Nhà giả kim (2) - Paulo Coelho
2024-08-24
Nhà
giả kim (2)
Paulo Coelho
Dịch giả: Lê Chu Cầu
Bản tiếng Anh: The Alchemist
Translated by Clifford E. Landers
PHẦN HAI
18🐫
Đã
gần một tháng nay cậu làm việc cho chủ tiệm pha lê, nhưng công việc không làm cậu
thoải mái lắm. Ông ta đứng suốt ngày sau quầy hàng với vẻ mặt ngán ngẩm, luôn
miệng nhắc cậu phải cẩn thận kẻo vỡ.
Tuy
thế cậu vẫn tiếp tục làm vì tuy ông già này bẳn tính nhưng sòng phẳng và tiền
hoa hồng cho mỗi món bán được cũng kha khá, thành ra cậu cũng đã dành dụm được
một chút ít. Sáng hôm ấy cậu nhẩm tính: nếu tiếp tục làm như từ trước đến giờ
thì cậu cần một năm mới mua nổi dăm ba con cừu.
“Cháu
muốn đóng một cái kệ bày hàng pha lê”, cậu nói với chủ tiệm. “Ta có thể kê kệ
trước cửa tiệm để lôi kéo khách đến đây”.
“Ta
không đóng kệ cũng bởi vì sợ người đi va phải, bể hết li tách”, chủ tiệm đáp.
“Ngày
trước, khi cháu dẫn cừu đi thì lúc nào cũng có nguy cơ chúng bị rắn cắn, nhưng
đã làm thân cừu và người chăn chúng thì phải chấp nhận thôi”.
Người
chủ tiệm tiếp một ông khách, ông này mua luôn ba bình hoa. Hàng họ bán chạy hơn
bao giờ hết, khác nào thế giới quay lại cái thời mà con đường này là một trong
những nơi hấp dẫn du khách nhất Tanger.
“Hàng
họ bán chạy quá”, chủ tiệm nói với cậu sau khi người khách kia đi khỏi. “Tiền
này sẽ cho phép ta được sống thoải mái hơn và chẳng bao lâu nữa cậu lại có một
bầy cừu. Thế thì việc gì phải làm thêm cho nhọc nhằn chứ?”.
“Vì
chúng ta phải làm theo dấu hiệu”, cậu đáp để rồi hối tiếc đã lỡ lời, vì chủ tiệm
pha lê đã từng gặp ông vua nào đâu. “Cái đó gọi là thánh nhân đãi kẻ khù khờ.
Vì cuộc đời muốn rằng anh phải đi theo con đường của riêng mình”, ông vua già
đã nói thế mà.
Thế
mà ông chủ tiệm cũng hiểu ý cậu đấy. Ngay sự có mặt của cậu trong cửa tiệm đã
là một dấu hiệu rồi. Rồi khi tiền bắt đầu vào như nước thì ông không hối tiếc
đã thuê chàng trai Tây Ban Nha này. Lúc đầu vì ông nghĩ rằng không thể bán nhiều
hơn trước nên đã đề nghị trả cậu tiền hoa hồng khá cao, thành ra cậu kiếm được
nhiều hơn bình thường. Nhưng trực giác ông cho biết chàng trai này nay mai thế
nào cũng trở về với lũ cừu của cậu thôi.
“Vì
lí do gì cậu lại muốn biết Kim Tự Tháp chứ?”. Ông hỏi để lái khỏi chuyện cái kệ.
“Vì
cháu nghe kể hoài về chúng”, cậu đáp nhưng tránh không đả động đến giấc mơ. Cái
kho tàng đã trở thành một kỉ niệm đau đớn nên cậu cố không nghĩ tới nữa.
“Ta
chẳng quen biết một ai ở đây muốn vượt sa mạc chỉ để xem Kim Tự Tháp cả”, chủ
tiệm nói. “Đó chẳng qua chỉ là những đống đá thôi. Cậu có thể tự xếp lấy một
cái ngay trong vườn cũng được cơ mà”.
“Coi
bộ ông không mơ ước được đi đây đi đó nhỉ”, cậu đáp rồi quay qua tiếp một người
khách mới bước vào tiệm.
Hai
hôm sau chủ tiệm tìm cậu để nói về vụ cái kệ. “Ta không ưa thay đổi”, ông nói. “Cậu
và ta không giống như nhà đại phú thương Hassan kia. Lỡ mua nhầm hàng thì ông
ta cũng chẳng bận tâm gì. Nhưng nếu một trong hai chúng ta nhầm lẫn thì khổ
thân to”.
“Đúng
thế thật”, cậu thầm nghĩ.
“Cậu
cần cái kệ để làm gì?”. Chủ tiệm hỏi.
“Cháu
muốn được trở về với lũ cừu càng sớm càng tốt. Chúng ta phải tận dụng thời gian
được may mắn. Người ta gọi đó là nguyên lí đãi ngộ hay thánh nhân đãi kẻ khù khờ.”
Ông
chủ tiệm già im lặng một lúc rồi nói: “Đấng tiên tri cho chúng ta kinh Koran và
để lại có năm điều răn thôi để chúng ta tuân thủ trong đời sống. Điều răn quan
trọng nhất là: chỉ có một Thượng đế duy nhất. Những điều răn kia là: mỗi ngày cầu
nguyện năm lần, ăn chay trong tháng Ramadan, giúp kẻ bần hàn”.
Ông
ngừng nói. Mắt ông rưng rưng khi nhắc đến Đấng Tiên Tri. Vì ngoan đạo cho nên
dù đôi khi bẳn tính ông vẫn cố sống theo lời răn của đạo Hồi.
“Thế
còn điều răn thứ năm?”. Cậu hỏi.
“Hai
hôm trước cậu bảo rằng ta không có ước mơ đi đây đi đó”, nhà buôn pha lê đáp. “Bổn
phận thứ năm của một người Hồi giáo là ít nhất một lần trong đời hành hương đến
thánh địa Mekka.
Mekka
còn xa hơn Kim Tự Tháp nhiều. Hồi trẻ, ta muốn dành dụm ít tiền để mua cửa tiệm
này. Lúc ấy ta nghĩ đến một ngày đủ khá giả để đi Mekka. Rồi ta kiếm được khá
tiền nhưng lại không nhờ ai trông hàng được vì pha lê rất dễ vỡ. Mà ta lại thấy
nhiều người đi hành hương Mekka kéo qua trước cửa nhà. Có vài người giàu kéo
theo cả đoàn người làm và lạc đà, nhưng phần lớn họ nghèo hơn ta nhiều.
Ai
nấy hớn hở trở về và treo dấu hiệu của chuyến hành hương trên cửa. Một người
trong bọn họ, chỉ là thợ sửa giầy thôi, kể ta nghe rằng ông ta đã mất suốt gần
một năm để vượt sa mạc, thế mà vẫn thấy không cực bằng đi lùng trong khu phố
Tanger tìm cho ra loại da thuộc thích hợp”.
“Nếu
thế thì sao ông không đi Mekka ngay lúc này?” Cậu hỏi.
“Vì
Mekka giúp ta có được sức sống, chịu đựng nổi cái đơn điệu nhàm chán của đời sống
ngày này qua ngày khác đối diện với những món hàng vô tri trên kệ kia và nuốt
cho trôi những bữa ăn trong cái quán kinh khủng nọ. Ta sợ sau khi đã đạt được ước
mơ rồi thì không còn thúc đẩy mình tiếp tục sống nữa.
Cậu
mơ có cừu và được thấy Kim Tự Tháp. Cậu khác hẳn ta vì cậu muốn đạt được ước
mơ. Còn ta chỉ muốn mơ về Mekka thôi. Ta đã từng trăm lần hình dung mình vượt
sa mạc, đến được quảng trường có đặt tảng đá thiêng và phải đi quanh bảy vòng
trước khi được sờ tảng đá. Ta đã mường tượng sẽ có những ai ở quanh mình lúc
đó, những kinh cầu và cả những lời chúng ta nói với nhau. Song sợ bị thất vọng
não nề, nên ta chọn cách chỉ mơ thôi.”
Hôm
ấy chủ tiệm đồng ý cho đóng kệ trưng bày hàng. Ông và cậu, mỗi người có một
quan niệm riêng về mơ ước.
19🐫
Lại
thêm hai tháng nữa trôi qua và cái kệ đã đem lại cho tiệm pha lê thêm nhiều
khách. Chàng trai tính rằng sáu tháng sau cậu sẽ về lại Tây Ban Nha và sẽ mua lại
sáu chục con cừu và không chừng thêm sáu chục con nữa ấy chứ. Chưa đầy một năm
sau đàn cừu của cậu sẽ tăng gấp đôi và cậu sẽ có thể buôn bán được với người Arập
vì bây giờ cậu hiểu được thứ ngôn ngữ lạ lùng này rồi. Từ cái buổi sáng đầu
tiên trên bãi chợ không người đến nay cậu không đụng tới hai viên đá Urim và
Thummim nữa, vì đối với cậu Ai Cập chỉ còn là giấc mộng, xa xôi như thể Mekka đối
với chủ tiệm pha lê. Giờ thì cậu thích việc mình làm và luôn nghĩ đến lúc sẽ đặt
chân lên Tarifa như một kẻ chiến thắng.
“Hãy
luôn nhớ đến điều cậu muốn đạt được”, ông vua già đã từng bảo thế. Bây giờ thì
cậu hiểu và cố công thực hiện. Có thể kho tàng của cậu chính là đến được xứ lạ
này, gặp phải một tay bợm và rồi tậu được bầy cừu nhiều gấp đôi mà chẳng phải
trả tí gì hết. Cậu thấy tự hào. Chả gì cậu cũng đã học được nhiều điều quan trọng,
chẳng hạn biết bán hàng pha lê, dùng ngôn ngữ không lời nói và hiểu dấu hiệu.
Một
buổi xế trưa nọ cậu gặp một người trên triền núi, ông ta phàn nàn rằng sau cái
dốc cao vòi vọi này chẳng tìm ra đâu một chỗ cho đàng hoàng có bán giải khát.
Do đã hiểu được ngôn ngữ của dấu hiệu, cậu bèn tìm chủ tiệm, nói rằng: “Ta nên
bán trà cho những người leo dốc lên đây.”
“Quanh
đây đã có đủ nơi bán trà rồi”, chủ tiệm đáp.
“Ta
có thể mời trà đựng trong ly pha lê. Trà sẽ ngon hơn và người ta sẽ mua luôn cả
li, vì cái đẹp thường quyến rũ con người nhiều nhất”.
Chủ
tiệm lặng im nhìn cậu một lúc. Ông không nói gì cả. Nhưng chiều tối hôm ấy, sau
khi cầu nguyện xong và đóng cửa tiệm, ông ngồi xuống lề đường rồi bảo cậu cùng
hút Nargileh - một loại ống điếu thuốc lào nước độc đáo người Arập thường hút -
với ông.
“Cậu
chủ tâm muốn gì chứ?” Chủ tiệm hỏi.
“Như
đã nói, cháu muốn tậu lại bầy cừu, nên cháu cần tiền”. Chủ tiệm bỏ thêm than
vào điếu rồi rít một hơi dài.
“Từ
ba mươi năm nay ta làm chủ cửa tiệm này. Ta phân biệt giữa pha lê xấu và tốt;
ta cũng biết rõ phải buôn bán cách nào. Nay nếu cậu bán trà trong li pha lê
hàng họ sẽ phất đấy nhưng mà ta sẽ phải thay đổi nếp sống.”
“Như
thế có gì là không hay?”
“Ta
đã quen sống thế này rồi. Trước khi cậu đến ta vẫn còn nghĩ rằng mình đã bỏ phí
quá nhiều ngày giờ ở đây, trong khi các bạn ta dọn đi nơi khác rồi hoặc họ làm
ăn khấm khá, hoặc thất bát. Ta lấy thế làm buồn. Nhưng rồi nhận ra rằng mình
nghĩ sai: tầm cỡ cửa tiệm này đúng như ta mong muốn. Ta không muốn sửa đổi gì nữa
cả chỉ vì không biết sửa đổi thế nào. Ta đã quá quen sống thế này rồi.”
Vì
chàng trai không biết trả lời sao nên ông nói tiếp: “Cậu đúng là phước lành Thượng
đế ban cho ta. Ngay nay ta mới hiểu nếu cự tuyệt thì phước lành sẽ thành mối họa.
Ta thật không còn mong ước gì cho đời mình nữa. Nhưng cậu lại ép ta nhìn thấy sự
giàu sang phú quý và vô vàn chân trời mới lạ ta chưa hề biết. Bây giờ thấy những
thứ ấy rồi và thấy cả khả năng vô hạn của ta nữa thì ta lại cảm thấy mình khốn
khổ hơn vì biết rằng muốn thì sẽ được, thế mà ta lại không muốn”.
“May
mà hồi đó mình không nói gì với anh chàng bán kem”, cậu thầm nghĩ.
Mặt
trời bắt đầu lặn mà họ vẫn ngồi hút Nargileh thêm một chặp nữa. Họ trò chuyện
tiếp và chàng trai hài lòng vì nói được tiếng Arập. Có một thời cậu đã nghĩ rằng
lũ cừu có thể dạy được cho cậu biết mọi thứ trên đời, nhưng tiếng Arập thì
chúng không dạy cậu được.
“Chắc
chắn trên đời này còn nhiều thứ lũ cừu không dạy mình nổi”, cậu lặng thinh ngẫm
nghĩ và quan sát người chủ tiệm. “Nói cho cùng thì chúng chỉ lo tìm cái ăn và
nước uống. Có thể nói không phải chúng dạy mình mà chính là do mình học được”.
“MAKTUB”,
chủ tiệm lên tiếng
“Nghĩa
là gì?”
“Phải
là người Arập mới hiểu được”, ông đáp. “Nhưng tạm dịch ra thế này: Trong kinh
thánh Koran có viết …”
Rồi
trong khi dập tắt than trong Nargileh ông bảo rằng từ nay cậu có thể bán trà
trong li cà phê được đấy. Đôi khi không có cách gì ngăn được dòng đời.
20🐫
Người
nào leo hết dốc tới nơi đều mệt nhoài. Rồi họ thấy ở cửa hàng pha lê trên đó có
bán trà bạc hà. Họ vào uống và trà được bưng ra trong những li mài rất đẹp.
“Thế
mà bà vợ mình không nghĩ ra”, một người trầm ngâm rồi mua vài cái li, vì tối
hôm ấy nhà ông có khách. Khách của ông ta nhất định sẽ trầm trồ những cái li đẹp
này. Kẻ khác quả quyết rằng trà đựng trong li pha lê ngon hơn nhiều vì giữ được
mùi thơm hơn. Người thứ ba cho rằng truyền thống của phương Đông là uống trà
trong li pha lê mài vì chúng có những lực kì diệu.
Chẳng
bao lâu sau tin lan truyền đi và nhiều người cố công leo lên dốc tìm cho được một
cửa tiệm xưa nay chuyên bán một loại hàng, giờ thêm một thứ mới. Nhiều tiệm
khác cũng bắt chước bán trà trong li pha lê nhưng lại không nằm trên đỉnh dốc,
thế là luôn luôn vắng khách.
Ít
lâu sau, ông chủ tiệm đã phải thuê thêm hai người nữa. Cùng với bình pha lê,
ông nhập một khối lượng lớn trà cho các ông, các bà ngày ngày khao khát thưởng
thức cái mới. Sáu tháng liền như thế trôi qua.
21🐫
Chàng
trai thức dậy trước cả lúc mặt trời mọc. Từ đó đến nay đã mười một tháng chín
ngày, kể từ khi cậu đặt chân lên lục địa châu Phi lần đầu tiên. Khác trên người
chiếc áo choàng bằng vải gai màu trắng cậu sắm để dành riêng cho ngày hôm nay rồi
cậu trùm khăn lên đầu và dùng một cái vòng làm bằng da lạc đà chít khăn lại. Cậu
xỏ chân vào đôi dép mới rồi đi xuống dưới, không gây tiếng động.
Thành
phố còn chìm trong giấc ngủ. Cậu lót dạ với một cái bánh mì mè và uống trà nóng
trong li pha lê. Rồi cậu ra ngồi ở ngưỡng cửa, hút Nargileh một mình.
Cậu
cứ rít tràn, chẳng nghĩ ngợi gì, chỉ lắng nghe tiếng gió rì rào đem đến mùi
thơm sa mạc. Rồi cậu thọc tay vào túi áo khoác lấy ra một gói nhỏ, ngắm nghía hồi
lâu. Đó là một cuộn tiền, đủ để tậu một trăm hai mươi con cừu, mua vé tàu về nước
và xin giấy môn bài buôn bán giữa quê hương cậu và cái đất nước mà cậu đang ngồi
đây. Cậu kiên nhẫn chờ cho đến khi ông già chủ tiệm thức dậy, mở cửa hàng. Rồi
hai người lại uống một tuần trà.
“Hôm
nay cháu sẽ lên đường”, cậu mở lời. “Hiện cháu đã đủ vốn liếng để chuộc lại bầy
cừu, còn ông cũng đủ tiền để hành hương đến Mekka.”
Ông
già ngồi lặng thinh.
“Xin
ông hãy ban phước lành cho cháu”, cậu nói. “Ông đã giúp cháu rất nhiều.”
Ông
già lặng thinh khuấy trà. Cuối cùng ông quay sang cậu nói: “Ta rất hãnh diện vì
cậu. Cậu đã đem đến cho cửa hàng của ta một sức truyền cảm mới. Nhưng cậu biết
rõ rằng ta sẽ không đi Mekka. Cũng như cậu tự biết rằng mình sẽ không mua cừu.”
“Ai
bảo thế?” Cậu hốt hoảng hỏi.
“Maktub”.
Người chủ tiệm pha lê chỉ đáp có thế. Rồi ông ban phước lành cho cậu.
22🐫
Chàng
trai lên phòng, thu vén tất cả những gì mình có. Được ba túi đầy. Vừa dợm đi cậu
chợt thấy ở góc phòng chiếc bị đeo vai cũ thời chăn cừu của mình. Nó sờn đến nỗi
không nhận ra. Trong bị còn quyển sách dầy và chiếc áo khoác cũ. Cậu lấy áo ra,
định đem cho một đứa trẻ sống lang thang nào đó thì hai viên đá Urim và Thummim
rơi xuống.
Lúc
này cậu mới nhớ đến vị vua già và sửng sốt vì không ngờ bấy lâu nay mình không
hề nghĩ đến ông. Suốt một năm qua cậu chỉ bận lo kiếm tiền để khi trở về Tây
Ban Nha khỏi mang tiếng là kẻ thất bại.
“Đừng
bao giờ từ bỏ ước mơ của mình”, ông vua già đã bảo cậu thế, và “hãy lần theo dấu
hiệu”.
Cậu
nhặt hai viên đá lên và có lại cảm giác lạ lùng rằng ông đang ở gần bên mình. Một
năm dài cậu đã làm việc cật lực và giờ đây dấu hiệu chỉ rằng đã đến giờ lên đường.
“Bây
giờ mình sẽ lại sống hệt như xưa”, cậu nghĩ thầm. “Dù lũ cừu đã không dạy được
cho mình tiếng Arập”.
Tuy
nhiên lũ cừu đã dạy cậu một điều còn quan trọng hơn nữa: rằng trên thế giới có
một ngôn ngữ ai cũng hiểu cả và chính cậu đã dùng suốt bấy lâu nay để làm cho cửa
hàng phát đạt. Đó là ngôn ngữ của sự phấn khởi, của nỗ lực, hăng say dốc sức thực
hiện điều mình vững tin và mong mỏi đạt được. Tanger không còn là một thành phố
xa lạ đối với cậu nữa, và cậu cảm thấy mình có thể chinh phục cả thế giới cũng
bằng phương cách cậu đã chinh phục thành phố này.
“Khi
cậu quyết tâm muốn điều gì thì cả vũ trụ sẽ tác động để giúp cậu đạt mục đích”,
ông vua già đã nói thế. Nhưng nhà vua không hề đề cập đến bọn cướp đường, đến
sa mạc mênh mông vô tận, đến những kẻ biết mình có ước mơ mà không muốn thực hiện
nó. Nhà vua cũng không hề bảo rằng Kim Tự Tháp chỉ là những đống gạch cũ mà ai
cũng có thể tự dựng lấy trong vườn mình được. Và ông cũng quên luôn không nói rằng
khi người ta có đủ tiền để mua một đàn cừu lớn hơn thì cứ nên mua.
Xách
bị với những túi kia, cậu xuống thang. Ông chủ tiệm đang tiếp một cặp khách ngoại
quốc, trong khi hai khách hàng khác tha thẩn trong cửa hàng và uống trà trong
li pha lê. Vào cái giờ sớm này thì nhiều vệc lắm đây. Từ chỗ đang đứng lần đầu
tiên cậu để ý thấy rằng tóc chủ tiệm gợi cậu nhớ đến tóc ông vua già. Rồi cậu
nhớ lại nụ cười của người bán bánh kẹo vào cái ngày đầu tiên không biết đi về
đâu, không biết lấy gì ăn; nụ cười ấy cũng giống như nụ cười của nhà vua nữa.
“Khác
nào ông đã đến đây và để lại tung tích vậy”, cậu ngẫm nghĩ. “Như thể người nào
cũng một lần trong đời có dịp gặp gỡ nhà vua. Ông đã từng nói rằng sẽ luôn xuất
hiện với kẻ nào quyết chí đi theo con đường mình tự chọn mà.”
Cậu
đi, không từ giã chủ tiệm. Vì cậu không muốn khóc, không muốn ai nhìn thấy nỗi
đau đớn của cậu. Nhưng chắc chắn cậu sẽ nhớ mãi thời gian ở đây và những gì đã
học được. Giờ đây cậu thêm tự tin và cảm thấy nếu cần mình có thể chinh phục cả
thế giới.
“Tuy
nhiên mình vẫn trở về chốn cũ thân quen và sẽ lại chăn cừu”. Bỗng dưng cậu chợt
thấy không thích như thế nữa. Cậu đã làm việc suốt một năm ròng để thực hiện giấc
mơ này, thế mà bây giờ ước mơ ấy cứ mỗi lúc một mờ nhạt dần. Có thể đó không thật
sự là ước mơ của cậu..
“Biết
đâu như ông chủ tiệm pha lê mà lại hóa hay: sẽ không bao giờ đi Mekka cả nhưng
cả đời mơ đến nó. “Cậu băn khoăn cầm hai viên Urim và Thummim trong tay; chúng
truyền cho cậu sức mạnh của ý chí của vị vua già. Tình cờ - hoặc cũng có thể do
dấu hiệu - cậu vào đúng cái quán nước ngày xưa. Không thấy gã đã bịp cậu đâu;
chủ quán bưng đến cho cậu một tách trà.
“Bất
cứ lúc nào mình cũng có thể trở lại chăn cừu được”, cậu ngẫm nghĩ. “Mình đã biết
cách chăn cừu rồi thì không thể nào quên được. Còn đi đến Kim Tự Tháp Ai Cập
thì biết đâu mình không có dịp nào khác nữa. Ông già có áo giáp bằng vàng ròng
và biết chuyện đời mình thì nhất định phải là vua, một minh quân thật sự.” Chỉ
có hai giờ tàu ngăn cách cậu với đồng cỏ vùng Andalusia, còn giữa cậu và Kim Tự
Tháp là sa mạc mênh mông. Cậu thấy nghĩ ngược lại thế này cũng được chứ: tính
ra thì cậu hiện ở gần kho tàng hơn hai tiếng, cho dù đã mất gần một năm để vượt
quãng đường này.
“Thật
dễ hiểu vì sao mình cứ thiên về lũ cừu của mình. Vì mình biết rõ chúng rồi;
chăn chúng cũng chẳng cực gì và chúng dễ thương. Còn mình có ưa được sa mạc
không thì chưa biết, nhưng mà kho tàng của mình chôn ở đó. Nếu không tìm thấy
kho tàng thì mình vẫn trở về nước được mà. Hiện mình đủ tiền và thừa thì giờ, tại
sao không thử nhỉ?”
Một
nỗi vui ập đến tràn ngập trong lòng cậu. Lúc nào cậu muốn làm kẻ chăn cừu hay
thành người bán hàng pha lê cũng được. Có thể trên thế giới còn nhiều kho tàng
bí mật khác nữa, nhưng cậu đã nằm mộng hai lần và một nhà vua đã xuất hiện với
cậu. Đâu phải ai cũng được thế.
Cậu
hân hoan rời khỏi quán nước vì chợt nhớ ra rằng một trong những người cung cấp
hàng cho chủ tiệm pha lê đã chở hàng vượt sa mạc cùng với một đoàn lữ hành. Cậu
nắm chặt hai viên đá Urim và Thummim; nhờ chúng mà cậu đã trở lại con đường dẫn
đến kho tàng.
“Ta
luôn luôn ở cạnh những kẻ đi theo con đường mình tự chọn”, ông vua già đã nói.
Vậy thì mất gì mà không hỏi thử ở nhà kho xem Kim Tự Tháp có xa thật thế không.
23🐫
Anh
chàng người Anh nọ ngồi trong một toà nhà nồng mùi thú vật, mồ hôi và bụi bặm.
Không thể nào gọi là nhà kho được, một cái chuồng thì đúng hơn.
“Mình
đã học hành cả đời để rồi lạc loài đến đây”, anh thầm nghĩ trong khi lơ đãng lần
giở một tập san hóa học, “mười năm học đổi lấy một chuồng nhốt thú vật!”
Nhưng
anh không được thoái chí. Phải tin vào dấu hiệu, cả đời anh, tất cả sự học của
anh tập trung vào việc hiểu cho được thứ ngôn ngữ vũ trụ. Mới đầu anh quan tâm
đến Esperanto, sau đó đến tôn giáo rồi sau cùng là thuật giả kim. Đến nay anh
đã nói được tiếng Esparanto, thấu hiểu các tôn giáo lớn nhưng anh vẫn chưa
thành nhà giả kim. Chắc chắn anh đã học được cách giải đoán nhiều điều quan trọng,
nhưng sự thâm cứu của anh đã đạt tới một mức để rồi không tiến thêm được nữa.
Anh đã hoài công tìm cách liên hệ với nhà giả kim này, nhà giả kim nọ, nhưng họ
là những con người kì dị, chỉ nghĩ đến mình và hầu như không hề chịu giúp đỡ
ai. Biết đâu họ đã tìm ra “Đá tạo vàng” rồi và vì thế sẽ không bao giờ hé môi
tiết lộ.
Anh
đã dùng một phần gia tài thừa hưởng của bố vào việc đi tìm “Đá tạo vàng” cũng
như đã tìm đến những thư viện tiếng tăm nhất thế giới và đã mua những tác phẩm
quan trọng và hiếm nhất về thuật giả kim. Trong một tác phẩm có ghi chép rằng
nhiều năm trước một nhà giả kim trứ danh người Arập đã sang thăm châu Âu. Nghe
đồn rằng ông này đã hơn hai trăm tuổi và đã phát hiện ra “Đá tạo vàng” cũng như
tìm ra “Thuốc trường sinh bất lão”. Chàng người Anh lấy rất làm khâm phục nhưng
anh sẽ vẫn cho rằng đó chỉ là một trong những huyền thoại thôi, nếu như một người
quen của anh trở về sau chuyến khảo cổ trong sa mạc không tình cờ kể về một người
Arập già có những năng lực phi thường.
“Ông
ta sống ở ốc đảo El Fayum”, người quen nọ nói. “Người ta kháo rằng ông ta hai
trăm tuổi và có thể biến mọi kim loại thành vàng.”
Chàng
người Anh quá sức háo hức. Tức khắc anh xin được giải nhiệm, lục tìm cho ra những
pho sách quan trọng nhất để rồi cuối cùng đến đây, trong cái chòi không khác
chuồng thú vật này. Ngoài kia, một đoàn lữ hành rất đông đang chuẩn bị để vượt
sa mạc Sahara. Đoàn sẽ đi ngang ốc đảo El Fayum
“Mình
nhất định phải gặp nhà giả kim vĩ đại này”, anh nghĩ và nhờ thế mà cảm thấy mùi
mồ hôi của lũ vật có phần dễ chịu hơn chút ít. Một gã Arập còn trẻ vác bao bị
bước vào chào chàng người Anh.
“Anh
đi đâu đấy?” Gã hỏi.
“Vào
sa mạc”, chàng người Anh cộc lốc đáp rồi lại tiếp tục đọc. Anh không có hứng
trò chuyện. Anh phải ôn lại mọi thứ đã học trong mười năm qua vì thế nào nhà giả
kim cũng sẽ thử thách anh cho mà xem.
Gã
Arập cũng lấy sách ra đọc. Quyển sách viết bằng tiếng Tây Ban Nha.
“May
phước”, chàng người Anh nghĩ, vì anh nói thạo tiếng Tây Ban Nha hơn tiếng Arập
và nếu gã kia cũng đi đến El Fayum thì khi rảnh rỗi ít ra cũng có người để mình
trò chuyện.
24🐫
“Tức
cười thật”, cậu chăn cừu - chính là gã Arập trẻ kia - thầm nghĩ khi đọc lại cảnh
đám tang tả ngay đầu quyển sách. “Mình đã bắt đầu đọc từ gần hai năm trước, thế
mà vẫn không hết nổi mấy trang đầu.”
Tuy
chẳng ông vua nào cắt ngang, cậu cũng không tập trung nổi. Vì cậu chưa dứt
khoát với quyết định của mình. Nhưng cậu nghiệm ra một điều quan trọng: quyết định
mới chỉ là bước khởi đầu. Khi đã quyết định rồi thì ta trôi nổi trong một dòng
sông cuồn cuộn chảy; nó cuốn ta theo đến một nơi mà lúc quyết định ta không hề
dám nghĩ tới.
“Khi
lên đường tìm kho tàng có đời nào mình lại nghĩ rằng sẽ làm việc trong một cửa
hàng pha lê đâu”, cậu thấy điều mình vừa ngẫm nghĩ đã được chứng nghiệm. “Cũng
như mình quyết định đi với đoàn lữ hành này nhưng nó sẽ dẫn mình tới đâu thì vẫn
là điều bí mật”.
Chàng
người Anh ngồi trước mặt cậu cũng đọc. Anh có vẻ không mấy thân thiện và đã
khinh khỉnh nhìn cậu bước vào. Lẽ ra họ có thể thành bạn được, nhưng mà anh ta
không muốn trò chuyện.
Cậu
gấp sách lại vì không muốn làm bất cứ điều gì mà anh chàng người Âu kia cũng
đang làm. Thế là cậu moi túi lấy ra hai viên Urim và Thummim nghịch chơi.
Anh
chàng kia kêu lên: “Urim và Thummim!”
“Không
bán đâu”, Cậu vội vàng nhét đá vào túi.
“Chúng
chẳng quí gì lắm đâu”, chàng người Anh nói. “Chỉ là thạch anh thôi. Thạch anh
thì trên trái đất này thiếu giống gì; còn với người sành thì đó là Urim và
Thummim. Tôi không biết là ở đây cũng có đấy”.
“Đây
là tặng vật của một vị vua”, cậu đáp.
Anh
chàng kia không nói nữa mà móc túi quần lấy ra hai viên giống như thế.
“Cậu
vừa nói đến một vị vua thì phải”, anh ta nói.
“Và
anh không tin rằng có một ông vua nào lại đi trò chuyện với một kẻ chăn cừu tầm
thường chứ gì”, cậu muốn chấm dứt câu chuyện.
“Hoàn
toàn ngược lại. Trẻ chăn cừu là những kẻ đầu tiên nhận biết một vị Vua trong
khi toàn thế giới không chịu nhìn nhận Người. Cho nên vua chúa trò chuyện với
người chăn cừu là điều dám có lắm chứ.”
Rồi
vì sợ rằng cậu không hiểu ý mình, anh ta nói thêm: “Chuyện đó có trong Kinh
Thánh đấy, đó chính là quyển sách đã dạy tôi sử dụng Urim và Thummim. Loại đá
này là thứ duy nhất Chúa cho phép dùng để bói toán. Các tu sĩ đeo nó trên áo
giáp bằng vàng ròng”.
Nghe
tới đây thì cậu chăn cừu mừng quá.
“Có
lẽ đây là dấu hiệu” chàng người Anh nói với chính mình, như thể ngẫm nghĩ rồi
buột miệng:
“Ai
kể cho anh về dấu hiệu?” Cậu hỏi, càng lúc càng thêm quan tâm.
“Mọi
thứ ở trên đời đều là dấu hiệu cả”, anh kia gấp sách lại đáp. “Vũ trụ là một
ngôn ngữ ai cũng có thể hiểu nhưng chúng ta đã quên mất. Cả tôi cũng đang đi
tìm nhiều thứ, trong đó có thứ ngôn ngữ bằng dấu của vũ trụ. Chính vì thế mà
tôi đến đây. Tôi phải tìm cho ra một người biết rõ thứ ngôn ngữ này, một nhà giả
kim”.
Người
chủ nhà kho cắt đứt câu chuyện của họ.
“Các
anh may mắn lắm đấy”, người Arập mập mạp này nói. “Xế trưa nay một đoàn lữ hành
sẽ lên đường đi El Fayum”.
“Nhưng
tôi sẽ đi Ai Cập cơ mà”, cậu chăn cừu đáp.
“El
Fayum ở Ai Cập chứ sao”, ông ta trả lời. “Cậu là thứ Arập gì mà không biết điều
này?”
Cậu
bé chăn cừu bèn đáp rằng mình là người Tây Ban Nha. Nghe thế anh chàng người
Anh mừng quá, vì tuy cậu ăn mặc như người Arập nhưng hóa ra lại là người Âu.
“Hắn
dùng chữ “may mắn” khi nói về dấu hiệu”, người Anh nhận xét khi chủ kho đi khỏi.
“Nếu có khả năng thì tôi sẽ viết một quyển toàn thư dày về hai từ “may mắn” và “ngẫu
nhiên”, vì hai từ này là một phần của thứ ngôn ngữ vũ trụ kia”.
Sau
đó anh ta giải thích rằng không phải ngẫu nhiên anh ta gặp cậu với hai viên
Urim và Thummim trong tay. Anh ta hỏi có phải cậu cũng trên đường đi tìm nhà giả
kim kia không.
“Tôi
đang trên đường đi tìm một kho tàng”, cậu đáp rồi ân hận đã lỡ lời. Nhưng chàng
người Anh nọ không hề để ý.
“Tôi
cũng thế, nếu hiểu theo một nghĩa nào đó”, anh ta nói.
“Đúng
ra tôi chẳng hiểu thuật giả kim nghĩa là gì”, cậu vừa nói thì chủ nhà kho kêu họ
ra.
25🐫
“Tôi
là trưởng đoàn lữ hành”, một ông râu dài, mắt đen nói. “Tức là tôi chịu trách
nhiệm về sự sống hay cái chết của từng người. Vì sa mạc giống như một người đàn
bà tính khí thất thường, có khi làm chúng ta phát điên lên được”.
Gần
hai trăm người cộng với số súc vật nhiều gấp đôi - lạc đà, ngựa, lừa và chim -
tụ tập lại. Có cả đàn bà, trẻ con; một vài người đàn ông gươm dắt lưng hoặc
súng khoác vai. Anh chàng người Anh đem theo nhiều hòm đầy sách. Tiếng ồn ào rộ
lên ở bãi khiến người trưởng đoàn phải lớn tiếng lập lại nhiều lần để mọi người
đều hiểu điều ông nói.
“Trong
đoàn có nhiều người thờ nhiều thần thánh khác nhau. Nhưng Thượng Đế duy nhất của
tôi là Allah và tôi thề với Người rằng tôi sẽ nỗ lực làm hết sức để lần này
chúng ta cũng thắng được sa mạc. Bây giờ tôi yêu cầu mỗi người trong đoàn thề với
Thần, với Chúa của mình rằng sẽ nghe theo lời tôi vô điều kiện, trong mọi tình
huống. Vì trong sa mạc thì không nghe lời tôi có thể sẽ đưa đến cái chết”.
Tiếng
rì rầm cất lên, ai nấy đều thề trước Thần và Chúa của mình sẽ tuân lời. Cậu
chăn cừu thề với Chúa Jesu. Anh chàng người Anh im lặng. Tiếng rì rầm kéo dài
thêm một lúc nữa vì người ta còn cầu xin được che chở. Rồi tiếng tù và vang
lên, mỗi người leo lên con vật của mình. Cậu chăn cừu và chàng người Anh đều
mua lạc đà nên leo lên khá vất vả. Cậu thấy tội nghiệp con lạc đà của anh kia
vì những hòm sách nặng chất đầy lưng nó.
“Trên
đời không có gì ngẫu nhiên đâu”, chàng người Anh tìm cách nối lại câu chuyện hồi
nãy trong nhà kho. “Một người quen đã đưa tôi đến đây, vì anh ta biết một người
Arập, người này …”
Vì
đoàn rục rịch lên đường nên cậu không nghe ra được anh ta nói gì. Song cậu biết
anh ta nói về điều này: về một chuỗi những sự kiện thần bí, trong đó sự kiện
này gắn với sự kiện kế tiếp; chúng xui khiến cậu trở thành người chăn cừu, rồi
nhiều lần mơ cùng một giấc mơ; chúng đưa cậu đến một thành phố gần châu Phi để
rồi gặp một ông vua; chúng khiến cho cậu bị lừa bịp hết sạch tiền, để rồi cậu
làm quen với một người bán hàng pha lê, rồi …
“Càng
sống được giống như trong giấc mơ thì đường đời lại càng trùng hợp với mục đích
muốn đạt đến trong đời”, cậu nghĩ.
26🐫
Đoàn
người đi về hướng mặt trời mọc. Họ đi vào buổi sáng, nghỉ chân khi mặt trời đứng
bóng, xế trưa lại đi tiếp. Cậu chăn cừu ít trò chuyện với anh chàng người Anh
vì anh ta thường chúi mũi vào sách.
Thế
là cậu bèn lặng lẽ quan sát cuộc hành trình của người và vật qua sa mạc. Giờ
thì mọi thứ khác hẳn ngày đầu. Hôm ấy thật là ồn ào và lộn xộn; tiếng con nít
khóc lẫn với tiếng thú vật kêu, thêm tiếng các trưởng toán và các khách thương
gắt gỏng ra lệnh. Trong sa mạc, ngược lại, chỉ có tiếng gió thổi liên tục, sự
yên ắng và tiếng chân thú vật. Ngay cả các trưởng toán cũng ít trò chuyện với
nhau.
“Tôi
đã nhiều lần đi qua những đồi cát này”, một người phu lạc đà kể vào một buổi
chiều tối. “Nhưng vẫn thấy sa mạc quá mênh mông, chân trời thì xa tít tắp khiến
con người thấy mình vô cùng nhỏ bé và kính sợ đến không nói nên lời”.
Tuy
chưa từng vượt sa mạc cậu vẫn rất hiểu ý người phu nọ. Mỗi khi nhìn biển cả hay
ánh lửa cậu đều thường ngồi lặng hàng giờ, không nghĩ ngợi gì, chỉ trực cảm quyền
lực của thiên nhiên vô cùng vô tận.
“Mình
đã học được từ bầy cừu và các món hàng pha lê, tại sao sa mạc lại không dạy
mình được ít điều chứ”, cậu ngẫm nghĩ. “Sa mạc, theo mình, còn cổ xưa và thông
tuệ hơn nhiều.”
Gió
thổi mãi không ngừng. Cậu nhớ lại cái ngày ngồi đón chính ngọn gió này trên cổ
thành ở Tarifa. Có thể lúc này đây ngọn gió đang ve vuốt lông lũ cừu của cậu
khi chúng đang đi tìm cỏ và nước trên vùng Andalusia bát ngát.
“Đúng
ra chúng đâu còn là cừu của mình nữa”, cậu nghĩ và không thấy tiếc nuối. “Nhất
định chúng đã quen với chủ mới và quên mình rồi. Thế là phải. Ai quen lang
thang đây đó nhiều như lũ cừu đều biết rằng nhất định sẽ có một ngày phải chia
tay thôi - giống như phải lên đường.”
Rồi
cậu nghĩ đến cô con gái chủ tiệm vải và đinh ninh rằng cô đã lấy chồng. Có thể
cô đã lấy một người bán kem, hoặc một chàng chăn cừu cũng biết đọc và biết kể
những chuyện thú vị trên đời. Cậu nào phải là người chăn cừu duy nhất có bản
lĩnh đó đâu. Rồi cậu đoán già đoán non rằng có thể cậu đang trên đường lĩnh hội
được loại ngôn ngữ vũ trụ, bao trùm cả quá khứ lẫn tương lai của nhân loại. Phỏng
đoán này làm cậu phấn khởi. Mẹ cậu vẫn quen gọi đó là “trực cảm”. Cậu dần dà hiểu
rằng cảm nhận bằng trực giác nghĩa là tâm linh mình bất chợt chìm ngập trong
dòng chảy của toàn vũ trụ, nơi cuộc đời của mọi con người đều liên kết thành một
chuỗi, nơi mọi chuyện đều tỏ rõ, vì tất cả đều “đã được viết sẵn” từ trước rồi.
“MAKTUB”,
cậu nói và nhớ đến ông chủ hàng pha lê.
Sa
mạc chỉ toàn cát với đá. Khi đoàn gặp một vùng toàn đá thì họ phải tìm cách
đánh vòng khá xa. Còn khi cát quá mịn đối với chân lạc đà thì họ tìm lối khác
có lớp cát chắc hơn. Thỉnh thoảng lại thấy có vùng phủ đầy muối vì trước kia
nơi đó là biển. Gặp những nơi như thế thì lũ vật thồ giở chứng bất kham không
chịu đi tiếp khiến những người phu lạc đà phải dỡ hàng xuống, vác hàng trên
vai, vượt qua những nơi địa hình hiểm trở rồi mới lại chất lên như trước. Khi một
trưởng toán ngã bệnh hay chết dọc đường thì các phu lạc đà rút thăm cử người
thay.
Nhưng
dù có phải đi vòng bao nhiêu đi nữa thì đoàn vẫn không bao giờ quên đích. Khi
đã vượt qua mọi chướng ngại rồi thì sao trên trời sẽ lại chỉ cho họ hướng của ốc
đảo. Rạng đông, khi thấy sao sáng trên bầu trời là họ biết rằng sao kia báo hiệu
một nơi có phụ nữ, nước, chà là và cây cọ. Chỉ có chàng người Anh là chẳng biết
gì cả vì hầu như anh ta chỉ chúi đầu vào sách.
Cậu
chăn cừu cũng có một quyển sách và cậu thử đọc trong mấy ngày đầu. Nhưng rồi cậu
thấy quan sát đoàn là lắng nghe tiếng gió thú vị hơn. Rồi khi đã quen dần và thấy
quí con lạc đà của mình thì cậu quẳng quyển sách đó đi. Tuy rằng mỗi khi giở nó
ra đọc cậu vẫn hi vọng một các dị đoan rằng sẽ gặp được trong đó một nhân vật lẫy
lừng, nhưng giờ đây cậu cho nó chỉ là gánh nặng vô ích.
Lúc
này cậu đã quen thân với người phu lạc đà vẫn đi cạnh mình. Tối tối, khi tất cả
quây quần bên đống lửa, cậu kể cho ông ta chuyện thời còn đi chăn cừu. Trong một
lần chuyện vãn như thế ông ta kể cậu nghe về đời mình.
“Tôi
sống ở một nơi gần Al Kahira”, ông ta nói. “Tôi có một vườn rau, một lũ con và
một cuộc sống êm đềm mà tôi ngỡ rằng cho đến ngày chết cũng không thay đổi. Một
năm nọ được mùa bội thu, thế là chúng tôi hành hương đến Mekka để làm một bổn
phận duy nhất chưa hoàn tất trong đời tôi. Tôi có thể yên tâm nhắm mắt được rồi
và lòng tôi thanh thản lắm.
Nhưng
một ngày kia động đất, nước sông Nil tràn qua đê. Điều mà tôi tưởng rằng chỉ xảy
ra cho người khác đã đến với chính mình. Lũ lụt khiến hàng xóm sợ mất vườn
ô-liu, vợ tôi sợ lũ con có thể chết đuối, còn tôi hoảng kinh lo động đất sẽ tàn
phá cơ nghiệp của mình. Nhưng sợ cũng thế thôi. Sau vụ đó đất đai không trồng
trọt gì được nữa và tôi phải tìm cách khác để nuôi sống gia đình. Cho nên hôm
nay tôi làm phu lạc đà. Nhưng lúc ấy tôi thấm thía lời dạy của Allah: không ai
phải lo trước về điều chưa xảy tới cả vì mỗi người đều có thể đạt được cái mình
muốn và cái mình cần.
Chúng
tôi chỉ lo mất cơ nghiệp, sợ cho mạng sống và cây cối của mình thôi. Nhưng nỗi
sợ đã qua đi khi hiểu rằng diễn biến của đời mình và cả của quả đất đều đã được
một bàn tay Người viết trước cả rồi”.
27🐫
Thỉnh
thoảng họ gặp một đoàn lữ hành khác trong đêm mà đoàn này luôn luôn đang có cái
mà đoàn kia thiếu, như thể đúng là tất cả đều do một bàn tay quyết định vậy.
Các toán trưởng trao đổi thông tin về bão cát và tụ tập bên đống lửa kể đủ chuyện
về sa mạc. Một lần khác đoàn gặp những người Beduin ăn mặc kín từ đầu tới chân
trông rất là thần bí; Họ theo dõi lộ trình của từng đoàn lữ hành để cảnh báo
đoàn về các bọn cướp và về các bộ tộc hiếu chiến. Họ đến và đi đều lặng lẽ, ăn
mặc toàn đen, chỉ để hở đôi mắt. Vào một buổi tối như thế người phu lạc đà đến
tìm cậu chăn cừu đang ngồi cùng chàng người Anh bên đống lửa.
“Nghe
đồn rằng có thể xảy ra đánh nhau giữa các bộ lạc”, ông ta nói.
Họ
ngồi lặng thinh. Cậu chăn cừu cảm thấy có một nỗi sợ bàng bạc đâu đó tuy không
ai nói gì cả. Một lần nữa cậu lại hiển được thứ ngôn ngữ không lời, ngôn ngữ của
vũ trụ.
Một
lúc sau chàng người Anh mới hỏi có nguy hiểm gì không.
“Ai
đã vào sa mạc rồi thì không quay lại được nữa”, người phu lạc đà nói. “Khi
không còn đường lui thì chúng ta phải tìm ra cách nào tốt nhất để tiến tới. Mọi
chuyện khác phó thác cho Allah, kể cả sự nguy hiểm”.
Và
ông ta kết thúc bằng cái từ thần bí: “Maktub”.
“Anh
nên chú ý quan sát các đoàn lữ hành kĩ hơn”, cậu nói với chàng người Anh sau
khi người phu đi khỏi. “Họ phải đi lòng vòng hoài đấy nhưng lúc nào cũng nhắm
hướng mục tiêu”.
“Còn
cậu nên đọc nhiều hơn về thế giới đi thôi”, chàng kia đáp. “Sách cũng bổ ích
như đoàn lữ hành vậy”.
Đoàn
người và vật dài dằng dặc đi nhanh hơn tới phía trước. Không phải họ chỉ giữ
yên lặng trong ban ngày, mà ngay cả tối đến họ cũng chỉ rì rầm trò chuyện quanh
đống lửa. Rồi một ngày nọ trưởng đoàn quyết định không được đốt lửa nữa để
tránh gây chú ý.
Họ
quây đám thú vật lại thành một vòng tròn, còn người chen chúc bên trong cho đỡ
lạnh; trưởng đoàn còn cắt đặt người mang vũ khí canh gác vòng ngoài.
Một
đêm chàng người Anh không ngủ được. Anh ra rủ cậu đi dạo qua các đồi cát trải
dài quanh khu trại. Đêm đó trăng tròn. Cậu kể cho anh ta về đời mình. Anh ta
thích thú nghe chuyện cửa hàng pha lê làm ăn khấm khá lên từ khi có cậu giúp việc
ở đấy.
“Đó
là nguyên lí cơ bản chi phối mọi sự đấy”, anh ta bảo. “Trong thuật luyện kim
đan người ta gọi nó là tâm linh vũ trụ. Khi ta tha thiết mong ước điều gì thì
ta gần gũi với tâm linh vũ trụ hơn. Nó luôn luôn có tác dụng tích cực”
Anh
ta còn nói rằng điều này không phải là đặc trưng của con người đâu. Mọi loài
trên trái đất đều có tâm linh, dù đó là khoáng vật, cây cỏ hay thú vật; thậm
chí ngay cả một ý niệm cũng thế.
“Mọi
thứ trên trái đất đều biến dịch không ngừng, vì thế giới này sống động và có một
tâm linh. Chúng ta là một bộ phận của tâm linh này và hiếm khi chúng ta ý thức
được rằng nó có ảnh hưởng tích cực đến việc chúng ta làm. Và cậu nên biết rằng
ngay cả từng chiếc bình pha lê trong cái tiệm nọ đều đã góp phần vào sự thành
công của cậu đấy”.
Cậu
im lặng ngắm nhìn mặt trăng và cát trắng. Lát sau cậu nói: “Tôi đã quan sát
đoàn suốt dọc đường đi qua sa mạc. Đoàn và sa mạc nói cùng một thứ tiếng nên
đoàn được phép đi băng qua nó. Đoàn cân nhắc từng bước đi một để được hoà điệu
thì đoàn đến được ốc đảo. Bất cứ ai trong chúng ta đến đây, dù can đảm có thừa
nhưng không hiểu được thứ ngôn ngữ ấy thì sẽ chết ngay từ đầu”.
Hai
người cùng ngắm mặt trăng.
“Đó
chính là phép kì diệu của dấu hiệu”, cậu nói tiếp. “Tôi đã nhìn thấy được các
trưởng toán nhận biết ra dấu hiệu của sa mạc như thế nào, cũng như cách tâm
linh của đoàn hội ý với tâm linh sa mạc”
Lát
sau chàng người Anh nói: “Tôi phải quan tâm đến đoàn nhiều hơn mới được”.
“Còn
tôi thì cần phải đọc lô sách của anh”, cậu đáp.
28🐫
Đó
thật là những quyển sách kì lạ, viết về thủy ngân, muối, rồng và vua chúa. Cậu
chẳng hiểu gì cả. Dẫu sao cũng có một ý chính xuyên suốt gần hết mọi quyển, đó
là: mọi sự vật đều góp phần diễn giải cho tổng thể. Trong một quyển nọ cậu phát
hiện ra rằng văn bản quan trọng nhất của thuật luyện kim đan chỉ vẻn vẹn có mấy
hàng thôi, viết trên một phiến ngọc lục bảo.
“Tên
nó là Tabula smaragdina”, chàng người Anh nói, tự hào vì đã dạy cho cậu
được ít điều mới.
“Tất
cả những sách này dùng vào việc gì?”
“Để
diễn giải những hàng chữ đó”, anh đáp song có vẻ không tự tin lắm.
Quyển
sách cậu chăn cừu thích hơn cả kể về cuộc đời những nhà luyện kim đan nổi tiếng
nhất. Họ là những người hiến cả đời mình cho việc tinh hóa im loại trong phòng
thí nghiệm. Họ tin rằng khi kim loại được nung nóng nhiều năm thì chúng sẽ mất
đi những tính chất nguyên thủy, chỉ còn lại cái tâm linh vũ trụ thôi. Tâm linh
vũ trụ này sẽ giúp họ hiểu được mọi sự trên mặt đất, vì nó là thứ ngôn ngữ kết
nối mọi sự vật với nhau. Họ gọi phát kiến này là “Đại công trình”, gồm một phần
lỏng và một phần rắn.
“Chẳng
lẽ quan sát con người và dấu hiệu không đủ để phát kiến ngôn ngữ này sao?” Cậu
hỏi
“Cậu
chỉ giỏi giản đơn hóa tất cả”, chàng người Anh bực mình đáp. “Luyện kim đan là
một việc quan trong, đòi hỏi mỗi bước phải làm đúng theo chỉ dẫn của thầy”.
Cậu
được biết phần lỏng của “Đại công trình” gọi là “Thuốc trường sinh bất lão”, chữa
được mọi bệnh tật, khiến nhà luyện kim đan trẻ mãi. Phần rắn gọi là “Đá tạo
vàng”.
“Phát
hiện ra “Đá tạo vàng” có phải đơn giản đâu”, chàng người Anh nói. “Các nhà luyện
kim đan kiên trì nhiều năm trong phòng thí nghiệm, nhìn ngọn lửa tinh hóa kim
loại. Họ nhìn ngọn lửa cho đến khi mọi cao ngạo của thế giới này biến mất dần.
Rồi một ngày kia họ nhận thấy rằng tinh hóa kim loại cũng là trong sách hóa
chính mình”.
Nghe
thế cậu liền liên tưởng đến người chủ của hàng pha lê. Ông ta thấy rằng rất nên
lau chùi các bình trong cửa hàng vì như thế cả ông lẫn cậu đều gột rửa được mọi
tạp niệm. Bây giờ thì cậu tin chắc rằng cũng có thể học được thuật luyện kim
đan trong cuộc sống hàng ngày.
“Hơn
nữa”, anh ta nói tiếp, “Đá tạo vàng có một tính chất độc đáo. Chỉ cần một mảnh
vụn của nó đủ biến một khối lượng lớn kim loại thành vàng”.
Nghe
thế cậu lại càng quan tâm hơn đến thuật luyện kim đan. Cậu nghĩ chỉ cần chút ít
kiên nhẫn là có thể biến tất cả thành vàng. Cậu đọc lại cuộc đời một vài người
đã làm được việc này: Helvatius, Elias, Fulcanelli, Geber. Toàn là những chuyện
hấp dẫn cả. Những người này đều đã đi trọn con đường đời họ chọn. Họ đi đây đi
đó, gặp gỡ các bậc trí giả khác, làm những việc thần kì ngay trước mắt những kẻ
hồ nghi; họ có trong tay “Đá tạo vàng” và “Thuốc trường sinh”. Nhưng khi cậu muốn
biết làm cách nào để tự mình đạt được “Đại công trình” thì đành bó tay, vì chỉ
có những đồ họa, những chỉ dẫn ghi bằng mật mã và những văn bản khó hiểu.
29🐫
“Cớ
sao mà mọi thứ viết ra khó hiểu thế?” Một tối kia cậu hỏi chàng người Anh để rồi
thấy anh ta có vẻ bực bội và muốn lấy lại sách.
“Để
chỉ những ai thật nghiêm chỉnh nghiền ngẫm mới hiểu được thôi”, anh ta đáp.
“Cậu
thử nghĩ mà xem, nếu ai cũng biến chỉ thành vàng được thì vàng còn gì là giá trị.
Chỉ những ai kiên tâm trì chí, chỉ những ai nghiên cứu nhiều mới đạt được “Đại
công trình” một cách trọn vẹn. Chính vì thế mà tôi đến tận giữa sa mạc này để
tìm gặp một nhà luyện kim đan chính cống giúp tôi giải mã cái ngôn ngữ bí mật
kia”.
“Những
sách này được viết hồi nào?” Cậu hỏi.
“Từ
nhiều thế kỉ trước”.
“Hồi
đó làm gì đã có sách in”, cậu khăng khăng cãi. “Thành ra không phải bất kì ai
cũng biết đến thuật luyện kim đan. Vậy thì việc gì phải dùng đến thứ ngôn ngữ
kì quặc kia và những đồ họa?”
Anh
kia không trả lời câu hỏi của cậu mà nói rằng đã quan sát đoàn lữ hành mấy ngày
nay song chẳng phát hiện gì mới. Điều duy nhất anh ta cảm thấy là tin đồn về
đánh nhau cứ dồn dập thêm.
30🐫
Một
ngày nọ cậu đưa trả sách cho anh ta.
“Sao,
cậu học hỏi được nhiều chứ?” Anh ta háo hức, vì cần có người trò chuyện để quên
đi nỗi lo sợ sắp xảy ra đánh nhau.
“Tôi
học được rằng thế giới có tâm linh và ai hiểu được tâm linh ấy sẽ hiểu được
ngôn ngữ của sự vật. Tôi cũng được biết rằng nhiều nhà luyện kim đan đã sống
theo con đường mình vạch ra và như thế đã phát hiện ra tâm linh vũ trụ, “Đá tạo
vàng” và “Thuốc trường sinh. Nhưng điều cốt yếu tôi học được là những chuyện đó
đơn giản đến nỗi ghi vừa trên một phiến ngọc lục bảo.”
Anh
chàng kia thất vọng quá. Bao nhiêu năm nghiên cứu của mình, những kí hiệu thần
diệu, những từ bí hiểm, những dụng cụ thí nghiệm … chẳng gây được ấn tượng gì
nơi gã này cả.
“Tâm
hồn gã quá chất phác nên không thể hiểu chuyện này được”, anh ta ngẫm nghĩ. Rồi
anh ta đón lấy sách, nhét vào túi cho lạc đà thồ.
“Thôi
cậu hãy quay về với đoàn lữ hành của cậu đi vậy. Tôi cũng chẳng học được gì từ
nó cả”.
Cậu
tận hưởng sự yên ắng của sa mạc, quan sát bụi cát tung lên dưới bước chân lũ vật.
“Người
nào có cách học hỏi của người nấy”, cậu tự nhủ. “Cách của anh ta không phải
cách của mình, còn cách của mình không giống cách anh ta. Song cả hai đều đang
đi tìm con đường sống cho mình, nên mình coi trọng anh ta”.
31🐫
Trong
thời gian này đoàn đi cả ngày lẫn đêm. Những người Beduin ăn mặc kín từ đầu đến
chân thường xuyên xuất hiện đưa tin tức mới, và người phu lạc đà quen cậu cho
biết các bột lạc đã bắt đầu đánh nhau rồi. May mắn lắm đoàn mới có thể an toàn
đến được ốc đảo.
Lũ
vật kiệt sức còn người càng lặng lẽ hơn. Đêm khuya thanh vắng là đáng sợ nhất
vì chỉ một tiếng kêu của lạc đà - trước đây vốn là chuyện bình thường – cũng
khiến tất cả hoảng sợ, bởi đó có thể là dấu hiệu tập kích.
Người
phu nọ có vẻ như chẳng bận tâm gì lắm trước sự đe doạ của chiến tranh.
“Tôi
vẫn sống như từ trước tới giờ”, ông ta nói với cậu trong lúc thưởng thức một
đĩa chà là vào một đêm không đốt lửa và không trăng. “Nghĩa là khi ăn tôi không
làm gì khác hơn là ăn. Khi chạy tôi không làm gì khác ngoài chạy. Rồi nếu có phải
đánh nhau thì cái ngày tôi chết cũng đẹp như mọi ngày khác. Tôi không sống
trong quá khứ hay tương lai. Tôi chỉ có hiện tại và chỉ quan tâm tới hiện tại.
Nếu ta lúc nào cũng ở trong hiện tại được thì ta là người hạnh phúc. Như thế ta
sẽ thấy rằng sa mạc này vẫn đang sống, rằng bầu trời vẫn đầy sao và người ta
đánh nhau vì đó là đặc trưng của con người. Như thế cuộc đời sẽ thành một ngày
hội lớn, một buổi lễ lớn vì đời bao giờ cũng chỉ là khoảng khắc ta hiện đang sống”.
Hai
đêm sau, khi họ dọn chỗ ngủ thì cậu nhìn lên ngôi sao đã dẫn đường họ. Cậu ngạc
nhiên thấy chân trời có vẻ thấp hơn trước vì trên bầu trời có tới hàng trăm vì
sao
“Phía
đó là ốc đảo đấy”, người phu nói
“Thế
sao mình không đi ngay lại đó?”
“Vì
mình cần phải ngủ”.
32🐫
Cậu
mở mắt khi mặt trời ló dạng ở chân trời. Đêm trước nơi đó còn lấp lánh ánh sao,
giờ đây là một hàng cây chà là dài ngút mắt
“Chúng
ta đến nơi rồi”, chàng người Anh nói và thấy nhẹ cả người.
Anh
ta cũng mới vừa thức giấc. Cậu không nói gì. Cậu đã học được sự nín lặng của sa
mạc và hài lòng với việc ngắm hàng chà là nơi chân trời kia. Cậu còn phải đi xa
nữa mới tới được Kim Tự Tháp và một ngày nào đó buổi sáng hôm nay sẽ chỉ còn là
kỉ niệm. Nhưng lúc này đây nó là khoảnh khắc của hiện tại, là ngày hội mà người
phu lạc đà đã nói. Cậu thưởng thức nó, nhớ lại những bài học của quá khứ và những
ước mơ cho tương lai. Một ngày kia cả nghìn cây chà là này sẽ chỉ là kỉ niệm,
nhưng giờ đây, với cậu, chúng là bóng mát, là nước và nơi tránh chiến tranh.
Hôm qua, tiếng kêu của con lạc đà có thể gây nguy hiểm, thì giờ đây rừng chà là
có thể báo hiệu sự kì diệu.
“Thế
giới nói bằng nhiều thứ ngôn ngữ”, cậu nghĩ.
33🐫
“Đoàn
lữ hành tới cũng hối hả như thời gian trôi”, nhà luyện kim đan thầm nghĩ khi
nhìn cả trăm người và thú vật tới được ốc đảo.
Dân
chúng lớn tiếng hò reo chạy về phía đoàn người mới tới. Bụi bay mù trời. Lũ trẻ
reo hò, nhảy như choi choi khi thấy đoàn người lạ. Nhà luyện kim đan thấy tù
trưởng ốc đảo lại chào trưởng đoàn lữ hành và hai người trò chuyện hồi lâu.
Nhưng
nhà luyện kim đan không quan tâm mấy đến những điều ấy. Ông đã từng thấy nhiều
người đến rồi đi, trong khi ốc đảo và sa mạc vẫn là ốc đảo và sa mạc. Ông đã thấy
vua chúa và kẻ ăn xin đi qua biển cát này, cái biển cát thường xuyên thay hình
đổi dạng vì gió thổi nhưng vẫn mãi mãi là cái biển cát mà ông đã biết từ khi
còn nhỏ. Tuy vậy, tự đáy lòng mình, ông không thể nào không cảm thấy vui trước
hạnh phúc của mỗi người lũ khách, sau bao ngày chỉ có cát vàng với trời xanh
nay đuợc thấy chà là xanh tươi hiện ra trước mắt.
“Có
thể Thượng đế tạo ra sa mạc chỉ để cho con người biết quí trọng cây chà là”,
ông nghĩ.
Rồi
ông quyết định tập trung vào những chuyện cụ thể hơn. Ông biết trong đoàn này
có một người mà ông cần truyền lại một phần bí mật của ông. Đã có điềm báo cho
ông biết trước. Ông chưa biết người ấy nhưng đôi mắt già dặn của ông sẽ nhận ra
ngay một khi ông nhìn thấy tận mặt. Ông mong rằng người này cũng sẽ ham học hỏi
như người học trò trước của ông.
“Ta
không biết tại sao cứ phải mật truyền những điều này”, ông ngẫm nghĩ, “khi mà
chúng chẳng bí mật gì lắm, vì chính Thượng đế đã phơi bày mọi bí mật của Người
một cách hào phóng cho mọi tạo vật”. Ông chỉ có một lí giải duy nhất: những điều
này cân phải truyền miệng vì chúng hình thành từ cuộc sống trong sạch, tích cực
và lối sống như thế khó diễn đạt qua hình ảnh hoặc chữ viết. Con người vốn quá
dễ bị lôi cuốn bình hình ảnh và sách vở mà sao nhãng ngôn ngữ của thế giới.
34🐫
Đoàn
người mới tới được đưa ngay đến ra mặt tù trưởng của El Fayum. Cậu chăn cừu
không dám tin ở mắt mình: ốc đảo không phải là một cái giếng với dăm ba cây chà
là bao quanh – như cậu đã đọc trước kia trong một quyển sách sử - mà lớn hơn
nhiều so với không ít làng ở Tây Ban Nha. Ốc đảo có bao trăm giếng nước và rất
nhiều lều đủ màu sặc sỡ xen giữa năm vạn cây chà là.
“Cứ
như trong truyện Nghìn lẻ một đêm”, chàng người Anh nhận xét.
Anh
ta nôn nóng muốn đi tìm nhà luyện đan ngay. Chẳng mấy chốc họ bị một đám trẻ
bao quanh; chúng tò mò nhìn đoàn người lạ và lũ vật. Còn cánh đàn ông hỏi họ có
thấy đánh nhau gì chưa, trong khi các bà các cô tranh nhau mua vải vóc và đá
quí do khách thương thồ đến. Sự yên ắng của sa mạc giờ đã như thể xa vời lắm,
vì những người lữ hành nói không ngừng; họ cười, họ hò hét khác nào mới được từ
thế giới bên kia trở về với thế giới loài người. Họ sung sướng và hết hẳn lo
âu.
Ở
Sa mạc thì họ phải hết sức cảnh giác, chứ bây giờ - người phu lạc đà giải thích
cho cậu biết - ốc đảo luôn luôn được coi là vùng đất trung lập, vì đa số dân ốc
đảo là phụ nữ và trẻ em. Hai bên chiến tuyến đều có ốc đảo nên các bộ lạc chỉ
đánh nhau ngoài sa mạc, dùng ốc đảo làm nơi tạm lánh.
Trưởng
đoàn khá vất vả mới tụ tập mọi người trong đoàn lại được để phổ biến chỉ dẫn.
Đoàn sẽ ở lại ốc đảo cho đến khi cuộc xung đột giữa các bột lạc chấm dứt. Là
khách, họ phải ở chung lều với người ốc đảo và sẽ được nhường chỗ tốt nhất.
Lòng hiếu khách đòi hỏi phải như thế. Rồi ông yêu cầu mọi người, kể cả đội gác
của ông, trao vũ khí cho những người được tù trưởng chỉ định.
“Đây
là luật lệ khi có xung đột”, ông giải thích. “Ốc đảo không được chứa chấp đội
quân nào, dù chỉ là một chiến sĩ lẻ loi”.
Cậu
ngạc nhiên khi chàng người Anh móc túi lấy ra một khẩu súng lục mạ kền, trao
cho những người đi gom vũ khí.
“Anh
cần súng lục để làm gì?” Cậu hỏi
“Có
thể tôi mới dám đi chung với người lạ”, anh ta đáp và thấy sung sướng vì đã tới
được đích của sự tìm kiếm của mình.
Còn
cậu lại nghĩ về kho tàng. Giấc mơ của cậu càng sắp thành sự thật bao nhiêu thì
mọi sự lại rối rắm bấy nhiêu. Hình như cái nguyên lí mà ông vua già gọi là “thánh
nhân đãi kẻ khù khờ”, không còn giá trị nữa. Trên đường đến với giấc mơ, lòng
can đảm và sự kiên trì của cậu đã thường xuyên bị thử thách. Thành ra cậu không
thể khinh suất hay sốt ruột được. Nếu cứ xông bừa tới trước thì cậu sẽ không
nhìn thấy được dấu hiệu Chúa báo dọc đuờng.
“Điềm
Chúa báo dọc đường”, cậu nghĩ rồi sửng sốt trước ý nghĩ của mình. Cho tới nay cậu
vẫn cho điềm là cái gì đó rất tự nhiên, giống như ăn, ngủ, theo đuổi chút tình
yêu hay tìm công ăn việc làm. Cậu chưa hề nghĩ rằng đó có thể là thứ ngôn ngữ
Chúa dùng để bảo cậu phải làm gì
“Đừng
nôn nóng”, cậu lại tự nhắc mình. “Hãy làm như người phu kia nói: lúc cần ăn thì
ăn, lúc phải đi thì đi”
Ngày
đầu tiên ai cũng ngủ nhiều vì quá mệt, kể cả chàng người Anh. Cậu ngủ trong một
lều khác, với năm anh chàng trai trạc tuổi cậu. Họ là những thanh niên sa mạc
nên thích nghe chuyện các thành phố lớn. Cậu kể vầ đời chăn cừu của mình và vừa
định thuật lại kinh nghiệm sống trong cửa hàng pha lê thì chàng người Anh bước
vào lều.
“Tôi
tìm cậu khắp nơi”, anh ta nói rồi kéo cậu ra ngoài. “Cậu phải giúp tôi tìm cho
ra nhà luyện kim đan ở đâu”
Mới
đầu hai người muốn tự đi tìm lấy. Một nhà luyện kim đan nhất định phải sống
khác với những người dân ốc đảo, và trong lều của ông lò luyện hẵng không lúc
nào tắt. Họ chạy quanh tìm để rồi thấy rằng ốc đảo lớn hơn họ tưởng nhiều. Có đến
cả hàng trăm lều.
“Thế
là mình mất gần nguyên ngày rồi”, chàng người Anh than thở rồi cùng với cậu ngồi
nghỉ cạnh một cái giếng.
“Có
lẽ mình nên hỏi thì hơn”, cậu nói.
Anh
kia còn ngần ngừ vì không muốn tiết lột chuyện có nhà luyện kim đan ở ngay ốc đảo
này với người khác. Cuối cùng anh ta cũng đồng ý và nhờ câu hỏi hộ vì cậu sõi
tiếng Arập hơn. Cậu bèn lại gần một người đàn bà đang đi lại giếng để lấy nước
vào cái túi da dê.
“Chào
bà. Tôi muốn được biết nhà kuyện kim đan trong ốc đảo này ở đâu”, cậu lựa lời hỏi.
Bà
nọ đáp rằng chưa hề nghe ai nói có nhà luyện ikim đan bao giờ. Rồi bà hấp tấp bỏ
đi. Song trước đó bà còn lưu ý cậu không bao giờ được trò chuyện với những nguời
đàn bà mặc trang phục màu đen vì họ là những người đã có chồng. Cậu phải tôn trọng
phon tục tập quán ốc đảo.
Chàng
người Anh rất thất vọng. Chả lẽ chuyến đi xa này của anh công cốc hay sao? Cậu
cũng buồn: nói cho cùng thì người bạn đồng hành của cậu cũng đang đi tìm con đuờng
mà số phận định cho mình. Và như thế thì, như nhà vua già từng nói, đương nhiên
cả vũ trụ sẽ góp sức để người đi tìm con đường ấy đạt được điều mình muốn. Nhà
vua thì không thể nào nhầm được.
“Tôi
chưa từng nghe nói về một nhà luyện kim đan bao giờ”, cậu nói, “nếu có thì tôi
sẵn lòng giúp anh ngay”.
Mắt
anh chàng kia chợt sáng lên “Phải rồi! Chắc là ở đây không ai biết nhà luyện
kim đan nghĩa là gì! Cậu hãy hỏi thăm về một ông chữa được mọi thứ bệnh”
Có
thêm nhiều người đàn bà trùm áo màu đen ra giếng lấy nước, nhưng cậu không hỏi
họ dù chàng người Anh ra sức hối thúc. Mãi sau mới có một người đàn ông đi tới.
“Ông
có biết người nào chữa lành bệnh cho dân làng này không?”
“Allah
chữa lành cho mọi thứ bệnh tật”, ông nọ đáp, rõ ràng giật mình hoảng sợ trước
hai người lạ.
“Hoá
ra mấy người đi tìm thầy phù thủy”. Rồi sau khi đã niệm đôi ba câu kinh Koran
ông ta vội vàng bỏ đi. Một người đàn ông khác tới giếng. Ông này lớn tuổi hơn,
chỉ xách một cái chậu nhỏ. Cậu cũng hỏi y như trước.
“Mấy
người muốn gặp ông ta để làm gì?” Người Arập này hỏi lại.
“Vì
anh bạn tôi đã đi nhiều tháng ròng để được gặp ông ấy”
“Nếu
ông ta sống trong ốc đảo này thì nhất định phải là người rất quyền thế”, người
nọ nói sau vài phút ngẫm nghĩ.
“Ngay
cả các tộc trưởng khi cần cũng không triệu được ông ta đến. Ông ta chỉ đến nếu
tự ý muốn thôi. Mấy người hãy chờ cho cuộc xung đột chấm dứt rồi cùng với đoàn
lữ hành rời khỏi nơi này. Đừng can thiệp vào cuộc sống ở ốc đảo”, nói rồi ông
ta bỏ đi.
Nhưng
chàng người Anh lại mừng rỡ. Thế là họ đã có chút manh mối rồi. Cuối cùng một
cô gái không mặc mày đen ra giếng, vác trên vai một bình bằng đất nung. Cô cũng
đeo khăn choàng nhưng để hở mặt. cậu lại gần cô để hỏi thăm về nhà luyện kim
đan.
Thời
gian như chợt ngừng trôi và tâm linh vũ trụ quyền uy vô hạn như hiện ra trước mặt
cậu. Khi nhìn vào đôi mắt đen của cô, nhìn đôi môi chưa biết nên cười hay nên
nín lặng kia, cậu hiểu – như mọi người trên trái đất đều có thể hiểu bằng trái
tim mình – cái phần quan trọng và thông tuệ nhất của thứ ngôn ngữ vũ trụ này.
Cái phần đó gọi là tình yêu, là thứ lực hiện hữu trước cả loài người, thậm chí
trước cả sa mạc này và nó sẽ mãi mãi tái hiện với cùng một mãnh lực ở bất cứ
nơi nào có hai đôi mắt gặp nhau như hai cắp mắt nọ đang nhìn nhau trước giếng.
Đôi môi kia đã chọn nụ cười và đó chính là cái dấu hiệu, cái điềm cậu đã chờ đợi
từ lâu, đã tìm ở nơi lũ cừu, trong sách vở, tìm trong pha lê và trong sự yên ắng
của sa mạc mà không tự biết. Trong nụ cười kia vũ trụ đã hiển hiện ra một cách
trong sáng nhất, không cần một diễn dịch nào, như nó không ngừng tiếp tục xoay
vần.
Cậu
chợt hiểu ngay rằng cô gái đứng kia sẽ là người bạn đời của mình và chính cô
cũng biết như thế mà không cần phải nói ra. Đó là điều cậu chắc chắn hơn mọi thứ
trên thế gian này, dù rằng bố mẹ và ông bà cậu vẫn bảo trước hết phải tỏ tình,
mới đến hứa hôn, rồi tìm hiểu cặn kẽ và dành dụm đủ tiền để cưới. Nghĩ như thế
thì chẳng bao giờ hiểu được ngôn ngữ vũ trụ vì một khi đã ngụp lặn trong đó thì
ai cũng hiểu ra rằng trên thế giới luôn luôn có một người chờ đợi mình, dù là
giữa sa mạc hay trong thành phố lớn. Và khi hai người gặp nhau và mắt họ nhìn
nhau thì cả quá khứ lẫn tương lai đều không quan trọng nữa, chỉ còn có khoảng
khắc này và niềm tin tuyệt đối rằng mọi sự dưới bầu trời này đều do một bàn tay
ghi sẵn; chính bàn tay này làm nẩy mầm tình yêu và chọn sẵn một kẻ tâm đầu ý hợp
cho mỗi người chăm lo làm lụng, nghỉ ngơi và tìm kiếm kho tàng dưới gầm trời
này. Nếu không như thế thì mơ ước của con người thật là vô nghĩa.
“MAKTUB”,
cậu thầm nghĩ.
Chàng
người anh đứng lên, lắc tay cậu. “Này, cậu hỏi đi chứ!”.
Cậu
lại gần cô gái. Cô lại cười. Cậu cũng cười.
“Cô
tên gì?” Cậu hỏi
“Em
tên là Fatima”, cô đáp và ngượng ngùng nhìn xuống đất.
“Ở
đất nước tôi cũng có một số các bà, các cô mang tên cô như vậy”.
“Đó
là tên con gái Đức Tiên Tri”, Fatima đáp.
“Các
chiến binh của đất nước em đã đem cái tên này đến nước anh đấy”. Người con gái
nhỏ nhắn nói về các chiến binh với vẻ tự hào.
Anh
chàng người Anh đứng cạnh cậu đâm ra sốt ruột. Cậu bèn hỏi cô về con người chữa
lành mọi thứ bệnh tật.
“Đó
là một người thấu hiểu mọi bí mật của thế giới. Ông ta trò chuyện với các
Dschinn - tức là quỉ thần - của sa mạc”, cô cho biết.
Cô
gái chỉ về hướng Nam, nơi trú ngụ của nhân vật lạ lùng kia. Cô lấy nước đầy
bình rồi quay đi. Chàng người Anh bỏ đi tìm nhà luyện kim đan ngay tức thì, còn
cậu vẫn ngồi lại hồi lâu bên giống và nhận ra rằng trước đây ít lâu chính luồng
gió Levante đã đem mùi thơm của cô gái này đến với mình, và cậu đã yêu dù không
hề biết về cô, và nhờ tình yêu ấy cậu sẽ có đủ năng lực tìm ra mọi kho tàng của
thế giới này.
35🐫
Hôm
sau cậu lại ra giếng chờ cô gái. Cậu ngạc nhiên khi gặp chàng người Anh ở đấy;
lần đầu tiên anh ta ngắm nhìn sa mạc.
“Tôi
đã chờ ông suốt từ xế trưa cho đến chiều tối”, anh kể. “Mãi khi sao mọc ông ta
mới xuất hiện. Tôi trình bày về điều mình đang tìm kiếm. Nghe xong, ông ta hỏi
tôi đã từng biến chì thành vàng chưa. Tôi thưa rằng đó chính là điều tôi muốn học
ở ông. Ông bảo tôi cứ thử đi. Tất cả những gì ông khuyên tôi là: anh hãy cứ thử
đi!”
Cậu
im lặng. Thế là chàng người Anh đã đi xa vạn dặm để rốt cuộc được khuyên điều
chính anh ta đã biết. Nhưng rồi cậu chợt nhớ chính mình cũng từng như thế, khi
trả cho ông vua già sáu con cừu.
“Thế
thì anh nên thử đi”, cậu nói.
“Tôi
cũng đang định thử ngay đây”.
Anh
ta đi được một lúc thì Fatima đến lấy nước.
“Tôi
có điều quan trọng cần nói với cô. Tôi muốn được lấy cô làm vợ. Tôi yêu cô”.
Nước
trong bình của cô gái sóng sánh.
“Ngày
ngày anh sẽ ra đây chờ em. Cuộc xung đột thật là tai hại vì anh đã vượt sa mạc
để đi tìm một kho tàng ở Kim Tự Tháp. Nhưng bây giờ lại hóa may vì nhờ nó mà
anh được ở gần em” .
“Một
ngày kia cuộc xung đột sẽ chấm dứt”, cô gái nói.
Cậu
nhìn về phía rừng chà là. Cậu từng đi chăn cừu; ở đây không thiếu chi cừu, và với
cậu thì Fatima quan trọng hơn kho tàng.
“Các
chiến binh đi tìm kiếm kho tàng đem về đây”, cô gái nói, như thể đoán được ý cậu.
“Và phụ nữ sa mạc chúng em tự hào về các chiến binh của mình”.
Cô
gái lấy nước đầy bình rồi ra về. Giờ đây ngày ngày cậu ra giếng đợi Fatima. Cậu
kể cô nghe về quãng đời chăn cừu của mình, về ông vua già và về những ngày làm
việc trong cửa hàng pha lê. Hai người ngày một thân thiết nhau hơn. Mỗi ngày,
ngoài mười lăm phút được ở bên cô, cậu cảm thấy thời gian trôi quá chậm. Sau gần
một tháng ở ốc đảo, trưởng đoàn họp cả đoàn lại.
“Chúng
ta không biết khi nào mới hết đánh nhau và lại đi tiếp được. Có thể còn đánh
nhau lâu, cả năm chưa biết chừng, vì cả hai bên đều không thiếu chiến binh khỏe
mạnh và dũng cảm, tinh thần chiến đấu cao. Đây không phải là cuộc đấu tranh giữa
tốt và xấu, mà chỉ nhằm tranh giành quyền lực. Như thế, khi đã nổ ra đánh nhau
thì thường kéo dài rất lâu, vì Allah không thiên về một bên nào nhất định”.
Sau
đó họ giải tán. Xế trưa hôm đó gặp lại Fatima cậu kể cô nghe về buổi họp của
đoàn.
“Hôm
chúng mình gặp nhau lần thứ hai”, Fatima nói, “anh đã thổ lộ tình yêu của anh.
Rồi anh đã cho em biết nhiều điều rất hay ho, chẳng hạn như ngôn ngữ và tâm
linh vũ trụ. Qua đó em dần dà trở thành một phần của anh.
Cậu
lắng nghe và thấy giọng nói của cô dễ thương hơn tiếng gió rì rào qua rừng chà
là.
“Em
đã chờ anh ở cái giếng này nhiều năm dài. Em không còn nhớ quá khứ của mình,
quên luôn cả truyền thống và những gì đàn ông chờ đợi trong cách cư xử của phụ
nữ vùng sa mạc chúng em. Từ thuở nhỏ em đã mơ sa mạc sẽ đem đến cho em món quà
quí nhất đời mình. Món quà đó là anh”.
Cậu
nắm tay cô nhưng cô bận giữ quai bình.
“Anh
đã kể về giấc mộng của anh, về nhà vua già và về kho báu. Anh cũng đã kể về điềm,
về dấu hiệu. Thành ra em không còn thấy lo âu gì nữa, vì chính những điềm ấy,
những dấu hiệu ấy đã đưa anh đến đây. Còn em là một phần giấc mộng của anh, một
phần của vận mệnh anh – theo cách anh gọi.
Vì
thế mà em muốn anh tiếp tục đi tìm kho báu của mình. Nếu anh phải đợi đến khi hết
đánh nhau thì cũng tốt, nhưng nếu không thể đợi được thì anh cứ đi, để làm tròn
sứ mệnh tiền định của mình. Các đồi cát thay đổi theo gió nhưng sa mạc không
thay đổi bao giờ. Tình yêu của hai chúng ta cũng sẽ như thế”.
“Maktub”,
cô nói thêm. “Nếu em là một phần của vận mệnh anh thì sẽ có một ngày anh trở về
thôi”.
Sau
lần gặp gỡ này cậu buồn bã ra về, lòng nhớ đến nhiều người đã từng quen biết.
Những người chăn cừu đã có gia đình thường khó thuyết phục được các bà vợ lí do
tại sao họ phải nay đây mai đó. Tình yêu đòi hỏi người ta phải ở gần người mình
yêu. Hôm sau cậu nói với Fatima về điều này.
“Sa
mạc đem đàn ông của chúng em đi nhưng không phải lúc nào cũng đưa họ trở về”,
cô nói. “Chúng em đành chấp nhận. Nhưng họ vẫn tiếp tục sống trong những áng
mây không đem lại mưa, trong những con vật náu mình giữa các tảng đá và trong
làn nước tuôn đầy từ các giếng. Họ trở thành bộ phận của toàn thể, họ nhập vào
tâm linh vũ trụ. Cũng có một số trở về được; điều này đem lại niềm vui và thêm
hi vọng cho những người đàn bà đang mong mỏi rằng một ngày kia chồng con họ
cũng sẽ trở về. Trước đây em ganh tị với những người đàn bà này, nhưng giờ đây
em cũng có một người để mà chờ đợi. Em là một cô gái sa mạc và rất tự hào về điều
này. Chồng em cần phải đi lại tự do như làn gió làm biến dạng các đồi cát. Và
em cũng mong được thấy chồng em nhập vào trong những áng mây, trong những con
thú và trong làn nước giếng”.
Cậu
đi tìm chàng người Anh vì cậu muốn kể cho anh ta về Fatima. Cậu ngạc nhiên thấy
anh ta đã dựng một cái lò nhỏ cạnh lều. Cái lò luyện trông thật quái dị, phía
trên đặt một cái bình trong suốt. Trong lúc đốt lò bằng cành khô mắt anh ta
nhìn ta sa mạc; đôi mắt như long lanh hơn những ngày chỉ chúi mũi vào sách.
“Đây
là bước đầu”, anh ta cắt nghĩa. “Tôi phải tách lưu huỳnh ra. Để thành công tôi
không được phép sợ sẽ thất bại nữa. Chính nỗi sợ này đã cản trở tôi thử đạt đến
“Đại công trình”. Bây giờ tôi mới bắt đầu với một công đoạn mà lẽ ra tôi đã có
thể làm từ mười năm trước rồi. Song ít ra tôi cũng mừng vì đã không đợi thêm
hai mươi năm nữa”.
Anh
ta cởi lửa rồi lại nhìn ra sa mạc. Cậu ngồi một lúc với anh ta cho đến khi sa mạc
rực đỏ vì ráng chiều. Rồi cậu tha thiết muốn đi vào sa mạc xem thử sự tĩnh lặng
có trả lời những câu hỏi của anh ta được không.
Cậu
đi không mục đích nhất định song mắt luôn trông chừng rừng chà là để khỏi lạc.
Cậu lắng nghe tiếng gió và cảm nhận sỏi đá dưới chân mình. Thỉnh thoảng cậu lại
thấy một vỏ sò và hiểu ra rằng sa mạc này xa xưa từng là biển. Rồi cậu ngồi xuống
một tảng đá, nhìn như bị thôi miên vào chân trời trải dài trước mắt. Cậu không
hiểu được tại sao yêu mà lại không có quyền đòi hỏi được sỡ hữu; nhưng vì
Fatima là một cô gái sa mạc nên chỉ có sa mạc mới giúp cậu hiểu được thôi.
Cậu
ngồi im lặng hồi lâu không nghĩ ngợi gì cho đến khi cảm thấy có gì động đậy
phía trên đầu. Cậu nhìn lên, thấy hai con chim bồ cắt đang bay lượn.
Cậu
nhìn đôi chim và những hình mà đường bay của chúng vẽ nên. Những đường ấy có vẻ
không theo một trật tự nào, nhưng nhất định chúng phải có ý nghĩa; chỉ có điều
cậu không giải thích được nghĩa đó thôi. Thành ra cậu muốn dõi theo đường bay của
chim; biết đâu cậu có thể rút ra từ đó một thông điệp. Biết đâu sa mạc có thể
giải thích cho cậu về loại tình yêu không cần được sở hữu. Chợt cậu thấy mệt mỏi.
Trái tim cậu van cậu đừng ngủ gật mà phải hết sức chú tâm.
“Bây
giờ mình thả hồn vào ngôn ngữ vũ trụ và thấy mọi chuyện trên thế giới đều có ý
nghĩa, kể cả đường bay của chim”, cậu nghĩ. Cậu thầm cám ơn nỗi may mắn mà tình
yêu của một người con gái đã đem đến cho mình. “Khi yêu thì tất cả lại càng có
thêm ý nghĩa”.
Chợt
một con chim đâm bổ xuống tấn công con kia. Trong cái động tác vụt qua ấy cậu
chợt thấy một ảo ảnh: có một đạo quân vung gươm xông vào ốc đảo. Cái ảo ảnh kia
chỉ xuất hiện trong chớp mắt rồi vụt biến, nhưng cậu hết sức lo sợ. Cậu đã được
nghe về ảo giác và cũng đã từng thấy đôi lần; đó là những ước mơ mờ ảo biến
thành cảnh như thật trên mặt cát nóng bỏng của sa mạc. Nhưng cậu đâu hề ước mơ
có một đạo quân tấn công vào ốc đảo. Cậu muốn quên đi chuyện này bằng cách tập
trung nhìn vào sa mạc lấp loáng ánh hồng và vào những tảng đá. Nhưng trong thâm
tâm cậu vẫn thấy gì đó bất an.
“Phải
luôn chú ý tới điềm báo”, ông vua già bảo thế. Cậu nhớ tới Fatima, nhớ tới ảo
giác mới đây và linh cảm rằng nó sắp xảy ra thật. Phải cố gắng lắm cậu mới
thoát ra khỏi tình trạng như bị mê hoặc kia, đứng lên đi về phía hàng chà là. Một
lần nữa cậu lại nhận thấy sự vật có nhiều cách tự diễn đạt. Lần này sa mạc
trông có vẻ an toàn, còn ốc đảo như trở nên một nơi bất ổn. Người phu lạc đà ngồi
dưới một gốc chà là, cũng đang ngắm nhìn mặt trời lặn. Ông ta thấy cậu bước ra
từ sau một đụn cát.
“Một
đạo quân đang trên đường tới đây. Tôi vừa có một ảo giác”, cậu nói.
“Sa
mạc đáp ứng ước mơ của con người bằng cách tạo ra ảo giác”, người phu trầm tĩnh
đáp.
Nhưng
cậu kể ông ta nghe về đôi chim, rằng cậu đã dõi theo đường bay của chúng khi cậu
thả hồn vào tâm linh vũ trụ. Nghe thế người phu không nói gì nữa. Ông thấu hiểu
rất rõ điều cậu vừa kể. Ông biết mỗi sự vật trên thế gian này đều có thể kể được
nhiều điều về mọi sự vật khác. Khi ông mở một quyển sách hoặc xem chỉ tay cho
người, bói bài hay quan sát đường chim bay hoặc bất cứ làm gì khác thì mỗi việc
như thế đều có thể liên hệ đến điều ông vừa ứng nghiệm. Thật ra sự vật không
nói lên điều gì cả, mà chính do con người chú tâm vào sự vật nên đã phát hiện
ra những khả năng thâm nhập vào tâm linh vũ trụ.
Trong
sa mạc có nhiều người đàn ông sống bằn cách thâm nhập vào tâm linh vũ trụ. Họ
xưng là thầy bói, rất được giới phụ nữ và cụ già nể vì. Các chiến binh rất ít
khi tìm đến họ vì khi biết trước sẽ bỏ mình trong trận đánh thì khó lòng ra trận
được. Người chiến binh đam mê chiến trận, giống như kẻ phiêu lưu say mê những
chân trời mới lạ; tương lai đã do Allah định sẵn rồi và mọi chuyện xảy ra cũng
đều vì ích lợi của con người thôi. Do đó người chiến binh chỉ sống với hiện tại
vì hiện tại đầy rẫy bất ngờ buộc họ phải quan tâm đến bao điều: lưỡi gươm của đối
phương chém chỗ nào, vị trí của ngựa ở đâu và phải đỡ nhát chém thế nào để
thoát chết. Người phu không phải là chiến binh và ông đã từng đi xem vài thầy
bói. Có người đoán đúng, có người không. Cho tới cái lần người thầy bói cao tuổi
nhất và được vì nể nhất hỏi ông tại sao lại quan tâm đến tương lai như thế.
“Để
bắt tay ngay thực hiện một số việc và phòng ngừa những việc mà tôi không muốn xảy
ra”, người phu đáp.
“Thế
thì đó không còn là tương lai của ông nữa”, thầy bói nói.
“Có
thể vì tôi muốn biết về tương lai để chuẩn bị trước, hầu sẵn sàng chờ đón nó”.
“Nếu
là những điều lành thì ông sẽ được ngạc nhiên một cách thú vị”, thầy bói đáp. “Còn
nếu là điều dữ thì ông sẽ đau khổ khá lâu trước khi nó xảy ra”.
“Tôi
muốn biết về tương lai vì tôi là con người và mọi người đều sống vì tương lai”,
người phu nói với thầy bói.
Nghe
thế thầy bói im lặng. Thầy có thể bói que, rải que trên nền đất rồi giải đoán.
Nhưng hôm ấy thầy không bói que.
“Tôi
kiếm sống bằng cách đoán hậu vận”, thầy nói. “Tôi biết thuật bói que và biết phải
sử dụng que thế nào để nhập được vào nơi ghi chép mọi sự trên đời này. Ở đó tôi
có thể thấy được quá khứ, phát hiện những gì đã bị lãng quên và giải đoán những
dấu hiệu của hiện tại. Khi khách tìm đến tôi thì tôi không biết được tương lai
họ mà chỉ ước đoán thôi. Vì tương lai thuộc về Thượng Đế và Người chỉ khải thị
trong những hoàn cảnh hết sức khác thường. Bằng cách nào mà tôi đoán tương lai?
Chính là qua dấu hiệu của hiện tại. Bí ẩn nằm ngay trong hiện tại; nếu anh chú
ý quan sát hiện tại thì anh có thể cải thiện được nó. Và khi anh đã làm cho hiện
tại được tốt hơn. Vậy đừng nên nghĩ đến tương lai mà hãy sống từng ngày của đời
mình theo giới luật của Thượng đế và luôn tin tưởng rằng Người cưu mang chúng
ta là con cái của Người. Mỗi một ngày tự nó đã hàm chứa vĩnh cửu rồi”.
Người
phu muốn biết trong hoàn cảnh hết sức khác thường nào mới được Thượng đế khải
thị tương lai.
“Khi
nào được Người ban cho ơn phước đó. Song rất hạn hữu, vì một lí do thôi: tương
lai tuy đã được định sẵn nhưng vẫn còn có thể thay đổi được”.
Thượng
đế đã khải thị cho cậu chăn cừu một khoảnh khắc của tương lai vì Người muốn
dùng cậu làm sứ giả đưa tin.
“Cậu
hãy đến gặp các tộc trưởng”, người phu nói, “để báo về các chiến binh đang tiến
lại ốc đảo này”.
“Họ
sẽ cười nhạo tôi mất”.
“Họ
là người của sa mạc nên biết phải xử sự với điềm báo như thế nào”
“Vậy
thì họ đã biết hết cả rồi chứ”.
“Họ
không bận tâm đến chuyện ấy đâu, vì họ cho rằng Allah sẽ gửi đến một sứ giả đưa
tin nếu Người có điều gì cần cho họ biết. Điều này thường vẫn xảy ra. Lần này
người đưa tin là cậu đấy”.
Cậu
nghĩ đến Fatima và quyết định đi tìm các tộc trưởng ngay tức thì.
➖➖➖
Bản tiếng Anh
The Alchemist
Translated by Clifford E. Landers
PART TWO
THE
BOY HAD BEEN WORKING FOR THE CRYSTAL MERCHANT for almost a month, and he could
see that it wasn’t exactly the kind of job that would make him happy. The
merchant spent the entire day mumbling behind the counter, telling the boy to
be careful with the pieces and not to break anything.
But
he stayed with the job because the merchant, although he was an old grouch,
treated him fairly; the boy received a good commission for each piece he sold,
and had already been able to put some money aside. That morning he had done
some calculating: if he continued to work every day as he had been, he would
need a whole year to be able to buy some sheep.
“I’d
like to build a display case for the crystal,” the boy said to the merchant.
“We could place it outside, and attract those people who pass at the bottom of
the hill.”
“I’ve
never had one before,” the merchant answered. “People will pass by and bump
into it, and pieces will be broken.”
“Well,
when I took my sheep through the fields some of them might have died if we had
come upon a snake. But that’s the way life is with sheep and with shepherds.”
The
merchant turned to a customer who wanted three crystal glasses. He was selling
better than ever…as if time had turned back to the old days when the street had
been one of Tangier’s major attractions.
“Business
has really improved,” he said to the boy, after the customer had left. “I’m
doing much better, and soon you’ll be able to return to your sheep. Why ask
more out of life?”
“Because
we have to respond to omens,” the boy said, almost without meaning to; then he
regretted what he had said, because the merchant had never met the king.
“It’s
called the principle of favorability, beginner’s luck. Because life wants you
to achieve your Personal Legend,” the old king had said.
But
the merchant understood what the boy had said. The boy’s very presence in the
shop was an omen, and, as time passed and money was pouring into the cash
drawer, he had no regrets about having hired the boy. The boy was being paid
more money than he deserved, because the merchant, thinking that sales wouldn’t
amount to much, had offered the boy a high commission rate. He had assumed he
would soon return to his sheep.
“Why
did you want to get to the Pyramids?” he asked, to get away from the business
of the display.
“Because
I’ve always heard about them,” the boy answered, saying nothing about his
dream. The treasure was now nothing but a painful memory, and he tried to avoid
thinking about it.
“I
don’t know anyone around here who would want to cross the desert just to see
the Pyramids,” said the merchant. “They’re just a pile of stones. You could
build one in your backyard.”
“You’ve
never had dreams of travel,” said the boy, turning to wait on a customer who
had entered the shop.
Two
days later, the merchant spoke to the boy about the display.
“I
don’t much like change,” he said. “You and I aren’t like Hassan, that rich
merchant. If he makes a buying mistake, it doesn’t affect him much. But we two
have to live with our mistakes.”
That’s
true enough, the boy thought, ruefully.
“Why
did you think we should have the display?”
“I
want to get back to my sheep faster. We have to take advantage when luck is on
our side, and do as much to help it as it’s doing to help us. It’s called the
principle of favorability. Or beginner’s luck.”
The
merchant was silent for a few moments. Then he said, “The Prophet gave us the
Koran, and left us just five obligations to satisfy during our lives. The most
important is to believe only in the one true God. The others are to pray five
times a day, fast during Ramadan, and be charitable to the poor.”
He
stopped there. His eyes filled with tears as he spoke of the Prophet. He was a
devout man, and, even with all his impatience, he wanted to live his life in
accordance with Muslim law.
“What’s
the fifth obligation?” the boy asked.
“Two
days ago, you said that I had never dreamed of travel,” the merchant answered.
“The fifth obligation of every Muslim is a pilgrimage. We are obliged, at least
once in our lives, to visit the holy city of Mecca.
“Mecca
is a lot farther away than the Pyramids. When I was young, all I wanted to do
was put together enough money to start this shop. I thought that someday I’d be
rich, and could go to Mecca. I began to make some money, but I could never
bring myself to leave someone in charge of the shop; the crystals are delicate
things. At the same time, people were passing my shop all the time, heading for
Mecca. Some of them were rich pilgrims, traveling in caravans with servants and
camels, but most of the people making the pilgrimage were poorer than I.
“All
who went there were happy at having done so. They placed the symbols of the
pilgrimage on the doors of their houses. One of them, a cobbler who made his
living mending boots, said that he had traveled for almost a year through the
desert, but that he got more tired when he had to walk through the streets of
Tangier buying his leather.”
“Well,
why don’t you go to Mecca now?” asked the boy.
“Because
it’s the thought of Mecca that keeps me alive. That’s what helps me face these
days that are all the same, these mute crystals on the shelves, and lunch and
dinner at that same horrible café. I’m afraid that if my dream is realized,
I’ll have no reason to go on living.
“You
dream about your sheep and the Pyramids, but you’re different from me, because
you want to realize your dreams. I just want to dream about Mecca. I’ve already
imagined a thousand times crossing the desert, arriving at the Plaza of the
Sacred Stone, the seven times I walk around it before allowing myself to touch
it. I’ve already imagined the people who would be at my side, and those in
front of me, and the conversations and prayers we would share. But I’m afraid
that it would all be a disappointment, so I prefer just to dream about it.”
That
day, the merchant gave the boy permission to build the display. Not everyone
can see his dreams come true in the same way.
TWO
MORE MONTHS PASSED, AND THE SHELF BROUGHT many customers into the crystal shop.
The boy estimated that, if he worked for six more months, he could return to
Spain and buy sixty sheep, and yet another sixty. In less than a year, he would
have doubled his flock, and he would be able to do business with the Arabs,
because he was now able to speak their strange language. Since that morning in
the marketplace, he had never again made use of Urim and Thummim, because Egypt
was now just as distant a dream for him as was Mecca for the merchant. Anyway,
the boy had become happy in his work, and thought all the time about the day
when he would disembark at Tarifa as a winner.
“You
must always know what it is that you want,” the old king had said. The boy
knew, and was now working toward it. Maybe it was his treasure to have wound up
in that strange land, met up with a thief, and doubled the size of his flock
without spending a cent.
He
was proud of himself. He had learned some important things, like how to deal in
crystal, and about the language without words…and about omens. One afternoon he
had seen a man at the top of the hill, complaining that it was impossible to
find a decent place to get something to drink after such a climb. The boy,
accustomed to recognizing omens, spoke to the merchant.
“Let’s
sell tea to the people who climb the hill.”
“Lots
of places sell tea around here,” the merchant said.
“But
we could sell tea in crystal glasses. The people will enjoy the tea and want to
buy the glasses. I have been told that beauty is the great seducer of men.”
The
merchant didn’t respond, but that afternoon, after saying his prayers and
closing the shop, he invited the boy to sit with him and share his hookah, that
strange pipe used by the Arabs.
“What
is it you’re looking for?” asked the old merchant.
“I’ve
already told you. I need to buy my sheep back, so I have to earn the money to
do so.”
The
merchant put some new coals in the hookah, and inhaled deeply.
“I’ve
had this shop for thirty years. I know good crystal from bad, and everything
else there is to know about crystal. I know its dimensions and how it behaves.
If we serve tea in crystal, the shop is going to expand. And then I’ll have to
change my way of life.”
“Well,
isn’t that good?”
“I’m
already used to the way things are. Before you came, I was thinking about how
much time I had wasted in the same place, while my friends had moved on, and
either went bankrupt or did better than they had before. It made me very
depressed. Now, I can see that it hasn’t been too bad. The shop is exactly the
size I always wanted it to be. I don’t want to change anything, because I don’t
know how to deal with change. I’m used to the way I am.”
The
boy didn’t know what to say. The old man continued, “You have been a real
blessing to me. Today, I understand something I didn’t see before: every
blessing ignored becomes a curse. I don’t want anything else in life. But you
are forcing me to look at wealth and at horizons I have never known. Now that I
have seen them, and now that I see how immense my possibilities are, I’m going
to feel worse than I did before you arrived. Because I know the things I should
be able to accomplish, and I don’t want to do so.”
It’s
good I refrained from saying anything to the baker in Tarifa, thought the boy
to himself.
They
went on smoking the pipe for a while as the sun began to set. They were
conversing in Arabic, and the boy was proud of himself for being able to do so.
There had been a time when he thought that his sheep could teach him everything
he needed to know about the world. But they could never have taught him Arabic.
There
are probably other things in the world that the sheep can’t teach me, thought
the boy as he regarded the old merchant. All they ever do, really, is look for
food and water. And maybe it wasn’t that they were teaching me, but that I was
learning from them.
“Maktub,”
the merchant said, finally.
“What
does that mean?”
“You
would have to have been born an Arab to understand,” he answered. “But in your
language it would be something like ‘It is written.’”
And,
as he smothered the coals in the hookah, he told the boy that he could begin to
sell tea in the crystal glasses. Sometimes, there’s just no way to hold back
the river.
THE
MEN CLIMBED THE HILL, AND THEY WERE TIRED when they reached the top. But there
they saw a crystal shop that offered refreshing mint tea. They went in to drink
the tea, which was served in beautiful crystal glasses.
“My
wife never thought of this,” said one, and he bought some crystal—he was
entertaining guests that night, and the guests would be impressed by the beauty
of the glassware. The other man remarked that tea was always more delicious
when it was served in crystal, because the aroma was retained. The third said
that it was a tradition in the Orient to use crystal glasses for tea because it
had magical powers.
Before
long, the news spread, and a great many people began to climb the hill to see
the shop that was doing something new in a trade that was so old. Other shops
were opened that served tea in crystal, but they weren’t at the top of a hill,
and they had little business.
Eventually,
the merchant had to hire two more employees. He began to import enormous
quantities of tea, along with his crystal, and his shop was sought out by men
and women with a thirst for things new.
And,
in that way, the months passed.
THE
BOY AWOKE BEFORE DAWN. IT HAD BEEN ELEVEN months and nine days since he had
first set foot on the African continent.
He
dressed in his Arabian clothing of white linen, bought especially for this day.
He put his headcloth in place and secured it with a ring made of camel skin.
Wearing his new sandals, he descended the stairs silently.
The
city was still sleeping. He prepared himself a sandwich and drank some hot tea
from a crystal glass. Then he sat in the sun-filled doorway, smoking the
hookah.
He
smoked in silence, thinking of nothing, and listening to the sound of the wind
that brought the scent of the desert. When he had finished his smoke, he
reached into one of his pockets, and sat there for a few moments, regarding
what he had withdrawn.
It
was a bundle of money. Enough to buy himself a hundred and twenty sheep, a
return ticket, and a license to import products from Africa into his own
country.
He
waited patiently for the merchant to awaken and open the shop. Then the two
went off to have some more tea.
“I’m
leaving today,” said the boy. “I have the money I need to buy my sheep. And you
have the money you need to go to Mecca.”
The
old man said nothing.
“Will
you give me your blessing?” asked the boy. “You have helped me.” The man
continued to prepare his tea, saying nothing. Then he turned to the boy.
“I
am proud of you,” he said. “You brought a new feeling into my crystal shop. But
you know that I’m not going to go to Mecca. Just as you know that you’re not
going to buy your sheep.”
“Who
told you that?” asked the boy, startled.
“Maktub,”
said the old crystal merchant.
And
he gave the boy his blessing.
THE
BOY WENT TO HIS ROOM AND PACKED HIS BELONGINGS. They filled three sacks. As he
was leaving, he saw, in the corner of the room, his old shepherd’s pouch. It
was bunched up, and he had hardly thought of it for a long time. As he took his
jacket out of the pouch, thinking to give it to someone in the street, the two
stones fell to the floor. Urim and Thummim.
It
made the boy think of the old king, and it startled him to realize how long it
had been since he had thought of him. For nearly a year, he had been working
incessantly, thinking only of putting aside enough money so that he could
return to Spain with pride.
“Never
stop dreaming,” the old king had said. “Follow the omens.”
The
boy picked up Urim and Thummim, and, once again, had the strange sensation that
the old king was nearby. He had worked hard for a year, and the omens were that
it was time to go.
I’m
going to go back to doing just what I did before, the boy thought. Even though
the sheep didn’t teach me to speak Arabic.
But
the sheep had taught him something even more important: that there was a
language in the world that everyone understood, a language the boy had used
throughout the time that he was trying to improve things at the shop. It was
the language of enthusiasm, of things accomplished with love and purpose, and
as part of a search for something believed in and desired. Tangier was no
longer a strange city, and he felt that, just as he had conquered this place,
he could conquer the world.
“When
you want something, all the universe conspires to help you achieve it,” the old
king had said.
But
the old king hadn’t said anything about being robbed, or about endless deserts,
or about people who know what their dreams are but don’t want to realize them.
The old king hadn’t told him that the Pyramids were just a pile of stones, or
that anyone could build one in his backyard. And he had forgotten to mention
that, when you have enough money to buy a flock larger than the one you had
before, you should buy it.
The
boy picked up his pouch and put it with his other things. He went down the
stairs and found the merchant waiting on a foreign couple, while two other
customers walked about the shop, drinking tea from crystal glasses. It was more
activity than usual for this time of the morning. From where he stood, he saw
for the first time that the old merchant’s hair was very much like the hair of
the old king. He remembered the smile of the candy seller, on his first day in
Tangier, when he had nothing to eat and nowhere to go—that smile had also been
like the old king’s smile.
It’s
almost as if he had been here and left his mark, he thought. And yet, none of
these people has ever met the old king. On the other hand, he said that he
always appeared to help those who are trying to realize their Personal Legend.
He
left without saying good-bye to the crystal merchant. He didn’t want to cry
with the other people there. He was going to miss the place and all the good
things he had learned. He was more confident in himself, though, and felt as
though he could conquer the world.
“But
I’m going back to the fields that I know, to take care of my flock again.” He
said that to himself with certainty, but he was no longer happy with his
decision. He had worked for an entire year to make a dream come true, and that
dream, minute by minute, was becoming less important. Maybe because that wasn’t
really his dream.
Who
knows…maybe it’s better to be like the crystal merchant: never go to Mecca, and
just go through life wanting to do so, he thought, again trying to convince
himself. But as he held Urim and Thummim in his hand, they had transmitted to
him the strength and will of the old king. By coincidence—or maybe it was an
omen, the boy thought—he came to the bar he had entered on his first day there.
The thief wasn’t there, and the owner brought him a cup of tea.
I
can always go back to being a shepherd, the boy thought. I learned how to care
for sheep, and I haven’t forgotten how that’s done. But maybe I’ll never have
another chance to get to the Pyramids in Egypt. The old man wore a breastplate
of gold, and he knew about my past. He really was a king, a wise king.
The
hills of Andalusia were only two hours away, but there was an entire desert
between him and the Pyramids. Yet the boy felt that there was another way to
regard his situation: he was actually two hours closer to his treasure…the fact
that the two hours had stretched into an entire year didn’t matter.
I
know why I want to get back to my flock, he thought. I understand sheep;
they’re no longer a problem, and they can be good friends. On the other hand, I
don’t know if the desert can be a friend, and it’s in the desert that I have to
search for my treasure. If I don’t find it, I can always go home. I finally
have enough money, and all the time I need. Why not?
He
suddenly felt tremendously happy. He could always go back to being a shepherd.
He could always become a crystal salesman again. Maybe the world had other
hidden treasures, but he had a dream, and he had met with a king. That doesn’t
happen to just anyone!
He
was planning as he left the bar. He had remembered that one of the crystal
merchant’s suppliers transported his crystal by means of caravans that crossed
the desert. He held Urim and Thummim in his hand; because of those two stones,
he was once again on the way to his treasure.
“I
am always nearby, when someone wants to realize their Personal Legend,” the old
king had told him.
What
could it cost to go over to the supplier’s warehouse and find out if the
Pyramids were really that far away?
THE
ENGLISHMAN WAS SITTING ON A BENCH IN A STRUCTURE that smelled of animals,
sweat, and dust; it was part warehouse, part corral. I never thought I’d end up
in a place like this, he thought, as he leafed through the pages of a chemical
journal. Ten years at the university, and here I am in a corral.
But
he had to move on. He believed in omens. All his life and all his studies were
aimed at finding the one true language of the universe. First he had studied
Esperanto, then the world’s religions, and now it was alchemy. He knew how to
speak Esperanto, he understood all the major religions well, but he wasn’t yet
an alchemist. He had unraveled the truths behind important questions, but his
studies had taken him to a point beyond which he could not seem to go. He had
tried in vain to establish a relationship with an alchemist. But the alchemists
were strange people, who thought only about themselves, and almost always
refused to help him. Who knows, maybe they had failed to discover the secret of
the Master Work—the Philosopher’s Stone—and for this reason kept their
knowledge to themselves.
He
had already spent much of the fortune left to him by his father, fruitlessly
seeking the Philosopher’s Stone. He had spent enormous amounts of time at the
great libraries of the world, and had purchased all the rarest and most
important volumes on alchemy. In one he had read that, many years ago, a famous
Arabian alchemist had visited Europe. It was said that he was more than two
hundred years old, and that he had discovered the Philosopher’s Stone and the
Elixir of Life. The Englishman had been profoundly impressed by the story. But
he would never have thought it more than just a myth, had not a friend of
his—returning from an archaeological expedition in the desert—told him about an
Arab that was possessed of exceptional powers.
“He
lives at the Al-Fayoum oasis,” his friend had said. “And people say that he is
two hundred years old, and is able to transform any metal into gold.”
The
Englishman could not contain his excitement. He canceled all his commitments
and pulled together the most important of his books, and now here he was,
sitting inside a dusty, smelly warehouse. Outside, a huge caravan was being
prepared for a crossing of the Sahara, and was scheduled to pass through
Al-Fayoum.
I’m
going to find that damned alchemist, the Englishman thought. And the odor of
the animals became a bit more tolerable.
A
young Arab, also loaded down with baggage, entered, and greeted the Englishman.
“Where
are you bound?” asked the young Arab.
“I’m
going into the desert,” the man answered, turning back to his reading. He
didn’t want any conversation at this point. What he needed to do was review all
he had learned over the years, because the alchemist would certainly put him to
the test.
The
young Arab took out a book and began to read. The book was written in Spanish.
That’s good, thought the Englishman. He spoke Spanish better than Arabic, and,
if this boy was going to Al-Fayoum, there would be someone to talk to when
there were no other important things to do.
“THAT’S
STRANGE,” SAID THE BOY, AS HE TRIED ONCE again to read the burial scene that
began the book. “I’ve been trying for two years to read this book, and I never
get past these first few pages.” Even without a king to provide an
interruption, he was unable to concentrate.
He
still had some doubts about the decision he had made. But he was able to
understand one thing: making a decision was only the beginning of things. When
someone makes a decision, he is really diving into a strong current that will
carry him to places he had never dreamed of when he first made the decision.
When
I decided to seek out my treasure, I never imagined that I’d wind up working in
a crystal shop, he thought. And joining this caravan may have been my decision,
but where it goes is going to be a mystery to me.
Nearby
was the Englishman, reading a book. He seemed unfriendly, and had looked
irritated when the boy had entered. They might even have become friends, but
the Englishman closed off the conversation.
The
boy closed his book. He felt that he didn’t want to do anything that might make
him look like the Englishman. He took Urim and Thummim from his pocket, and
began playing with them.
The
stranger shouted, “Urim and Thummim!”
In
a flash the boy put them back in his pocket.
“They’re
not for sale,” he said.
“They’re
not worth much,” the Englishman answered. “They’re only made of rock crystal,
and there are millions of rock crystals in the earth. But those who know about
such things would know that those are Urim and Thummim. I didn’t know that they
had them in this part of the world.”
“They
were given to me as a present by a king,” the boy said.
The
stranger didn’t answer; instead, he put his hand in his pocket, and took out
two stones that were the same as the boy’s.
“Did
you say a king?” he asked.
“I
guess you don’t believe that a king would talk to someone like me, a shepherd,”
he said, wanting to end the conversation.
“Not
at all. It was shepherds who were the first to recognize a king that the rest
of the world refused to acknowledge. So, it’s not surprising that kings would
talk to shepherds.”
And
he went on, fearing that the boy wouldn’t understand what he was talking about,
“It’s in the Bible. The same book that taught me about Urim and Thummim. These
stones were the only form of divination permitted by God. The priests carried
them in a golden breastplate.”
The
boy was suddenly happy to be there at the warehouse.
“Maybe
this is an omen,” said the Englishman, half aloud.
“Who
told you about omens?” The boy’s interest was increasing by the moment.
“Everything
in life is an omen,” said the Englishman, now closing the journal he was
reading. “There is a universal language, understood by everybody, but already
forgotten. I am in search of that universal language, among other things.
That’s why I’m here. I have to find a man who knows that universal language. An
alchemist.”
The
conversation was interrupted by the warehouse boss.
“You’re
in luck, you two,” the fat Arab said. “There’s a caravan leaving today for
Al-Fayoum.”
“But
I’m going to Egypt,” the boy said.
“Al-Fayoum
is in Egypt,” said the Arab. “What kind of Arab are you?”
“That’s
a good luck omen,” the Englishman said, after the fat Arab had gone out. “If I
could, I’d write a huge encyclopedia just about the words luck and coincidence.
It’s with those words that the universal language is written.”
He
told the boy it was no coincidence that he had met him with Urim and Thummim in
his hand. And he asked the boy if he, too, were in search of the alchemist.
“I’m
looking for a treasure,” said the boy, and he immediately regretted having said
it. But the Englishman appeared not to attach any importance to it.
“In
a way, so am I,” he said.
“I
don’t even know what alchemy is,” the boy was saying, when the warehouse boss
called to them to come outside.
“I’M
THE LEADER OF THE CARAVAN,” SAID A DARK-EYED, bearded man. “I hold the power of
life and death for every person I take with me. The desert is a capricious
lady, and sometimes she drives men crazy.”
There
were almost two hundred people gathered there, and four hundred animals—camels,
horses, mules, and fowl. In the crowd were women, children, and a number of men
with swords at their belts and rifles slung on their shoulders. The Englishman
had several suitcases filled with books. There was a babble of noise, and the
leader had to repeat himself several times for everyone to understand what he
was saying.
“There
are a lot of different people here, and each has his own God. But the only God
I serve is Allah, and in his name I swear that I will do everything possible
once again to win out over the desert. But I want each and every one of you to
swear by the God you believe in that you will follow my orders no matter what.
In the desert, disobedience means death.”
There
was a murmur from the crowd. Each was swearing quietly to his or her own God.
The boy swore to Jesus Christ. The Englishman said nothing. And the murmur
lasted longer than a simple vow would have. The people were also praying to
heaven for protection.
A
long note was sounded on a bugle, and everyone mounted up. The boy and the
Englishman had bought camels, and climbed uncertainly onto their backs. The boy
felt sorry for the Englishman’s camel, loaded down as he was with the cases of
books.
“There’s
no such thing as coincidence,” said the Englishman, picking up the conversation
where it had been interrupted in the warehouse. “I’m here because a friend of
mine heard of an Arab who…”
But
the caravan began to move, and it was impossible to hear what the Englishman
was saying. The boy knew what he was about to describe, though: the mysterious
chain that links one thing to another, the same chain that had caused him to
become a shepherd, that had caused his recurring dream, that had brought him to
a city near Africa, to find a king, and to be robbed in order to meet a crystal
merchant, and…
The
closer one gets to realizing his Personal Legend, the more that Personal Legend
becomes his true reason for being, thought the boy.
The
caravan moved toward the east. It traveled during the morning, halted when the
sun was at its strongest, and resumed late in the afternoon. The boy spoke very
little with the Englishman, who spent most of his time with his books.
The
boy observed in silence the progress of the animals and people across the
desert. Now everything was quite different from how it was that day they had
set out: then, there had been confusion and shouting, the cries of children and
the whinnying of animals, all mixed with the nervous orders of the guides and
the merchants.
But,
in the desert, there was only the sound of the eternal wind, and of the
hoofbeats of the animals. Even the guides spoke very little to one another.
“I’ve
crossed these sands many times,” said one of the camel drivers one night. “But
the desert is so huge, and the horizons so distant, that they make a person
feel small, and as if he should remain silent.”
The
boy understood intuitively what he meant, even without ever having set foot in
the desert before. Whenever he saw the sea, or a fire, he fell silent,
impressed by their elemental force.
I’ve
learned things from the sheep, and I’ve learned things from crystal, he
thought. I can learn something from the desert, too. It seems old and wise.
The
wind never stopped, and the boy remembered the day he had sat at the fort in
Tarifa with this same wind blowing in his face. It reminded him of the wool
from his sheep…his sheep who were now seeking food and water in the fields of
Andalusia, as they always had.
“They’re
not my sheep anymore,” he said to himself, without nostalgia. “They must be
used to their new shepherd, and have probably already forgotten me. That’s
good. Creatures like the sheep, that are used to traveling, know about moving
on.”
He
thought of the merchant’s daughter, and was sure that she had probably married.
Perhaps to a baker, or to another shepherd who could read and could tell her
exciting stories—after all, he probably wasn’t the only one. But he was excited
at his intuitive understanding of the camel driver’s comment: maybe he was also
learning the universal language that deals with the past and the present of all
people. “Hunches,” his mother used to call them. The boy was beginning to
understand that intuition is really a sudden immersion of the soul into the
universal current of life, where the histories of all people are connected, and
we are able to know everything, because it’s all written there.
“Maktub,”
the boy said, remembering the crystal merchant.
The
desert was all sand in some stretches, and rocky in others. When the caravan
was blocked by a boulder, it had to go around it; if there was a large rocky
area, they had to make a major detour. If the sand was too fine for the
animals’ hooves, they sought a way where the sand was more substantial. In some
places, the ground was covered with the salt of dried-up lakes. The animals
balked at such places, and the camel drivers were forced to dismount and
unburden their charges. The drivers carried the freight themselves over such
treacherous footing, and then reloaded the camels. If a guide were to fall ill
or die, the camel drivers would draw lots and appoint a new one.
But
all this happened for one basic reason: no matter how many detours and
adjustments it made, the caravan moved toward the same compass point. Once
obstacles were overcome, it returned to its course, sighting on a star that
indicated the location of the oasis. When the people saw that star shining in
the morning sky, they knew they were on the right course toward water, palm
trees, shelter, and other people. It was only the Englishman who was unaware of
all this; he was, for the most part, immersed in reading his books.
The
boy, too, had his book, and he had tried to read it during the first few days
of the journey. But he found it much more interesting to observe the caravan
and listen to the wind. As soon as he had learned to know his camel better, and
to establish a relationship with him, he threw the book away. Although the boy
had developed a superstition that each time he opened the book he would learn
something important, he decided it was an unnecessary burden.
He
became friendly with the camel driver who traveled alongside him. At night, as
they sat around the fire, the boy related to the driver his adventures as a
shepherd.
During
one of these conversations, the driver told of his own life.
“I
used to live near El Cairum,” he said. “I had my orchard, my children, and a
life that would change not at all until I died. One year, when the crop was the
best ever, we all went to Mecca, and I satisfied the only unmet obligation in
my life. I could die happily, and that made me feel good.
“One
day, the earth began to tremble, and the Nile overflowed its banks. It was
something that I thought could happen only to others, never to me. My neighbors
feared they would lose all their olive trees in the flood, and my wife was
afraid that we would lose our children. I thought that everything I owned would
be destroyed.
“The
land was ruined, and I had to find some other way to earn a living. So now I’m
a camel driver. But that disaster taught me to understand the word of Allah:
people need not fear the unknown if they are capable of achieving what they
need and want.
“We
are afraid of losing what we have, whether it’s our life or our possessions and
property. But this fear evaporates when we understand that our life stories and
the history of the world were written by the same hand.”
Sometimes,
their caravan met with another. One always had something that the other
needed—as if everything were indeed written by one hand. As they sat around the
fire, the camel drivers exchanged information about windstorms, and told
stories about the desert.
At
other times, mysterious, hooded men would appear; they were Bedouins who did
surveillance along the caravan route. They provided warnings about thieves and
barbarian tribes. They came in silence and departed the same way, dressed in
black garments that showed only their eyes. One night, a camel driver came to
the fire where the Englishman and the boy were sitting. “There are rumors of
tribal wars,” he told them.
The
three fell silent. The boy noted that there was a sense of fear in the air,
even though no one said anything. Once again he was experiencing the language
without words…the universal language.
The
Englishman asked if they were in danger.
“Once
you get into the desert, there’s no going back,” said the camel driver. “And,
when you can’t go back, you have to worry only about the best way of moving
forward. The rest is up to Allah, including the danger.”
And
he concluded by saying the mysterious word: “Maktub.”
“You
should pay more attention to the caravan,” the boy said to the Englishman,
after the camel driver had left. “We make a lot of detours, but we’re always
heading for the same destination.”
“And
you ought to read more about the world,” answered the Englishman. “Books are
like caravans in that respect.”
The
immense collection of people and animals began to travel faster. The days had
always been silent, but now, even the nights—when the travelers were accustomed
to talking around the fires—had also become quiet. And, one day, the leader of
the caravan made the decision that the fires should no longer be lighted, so as
not to attract attention to the caravan.
The
travelers adopted the practice of arranging the animals in a circle at night,
sleeping together in the center as protection against the nocturnal cold. And
the leader posted armed sentinels at the fringes of the group.
The
Englishman was unable to sleep one night. He called to the boy, and they took a
walk along the dunes surrounding the encampment. There was a full moon, and the
boy told the Englishman the story of his life.
The
Englishman was fascinated with the part about the progress achieved at the
crystal shop after the boy began working there.
“That’s
the principle that governs all things,” he said. “In alchemy, it’s called the
Soul of the World. When you want something with all your heart, that’s when you
are closest to the Soul of the World. It’s always a positive force.”
He
also said that this was not just a human gift, that everything on the face of
the earth had a soul, whether mineral, vegetable, or animal—or even just a
simple thought.
“Everything
on earth is being continuously transformed, because the earth is alive…and it
has a soul. We are part of that soul, so we rarely recognize that it is working
for us. But in the crystal shop you probably realized that even the glasses
were collaborating in your success.”
The
boy thought about that for a while as he looked at the moon and the bleached
sands. “I have watched the caravan as it crossed the desert,” he said. “The
caravan and the desert speak the same language, and it’s for that reason that
the desert allows the crossing. It’s going to test the caravan’s every step to
see if it’s in time, and, if it is, we will make it to the oasis.”
“If
either of us had joined this caravan based only on personal courage, but
without understanding that language, this journey would have been much more
difficult.”
They
stood there looking at the moon.
“That’s
the magic of omens,” said the boy. “I’ve seen how the guides read the signs of
the desert, and how the soul of the caravan speaks to the soul of the desert.”
The
Englishman said, “I’d better pay more attention to the caravan.”
“And
I’d better read your books,” said the boy.
THEY
WERE STRANGE BOOKS. THEY SPOKE ABOUT MERCURY, salt, dragons, and kings, and he
didn’t understand any of it. But there was one idea that seemed to repeat
itself throughout all the books: all things are the manifestation of one thing
only.
In
one of the books he learned that the most important text in the literature of
alchemy contained only a few lines, and had been inscribed on the surface of an
emerald.
“It’s
the Emerald Tablet,” said the Englishman, proud that he might teach
something to the boy.
“Well,
then, why do we need all these books?” the boy asked.
“So
that we can understand those few lines,” the Englishman answered, without
appearing really to believe what he had said.
The
book that most interested the boy told the stories of the famous alchemists.
They were men who had dedicated their entire lives to the purification of
metals in their laboratories; they believed that, if a metal were heated for
many years, it would free itself of all its individual properties, and what was
left would be the Soul of the World. This Soul of the World allowed them to
understand anything on the face of the earth, because it was the language with
which all things communicated. They called that discovery the Master Work—it
was part liquid and part solid.
“Can’t
you just observe men and omens in order to understand the language?” the boy
asked.
“You
have a mania for simplifying everything,” answered the Englishman, irritated.
“Alchemy is a serious discipline. Every step has to be followed exactly as it
was followed by the masters.”
The
boy learned that the liquid part of the Master Work was called the Elixir of
Life, and that it cured all illnesses; it also kept the
alchemist
from growing old. And the solid part was called the Philosopher’s Stone.
“It’s
not easy to find the Philosopher’s Stone,” said the Englishman. “The alchemists
spent years in their laboratories, observing the fire that purified the metals.
They spent so much time close to the fire that gradually they gave up the
vanities of the world. They discovered that the purification of the metals had
led to a purification of themselves.”
The
boy thought about the crystal merchant. He had said that it was a good thing
for the boy to clean the crystal pieces, so that he could free himself from
negative thoughts. The boy was becoming more and more convinced that alchemy
could be learned in one’s daily life.
“Also,”
said the Englishman, “the Philosopher’s Stone has a fascinating property. A
small sliver of the stone can transform large quantities of metal into gold.”
Having
heard that, the boy became even more interested in alchemy. He thought that,
with some patience, he’d be able to transform everything into gold. He read the
lives of the various people who had succeeded in doing so: Helvétius, Elias,
Fulcanelli, and Geber. They were fascinating stories: each of them lived out
his Personal Legend to the end. They traveled, spoke with wise men, performed
miracles for the incredulous, and owned the Philosopher’s Stone and the Elixir
of Life.
But
when the boy wanted to learn how to achieve the Master Work, he became
completely lost. There were just drawings, coded instructions, and obscure
texts.
“WHY
DO THEY MAKE THINGS SO COMPLICATED?” HE asked the Englishman one night. The boy
had noticed that the Englishman was irritable, and missed his books.
“So
that those who have the responsibility for understanding can understand,” he
said. “Imagine if everyone went around transforming lead into gold. Gold would
lose its value.
“It’s
only those who are persistent, and willing to study things deeply, who achieve
the Master Work. That’s why I’m here in the middle of the desert. I’m seeking a
true alchemist who will help me to decipher the codes.”
“When
were these books written?” the boy asked.
“Many
centuries ago.”
“They
didn’t have the printing press in those days,” the boy argued. “There was no
way for everybody to know about alchemy. Why did they use such strange
language, with so many drawings?”
The
Englishman didn’t answer him directly. He said that for the past few days he
had been paying attention to how the caravan operated, but that he hadn’t
learned anything new. The only thing he had noticed was that talk of war was
becoming more and more frequent.
THEN
ONE DAY THE BOY RETURNED THE BOOKS TO THE Englishman. “Did you learn anything?”
the Englishman asked, eager to hear what it might be. He needed someone to talk
to so as to avoid thinking about the possibility of war.
“I
learned that the world has a soul, and that whoever understands that soul can
also understand the language of things. I learned that many alchemists realized
their Personal Legends, and wound up discovering the Soul of the World, the
Philosopher’s Stone, and the Elixir of Life.
“But,
above all, I learned that these things are all so simple that they could be
written on the surface of an emerald.”
The
Englishman was disappointed. The years of research, the magic symbols, the
strange words, and the laboratory equipment…none of this had made an impression
on the boy. His soul must be too primitive to understand those things, he
thought.
He
took back his books and packed them away again in their bags.
“Go
back to watching the caravan,” he said. “That didn’t teach me anything,
either.”
The
boy went back to contemplating the silence of the desert, and the sand raised
by the animals. “Everyone has his or her own way of learning things,” he said
to himself. “His way isn’t the same as mine, nor mine as his. But we’re both in
search of our Personal Legends, and I respect him for that.”
THE
CARAVAN BEGAN TO TRAVEL DAY AND NIGHT. THE hooded Bedouins reappeared more and
more frequently, and the camel driver—who had become a good friend of the
boy’s—explained that the war between the tribes had already begun. The caravan
would be very lucky to reach the oasis.
The
animals were exhausted, and the men talked among themselves less and less. The
silence was the worst aspect of the night, when the mere groan of a camel—which
before had been nothing but the groan of a camel—now frightened everyone,
because it might signal a raid.
The
camel driver, though, seemed not to be very concerned with the threat of war.
“I’m
alive,” he said to the boy, as they ate a bunch of dates one night, with no
fires and no moon. “When I’m eating, that’s all I think about. If I’m on the
march, I just concentrate on marching. If I have to fight, it will be just as
good a day to die as any other.
“Because
I don’t live in either my past or my future. I’m interested only in the
present. If you can concentrate always on the present, you’ll be a happy man.
You’ll see that there is life in the desert, that there are stars in the
heavens, and that tribesmen fight because they are part of the human race. Life
will be a party for you, a grand festival, because life is the moment we’re
living right now.”
Two
nights later, as he was getting ready to bed down, the boy looked for the star
they followed every night. He thought that the horizon was a bit lower than it
had been, because he seemed to see stars on the desert itself.
“It’s
the oasis,” said the camel driver.
“Well,
why don’t we go there right now?” the boy asked.
“Because
we have to sleep.”
THE
BOY AWOKE AS THE SUN ROSE. THERE, IN FRONT OF him, where the small stars had
been the night before, was an endless row of date palms, stretching across the
entire desert.
“We’ve
done it!” said the Englishman, who had also awakened early.
But
the boy was quiet. He was at home with the silence of the desert, and he was
content just to look at the trees. He still had a long way to go to reach the
Pyramids, and someday this morning would just be a memory. But this was the
present moment—the party the camel driver had mentioned—and he wanted to live
it as he did the lessons of his past and his dreams of the future. Although the
vision of the date palms would someday be just a memory, right now it signified
shade, water, and a refuge from the war. Yesterday, the camel’s groan signaled
danger, and now a row of date palms could herald a miracle.
The
world speaks many languages, the boy thought.
THE
TIMES RUSH PAST, AND SO DO THE CARAVANS, thought the alchemist, as he watched
the hundreds of people and animals arriving at the oasis. People were shouting
at the new arrivals, dust obscured the desert sun, and the children of the
oasis were bursting with excitement at the arrival of the strangers. The
alchemist saw the tribal chiefs greet the leader of the caravan, and converse
with him at length.
But
none of that mattered to the alchemist. He had already seen many people come
and go, and the desert remained as it was. He had seen kings and beggars
walking the desert sands. The dunes were changed constantly by the wind, yet
these were the same sands he had known since he was a child. He always enjoyed
seeing the happiness that the travelers experienced when, after weeks of yellow
sand and blue sky, they first saw the green of the date palms. Maybe God
created the desert so that man could appreciate the date trees, he thought.
He
decided to concentrate on more practical matters. He knew that in the caravan
there was a man to whom he was to teach some of his secrets. The omens had told
him so. He didn’t know the man yet, but his practiced eye would recognize him
when he appeared. He hoped that it would be someone as capable as his previous
apprentice.
I
don’t know why these things have to be transmitted by word of mouth, he
thought. It wasn’t exactly that they were secrets; God revealed his secrets
easily to all his creatures.
He
had only one explanation for this fact: things have to be transmitted this way
because they were made up from the pure life, and this kind of life cannot be
captured in pictures or words.
Because
people become fascinated with pictures and words, and wind up forgetting the
Language of the World.
THE
BOY COULDN’T BELIEVE WHAT HE WAS SEEING: THE oasis, rather than being just a
well surrounded by a few palm trees—as he had seen once in a geography book—was
much larger than many towns back in Spain. There were three hundred wells,
fifty thousand date trees, and innumerable colored tents spread among them.
“It
looks like A Thousand and One Nights,” said the Englishman, impatient to
meet with the alchemist.
They
were surrounded by children, curious to look at the animals and people that
were arriving. The men of the oasis wanted to know if they had seen any
fighting, and the women competed with one another for access to the cloth and
precious stones brought by the merchants. The silence of the desert was a
distant dream; the travelers in the caravan were talking incessantly, laughing
and shouting, as if they had emerged from the spiritual world and found
themselves once again in the world of people. They were relieved and happy.
They
had been taking careful precautions in the desert, but the camel driver
explained to the boy that oases were always considered to be neutral
territories, because the majority of the inhabitants were women and children.
There were oases throughout the desert, but the tribesmen fought in the desert,
leaving the oases as places of refuge.
With
some difficulty, the leader of the caravan brought all his people together and
gave them his instructions. The group was to remain there at the oasis until
the conflict between the tribes was over. Since they were visitors, they would
have to share living space with those who lived there, and would be given the
best accommodations. That was the law of hospitality. Then he asked that
everyone, including his own sentinels, hand over their arms to the men
appointed by the tribal chieftains.
“Those
are the rules of war,” the leader explained. “The oases may not shelter armies
or troops.”
To
the boy’s surprise, the Englishman took a chrome-plated revolver out of his bag
and gave it to the men who were collecting the arms.
“Why
a revolver?” he asked.
“It
helped me to trust in people,” the Englishman answered.
Meanwhile,
the boy thought about his treasure. The closer he got to the realization of his
dream, the more difficult things became. It seemed as if what the old king had
called “beginner’s luck” were no longer functioning. In his pursuit of the
dream, he was being constantly subjected to tests of his persistence and
courage. So he could not be hasty, nor impatient. If he pushed forward
impulsively, he would fail to see the signs and omens left by God along his
path.
God
placed them along my path. He had surprised himself with the thought. Until
then, he had considered the omens to be things of this world. Like eating or
sleeping, or like seeking love or finding a job. He had never thought of them
in terms of a language used by God to indicate what he should do.
“Don’t
be impatient,” he repeated to himself. “It’s like the camel driver said: ‘Eat
when it’s time to eat. And move along when it’s time to move along.’”
That
first day, everyone slept from exhaustion, including the Englishman. The boy
was assigned a place far from his friend, in a tent with five other young men
of about his age. They were people of the desert, and clamored to hear his
stories about the great cities.
The
boy told them about his life as a shepherd, and was about to tell them of his
experiences at the crystal shop when the Englishman came into the tent.
“I’ve
been looking for you all morning,” he said, as he led the boy outside. “I need
you to help me find out where the alchemist lives.”
First,
they tried to find him on their own. An alchemist would probably live in a
manner that was different from that of the rest of the people at the oasis, and
it was likely that in his tent an oven was continuously burning. They searched
everywhere, and found that the oasis was much larger than they could have
imagined; there were hundreds of tents.
“We’ve
wasted almost the entire day,” said the Englishman, sitting down with the boy
near one of the wells.
“Maybe
we’d better ask someone,” the boy suggested.
The
Englishman didn’t want to tell others about his reasons for being at the oasis,
and couldn’t make up his mind. But, finally, he agreed that the boy, who spoke
better Arabic than he, should do so. The boy approached a woman who had come to
the well to fill a goatskin with water.
“Good
afternoon, ma’am. I’m trying to find out where the alchemist lives here at the
oasis.”
The
woman said she had never heard of such a person, and hurried away. But before
she fled, she advised the boy that he had better not try to converse with women
who were dressed in black, because they were married women. He should respect
tradition.
The
Englishman was disappointed. It seemed he had made the long journey for
nothing. The boy was also saddened; his friend was in pursuit of his Personal
Legend. And, when someone was in such pursuit, the entire universe made an
effort to help him succeed—that’s what the old king had said. He couldn’t have
been wrong.
“I
had never heard of alchemists before,” the boy said. “Maybe no one here has,
either.”
The
Englishman’s eyes lit up. “That’s it! Maybe no one here knows what an alchemist
is! Find out who it is who cures the people’s illnesses!”
Several
women dressed in black came to the well for water, but the boy would speak to
none of them, despite the Englishman’s insistence. Then a man approached.
“Do
you know someone here who cures people’s illnesses?” the boy asked.
“Allah
cures our illnesses,” said the man, clearly frightened of the strangers.
“You’re looking for witch doctors.” He spoke some verses from the Koran, and
moved on.
Another
man appeared. He was older, and was carrying a small bucket. The boy repeated
his question.
“Why
do you want to find that sort of person?” the Arab asked.
“Because
my friend here has traveled for many months in order to meet with him,” the boy
said.
“If
such a man is here at the oasis, he must be the very powerful one,” said the
old man after thinking for a few moments. “Not even the tribal chieftains are
able to see him when they want to. Only when he consents.
“Wait
for the end of the war. Then leave with the caravan. Don’t try to enter into
the life of the oasis,” he said, and walked away.
But
the Englishman was exultant. They were on the right track.
Finally,
a young woman approached who was not dressed in black. She had a vessel on her
shoulder, and her head was covered by a veil, but her face was uncovered. The
boy approached her to ask about the alchemist.
At
that moment, it seemed to him that time stood still, and the Soul of the World
surged within him. When he looked into her dark eyes, and saw that her lips
were poised between a laugh and silence, he learned the most important part of
the language that all the world spoke—the language that everyone on earth was
capable of understanding in their heart. It was love. Something older than
humanity, more ancient than the desert. Something that exerted the same force
whenever two pairs of eyes met, as had theirs here at the well. She smiled, and
that was certainly an omen—the omen he had been awaiting, without even knowing
he was, for all his life. The omen he had sought to find with his sheep and in
his books, in the crystals and in the silence of the desert.
It
was the pure Language of the World. It required no explanation, just as the
universe needs none as it travels through endless time. What the boy felt at
that moment was that he was in the presence of the only woman in his life, and
that, with no need for words, she recognized the same thing. He was more
certain of it than of anything in the world. He had been told by his parents
and grandparents that he must fall in love and really know a person before
becoming committed. But maybe people who felt that way had never learned the
universal language. Because, when you know that language, it’s easy to
understand that someone in the world awaits you, whether it’s in the middle of
the desert or in some great city. And when two such people encounter each other,
and their eyes meet, the past and the future become unimportant. There is only
that moment, and the incredible certainty that everything under the sun has
been written by one hand only. It is the hand that evokes love, and creates a
twin soul for every person in the world. Without such love, one’s dreams would
have no meaning.
Maktub,
thought the boy.
The
Englishman shook the boy: “Come on, ask her!”
The
boy stepped closer to the girl, and when she smiled, he did the same.
“What’s
your name?” he asked.
“Fatima,”
the girl said, averting her eyes.
“That’s
what some women in my country are called.”
“It’s
the name of the Prophet’s daughter,” Fatima said. “The invaders carried the
name everywhere.” The beautiful girl spoke of the invaders with pride.
The
Englishman prodded him, and the boy asked her about the man who cured people’s
illnesses.
“That’s
the man who knows all the secrets of the world,” she said. “He communicates
with the genies of the desert.”
The
genies were the spirits of good and evil. And the girl pointed to the south,
indicating that it was there the strange man lived. Then she filled her vessel
with water and left.
The
Englishman vanished, too, gone to find the alchemist. And the boy sat there by
the well for a long time, remembering that one day in Tarifa the levanter had
brought to him the perfume of that woman, and realizing that he had loved her
before he even knew she existed. He knew that his love for her would enable him
to discover every treasure in the world.
The
next day, the boy returned to the well, hoping to see the girl. To his
surprise, the Englishman was there, looking out at the desert.
“I
waited all afternoon and evening,” he said. “He appeared with the first stars
of evening. I told him what I was seeking, and he asked me if I had ever
transformed lead into gold. I told him that was what I had come here to learn.
“He
told me I should try to do so. That’s all he said: ‘Go and try.’”
The
boy didn’t say anything. The poor Englishman had traveled all this way, only to
be told that he should repeat what he had already done so many times.
“So,
then try,” he said to the Englishman.
“That’s
what I’m going to do. I’m going to start now.”
As
the Englishman left, Fatima arrived and filled her vessel with water.
“I
came to tell you just one thing,” the boy said. “I want you to be my wife. I
love you.”
The
girl dropped the container, and the water spilled.
“I’m
going to wait here for you every day. I have crossed the desert in search of a
treasure that is somewhere near the Pyramids, and for me, the war seemed a
curse. But now it’s a blessing, because it brought me to you.”
“The
war is going to end someday,” the girl said.
The
boy looked around him at the date palms. He reminded himself that he had been a
shepherd, and that he could be a shepherd again. Fatima was more important than
his treasure.
“The
tribesmen are always in search of treasure,” the girl said, as if she had
guessed what he was thinking. “And the women of the desert are proud of their
tribesmen.”
She
refilled her vessel and left.
The
boy went to the well every day to meet with Fatima. He told her about his life
as a shepherd, about the king, and about the crystal shop. They became friends,
and except for the fifteen minutes he spent with her, each day seemed that it
would never pass. When he had been at the oasis for almost a month, the leader
of the caravan called a meeting of all of the people traveling with him.
“We
don’t know when the war will end, so we can’t continue our journey,” he said.
“The battles may last for a long time, perhaps even years. There are powerful
forces on both sides, and the war is important to both armies. It’s not a
battle of good against evil. It’s a war between forces that are fighting for
the balance of power, and, when that type of battle begins, it lasts longer
than others—because Allah is on both sides.”
The
people went back to where they were living, and the boy went to meet with
Fatima that afternoon. He told her about the morning’s meeting. “The day after
we met,” Fatima said, “you told me that you loved me. Then, you taught me
something of the universal language and the Soul of the World. Because of that,
I have become a part of you.”
The
boy listened to the sound of her voice, and thought it to be more beautiful
than the sound of the wind in the date palms.
“I
have been waiting for you here at this oasis for a long time. I have forgotten
about my past, about my traditions, and the way in which men of the desert
expect women to behave. Ever since I was a child, I have dreamed that the
desert would bring me a wonderful present. Now, my present has arrived, and
it’s you.”
The
boy wanted to take her hand. But Fatima’s hands held to the handles of her jug.
“You
have told me about your dreams, about the old king and your treasure. And
you’ve told me about omens. So now, I fear nothing, because it was those omens
that brought you to me. And I am a part of your dream, a part of your Personal
Legend, as you call it.
“That’s
why I want you to continue toward your goal. If you have to wait until the war
is over, then wait. But if you have to go before then, go on in pursuit of your
dream. The dunes are changed by the wind, but the desert never changes. That’s
the way it will be with our love for each other.
“Maktub,”
she said. “If I am really a part of your dream, you’ll come back one day.”
The
boy was sad as he left her that day. He thought of all the married shepherds he
had known. They had a difficult time convincing their wives that they had to go
off into distant fields. Love required them to stay with the people they loved.
He
told Fatima that, at their next meeting.
“The
desert takes our men from us, and they don’t always return,” she said. “We know
that, and we are used to it. Those who don’t return become a part of the
clouds, a part of the animals that hide in the ravines and of the water that
comes from the earth. They become a part of everything…they become the Soul of
the World.
“Some
do come back. And then the other women are happy because they believe that
their men may one day return, as well. I used to look at those women and envy
them their happiness. Now, I too will be one of the women who wait.
“I’m
a desert woman, and I’m proud of that. I want my husband to wander as free as
the wind that shapes the dunes. And, if I have to, I will accept the fact that
he has become a part of the clouds, and the animals, and the water of the
desert.”
The
boy went to look for the Englishman. He wanted to tell him about Fatima. He was
surprised when he saw that the Englishman had built himself a furnace outside
his tent. It was a strange furnace, fueled by firewood, with a transparent
flask heating on top. As the Englishman stared out at the desert, his eyes
seemed brighter than they had when he was reading his books.
“This
is the first phase of the job,” he said. “I have to separate out the sulfur. To
do that successfully, I must have no fear of failure. It was my fear of failure
that first kept me from attempting the Master Work. Now, I’m beginning what I
could have started ten years ago. But I’m happy at least that I didn’t wait
twenty years.”
He
continued to feed the fire, and the boy stayed on until the desert turned pink
in the setting sun. He felt the urge to go out into the desert, to see if its
silence held the answers to his questions.
He
wandered for a while, keeping the date palms of the oasis within sight. He
listened to the wind, and felt the stones beneath his feet. Here and there, he
found a shell, and realized that the desert, in remote times, had been a sea.
He sat on a stone, and allowed himself to become hypnotized by the horizon. He
tried to deal with the concept of love as distinct from possession, and
couldn’t separate them. But Fatima was a woman of the desert, and, if anything
could help him to understand, it was the desert.
As
he sat there thinking, he sensed movement above him. Looking up, he saw a pair
of hawks flying high in the sky.
He
watched the hawks as they drifted on the wind. Although their flight appeared
to have no pattern, it made a certain kind of sense to the boy. It was just
that he couldn’t grasp what it meant. He followed the movement of the birds,
trying to read something into it. Maybe these desert birds could explain to him
the meaning of love without ownership.
He
felt sleepy. In his heart, he wanted to remain awake, but he also wanted to
sleep. “I am learning the Language of the World, and everything in the world is
beginning to make sense to me…even the flight of the hawks,” he said to
himself. And, in that mood, he was grateful to be in love. When you are in
love, things make even more sense, he thought.
Suddenly,
one of the hawks made a flashing dive through the sky, attacking the other. As
it did so, a sudden, fleeting image came to the boy: an army, with its swords
at the ready, riding into the oasis. The vision vanished immediately, but it
had shaken him. He had heard people speak of mirages, and had already seen some
himself: they were desires that, because of their intensity, materialized over
the sands of the desert. But he certainly didn’t desire that an army invade the
oasis.
He
wanted to forget about the vision, and return to his meditation. He tried again
to concentrate on the pink shades of the desert, and its stones. But there was
something there in his heart that wouldn’t allow him to do so.
“Always
heed the omens,” the old king had said. The boy recalled what he had seen in
the vision, and sensed that it was actually going to occur.
He
rose, and made his way back toward the palm trees. Once again, he perceived the
many languages in the things about him: this time, the desert was safe, and it
was the oasis that had become dangerous.
The
camel driver was seated at the base of a palm tree, observing the sunset. He
saw the boy appear from the other side of the dunes.
“An
army is coming,” the boy said. “I had a vision.”
“The
desert fills men’s hearts with visions,” the camel driver answered.
But
the boy told him about the hawks: that he had been watching their flight and
had suddenly felt himself to have plunged to the Soul of the World.
The
camel driver understood what the boy was saying. He knew that any given thing
on the face of the earth could reveal the history of all things. One could open
a book to any page, or look at a person’s hand; one could turn a card, or watch
the flight of the birds…whatever the thing observed, one could find a
connection with his experience of the moment. Actually, it wasn’t that those
things, in themselves, revealed anything at all; it was just that people,
looking at what was occurring around them, could find a means of penetration to
the Soul of the World.
The
desert was full of men who earned their living based on the ease with which
they could penetrate to the Soul of the World. They were known as seers, and
they were held in fear by women and the elderly. Tribesmen were also wary of
consulting them, because it would be impossible to be effective in battle if
one knew that he was fated to die. The tribesmen preferred the taste of battle,
and the thrill of not knowing what the outcome would be; the future was already
written by Allah, and what he had written was always for the good of man. So
the tribesmen lived only for the present, because the present was full of
surprises, and they had to be aware of many things: Where was the enemy’s
sword? Where was his horse? What kind of blow should one deliver next in order
to remain alive? The camel driver was not a fighter, and he had consulted with
seers. Many of them had been right about what they said, while some had been
wrong. Then, one day, the oldest seer he had ever sought out (and the one most
to be feared) had asked why the camel driver was so interested in the future.
“Well…so
I can do things,” he had responded. “And so I can change those things that I
don’t want to happen.”
“But
then they wouldn’t be a part of your future,” the seer had said.
“Well,
maybe I just want to know the future so I can prepare myself for what’s
coming.”
“If
good things are coming, they will be a pleasant surprise,” said the seer. “If
bad things are, and you know in advance, you will suffer greatly before they
even occur.”
“I
want to know about the future because I’m a man,” the camel driver had said to
the seer. “And men always live their lives based on the future.”
The
seer was a specialist in the casting of twigs; he threw them on the ground, and
made interpretations based on how they fell. That day, he didn’t make a cast.
He wrapped the twigs in a piece of cloth and put them back in his bag.
“I
make my living forecasting the future for people,” he said. “I know the science
of the twigs, and I know how to use them to penetrate to the place where all is
written. There, I can read the past, discover what has already been forgotten,
and understand the omens that are here in the present.
“When
people consult me, it’s not that I’m reading the future; I am guessing at the
future. The future belongs to God, and it is only he who reveals it, under
extraordinary circumstances. How do I guess at the future? Based on the omens
of the present. The secret is here in the present. If you pay attention to the
present, you can improve upon it. And, if you improve on the present, what
comes later will also be better. Forget about the future, and live each day
according to the teachings, confident that God loves his children. Each day, in
itself, brings with it an eternity.”
The
camel driver had asked what the circumstances were under which God would allow
him to see the future.
“Only
when he, himself, reveals it. And God only rarely reveals the future. When he
does so, it is for only one reason: it’s a future that was written so as to be
altered.”
God
had shown the boy a part of the future, the camel driver thought. Why was it
that he wanted the boy to serve as his instrument?
“Go
and speak to the tribal chieftains,” said the camel driver. “Tell them about
the armies that are approaching.”
“They’ll
laugh at me.”
“They
are men of the desert, and the men of the desert are used to dealing with
omens.”
“Well,
then, they probably already know.”
“They’re
not concerned with that right now. They believe that if they have to know about
something Allah wants them to know, someone will tell them about it. It has
happened many times before. But, this time, the person is you.”
The
boy thought of Fatima. And he decided he would go to see the chiefs of the
tribes.
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét