become angry. Everyone seems to have a clear idea of how other people
should lead their lives, but none about his or her own.
He
decided to wait until the sun had sunk a bit lower in the sky before following
his flock back through the fields. Three days from now, he would be with the
merchant’s daughter.
He
started to read the book he had bought. On the very first page it described a
burial ceremony. And the names of the people involved were very difficult to
pronounce. If he ever wrote a book, he thought, he would present one person at
a time, so that the reader wouldn’t have to worry about memorizing a lot of
names.
When
he was finally able to concentrate on what he was reading, he liked the book
better; the burial was on a snowy day, and he welcomed the feeling of being
cold. As he read on, an old man sat down at his side and tried to strike up a
conversation.
“What
are they doing?” the old man asked, pointing at the people in the plaza.
“Working,”
the boy answered dryly, making it look as if he wanted to concentrate on his
reading.
Actually,
he was thinking about shearing his sheep in front of the merchant’s daughter,
so that she could see that he was someone who was capable of doing difficult
things. He had already imagined the scene many times; every time, the girl
became fascinated when he explained that the sheep had to be sheared from back
to front. He also tried to remember some good stories to relate as he sheared
the sheep. Most of them he had read in books, but he would tell them as if they
were from his personal experience. She would never know the difference, because
she didn’t know how to read.
Meanwhile,
the old man persisted in his attempt to strike up a conversation. He said that
he was tired and thirsty, and asked if he might have a sip of the boy’s wine.
The boy offered his bottle, hoping that the old man would leave him alone.
But
the old man wanted to talk, and he asked the boy what book he was reading. The
boy was tempted to be rude, and move to another bench, but his father had
taught him to be respectful of the elderly. So he held out the book to the
man—for two reasons: first, that he, himself, wasn’t sure how to pronounce the
title; and second, that if the old man didn’t know how to read, he would
probably feel ashamed and decide of his own accord to change benches.
“Hmm…”
said the old man, looking at all sides of the book, as if it were some strange
object. “This is an important book, but it’s really irritating.”
The
boy was shocked. The old man knew how to read, and had already read the book.
And if the book was irritating, as the old man had said, the boy still had time
to change it for another.
“It’s
a book that says the same thing almost all the other books in the world say,”
continued the old man. “It describes people’s inability to choose their own
Personal Legends. And it ends up saying that everyone believes the world’s
greatest lie.”
“What’s
the world’s greatest lie?” the boy asked, completely surprised.
“It’s
this: that at a certain point in our lives, we lose control of what’s happening
to us, and our lives become controlled by fate. That’s the world’s greatest
lie.”
“That’s
never happened to me,” the boy said. “They wanted me to be a priest, but I
decided to become a shepherd.”
“Much
better,” said the old man. “Because you really like to travel.”
“He
knew what I was thinking,” the boy said to himself. The old man, meanwhile, was
leafing through the book, without seeming to want to return it at all. The boy
noticed that the man’s clothing was strange. He looked like an Arab, which was
not unusual in those parts. Africa was only a few hours from Tarifa; one had
only to cross the narrow straits by boat. Arabs often appeared in the city,
shopping and chanting their strange prayers several times a day.
“Where
are you from?” the boy asked.
“From
many places.”
“No
one can be from many places,” the boy said. “I’m a shepherd, and I have been to
many places, but I come from only one place—from a city near an ancient castle.
That’s where I was born.”
“Well
then, we could say that I was born in Salem.”
The
boy didn’t know where Salem was, but he didn’t want to ask, fearing that he
would appear ignorant. He looked at the people in the plaza for a while; they
were coming and going, and all of them seemed to be very busy.
“So,
what is Salem like?” he asked, trying to get some sort of clue.
“It’s
like it always has been.”
No
clue yet. But he knew that Salem wasn’t in Andalusia. If it were, he would
already have heard of it.
“And
what do you do in Salem?” he insisted.
“What
do I do in Salem?” The old man laughed. “Well, I’m the king of Salem!”
People
say strange things, the boy thought. Sometimes it’s better to be with the
sheep, who don’t say anything. And better still to be alone with one’s books.
They tell their incredible stories at the time when you want to hear them. But
when you’re talking to people, they say some things that are so strange that
you don’t know how to continue the conversation.
“My
name is Melchizedek,” said the old man. “How many sheep do you have?”
“Enough,”
said the boy. He could see that the old man wanted to know more about his life.
“Well,
then, we’ve got a problem. I can’t help you if you feel you’ve got enough
sheep.”
The
boy was getting irritated. He wasn’t asking for help. It was the old man who
had asked for a drink of his wine, and had started the conversation.
“Give
me my book,” the boy said. “I have to go and gather my sheep and get going.”
“Give
me one-tenth of your sheep,” said the old man, “and I’ll tell you how to find
the hidden treasure.”
The
boy remembered his dream, and suddenly everything was clear to him. The old
woman hadn’t charged him anything, but the old man—maybe he was her husband—was
going to find a way to get much more money in exchange for information about
something that didn’t even exist. The old man was probably a Gypsy, too.
But
before the boy could say anything, the old man leaned over, picked up a stick,
and began to write in the sand of the plaza. Something bright reflected from
his chest with such intensity that the boy was momentarily blinded. With a
movement that was too quick for someone his age, the man covered whatever it
was with his cape. When his vision returned to normal, the boy was able to read
what the old man had written in the sand.
There,
in the sand of the plaza of that small city, the boy read the names of his
father and his mother and the name of the seminary he had attended. He read the
name of the merchant’s daughter, which he hadn’t even known, and he read things
he had never told anyone.
“I’M
THE KING OF SALEM,” THE OLD MAN HAD SAID.
“Why
would a king be talking with a shepherd?” the boy asked, awed and embarrassed.
“For
several reasons. But let’s say that the most important is that you have
succeeded in discovering your Personal Legend.”
The
boy didn’t know what a person’s “Personal Legend” was.
“It’s
what you have always wanted to accomplish. Everyone, when they are young, knows
what their Personal Legend is.
“At
that point in their lives, everything is clear and everything is possible. They
are not afraid to dream, and to yearn for everything they would like to see
happen to them in their lives. But, as time passes, a mysterious force begins
to convince them that it will be impossible for them to realize their Personal
Legend.”
None
of what the old man was saying made much sense to the boy. But he wanted to
know what the “mysterious force” was; the merchant’s daughter would be
impressed when he told her about that!
“It’s
a force that appears to be negative, but actually shows you how to realize your
Personal Legend. It prepares your spirit and your will, because there is one
great truth on this planet: whoever you are, or whatever it is that you do,
when you really want something, it’s because that desire originated in the soul
of the universe. It’s your mission on earth.”
“Even
when all you want to do is travel? Or marry the daughter of a textile
merchant?”
“Yes,
or even search for treasure. The Soul of the World is nourished by people’s
happiness. And also by unhappiness, envy, and jealousy. To realize one’s
Personal Legend is a person’s only real obligation. All things are one.
“And,
when you want something, all the universe conspires in helping you to achieve
it.”
They
were both silent for a time, observing the plaza and the townspeople. It was
the old man who spoke first.
“Why
do you tend a flock of sheep?”
“Because
I like to travel.”
The
old man pointed to a baker standing in his shop window at one corner of the
plaza. “When he was a child, that man wanted to travel, too. But he decided
first to buy his bakery and put some money aside. When he’s an old man, he’s
going to spend a month in Africa. He never realized that people are capable, at
any time in their lives, of doing what they dream of.”
“He
should have decided to become a shepherd,” the boy said.
“Well,
he thought about that,” the old man said. “But bakers are more important people
than shepherds. Bakers have homes, while shepherds sleep out in the open.
Parents would rather see their children marry bakers than shepherds.”
The
boy felt a pang in his heart, thinking about the merchant’s daughter. There was
surely a baker in her town.
The
old man continued, “In the long run, what people think about shepherds and
bakers becomes more important for them than their own Personal Legends.”
The
old man leafed through the book, and fell to reading a page he came to. The boy
waited, and then interrupted the old man just as he himself had been
interrupted. “Why are you telling me all this?”
“Because
you are trying to realize your Personal Legend. And you are at the point where
you’re about to give it all up.”
“And
that’s when you always appear on the scene?”
“Not
always in this way, but I always appear in one form or another. Sometimes I
appear in the form of a solution, or a good idea. At other times, at a crucial
moment, I make it easier for things to happen. There are other things I do,
too, but most of the time people don’t realize I’ve done them.”
The
old man related that, the week before, he had been forced to appear before a
miner, and had taken the form of a stone. The miner had abandoned everything to
go mining for emeralds. For five years he had been working a certain river, and
had examined hundreds of thousands of stones looking for an emerald. The miner
was about to give it all up, right at the point when, if he were to examine
just one more stone—just one more—he would find his emerald. Since the miner
had sacrificed everything to his Personal Legend, the old man decided to become
involved. He transformed himself into a stone that rolled up to the miner’s
foot. The miner, with all the anger and frustration of his five fruitless
years, picked up the stone and threw it aside. But he had thrown it with such
force that it broke the stone it fell upon, and there, embedded in the broken
stone, was the most beautiful emerald in the world.
“People
learn, early in their lives, what is their reason for being,” said the old man,
with a certain bitterness. “Maybe that’s why they give up on it so early, too.
But that’s the way it is.”
The
boy reminded the old man that he had said something about hidden treasure.
“Treasure
is uncovered by the force of flowing water, and it is buried by the same
currents,” said the old man. “If you want to learn about your own treasure, you
will have to give me one-tenth of your flock.”
“What
about one-tenth of my treasure?”
The
old man looked disappointed. “If you start out by promising what you don’t even
have yet, you’ll lose your desire to work toward getting it.”
The
boy told him that he had already promised to give one-tenth of his treasure to
the Gypsy.
“Gypsies
are experts at getting people to do that,” sighed the old man. “In any case,
it’s good that you’ve learned that everything in life has its price. This is
what the Warriors of the Light try to teach.”
The
old man returned the book to the boy.
“Tomorrow,
at this same time, bring me a tenth of your flock. And I will tell you how to
find the hidden treasure. Good afternoon.”
And
he vanished around the corner of the plaza.
THE
BOY BEGAN AGAIN TO READ HIS BOOK, BUT HE WAS NO longer able to concentrate. He
was tense and upset, because he knew that the old man was right. He went over
to the bakery and bought a loaf of bread, thinking about whether or not he
should tell the baker what the old man had said about him. Sometimes it’s
better to leave things as they are, he thought to himself, and decided to say
nothing. If he were to say anything, the baker would spend three days thinking
about giving it all up, even though he had gotten used to the way things were.
The boy could certainly resist causing that kind of anxiety for the baker. So
he began to wander through the city, and found himself at the gates. There was
a small building there, with a window at which people bought tickets to Africa.
And he knew that Egypt was in Africa.
“Can
I help you?” asked the man behind the window.
“Maybe
tomorrow,” said the boy, moving away. If he sold just one of his sheep, he’d
have enough to get to the other shore of the strait. The idea frightened him.
“Another
dreamer,” said the ticket seller to his assistant, watching the boy walk away.
“He doesn’t have enough money to travel.”
While
standing at the ticket window, the boy had remembered his flock, and decided he
should go back to being a shepherd. In two years he had learned everything
about shepherding: he knew how to shear sheep, how to care for pregnant ewes,
and how to protect the sheep from wolves. He knew all the fields and pastures
of Andalusia. And he knew what was the fair price for every one of his animals.
He
decided to return to his friend’s stable by the longest route possible. As he
walked past the city’s castle, he interrupted his return, and climbed the stone
ramp that led to the top of the wall. From there, he could see Africa in the
distance. Someone had once told him that it was from there that the Moors had
come, to occupy all of Spain.
He
could see almost the entire city from where he sat, including the plaza where
he had talked with the old man. Curse the moment I met that old man, he
thought. He had come to the town only to find a woman who could interpret his
dream. Neither the woman nor the old man was at all impressed by the fact that
he was a shepherd. They were solitary individuals who no longer believed in things,
and didn’t understand that shepherds become attached to their sheep. He knew
everything about each member of his flock: he knew which ones were lame, which
one was to give birth two months from now, and which were the laziest. He knew
how to shear them, and how to slaughter them. If he ever decided to leave them,
they would suffer.
The
wind began to pick up. He knew that wind: people called it the levanter,
because on it the Moors had come from the Levant at the eastern end of the
Mediterranean.
The
levanter increased in intensity. Here I am, between my flock and my treasure,
the boy thought. He had to choose between something he had become accustomed to
and something he wanted to have. There was also the merchant’s daughter, but
she wasn’t as important as his flock, because she didn’t depend on him. Maybe
she didn’t even remember him. He was sure that it made no difference to her on
which day he appeared: for her, every day was the same, and when each day is
the same as the next, it’s because people fail to recognize the good things
that happen in their lives every day that the sun rises.
I
left my father, my mother, and the town castle behind. They have gotten used to
my being away, and so have I. The sheep will get used to my not being there,
too, the boy thought.
From
where he sat, he could observe the plaza. People continued to come and go from
the baker’s shop. A young couple sat on the bench where he had talked with the
old man, and they kissed.
“That
baker…” he said to himself, without completing the thought. The levanter was
still getting stronger, and he felt its force on his face. That wind had
brought the Moors, yes, but it had also brought the smell of the desert and of
veiled women. It had brought with it the sweat and the dreams of men who had
once left to search for the unknown, and for gold and adventure—and for the
Pyramids. The boy felt jealous of the freedom of the wind, and saw that he
could have the same freedom. There was nothing to hold him back except himself.
The sheep, the merchant’s daughter, and the fields of Andalusia were only steps
along the way to his Personal Legend.
The
next day, the boy met the old man at noon. He brought six sheep with him.
“I’m
surprised,” the boy said. “My friend bought all the other sheep immediately. He
said that he had always dreamed of being a shepherd, and that it was a good
omen.”
“That’s
the way it always is,” said the old man. “It’s called the principle of
favorability. When you play cards the first time, you are almost sure to win.
Beginner’s luck.”
“Why
is that?”
“Because
there is a force that wants you to realize your Personal Legend; it whets your
appetite with a taste of success.”
Then
the old man began to inspect the sheep, and he saw that one was lame. The boy
explained that it wasn’t important, since that sheep was the most intelligent
of the flock, and produced the most wool.
“Where
is the treasure?” he asked.
“It’s
in Egypt, near the Pyramids.”
The
boy was startled. The old woman had said the same thing. But she hadn’t charged
him anything.
“In
order to find the treasure, you will have to follow the omens. God has prepared
a path for everyone to follow. You just have to read the omens that he left for
you.”
Before
the boy could reply, a butterfly appeared and fluttered between him and the old
man. He remembered something his grandfather had once told him: that
butterflies were a good omen. Like crickets, and like grasshoppers; like
lizards and four-leaf clovers.
“That’s
right,” said the old man, able to read the boy’s thoughts. “Just as your
grandfather taught you. These are good omens.”
The
old man opened his cape, and the boy was struck by what he saw. The old man
wore a breastplate of heavy gold, covered with precious stones. The boy
recalled the brilliance he had noticed on the previous day.
He
really was a king! He must be disguised to avoid encounters with thieves.
“Take
these,” said the old man, holding out a white stone and a black stone that had
been embedded at the center of the breastplate. “They are called Urim and
Thummim. The black signifies ‘yes,’ and the white ‘no.’ When you are unable to
read the omens, they will help you to do so. Always ask an objective question.
“But,
if you can, try to make your own decisions. The treasure is at the Pyramids;
that you already knew. But I had to insist on the payment of six sheep because
I helped you to make your decision.”
The
boy put the stones in his pouch. From then on, he would make his own decisions.
“Don’t
forget that everything you deal with is only one thing and nothing else. And
don’t forget the language of omens. And, above all, don’t forget to follow your
Personal Legend through to its conclusion.
“But
before I go, I want to tell you a little story.
“A
certain shopkeeper sent his son to learn about the secret of happiness from the
wisest man in the world. The lad wandered through the desert for forty days,
and finally came upon a beautiful castle, high atop a mountain. It was there
that the wise man lived.
“Rather
than finding a saintly man, though, our hero, on entering the main room of the
castle, saw a hive of activity: tradesmen came and went, people were conversing
in the corners, a small orchestra was playing soft music, and there was a table
covered with platters of the most delicious food in that part of the world. The
wise man conversed with everyone, and the boy had to wait for two hours before
it was his turn to be given the man’s attention.
“The
wise man listened attentively to the boy’s explanation of why he had come, but
told him that he didn’t have time just then to explain the secret of happiness.
He suggested that the boy look around the palace and return in two hours.
“‘Meanwhile,
I want to ask you to do something,’ said the wise man, handing the boy a
teaspoon that held two drops of oil. ‘As you wander around, carry this spoon
with you without allowing the oil to spill.’
“The
boy began climbing and descending the many stairways of the palace, keeping his
eyes fixed on the spoon. After two hours, he returned to the room where the
wise man was.
“‘Well,’
asked the wise man, ‘did you see the Persian tapestries that are hanging in my
dining hall? Did you see the garden that it took the master gardener ten years
to create? Did you notice the beautiful parchments in my library?’
“The
boy was embarrassed, and confessed that he had observed nothing. His only
concern had been not to spill the oil that the wise man had entrusted to him.
“‘Then
go back and observe the marvels of my world,’ said the wise man. ‘You cannot
trust a man if you don’t know his house.’
“Relieved,
the boy picked up the spoon and returned to his exploration of the palace, this
time observing all of the works of art on the ceilings and the walls. He saw
the gardens, the mountains all around him, the beauty of the flowers, and the
taste with which everything had been selected. Upon returning to the wise man,
he related in detail everything he had seen.
“‘But
where are the drops of oil I entrusted to you?’ asked the wise man.
“Looking
down at the spoon he held, the boy saw that the oil was gone.
“‘Well,
there is only one piece of advice I can give you,’ said the wisest of wise men.
‘The secret of happiness is to see all the marvels of the world, and never to
forget the drops of oil on the spoon.’”
The
shepherd said nothing. He had understood the story the old king had told him. A
shepherd may like to travel, but he should never forget about his sheep.
The
old man looked at the boy and, with his hands held together, made several
strange gestures over the boy’s head. Then, taking his sheep, he walked away.
AT
THE HIGHEST POINT IN TARIFA THERE IS AN OLD FORT, built by the Moors. From atop
its walls, one can catch a glimpse of Africa. Melchizedek, the king of Salem,
sat on the wall of the fort that afternoon, and felt the levanter blowing in
his face. The sheep fidgeted nearby, uneasy with their new owner and excited by
so much change. All they wanted was food and water.
Melchizedek
watched a small ship that was plowing its way out of the port. He would never
again see the boy, just as he had never seen Abraham again after having charged
him his one-tenth fee. That was his work.
The
gods should not have desires, because they don’t have Personal Legends. But the
king of Salem hoped desperately that the boy would be successful.
It’s
too bad that he’s quickly going to forget my name, he thought. I should have
repeated it for him. Then when he spoke about me he would say that I am
Melchizedek, the king of Salem.
He
looked to the skies, feeling a bit abashed, and said, “I know it’s the vanity
of vanities, as you said, my Lord. But an old king sometimes has to take some
pride in himself.”
HOW
STRANGE AFRICA IS, THOUGHT THE BOY.
He
was sitting in a bar very much like the other bars he had seen along the narrow
streets of Tangier. Some men were smoking from a gigantic pipe that they passed
from one to the other. In just a few hours he had seen men walking hand in
hand, women with their faces covered, and priests that climbed to the tops of
towers and chanted—as everyone about him went to their knees and placed their
foreheads on the ground.
“A
practice of infidels,” he said to himself. As a child in church, he had always
looked at the image of Saint Santiago Matamoros on his white horse, his sword
unsheathed, and figures such as these kneeling at his feet. The boy felt ill
and terribly alone. The infidels had an evil look about them.
Besides
this, in the rush of his travels he had forgotten a detail, just one detail,
which could keep him from his treasure for a long time: only Arabic was spoken
in this country.
The
owner of the bar approached him, and the boy pointed to a drink that had been
served at the next table. It turned out to be a bitter tea. The boy preferred
wine.
But
he didn’t need to worry about that right now. What he had to be concerned about
was his treasure, and how he was going to go about getting it. The sale of his
sheep had left him with enough money in his pouch, and the boy knew that in
money there was magic; whoever has money is never really alone. Before long,
maybe in just a few days, he would be at the Pyramids. An old man, with a
breastplate of gold, wouldn’t have lied just to acquire six sheep.
The
old man had spoken about signs and omens, and, as the boy was crossing the
strait, he had thought about omens. Yes, the old man had known what he was
talking about: during the time the boy had spent in the fields of Andalusia, he
had become used to learning which path he should take by observing the ground
and the sky. He had discovered that the presence of a certain bird meant that a
snake was nearby, and that a certain shrub was a sign that there was water in
the area. The sheep had taught him that.
If
God leads the sheep so well, he will also lead a man, he thought, and that made
him feel better. The tea seemed less bitter.
“Who
are you?” he heard a voice ask him in Spanish.
The
boy was relieved. He was thinking about omens, and someone had appeared.
“How
come you speak Spanish?” he asked. The new arrival was a young man in Western
dress, but the color of his skin suggested he was from this city. He was about
the same age and height as the boy.
“Almost
everyone here speaks Spanish. We’re only two hours from Spain.”
“Sit
down, and let me treat you to something,” said the boy. “And ask for a glass of
wine for me. I hate this tea.”
“There
is no wine in this country,” the young man said. “The religion here forbids
it.”
The
boy told him then that he needed to get to the Pyramids. He almost began to
tell about his treasure, but decided not to do so. If he did, it was possible
that the Arab would want a part of it as payment for taking him there. He
remembered what the old man had said about offering something you didn’t even
have yet.
“I’d
like you to take me there if you can. I can pay you to serve as my guide.”
“Do
you have any idea how to get there?” the newcomer asked.
The
boy noticed that the owner of the bar stood nearby, listening attentively to
their conversation. He felt uneasy at the man’s presence. But he had found a
guide, and didn’t want to miss out on an opportunity.
“You
have to cross the entire Sahara desert,” said the young man. “And to do that,
you need money. I need to know whether you have enough.”
The
boy thought it a strange question. But he trusted in the old man, who had said
that, when you really want something, the universe always conspires in your
favor.
He
took his money from his pouch and showed it to the young man. The owner of the
bar came over and looked, as well. The two men exchanged some words in Arabic,
and the bar owner seemed irritated.
“Let’s
get out of here,” said the new arrival. “He wants us to leave.”
The
boy was relieved. He got up to pay the bill, but the owner grabbed him and
began to speak to him in an angry stream of words. The boy was strong, and
wanted to retaliate, but he was in a foreign country. His new friend pushed the
owner aside, and pulled the boy outside with him. “He wanted your money,” he
said. “Tangier is not like the rest of Africa. This is a port, and every port
has its thieves.”
The
boy trusted his new friend. He had helped him out in a dangerous situation. He
took out his money and counted it.
“We
could get to the Pyramids by tomorrow,” said the other, taking the money. “But
I have to buy two camels.”
They
walked together through the narrow streets of Tangier. Everywhere there were
stalls with items for sale. They reached the center of a large plaza where the
market was held. There were thousands of people there, arguing, selling, and
buying; vegetables for sale amongst daggers, and carpets displayed alongside
tobacco. But the boy never took his eye off his new friend. After all, he had
all his money. He thought about asking him to give it back, but decided that
would be unfriendly. He knew nothing about the customs of the strange land he
was in.
“I’ll
just watch him,” he said to himself. He knew he was stronger than his friend.
Suddenly,
there in the midst of all that confusion, he saw the most beautiful sword he
had ever seen. The scabbard was embossed in silver, and the handle was black
and encrusted with precious stones. The boy promised himself that, when he
returned from Egypt, he would buy that sword.
“Ask
the owner of that stall how much the sword costs,” he said to his friend. Then
he realized that he had been distracted for a few moments, looking at the
sword. His heart squeezed, as if his chest had suddenly compressed it. He was
afraid to look around, because he knew what he would find. He continued to look
at the beautiful sword for a bit longer, until he summoned the courage to turn
around.
All
around him was the market, with people coming and going, shouting and buying,
and the aroma of strange foods…but nowhere could he find his new companion.
The
boy wanted to believe that his friend had simply become separated from him by
accident. He decided to stay right there and await his return. As he waited, a
priest climbed to the top of a nearby tower and began his chant; everyone in
the market fell to their knees, touched their foreheads to the ground, and took
up the chant. Then, like a colony of worker ants, they dismantled their stalls
and left.
The
sun began its departure, as well. The boy watched it through its trajectory for
some time, until it was hidden behind the white houses surrounding the plaza.
He recalled that when the sun had risen that morning, he was on another
continent, still a shepherd with sixty sheep, and looking forward to meeting
with a girl. That morning he had known everything that was going to happen to
him as he walked through the familiar fields. But now, as the sun began to set,
he was in a different country, a stranger in a strange land, where he couldn’t
even speak the language. He was no longer a shepherd, and he had nothing, not
even the money to return and start everything over.
All
this happened between sunrise and sunset, the boy thought. He was feeling sorry
for himself, and lamenting the fact that his life could have changed so
suddenly and so drastically.
He
was so ashamed that he wanted to cry. He had never even wept in front of his
own sheep. But the marketplace was empty, and he was far from home, so he wept.
He wept because God was unfair, and because this was the way God repaid those
who believed in their dreams.
When
I had my sheep, I was happy, and I made those around me happy. People saw me
coming and welcomed me, he thought. But now I’m sad and alone. I’m going to
become bitter and distrustful of people because one person betrayed me. I’m
going to hate those who have found their treasure because I never found mine.
And I’m going to hold on to what little I have, because I’m too insignificant
to conquer the world.
He
opened his pouch to see what was left of his possessions; maybe there was a bit
left of the sandwich he had eaten on the ship. But all he found was the heavy
book, his jacket, and the two stones the old man had given him.
As
he looked at the stones, he felt relieved for some reason. He had exchanged six
sheep for two precious stones that had been taken from a gold breastplate. He
could sell the stones and buy a return ticket. But this time I’ll be smarter,
the boy thought, removing them from the pouch so he could put them in his
pocket. This was a port town, and the only truthful thing his friend had told
him was that port towns are full of thieves.
Now
he understood why the owner of the bar had been so upset: he was trying to tell
him not to trust that man. “I’m like everyone else—I see the world in terms of
what I would like to see happen, not what actually does.”
He
ran his fingers slowly over the stones, sensing their temperature and feeling
their surfaces. They were his treasure. Just handling them made him feel
better. They reminded him of the old man.
“When
you want something, all the universe conspires in helping you to achieve it,”
he had said.
The
boy was trying to understand the truth of what the old man had said. There he
was in the empty marketplace, without a cent to his name, and with not a sheep
to guard through the night. But the stones were proof that he had met with a
king—a king who knew of the boy’s past.
“They’re
called Urim and Thummim, and they can help you to read the omens.” The boy put
the stones back in the pouch and decided to do an experiment. The old man had
said to ask very clear questions, and to do that, the boy had to know what he
wanted. So, he asked if the old man’s blessing was still with him.
He
took out one of the stones. It was “yes.”
“Am
I going to find my treasure?” he asked.
He
stuck his hand into the pouch, and felt around for one of the stones. As he did
so, both of them pushed through a hole in the pouch and fell to the ground. The
boy had never even noticed that there was a hole in his pouch. He knelt down to
find Urim and Thummim and put them back in the pouch. But as he saw them lying
there on the ground, another phrase came to his mind.
“Learn
to recognize omens, and follow them,” the old king had said.
An
omen. The boy smiled to himself. He picked up the two stones and put them back
in his pouch. He didn’t consider mending the hole—the stones could fall through
any time they wanted. He had learned that there were certain things one
shouldn’t ask about, so as not to flee from one’s own Personal Legend. “I
promised that I would make my own decisions,” he said to himself.
But
the stones had told him that the old man was still with him, and that made him
feel more confident. He looked around at the empty plaza again, feeling less
desperate than before. This wasn’t a strange place; it was a new one.
After
all, what he had always wanted was just that: to know new places. Even if he
never got to the Pyramids, he had already traveled farther than any shepherd he
knew. Oh, if they only knew how different things are just two hours by ship
from where they are, he thought. Although his new world at the moment was just
an empty marketplace, he had already seen it when it was teeming with life, and
he would never forget it. He remembered the sword. It hurt him a bit to think
about it, but he had never seen one like it before. As he mused about these
things, he realized that he had to choose between thinking of himself as the
poor victim of a thief and as an adventurer in quest of his treasure.
“I’m
an adventurer, looking for treasure,” he said to himself.
HE
WAS SHAKEN INTO WAKEFULNESS BY SOMEONE. HE had fallen asleep in the middle of
the marketplace, and life in the plaza was about to resume.
Looking
around, he sought his sheep, and then realized that he was in a new world. But
instead of being saddened, he was happy. He no longer had to seek out food and
water for the sheep; he could go in search of his treasure, instead. He had not
a cent in his pocket, but he had faith. He had decided, the night before, that
he would be as much an adventurer as the ones he had admired in books.
He
walked slowly through the market. The merchants were assembling their stalls,
and the boy helped a candy seller to do his. The candy seller had a smile on
his face: he was happy, aware of what his life was about, and ready to begin a
day’s work. His smile reminded the boy of the old man—the mysterious old king
he had met. “This candy merchant isn’t making candy so that later he can travel
or marry a shopkeeper’s daughter. He’s doing it because it’s what he wants to
do,” thought the boy. He realized that he could do the same thing the old man
had done—sense whether a person was near to or far from his Personal Legend.
Just by looking at them. It’s easy, and yet I’ve never done it before, he
thought.
When
the stall was assembled, the candy seller offered the boy the first sweet he
had made for the day. The boy thanked him, ate it, and went on his way. When he
had gone only a short distance, he realized that, while they were erecting the
stall, one of them had spoken Arabic and the other Spanish.
And
they had understood each other perfectly well.
There
must be a language that doesn’t depend on words, the boy thought. I’ve already
had that experience with my sheep, and now it’s happening with people.
He
was learning a lot of new things. Some of them were things that he had already
experienced, and weren’t really new, but that he had never perceived before.
And he hadn’t perceived them because he had become accustomed to them. He
realized: If I can learn to understand this language without words, I can learn
to understand the world.
Relaxed
and unhurried, he resolved that he would walk through the narrow streets of
Tangier. Only in that way would he be able to read the omens. He knew it would
require a lot of patience, but shepherds know all about patience. Once again he
saw that, in that strange land, he was applying the same lessons he had learned
with his sheep.
“All
things are one,” the old man had said.
THE
CRYSTAL MERCHANT AWOKE WITH THE DAY, AND FELT the same anxiety that he felt
every morning. He had been in the same place for thirty years: a shop at the
top of a hilly street where few customers passed. Now it was too late to change
anything—the only thing he had ever learned to do was to buy and sell crystal
glassware. There had been a time when many people knew of his shop: Arab
merchants, French and English geologists, German soldiers who were always
well-heeled. In those days it had been wonderful to be selling crystal, and he
had thought how he would become rich, and have beautiful women at his side as
he grew older.
But,
as time passed, Tangier had changed. The nearby city of Ceuta had grown faster
than Tangier, and business had fallen off. Neighbors moved away, and there
remained only a few small shops on the hill. And no one was going to climb the
hill just to browse through a few small shops.
But
the crystal merchant had no choice. He had lived thirty years of his life
buying and selling crystal pieces, and now it was too late to do anything else.
He
spent the entire morning observing the infrequent comings and goings in the
street. He had done this for years, and knew the schedule of everyone who
passed. But, just before lunchtime, a boy stopped in front of the shop. He was
dressed normally, but the practiced eyes of the crystal merchant could see that
the boy had no money to spend. Nevertheless, the merchant decided to delay his
lunch for a few minutes until the boy moved on.
A
CARD HANGING IN THE DOORWAY ANNOUNCED THAT several languages were spoken in the
shop. The boy saw a man appear behind the counter.
“I
can clean up those glasses in the window, if you want,” said the boy. “The way
they look now, nobody is going to want to buy them.”
The
man looked at him without responding.
“In
exchange, you could give me something to eat.”
The
man still said nothing, and the boy sensed that he was going to have to make a
decision. In his pouch, he had his jacket—he certainly wasn’t going to need it
in the desert. Taking the jacket out, he began to clean the glasses. In half an
hour, he had cleaned all the glasses in the window, and, as he was doing so,
two customers had entered the shop and bought some crystal.
When
he had completed the cleaning, he asked the man for something to eat. “Let’s go
and have some lunch,” said the crystal merchant.
He
put a sign on the door, and they went to a small café nearby. As they sat down
at the only table in the place, the crystal merchant laughed.
“You
didn’t have to do any cleaning,” he said. “The Koran requires me to feed a
hungry person.”
“Well
then, why did you let me do it?” the boy asked.
“Because
the crystal was dirty. And both you and I needed to cleanse our minds of
negative thoughts.”
When
they had eaten, the merchant turned to the boy and said, “I’d like you to work
in my shop. Two customers came in today while you were working, and that’s a
good omen.”
People
talk a lot about omens, thought the shepherd. But they really don’t know what
they’re saying. Just as I hadn’t realized that for so many years I had been
speaking a language without words to my sheep.
“Do
you want to go to work for me?” the merchant asked.
“I
can work for the rest of today,” the boy answered. “I’ll work all night, until
dawn, and I’ll clean every piece of crystal in your shop. In return, I need
money to get to Egypt tomorrow.”
The
merchant laughed. “Even if you cleaned my crystal for an entire year…even if
you earned a good commission selling every piece, you would still have to
borrow money to get to Egypt. There are thousands of kilometers of desert
between here and there.”
There
was a moment of silence so profound that it seemed the city was asleep. No
sound from the bazaars, no arguments among the merchants, no men climbing to
the towers to chant. No hope, no adventure, no old kings or Personal Legends,
no treasure, and no Pyramids. It was as if the world had fallen silent because
the boy’s soul had. He sat there, staring blankly through the door of the café,
wishing that he had died, and that everything would end forever at that moment.
The
merchant looked anxiously at the boy. All the joy he had seen that morning had
suddenly disappeared.
“I
can give you the money you need to get back to your country, my son,” said the
crystal merchant.
The
boy said nothing. He got up, adjusted his clothing, and picked up his pouch.
“I’ll
work for you,” he said.
And
after another long silence, he added, “I need money to buy some sheep.”
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét