Nhà giả kim (3 – Hết) - Paulo Coelho
2024-08-31
Nhà giả kim (3 – Hết)
Dịch giả: Lê Chu Cầu
Bản tiếng Anh: The Alchemist
Translated by Clifford E. Landers
PHẦN HAI (tiếp)
36🐫
“Tôi
đem điềm của sa mạc đến đây”, cậu nói với người đứng canh cửa một cái lều trắng
to tướng nằm chính giữa ốc đảo, “nên muốn thưa chuyện với các tộc trưởng”.
Người
gác không trả lời mà đi vào trong lều. Mãi sau hắn mới trở ra với một người Arập
trẻ khoác áo hai màu trắng vàng. Cậu kể cho người Arập trẻ điều mình đã thấy.
Anh ta yêu cầu cậu chờ rồi lại quay vào trong lều.
Trời
bắt đầu tối. Nhiều khách thương và dân ốc đảo vào ra cái lều ấy. Các đống lửa nối
nhau tắt và ốc đảo lại yên ắng như sa mạc. Chỉ chiếc lều trắng to này là còn
ánh đèn. Suốt thời gian đứng chờ cậu nghĩ đến Fatima và vẫn chưa hiểu rõ lắm những
điều cô nói lúc xế trưa.
Sau
hàng giờ chờ đợi, người canh bảo cậu vào lều. Cậu choáng ngợp trước những gì mắt
mình thấy. Làm sao có thể tưởng tượng nổi ngay giữa sa mạc lại có một cái lều
tráng lệ đến thế. Nền phủ thảm quí mà đôi chân cậu chưa từng được đặt chân lên,
trần treo loại đèn cắm nến bằng đồng thau trạm chổ. Phía trong lều, các tộc trưởng
ngồi thành vòng cung trên nệm lụa thêu rất công phu, tay cũng tì trên nệm thêu
như thế. Người hầu ra vào, kẻ bưng khay bạc đầy trà và những món thơm ngon, người
lo tiếp than cho các ống điếu đừng tắt. Một mùi thơm dễ chịu lan khắp lều.
Có
tất cả tám tộc trưởng, song cậu nhận ra ngay người quan trọng nhất: đó là ông
già Arập khoác áo trắng vàng ngồi giữa. Đứng cạnh ông là người Arập trẻ hồi nãy.
“Ai
là người lạ đã kể về điềm báo?” Một tộc trưởng nhìn cậu hỏi.
“Chính
tôi đây”, cậu đáp rồi thuật lại những gì đã thấy.
“Cớ
sao sa mạc lại báo cho một người lạ như cậu biết điều này, chứ không báo cho
chúng ta là những kẻ đã sống ở đây từ bao đời rồi?” Một tộc trưởng khác hỏi.
“Vì
mắt tôi còn lạ lẫm với sa mạc nên tôi còn nhận ra những điềm mà các đôi mắt quá
quen không thấy được nữa”, cậu đáp.
“Và
cũng vì tôi biết tâm linh vũ trụ”, cậu thầm nghĩ nhưng chỉ để bụng vì người Arập
hẳn không tin chuyện này.
“Ốc
đảo là vùng trung lập”, tộc trưởng thứ ba nói. “Sẽ không ai dám tấn công nó cả”.
“Tôi
chỉ thuật lại những gì mình thấy. Nếu các ông không muốn tin thì thôi”
Căn
lều lặng như tờ một lúc, rồi các tộc trưởng tranh luận sôi nổi. Họ nói một thứ
thổ ngữ Arập mà cậu không hiểu; nhưng khi cậu định ra khỏi lều thì bị người
canh giữ lại. Lúc này cậu bắt đầu sợ. Có gì đó không ổn rồi. Cậu ân hận đã nghe
lời người phu lạc đà.
Chợt
ông già ngồi giữa hơi hé miệng cười khiến cậu thấy yên tâm. Ông không tham gia
cuộc tranh luận của những người kia và đến lúc này cũng chưa nói tiếng nào. Còn
cậu, vì lúc này đã quen với thứ ngôn ngữ vũ trụ, nhận ra rằng từ ông toát ra một
vẻ an bình. Trực giác cho cậu thấy mình đến đây là đúng. Cuộc tranh luận chấm dứt,
ai nấy chăm chú lắng nghe phản ứng của ông già. Ông nhìn cậu; lúc này vẻ mặt
ông lạnh lùng và khó gần.
“Hai
nghìn năm trước ở một đất nước xa xôi có một chàng trai bị ném xuống giếng rồi
bị bán làm nô lệ, vì hắn tin vào giấc mộng”, ông già nói. “Các khách thương nước
ta đã mua rồi đem hắn đến Ai Cập. Mỗi người trong chúng ta đều biết ai tin vào
giấc mộng thì cũng có thể giải mộng được”.
“Không
phải lúc nào cũng giải được đâu”, cậu liên tưởng đến bà già Zigeuner.
“Vì
Pharao mơ thấy bò gầy và bò mập mà hắn lại giải được giấc mơ ấy nên đã cứu dân
Ai Cập thoát khỏi nạn đói. Tên hắn là Josef. Hắn cũng ở trên một đất nước lạ,
giống như cậu vậy và lúc ấy có lẽ cũng trạc tuổi cậu”.
Ông
ngừng nói, đôi mắt vẫn lạnh lùng.
“Chúng
ta luôn sống theo truyền thống. Thuở đó truyền thống đã cứu dân Ai Cập khỏi nạn
đói và khiến họ trở thành dân tộc giàu có nhất thế gian. Truyền thống dạy đàn
ông chúng ta cách vượt sa mạc và tổ chức hôn lễ cho con cái như thế nào. Truyền
thống cũng dạy rằng ốc đảo là nơi trung lập, vì phe nào cũng có ốc đảo và chúng
không được ai che chở cả”.
Trong
khi ông nói thì không ai xen một lời nào.
“Nhưng
truyền thống cũng dạy chúng ta phải tin vào thông điệp của sa mạc. Mọi điều
chúng ta biết đều là do học được từ sa mạc cả”.
Ông
ra hiệu và mọi người đứng cả dậy. Buổi họp chấm dứt. Các ống điếu Nargileh được
dụi tắt và đám người canh đứng vào vị trí.
Cậu
dợm đi ra thì ông già nói: “Sáng mai chúng ta sẽ phạm vào lời thề rằng trong ốc
đảo không ai được mang vũ khí. Suốt ngày mai chúng ta sẽ chờ đón quân địch. Khi
mặt trời lặn thì mọi người nộp khí giới lại cho ta. Cứ mười kẻ địch bị giết thì
cậu được thưởng một đồng tiền vàng.
Tuy
nhiên, vũ khí không được phép đem ra từ nơi cất giấu mà không được sử dụng.
Chúng đồng bóng chẳng khác sa mạc, nếu đem ra mà không dùng đến thì lần sau có
thể chúng sẽ không chịu để ta sử dụng nữa đâu. Do đó, nếu ngày mai không cần tới
chúng thì ít nhất cũng phải có một cái dành cho cậu đó”.
37🐫
Khi
cậu ra khỏi lều họp thì ốc đảo chỉ còn ánh trăng soi sáng. cậu đi thêm hai mươi
phút nữa mới về tới lều của mình. Những chuyện xảy ra mới đây khiến cậu hoảng sợ.
Cậu đã nhập vào tâm linh vũ trụ và có thể sẽ phải trả giá bằng mạng sống của
mình. Ván bài đắt quá. Nhưng từ ngày bán đi bầy cừu để theo đuổi chính vận mệnh
mình lúc nào cậu cũng đánh cuộc với giá cao. Người phu lạc đà đã nói sao nhỉ:
chết vào ngày mai thì cũng chẳng khác chết vào bất cứ một ngày nào khác. Mỗi
ngày là để ta sống hoặc để từ giã cõi đời. Mọi sự tùy vào một chữ thôi: “Maktub”.
Cậu
bình thản đi, lòng không ân hận gì. Nếu ngày mai cậu chết thì cũng chính bởi vì
Thượng đế không thích thay đổi tương lai. Dù cậu có chết thì cũng là chết sau
khi đã vượt eo biển, để làm việc trong cửa hàng pha lê, đã được biết sự yên ắng
của sa mạc và đôi mắt Fatima. Đã từ lâu, từ khi rời nhà đi, mỗi một ngày cậu đều
đã sống hết mình. Nếu ngày mai có chết thì mắt cậu đã được thấy rất nhiều, hơn
hẳn những người chăn cừu khác và cậu rất hãnh diện về điều này.
Chợt
có tiếng vó ngựa và cậu bị một làn gió cực mạnh hất ngã xuống đất. Quanh cậu bụi
tung mù mịt, che khuất cả mặt trăng. Trước mặt cậu một con ngựa khổng lồ cất
cao hai vó trước, hí vang khiếp đảm. Khi đã bớt bụi thì hình ảnh cậu nhìn thấy
khiến cậu sợ choáng người, chưa bao giờ sợ đến thế: một kị sĩ mặt toàn đen ngồi
trên mình ngựa, một con chim ưng đậu trên vai trái. Người ấy đội khăn xếp, che
kín mặt chỉ hở hai mắt, giống như những “sứ giả của sa mạc” nhưng oai phong hơn
nhiều.
Người
kị sĩ đầy bí mật kia rút từ yên ngựa một thanh kiếm cong; thép lấp lánh dưới
ánh trăng.
“Kẻ
nào đã cả gan giải đoán đường bay của chim bồ cắt?” Tiếng người ấy như sấm dậy,
vang vọng giữa năm vạn gốc chà là của ốc đảo El Fayum.
“Tôi
đấy”, cậu đáp và liên tưởng tới tượng thánh Santiago de Compostela trên mình ngựa
phóng qua đầu lũ ngoại đạo. Khác chăng là giờ đây kẻ ngoại đạo kia như tượng
thánh trên mình ngựa, còn cậu nằm lăn dưới đất.
“Tôi
đấy”, cậu đáp rồi cúi đầu để tránh nhát kiếm. “Nhiều mạng người sẽ được tâm
linh vũ trụ cứu thoát; đó là điều mà ông đã không ngờ tới”.
Nhưng
lưỡi kiếm không chém xả xuống cậu mà cánh tay người lạ chỉ hạ xuống từ từ cho đến
khi mũi kiếm chạm vào trán cậu. Kiếm sắc làm trán cậu rỉ máu.
Người
kị sĩ bất động. Cậu cũng bất động. Cậu không nghĩ đến chạy trốn mà thấy trong
lòng rạo rực một niềm vui kì lạ: mình sẽ chết vì đã quyết tâm theo vận mệnh của
mình. Và vì Fatima. Thế có nghĩa là các điềm báo không sai. Hiện cậu đối mặt với
kẻ thù và chẳng việc gì phải bận tâm về cái chết vì tâm linh vũ trụ đang chờ
đón mình. Cậu sẽ nhanh chóng trở thành một phần của linh hồn ấy. Và ngày mai kẻ
thù kia cũng sẽ thành một phần của nó nốt.
Người
lạ vẫn dí kiếm trên trán cậu.
“Tại
sao mi lại giải đoán đường bay của chim?”
“Tôi
chỉ đọc những gì chim muốn báo thôi. Chim muốn cứu ốc đảo còn các người sẽ phải
chết. Ốc đảo đông hơn lũ các người”.
Mũi
kiếm vẫn không rời trán cậu.
“Mi
là ai mà táo gan muốn thay đổi số phận đã được Allah quyết định?”
“Allah
tạo dựng các đạo quân cũng như người sinh ra lũ chim kia. Người đã dạy tôi ngôn
ngữ của loài chim. Mọi điều đều do một bàn tay viết nên cả”, cậu nói, dùng từ
ngữ của người phu lạc đà.
Người
lạ thu kiếm về. Cậu thấy nhẹ cả người nhưng vẫn không có ý bỏ chạy.
“Đừng
có đoán mò”, người lạ nói. “Điều gì đã được bàn tay nọ ghi sẵn rồi thì không cản
được đâu”.
“Tôi
chỉ trông thấy một đạo quân chứ không biết được trận đánh kết thúc thế nào”, cậu
đáp
Người
lạ có vẻ hài lòng với câu trả lời, song vẫn lăm lăm thanh kiếm trong tay.
“Một
người lạ như mi đến xứ lạ này để làm gì?”
“Tôi
đi theo vận mệnh của mình. Nhưng ông không thể hiểu được đâu”.
Người
kị sĩ tra kiếm vào vỏ; con chim ưng trên vai ông ta bỗng kêu lên nghe rất lạ. Cậu
thấy bớt căng thẳng.
“Ta
muốn thử lòng can đảm của cậu đó thôi”, người lạ nói. “Vì can đảm là điều thiết
yếu để hiểu được ngôn ngữ vũ trụ”.
Cậu
ngạc nhiên. Người lạ này nói về những điều mà rất ít người biết.
“Không
được phép sao nhãng, dù đã tiến rất xa”, ông ta nói tiếp. “Phải yêu quí sa mạc,
nhưng không bao giờ được tin nó tuyệt đối, vì sa mạc luôn thử thách con người:
nó sẽ giết những kẻ nào lơ là, không cân nhắc từng bước đi một”. Những điều ông
ta nói khiến cậu liên tưởng đến vị vua già.
“Nếu
đạo quân ấy đến đây thật và khi mặt trời lặn mà đầu cậu vẫn chưa rụng thì hãy
tìm ta”, người lạ nói.
Bàn
tay mới đây vung kiếm giờ vung một cái roi. Con ngựa bạch lại tung hai vó trước
làm cát bụi bay mù.
“Ông
ở chỗ nào?” Cậu gọi với theo khi kị sĩ phóng ngựa đi.
Bàn
tay cầm roi chỉ về hướng Nam. Thế là cậu đã gặp nhà luyện kim đan.
39🐫
Khi
mặt trời lặn và sao trời vừa ló dạng – không tỏ vì hôm ấy trăng tròn - cậu đi về
hướng Nam. Ở đó chỉ một cái lều duy nhất và những người Arập đi ngang đều bảo cậu
rằng chỗ này chỉ toàn là Dschinn - quỉ thần – thôi. Những cậy vẫn ngồi đợi trên
một tảng đá. Mãi khi mặt trăng đã lên cao nhà luyện kim đan mới xuất hiện. Ông
đeo lủng lẳng trên vai hai con chim bồ cắt đã chết.
“Cháu
ở đây này”, cậu lên tiếng.
“Cậu
không nên ở lại ốc đảo này”, nhà luyện kim đan nói. “Hay là vận mệnh cậu đã xui
khiến cậu tối đây?”
“Vì
có đánh nhau giữa các bộ tộc, thành ra cháu không thể đi tiếp qua sa mạc đuợc”.
Nhà
luyện kim đan xuống ngựa, ra hiệu cho cậu theo ông vào trong lều. Nó giống mọi
lều khác ở ốc đảo, không kể lều của các tộc trưởng sang trọng như trong truyền
thần thoại. Cậu đưa mắt tìm lò luyện, bình và nồi nấu nhưng không thấy gì cả.
Chỉ có sách xếp chồng lên nhau, một cái bếp và những tấm thảm đầy hình vẽ kì
quái.
“Ngồi
đây, ta đi nấu trà”, nhà luyện kim đan nói. “Rồi mình thưởng thức thịt chim bồ
cắt”.
Cậu
ngờ ngợ rằng đó là hai con chim mình thấy hôm qua nhưng không nói gì. Nhà luyện
kim đan nhóm lửa, rồi chỉ một lúc sau căn lều nức mùi thịt chiên. Dễ chịu hơn
mùi thơm của ống điếu nhiều.
“Vì
lí do gì ông muốn gặp cháu?” Cậu hỏi
“Vì
điềm báo. Gió đã báo cho ta là cậu tới đây, và cậu cần được giúp đỡ”.
“Không
phải cháu đâu mà là anh chàng người Anh cơ. Anh ta đã tìm ông mãi”.
“Hắn
còn phải làm cho xong một số điều khác, trước khi gặp được ta. Nhưng hắn đã đi
đúng hướng rồi đấy. Hắn đã bắt đầu tìm hiểu sa mạc”.
“Thế
còn cháu?”
“Khi
người nào muốn điều gì thì cả vũ trụ sẽ chung sức lại để người ấy đạt được điều
mơ ước”, nhà luyện kim đan nói.
Ông
lập lại những lời của nhà vua già. Cậu hiểu ngay. Lại thêm một nguời đón gặp và
dẫn mình đến gần với vận mệnh của mình.
“Ông
sẽ chỉ dạy cháu chứ?”
“Không.
Vì cậu đã biết hết những gì cần biết. Ta sẽ chỉ cho cậu phương hướng của kho
tàng thôi”.
“Nhưng
mà đang có đánh nhau”, cậu nhắc lại
“Ta
biết chuyện gì đang xảy ra trên sa mạc”.
“Cháu
đã tìm thấy kho báu rồi vì hiện cháu có một con lạc đà, cộng thêm số tiền từ hồi
làm ở hiệu pha lê và năm mươi đồng tiền vàng. Cháu sẽ là một người có của ở đất
nước mình”.
“Nhưng
chẳng thứ nào ở Kim Tự Tháp cả”.
“Cháu
có Fatima. Nàng là kho báu quí nhất của cháu”.
“Nhưng
cô bé ấy cũng có ở Kim Tự Tháp đâu”.
Hai
người ăn thịt chim trong lặng lẽ. Nhà luyện kim đan mở một cái chai rồi rót một
chất lỏng màu đỏ vào li của cậu. Rượu vang! Và là thứ rượu tuyệt nhất của cậu từng
uống.
“Đạo
cấm uống rượu mà!”
“Những
thứ vào miệng con người không độc hại, xấu xa”, nhà luyện kim đan đáp. “Xấu xa
độc hại là những gì từ miệng họ tuôn ra. “
Rượu
làm cậu hưng phấn nhưng nhà luyện kim đan khiến cậu băn khoăn. Họ ngồi trước lều
ngắm trăng. Trăng sáng làm ánh sao nhạt dần.
“Uống
nữa đi”, nhà luyện kim đan nói khi thấy cậu vui vẻ hẳn lên. “Rồi hãy ngủ yên tối
nay, như một chiến binh trước ngày ra trận. Đừng quên rằng trái tim cậu ở đâu
thì kho báu cũng ở đó; cũng như phải tìm cho ra kho tàng thì những gì cậu học
được trên đường mới thật có ý nghĩa. Ngày mai cậu hãy bán lạc đà đi, mua một
con ngựa. Lạc đà khó lường lắm: chúng đi cả nghìn bước chẳng có dấu hiệu mệt mỏi
nào cả, nhưng thình lình khuỵu xuống rồi chết đứ đừ. Ngựa thì mệt từ từ, thành
ra người ta luôn luôn lường trước được có thể thúc ép chúng tới mức nào và chừng
nào chúng sẽ chết”.
38🐫
Sáng
hôm sau có 2.000 người trang bị vũ khí tản ra trong rừng chà là ở El-Fayum. Trước
khi mặt trời đứng bóng, 500 địch quân xuất hiện ở chân trời. Chúng tiến vào ốc
đảo từ hướng Bắc, vũ khí giấu dưới áo khoác trắng, trông chẳng khác một đoàn
thám hiểm vô hại. Khi đã tới gần căn lều trắng lớn ở trung tâm El-Fayum chúng mới
tấn công bằng gươm cong và súng. Nhưng lều trống trơ.
Người
dân ốc đảo bao vây đạo quân này và chỉ trong nửa giờ 499 cái xác nằm la liệt.
Trẻ con đã được tập trung đưa về cuối rừng chà là nên chúng không trông thấy gì
hết. Các bà các cô ở trong lều cầu nguyện cho chồng con mình nên cũng chẳng
nhìn thấy gì luôn. Nếu không có những cái xác nằm la liệt kia thì thật chẳng
khác một ngày bình thường nào.
Chỉ
có một tên chưa bị giết, đó là viên chỉ huy đạo binh kia. Xế trưa, hắn bị điệu
ra trước các tộc trưởng. Họ hỏi tại sao hắn lại vi phạm truyền thống. Viên chỉ
huy trả lời rằng người của hắn bị đói khát và kiệt sức sau nhiều ngày giao
tranh, nên chúng muốn chiếm ốc đảo để có thể tiếp tục cuộc chiến.
Vị
tộc trưởng nói rằng các chiến binh bị giết là điều đáng tiếc nhưng không ai được
phép vi phạm truyền thống. Trong sa mạc chỉ có các đồi cát là được phép thay đổi
mỗi khi trời trở gió.
Rồi
viên chỉ huy bị kết án tử hình và phải chịu một cái chết nhục nhã: hắn không được
hưởng ân huệ xử bắn hay chém đầu mà bị treo cổ dưới một gốc cây chà là đã chết.
Xác hắn đung đưa trong gió.
Tù
trưởng ốc đảo cho gọi cậu đến và ban thưởng năm mươi đồng tiền vàng. Ông nhắc lại
câu chuyện về Josef ở Ai Cập và yêu cầu cậu ở lại ốc đảo làm cố vấn.
39🐫
Chiều
tối hôm sao cậu đi ngựa đến lều của nhà luyện kim đan. Cậu đợi một lúc thì ông
cũng vừa xong để đi; con chim ưng đậu trên vai trái.
“Hãy
chỉ cho ta sự sống trên sa mạc”, nhà luyện kim đan nói, “chỉ những ai tìm được
sự sống thì mới có thể tìm thấy kho tàng”.
Họ
cưỡi ngựa qua những đồi cát loáng ánh trăng.
“Không
biết mình có tìm ra sự sống không, vì nói cho đúng thì mình đâu đã rành sa mạc”,
cậu nghĩ.
Cậu
muốn quay sang nói với ông như thế nhưng lại ngại. Lát sau họ tới chỗ tảng đá
mà hôm trước cậu đã trông thấy hai con chim bồ cắt, nhưng giờ đây chỉ có gió và
tĩnh lặng
“Cháu
không biết cách tìm sự sống trên sa mạc”, cậu nói, “tất nhiên cháu biết là có sự
sống nhưng không biết tìm ở đâu”.
“Sự
sống lôi cuốn sự sống”, nhà luyện kim đan gợi ý.
Và
thế là cậu hiểu. Cậu thả lỏng ngay cương ngựa, để nó tự đi qua các tảng đá. Nhà
luyện kim đan im lặng đi theo. Con ngựa của nhà cậu chạy lòng vòng gần nửa tiếng.
Họ không còn nhìn thấy rừng chà là nữa, chỉ còn mặt trăng to tướng trên bầu trời
và những tảng đá lấp lánh ánh trăng bạc. Chợt cậu thấy con ngựa đứng lại ở một
nơi mình chưa hề tới bao giờ.
“Chỗ
này có sự sống”, cậu nói với nhà luyện kim đan.
“Tuy
cháu không biết ngôn ngữ của sa mạc nhưng con ngựa của cháu biết ngôn ngữ của sự
sống”.
Họ
xuống ngựa. Nhà luyện kim đan vẫn không nói gì. Ông vừa từ từ đi tới vừa quan
sát các tảng đá. Chợt ông dừng lại, thận trọng cúi xuống. Một cái hốc nằm giữa
các tảng đá. Ông thò tay vào, mới đầu chỉ là bàn tay sau cả cánh tay, tới tận
vai. Có gì đó động đậy trong hốc và đôi mắt ông - cậu chỉ thấy được đôi mắt do
chúng không bị khăn che – nheo lại vì cố gắng và căng thẳng, như thể ông đang
giằng co với một vật gì đó trong hốc. Rồi ông rút tay ra thật nhanh khiến cậu
giật mình. Ông đứng dậy, tay nắm chặt đuôi một con rắn. Cậu vội nhảy lùi lại.
Con rắn không ngừng ngọ nguậy, thở phì phì làm tan sự yên ắng của sa mạc. Đó là
một con rắn hổ, nọc của nó giết chết người chỉ trong vài phút.
“Coi
chừng nọc độc”, cậu nói.
Có
vẻ như ông đã bị rắn cắn nhưng vẫn tỏ ra bình thản.
“Nhà
luyện kim đan đã hai trăm tuổi rồi”, chàng người Anh đã nói thế. Vậy thì ông hẳn
phải biết làm gì với rắn trong sa mạc”. Cậu nhìn ông đi lại chỗ con ngựa, rút
thanh kiếm cong hình bán nguyệt vạch một vòng tròn trên sa mạc rồi thả con rắn
vào giữa. Con vật tức thì nằm yên.
“Đừng
sợ, nó không ra được đâu. Cậu đã tìm ra sự sống trong sa mạc, đó là cái điềm ta
cần”.
“Điều
ấy có gì là quan trọng?”
“Vì
Kim Tự Tháp nằm giữa sa mạc”.
Cậu
không muốn nghe gì về Kim Tự Tháp cả. Ngay từ tối hôm trước tâm hồn cậu đã nặng
trĩu vì buồn. Đi tìm kho báu nghĩa là rời xa Fatima. “Ta sẽ đi cùng với cậu qua
sa mạc”, nhà luyện kim đan nói.
“Nhưng
cháu lại muốn ở lại ốc đảo”, cậu đáp. “Cháu đã gặp Fatima và với cháu thì cô
còn quí hơn cả kho báu”.
“Fatima
là một cô gái sa mạc”, nhà luyện kim đan nói. “Cô biết rằng đàn ông phải đi thì
mới có thể trở về. Cô đã tìm thấy kho báu của mình: đó chính là cậu. Bây giờ cô
chờ đợi rằng cậu cũng sẽ tìm được kho tàng của cậu”.
“Nếu
cháu quyết định ở lại thì sao?”
“Thì
cậu sẽ trở thành cố vấn của ốc đảo. Cậu có đủ vàng để tậu nhiều cừu và lạc đà.
Cậu sẽ cưới Fatima và năm đầu hai người sẽ rất hạnh phúc. Cậu sẽ tập yêu thích
sa mạc và từng cây một của cả năm vạn cây chà là. Cậu sẽ nhìn thấy chúng lớn
lên, qua đó thấy một thế giới không ngừng biến dịch, và cậu sẽ càng ngày càng
hiểu rõ ngôn ngữ của điềm, của dấu hiệu hơn vì sa mạc là người thầy giỏi nhất.
Năm
thứ hai cậu sẽ nhớ lại rằng ở đâu đó có một kho báu. Các điềm sẽ không ngừng nhắc
tới và cậu sẽ cố lờ đi. Cậu chỉ đem hiểu biết của mình phục vụ ốc đảo và cư dân
ở đấy. Các tộc trưởng sẽ biết ơn cậu. Bầy lạc đà của cậu sẽ đem lại cho cậu sự
giàu có và quyền lực.
Năm
thứ ba các điềm sẽ lại tiếp tục nhắc nhở cậu đem về kho tàng và vận mệnh của cậu.
Và đêm đêm cậu sẽ lang thang trong sa mạc, khiến Fatima buồn khổ vì cho rằng
chính cô đã cản bước chân cậu. Nhưng cậu yêu cô và cô đáp lại tình yêu đó. Cậu
sẽ nhớ lại rằng cô không hề yêu cầu cậu ở lại ốc đảo, vì một người con gái sa mạc
như cô biết mình phải chờ đợi chồng trở về. Vì thế mà cậu sẽ không trách cứ cô.
Nhưng nhiều đêm cậu sẽ lang thang giữa các hàng cây chà là, nghĩ giá như hồi đó
mình đi tiếp và vững tin hơn vào tình yêu của Fatima. Chính sự lo lắng của cậu
rằng sẽ không bao giờ trở về được đã giữ chân cậu lại ốc đảo này. Và điềm sẽ
báo cho cậu biết rằng kho tàng của cậu từ nay sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn.
Năm
thứ tư, vì cậu cứ lờ đi, các điềm sẽ không xuất hiện lại với cậu nữa. Các tộc
trưởng sẽ nhận thấy thế và sẽ không dùng cậu làm cố vấn nữa. Khi đó thì cậu sẽ
là một thương nhân giàu có với nhiều lạc đà và hàng hóa. Nhưng cho đến cuối đời
cậu sẽ mãi lang thang trên sa mạc, luôn quẩn quanh các gốc chà là, vì biết rõ rằng
mình đã không đi theo vận mệnh và giờ thì mọi sự đã quá trễ.
Cậu
phải hiểu rằng tình yêu không bao giờ ngăn cản ai theo đuổi vận mệnh của mình cả.
Nếu để cho chuyện ấy xảy ra thì đó không phải là tình yêu đúng nghĩa, tình yêu
của ngôn ngữ vũ trụ.”
Nhà
luyện kim đan xóa vòng tròn vạch trên cách hồi nãy; thế là con rắn vội vàng
chui tọt và giữa các tảng đá. Cậu nghĩ tới người bán hàng pha lê mơ được hành
hương đến Mekka, đến chàng người Anh khổ công tìm một nhà luyện kim đan. Cậu
cũng nghĩ tới người con gái với lòng tin mãnh liệt vào sa mạc và quả nhiên một
ngày nọ sa mạc đã đem đến cho cô một người trai biết yêu cô.
Họ
lên ngựa; lần này cậu chạy theo sau nhà luyện kim đan. Gió đưa đến những âm
thanh của ốc đảo và cậu lắng tìm giọng nói của Fatima.
Vì
có đánh nhau nên ngày hôm ấy cậu đã không ra giếng. Để rồi tối nay, lúc quan
sát con rắn nằm yên trong cái vòng tròn nọ, người kị sĩ lạ lùng mang con chim
ưng trên vai đã nói về tình yêu và kho báu, về người đàn bà sa mạc và về vận mệnh
của cậu.
“Cháu
sẽ đi cùng với ông”, cậu nói và liền thấy lòng thanh thản.
“Sáng
mai mình sẽ lên đường trước khi mặt trời mọc”, ông chỉ nói có thế.
41🐫
Suốt
đêm cậu không ngủ được. Hai giờ trước khi mặt trời mọc cậu đánh thức một anh
chàng ngủ trong lều, yêu cầu anh ta chỉ cho cậu chỗ ở của Fatima. Hai người
cùng đi đến lều của cô. Để trả ơn, cậu cho anh chàng tiền đủ mua một con cừu.
Rồi
cậu nhờ anh chàng vào đánh thức cô, nói rằng cậu chờ ở ngoài. Anh chàng Arập
đáp ứng lời yêu cầu và được trả thêm tiền cho một con cừu nữa.
“Bây
giờ bạn đi được rồi, để chúng tôi nói chuyện riêng”, cậu nói.
Anh
chàng Arập quay về lều ngủ tiếp, lấy làm hãnh diện đã giúp được cho cố vấn của ốc
đảo và sung sướng vì được tiền mua cừu.
Fatima
ra khỏi lều. Hai người đi giữa những hàng cây chà là. Cậu biết như thế này là
phạm vào phong tục ốc đảo nhưng lúc này cậu chẳng quan tâm nữa.
“Anh
sắp lên đường”, cậu nói. “Anh muốn em biết rằng anh sẽ trở lại. Anh yêu em, vì
…”
“Anh
đừng nói thêm nữa”, Fatima ngắt lời. “Người ta yêu vì yêu. Cần gì phải có lí do”.
Nhưng
cậu vẫn nói tiếp: “Anh đã có một giấc mơ, sau đó anh gặp được một vị vua già, rồi
anh bán hàng pha lê và vượt sa mạc. Các bộ lạc đánh nhau nên anh mới đến giếng
nước để hỏi về một nhà luyện kim đan. Anh yêu em vì cả vũ trụ đã góp sức để anh
đến tận đây và gặp được em”.
Họ
ôm nhau. Đó là lần đầu tiên.
“Nhất
định anh sẽ trở về”, cậu lặp lại.
“Trước
đây em luôn nhìn sa mạc mà lòng mong ngóng. Giờ đây em sẽ vẫn ngắm nhìn sa mạc
mà lòng đầy hi vọng. Một ngày nọ bố em đã ra đi nhưng rồi ông đã trở về với mẹ
em, và từ đó bao giờ ông cũng trở về”.
Rồi
hai người không nói gì nữa. Họ đi dưới những gốc chà là thêm một lúc nữa rồi cậu
đưa cô về lại lều.
“Anh
sẽ trở về, y như bố em luôn trở về với mẹ em vậy”.
Cậu
thấy mắt Fatima ứa lệ.
“Em
khóc kìa”.
“Em
sinh ra ở sa mạc”, cô che mặt đáp, “nhưng em cũng là đàn bà chứ”.
Fatima
biến vào trong lều. Mặt trời rồi sẽ mọc và khi một ngày mới bắt đầu cô sẽ làm
những việc cô vẫn làm từ nhiều năm nay. Tuy vật tất cả đã thay đổi rồi. Cậu sẽ
không có mặt ở ốc đảo và ốc đảo cũng không còn giống như vài ngày trước. Nó hết
là nơi có năm vạn cây chà là và ba trăm giếng chào đón những kẻ hành hương sau
một chuyến viễn du. Với cô, từ nay ốc đảo sẽ trở thành hiu quạnh.
Từ
nay sa mạc sẽ trở thành quan trọng hơn ốc đảo. Cô sẽ ngắm nhìn nó và đoán xem cậu
đi theo ngôi sao nào trên đường tìm kho báu. Cô sẽ gửi những nụ hôn của mình
cho gió, hi vọng rằng nó sẽ mơn man gương mặt cậu và kể cậu nghe rằng cô vẫn sống,
vẫn chờ cậu như một người đàn bà chờ người chồng can đảm ra đi tìm kiếm kho
tàng. Từ hôm nay sa mạc sẽ chỉ mang một ý nghĩa: hi vọng cậu sẽ trở về.
42🐫
“Đừng
nghĩ tới những gì đã bỏ lại phía sau”, nhà luyện kim đan nói khi họ cưỡi ngựa
đi trên sa mạc. “Mọi sự đã được ghi khắc vào tâm linh vũ trụ và sẽ tồn tại vĩnh
viễn”.
“Con
người mơ được trở về hơn là ra đi”, cậu nói và đã thấy quen lại với sự yên ắng
của sa mạc.
“Nếu
những gì ta tìm thấy là thật, là vàng ròng thì chúng sẽ không bao giờ hư hao và
bất cứ lúc nào ta quay về thì chúng vẫn còn nguyên vẹn đó; còn nếu chúng chỉ là
thoáng qua như ánh sao băng thì khi trở về ta sẽ chẳng tìm thấy gì nữa cả.
Nhưng dẫu sao cậu cũng đã sống được cái phút thoáng qua ấy và bấy nhiêu đã là
quí rồi”.
Ông
dùng thuật ngữ của giới giả kim nhưng cậu hiểu ông muốn ám chỉ Fatima.
Song
không nghĩ đến những gì cậu đã bỏ lại phía sau thì thật là khó. Cảnh vật đơn điệu
của sa mạc khiến cậu nghĩ vẩn vơ. Cậu như thể vẫn còn thấy trước mắt rừng chà
là, giếng nươc và khuôn mặt người con gái mình yêu, anh chàng người Anh bên lò
thí nghiệm và người phu lạc đà với những tư tưởng cao siêu bậc thầy mà không tự
biết.
“Có
thể nhà luyện kim đan chưa từng yêu bao giờ”, cậu nghĩ.
Ông
cưỡi ngựa chạy phía trước, con chim ưng đậu trên vai. Con chim hiểu rõ ngôn ngữ
của sa mạc nên mỗi khi họ dừng chân thì nó đều bay đi tìm mồi để săn. Ngày đầu
nó tha về một con thỏ, hôm sau hai con chim.
Đêm
đến họ chỉ trùm chăn chứ không đốt lửa. Đêm sa mạc lạnh và trăng càng khuyết
thì càng tối. Suốt một tuần lễ liền họ ít trò chuyện, chỉ trao đổi về những
cách phòng xa cần thiết để tránh lạc vào trận địa giữa các bộ tộc. Cuộc xung đột
vẫn còn tiếp diễn; hẳn là cách chỗ họ không xa vì thỉnh thoảng gió tanh mùi
máu. Và gió nhắc nhở cậu nhớ đến ngôn ngữ của dấu hiệu, luôn luôn chỉ ra cho cậu
những gì mắt cậu không thấy được.
Vào
ngày thứ bảy, nhà luyện kim đan quyết định dừng lại nghỉ sớm hơn thường lệ. Con
chim ưng lại bay đi săn; ông đưa bình nước mời cậu.
“Cậu
sắp đến đích rồi đó”, nhà luyện kim đan nói. “Tôi chúc mừng cậu đã đi theo con
đường tiền định của mình”.
“Trên
đường đi ông chẳng chỉ bảo cháu điều gì cả. Cháu cứ nghĩ rằng ông sẽ dạy cho
cháu những điều ông biết. Cách đây không lâu cháu cùng đi trên sa mạc với một
người có nhiều sách về thuật luyện kim đan, nhưng cháu chẳng học được gì từ những
quyển sách ấy”.
“Chỉ
có một cách học thôi”, nhà luyện kim đan đáp. “Đó là thông qua hành động. Tất cả
những gì cần biết cậu đã học được trên đường đi rồi. Nhưng còn thiếu một điều”.
Cậu
muốn biết đó là điều gì nhưng ông mãi nhìn đăm đăm về phía chân trời, tìm bóng
dáng con chim ưng.
“Tại
sao người ta gọi ông là nhà luyện kim đan?”
“Vì
đó là nghề của ta”
“Khi
những nhà luyện kim đan khác thử luyện vàng mà không thành công thì họ sai ở chỗ
nào?”
“Tại
vì họ chỉ chủ tâm tìm vàng thôi”, người bạn đồng hành của cậu đáp. “Họ tìm kho
báu vốn nằm ở cuối con đường tiền định nhưng lại không chịu đi trọn con đường
đó”.
“Cháu
còn phải học thêm điều gì nữa?”, cậu hỏi
Nhưng
ông vẫn tiếp tục nhìn về phía chân trời. Rồi con chim ưng quay về với mồi nó vừa
săn được. Họ đào một cái hố, đốt lửa trong ấy để khỏi bị trông thấy.
“Ta
là nhà luyện kim đan chỉ bởi vì ta là nhà luyện kim đan, thế thôi”, ông nói
trong khi chuẩn bị bữa ăn. “Ta học môn này từ ông của ta, ông lại học từ ông
thân và cứ thế cho đến thời tạo thiên lập địa. Vào thời đó “Đại công trình” có
thể viết được vừa một phiến ngọc lục bảo. Nhưng rồi con người không thèm chú ý
vào những điều đơn giản mà lại lo viết luận văn, chú giải và triết lý. Rồi họ
cho rằng đã đi đúng đường hơn người khác. Nhưng đến nay phiến ngọc lục bảo vẫn
còn nguyên giá trị”.
“Trên
phiến ngọc ấy viết gì?” Cậu muốn biết.
Nhà
luyện kim đan bèn vẽ lên cát lối chừng năm phút. Nhìn ông vẽ cậu nghĩ đến nhà
vua già và bãi chợ nơi hai người gặp nhau; cậu có cảm tưởng như từ đó đến nay
đã nhiều năm qua rồi.
“Trên
phiến ngọc viết những điều đó đấy”, nhà luyện kim đan nói khi đã vẽ xong.
Cậu
thử đọc nhưng thất vọng.
“Đây
là loại mật ngữ mà cháu đã thấy trong các sách của anh chàng người Anh”.
“Không
phải đâu”, nhà luyện kim đan đáp. “Nó cũng giống như đường bay của hai con chim
bồ cắt, không thể dùng lí trí để hiểu được. Phiến ngọc lục bảo dẫn đường thẳng
tới tâm linh vũ trụ.
“Những
bậc trí giả đã nhận biết rằng thế giới này chỉ là phiên bản của thiên đường. Sự
hiện hữu của thế giới này chỉ là bằng cớ bảo đảm rằng có một thế giới toàn mỹ.
Thượng Đế tạo dựng ra muôn loài để con người thông qua thế giới vật chất mà
nghiệm được những định luật của thế giới tâm linh. Khi ta nói thông qua hành động
là hàm ý như thế đấy”.
“Cháu
có cần phải hiểu phiến ngọc đó không?” Cậu hỏi.
“Có
thể cần. Nếu như cậu làm việc trong phòng thí nghiệm của nhà luyện kim đan thì
đó sẽ là cơ hội tốt để tìm ra cách hay nhất hiểu được phiến ngọc. Nhưng hiện cậu
đang ở trên sa mạc. Hãy trầm tư suy nghĩ, rồi sa mạc sẽ chỉ cho cậu hiểu thế giới.
Nói cho đúng thì mọi thứ trên mặt đất đều chỉ cho cậu được. Cậu không cần phải
hiểu hết mọi điều về sa mạc mà chỉ cần nghiền ngẫm về một hạt cát thôi và cậu sẽ
thấy trong đó mọi sự mầu nhiệm của công trình tạo hóa”
“Làm
cách nào để cháu có thể thâm nhập vào thế giới của sa mạc?”
“Hãy
lắng nghe trái tim mình. Nó biết hết mọi điều vì nó từ tâm linh vũ trụ mà ra và
một ngày kia sẽ trở về đó”
43🐫
Họ
lại lặng lẽ tiếp tục đi trong sa mạc hai ngày nữa. Nhà luyện kim đan càng lúc
càng thận trọng hơn vì họ đang đến gần vùng giao tranh ác liệt nhất. Trong khi
đi đường cậu thử lắng nghe tiếng nói của trái tim mình.
Quả
tim cậu không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn: trước kia nó quen được đi hoài đi
mãi, bây giờ nó chỉ muốn mau đến đích. Có lúc trái tim cậu kể lể hàng giờ liền
về nỗi nhớ nhung của nó; lúc khác nó lại xúc động trước cảnh mặt trời mọc trên
sa mạc đến nỗi làm cậu phải khóc thầm. Tim cậu đập nhanh khi nó kể về kho báu,
đập chậm hẳn khi cậu mơ màng lặng nhìn chân trời vô tận trên sa mạc. Nhưng nó
không bao giờ câm nín, kể cả khi cậu và nhà luyện kim đan không nói với nhau một
lời nào.
“Tại
sao ta phải lắng nghe trái tim mình nhỉ?” Cậu hỏi khi hai người dừng lại nghỉ
đêm
“Bởi
vì trái tim cậu ở đâu thì kho báu cậu tìm cũng ở đó”
“Nhưng
mà tim cháu rạo rực”, cậu đáp. “Nó mơ, nó xúc động và nó say mê một cô gái sa mạc.
Nó đòi hỏi cháu đủ chuyện, khiến nhiều đêm cháu không ngủ được khi nghĩ đến
nàng”.
“Tốt
lắm. Như thế là tim cậu đang sống hết mình. Hãy lắng nghe những gì nó nói”
Ba
ngày tiếp theo hai người gặp một số chiến binh có vũ trang và thấy một số khác
đàng xa phía chân trời. Tim cậu bắt đầu nói về nỗi lo sợ. Nó kể chuyện nghe được
từ tâm linh vũ trụ về những người đi tìm mà không hề thấy kho báu. Đôi khi nó
khiến cậu hoảng sợ khi nghĩ rằng có thể mình không tìm thấy kho tàng hoặc sẽ chết
trong sa mạc. Lúc khác cái trái tim kia lại bảo cậu rằng nó hài lòng lắm vì nó
đã tìm thấy tình yêu và nhiều đồng tiền vàng rồi.
“Trái
tim cháu giở chứng rồi”, cậu nói với nhà luyện kim đan khi họ dừng lại cho ngựa
nghỉ. “Nó không muốn cháu đi tiếp nữa”.
“Điều
đó đúng thôi”, ông đáp. “Đó là bằng cớ cho thấy rằng trái tim cậu rất sống động.
Đương nhiên ai mà chẳng sợ khi đem tất cả gì mình có được ra đổi lấy một giấc
mơ”.
“Thế
thì tại sao cháu phải lắng nghe nó chứ?”
“Vì
cậu chẳng bao giờ bắt nó im lặng được nữa. Ngay cả khi cậu làm như không thèm
nghe nó nói thì nó vẫn luôn luôn ở trong con người cậu, nhắc đi nhắc lại những
điều cậu nghĩ về cuộc đời và thế giới”.
“Ngay
cả khi nó lừa cháu hay sao?”
“Bị
lừa bịp cũng giống như bị một cú đánh bất ngờ thôi. Nhưng nếu cậu hiểu rõ trái
tim mình thì sẽ không xảy ra điều gì bất trắc đâu, vì cậu biết rõ nó mơ ước gì
và biết phải ứng xử thế nào. Không ai trốn tránh được trái tim mình; thành ra
nên lắng nghe nó nói là hay hơn cả. Như thế cậu sẽ không bao giờ bị đánh bất ngờ”.
Cậu
tiếp tục lắng nghe trái tim mình trên đường qua sa mạc, hiểu dần những mẹo vặt
của nó và chấp nhận nó là như thế. Cậu thôi không lo sợ nữa, cũng không còn muốn
quay về ốc đảo, vì một xế trưa nọ tim cậu bảo rằng nó mãn nguyện rồi.
“Dù
đôi lúc tôi có phàn nàn”, nó nói, “thì cũng chỉ bởi vì tôi là trái tim người,
mà tim người đều thế cả. Người ta sợ theo đuổi một giấc mơ vĩ đại vì cảm thấy
không xứng đáng được hưởng hoặc sẽ không thể nào đạt nổi. Chỉ cần nghĩ rằng những
người thân yêu nhất của mình sẽ ra đi vĩnh viễn, rằng những khoảnh khắc lẽ ra
tươi đẹp mà rốt cuộc lại chẳng tươi đẹp tí nào, rằng có những kho tàng lẽ ra
tìm được mà lại mãi mãi chôn vùi trong cát, là chúng tôi – trái tim con người -
đủ kinh hoàng rồi. Khi những điều này xảy ra thật thì chúng tôi đau khổ lắm.”
“Trái
tim cháu sợ sẽ phải đau khổ”, cậu đã nói với nhà luyện kim đan như thế vào một
đêm hai người nhìn lên bầu trời không trăng.
“Hãy
bảo nó rằng sợ phải đau khổ còn đau đớn hơn là chính sự đau khổ, và chưa từng
có trái tim nào phải chịu đau khổ khi tìm cách thực hiện giấc mơ, vì mỗi phút
giây tìm kiếm là một khoảnh khắc gặp gỡ Thượng Đế và sự vĩnh hằng”.
“Mỗi
phút giây tìm kiếm là một khoảnh khắc gặp gỡ Thượng Đế”, cậu nói với trái tim
mình. “Khi ta thành tâm đi tìm kho tàng thì mỗi một ngày đều chan hòa niềm vui,
vì mỗi một giờ qua đi đều sẽ đem ta gần lại kho tàng hơn. Khi thành tâm đi tìm
kho tàng, ta phát hiện trên đường nhiều điều mà ta sẽ không bao giờ thấy được nếu
ta không đủ can đảm thử làm những việc xem ra một kẻ chăn cừu không thể làm nổi”.
Thế
là trái tim cậu thanh thản được suốt buổi xế trưa. Đêm ấy cậu ngủ ngon giấc và
khi thức dậy trái tim kể cho cậu về tâm linh vũ trụ, rằng kẻ nào hạnh phúc cũng
đều có Thượng Đế trong lòng và có thể tìm thấy hạnh phúc trong từng hạt cát sa
mạc như nhà luyện kim đan đã nói, vì hạt cát là một khoảnh khắc của sự sáng chế
mà vũ trụ cần hàng triệu năm để tạo ra nó.
“Ai
ai trên trái đất cũng đều có một kho báu chờ đợi mình”, trái tim nói. “Chúng
tôi, trái tim loài người, ít khi nói về những kho báu này vì người ta không còn
muốn đi tìm chúng nữa. Chúng tôi chỉ nói về chúng tôi với trẻ con thôi. Rồi
chúng tôi để cuộc đời đi theo số mệnh. Song tiếc thay rất ít người đi theo con
đường tiền định, con đường dẫn đến vận mệnh của họ, dẫn đến hạnh phúc. Phần lớn
người ta nhìn thế giới như một nơi đầy đe dọa, chính vì thế mà thế giới trở
thành nơi đe dọa thật.
“Bởi
thế mà chúng tôi, trái tim người, càng ngày càng nói khẽ hơn. Chúng tôi không
im hẳn nhưng mong rằng người ta không nghe thấy, vì chúng tôi không muốn người
ta phải đau khổ do không nghe lời trái tim mình”.
“Tại
sao trái tim người không giục giã họ theo đuổi ước mơ?” Cậu hỏi nhà luyện kim
đan.
“Vì
như thế thì trái tim sẽ đau khổ vô cùng mà chúng lại không muốn đau khổ”
Từ
đó cậu hiểu trái tim mình. Cậu yêu cầu nó đừng bao giờ ngừng trò chuyện với
mình và khi nào cậu đi chệch khỏi ước mơ thì nó phải co thắt lại để cảnh báo cậu.
Cậu thề sẽ nghe theo mỗi khi được cảnh báo.
Đêm
hôm ấy cậu kể hết những điều này cho người luyện kim đan nghe. Ông hiểu trái
tim cậu đã hướng về tâm linh vũ trụ.
“Cháu
phải làm gì bây giờ?” Cậu hỏi
“Đi
tiếp về hướng Kim Tự Tháp”, ông đáp. “Và tiếp tục lưu ý đến các dấu hiệu. Tim cậu
đã sẵn sàng chỉ cho cậu chỗ chôn kho báu rồi đấy”.
“Có
phải đó là điều cháu cần biết nữa không?”
“Không”,
ông đáp. “Điều cậu cần biết nữa là như thế này: trước khi cậu đạt được ước mơ
thì tâm linh vũ trụ sẽ thử thách mọi điều cậu học được trên đường đi. Tâm linh
vũ trụ làm thế không phải vì ác ý mà vì muốn khi đạt được ước mơ chúng ta đồng
thời cũng nắm vững những bài học đã lĩnh hội khi đi theo ước mơ. Đó chính là thời
điểm mà đa số bỏ cuộc, nói theo ngôn ngữ sa mạc là “chết khát vào đúng cây chà
là xuất hiện ở chân trời”.
Mọi
cuộc tìm tòi đều khởi đầu như câu “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” và kết thúc với sự
thử thách gay go kẻ chiến thắng”.
Cậu
nhớ đến một câu châm ngôn của đất nước mình, nói rằng giờ tối nhất trong đêm lại
chính là ngạy trước lúc rạng đông.
44🐫
Ngày
hôm sau có dấu hiệu báo nguy đầu tiên. Ba chiến binh tiến lại gần hỏi hai người
làm gì ở đấy.
“Tôi
đem chim ưng đi săn”, nhà luyện kim đan đáp.
“Chúng
tôi phải khám xem hai người có vũ trang không”, một chiến binh nói.
Nhà
luyện kim đan chậm rãi xuống ngựa. Cậu cũng xuống theo.
“Anh
đem theo nhiều tiền thế này để làm gì?”, một người lính hỏi cậu trong lúc khám
cái bị
“Tôi
cần tiền để đi đến Kim Tự Tháp”, cậu đáp.
Người
chiến binh khám nhà luyện kim đan tìm thấy một bình pha lê nhỏ đựng một chất lỏng
và một quả trứng bằng thủy tinh màu vàng, nhỉnh hơn quả trứng gà.
“Cái
gì thế này?” Hắn hỏi.
“Đó
là viên Đá tạo vàng và Thuốc trường sinh. Công trình của các nhà luyện kim đan
đấy. Ai uống thuốc này thì sẽ không bao giờ ốm đau nữa và một mảnh vụn của viên
đá có thể biến mọi thứ kim loại thành vàng”.
Các
chiến binh Arập cười ngất vì thấy câu trả lời quá khôi hài; nhà luyện kim đan
cũng cười theo. Rồi họ cho phép hai người được giữ tất cả hành lí tiếp tục cuộc
hành trình.
“Ông
điên à?” Cậu hỏi nhà luyện kim đan sau khi đi được một quãng.
“Sao
ông lại trả lời thế?”
“Để
chỉ cho cậu một bài học đơn giản ở đời”, ông đáp. “Đó là: kho tàng sờ sờ ngay
trước mắt mà ta không hề biết. Vì sao? Vì con người không tin rằng có kho tàng
thật”.
Họ
lại tiếp tục đi. Mỗi một ngày qua là một ngày trái tim cậu thanh thản hơn. Nó
không đòi được biết về quá khứ hoặc tương lai nữa, mà thỏa mãn với việc để hết
tâm trí ngắm nhìn sa mạc và cùng với cậu cà kê về tâm linh vũ trụ. Cậu với trái
tim trở thành bạn thân và không bên nào nỡ lừa dối bên nào nữa.
Mỗi
khi trái tim trò chuyện với cậu là để kích thích, thêm sức cho cậu vì những
ngày dài thầm lặng trong sa mạc khiến cậu mệt mỏi. Nó cho cậu biết về chỗ mạnh
của cậu: đã dũng cảm xa rời bầy cừu để đi theo vận mệnh và làm việc hết mình ở
cửa hàng pha lê.
Nó
còn cho cậu biết thêm những chuyện mà cậu chưa hề quan tâm: về những lần cậu
thoát hiểm mà không biết. Trái tim cậu bảo rằng có một lần nó đã giấu khẩu súng
cậu lén lấy của ông bố vì e cậu có thể tự gây thương tật. Nó nhắc cậu nhớ lại
cái ngày cậu bị bệnh, ói mửa ngay giữa đồng trống rồi ngủ thiếp đi. Cách đó
không xa hai tên cướp đường chờ sẵn, định bụng hễ cậu tới là chúng sẽ cướp bầy
cừu rồi giết cậu. Nhưng chờ mãi không thấy cậu tới chúng bèn bỏ đi vì nghĩ rằng
cậu đã chọn đường khác rồi.
“Lúc
nào trái tim cũng giúp mình sao?” Cậu hỏi nhà luyện kim đan.
“Chỉ
những trái tim của những người muốn đi theo vận mệnh của mình thôi. Nhưng chúng
cũng giúp đỡ trẻ em, người già và cả người say nữa”.
“Thế
nghĩa là cháu sẽ không bao giờ gặp nguy hiểm sao?”
“Thế
chỉ có nghĩa là trái tim làm tất cả những gì nó có thể làm được thôi”, nhà luyện
kim đan đáp.
Một
buổi xế trưa họ đi ngang khu lều trại của một bộ tộc tham chiến. Ở mỗi góc trại
đều có những người lính vũ trang choàng áo màu trắng trông rất đẹp. Họ ngồi hút
Nargileh và bàn tán về chiến trận. Chẳng ai buồn để ý đến cậu và nhà luyện kim
đan cả.
“Chẳng
có gì nguy hiểm”, cậu nói sau khi họ đã đi qua khu lều được một quãng.
Nhà
luyện kim đan nổi giận: “Hãy tin tưởng ở trái tim mình nhưng đừng bao giờ quên
rằng mình hiện đang ở sa mạc. Khi xảy ra đánh nhau thì ngay cả tâm linh vũ trụ
cũng còn nghe tiếng thét trên trận địa và không ai tránh được hết những hậu quả
của mọi chuyện xảy ra dưới bầu trời này”.
“Tất
cả đều là một”, cậu nghĩ.
Rồi,
như thể sa mạc muốn chứng minh rằng nhà luyện kim đan nói đúng, hai kị sĩ xuất
hiện phía sau họ.
“Mấy
người không thể đi tiếp được nữa”, một kị sĩ nói. “Mấy người đang ở trong vùng
có giao tranh”.
“Tôi
không đi xa đâu”, nhà luyện kim đan đáp, nhìn thẳng vào mắt các kị sĩ.
Họ
lặng thinh một lúc rồi đồng ý để hai người đi tiếp. Cậu hào hứng theo dõi cuộc
đối thoại.
“Ông
chế ngự được họ chỉ bằng cái nhìn!” Cậu thán phục.
“Đôi
mắt cho thấy sức mạnh của tâm hồn”, ông đáp.
“Đúng
vậy”, cậu thầm nghĩ.
Cậu
vừa nhận thấy ở khu lều kia một trong số những người vũ trang nhìn chòng chọc
theo họ. Vì khoảng cách quá xa nên cậu không nhìn được rõ mặt hắn song cậu chắc
chắn hắn đang nhìn họ. Sau khi đã vượt qua rặng núi trải dài theo chân trời nhà
luyện kim đan mới nói rằng chỉ còn hai ngày nữa thôi là đến Kim Tự Tháp.
“Nếu
chúng ta sắp phải chia tay đến nơi thì ông hãy dạy cháu thuật luyện kim đan đi”,
cậu nói.
“Cậu
đã nắm vững thuật ấy rồi mà. Đó là: nhập vào tâm linh vũ trụ và phát hiện kho
báu dành riêng cho mình”.
“Cháu
không nói đến chuyện ấy; chuyện luyện chì thành vàng cơ”.
Nhà
luyện kim đan chợt lặng im như sa mạc và chỉ trả lời cậu sau khi họ dừng lại để
dùng bữa.
“Mọi
sự trong vũ trụ đều tiến hóa”, ông nói. “Với bậc hiền giả thì vàng là thứ kim
loại tiến hóa đến mức cao nhất. Đừng hỏi tại sao vì ta không biết thuật. Ta chỉ
biết truyền thống luôn luôn đúng. Chỉ vì người ta không hiểu lời bậc hiền giả.
Cho nên vàng, thay vì là biểu tượng của tiến hóa, trở thành nguyên nhân gây ra
xung đột”.
“Sự
vật tự biểu lộ bằng nhiều thứ ngôn ngữ”, cậu ngắt lời ông. “Chẳng hạn có một
lúc đối với cháu tiếng lạc đà kêu không là gì khác hơn tiếng lạc đà kêu cả, rồi
thì nó trở thành dấu hiệu của sự nguy hiểm, sau đó lại chỉ là tiếng kêu như trước”.
Cậu
không nói tiếp nữa; có lẽ nhà luyện kim đan đã biết cả rồi.
“Ta
biết những nhà luyện kim đan chân chính”, ông nói tiếp. “Họ tự giam mình trong
phòng thí nghiệm, cố gắng để tiến hóa, giống như vàng. Họ tìm ra được loại “Đá
tạo vàng” vì họ hiểu rằng khi một vật tiến hóa thì mọi vật quanh nó cũng tiến
hóa theo.
Người
khác tìm ra “Đá tạo vàng” do tình cờ; họ vốn có tài sẵn và tâm hồn họ lĩnh hội
nhanh hơn kẻ khác. Số người này hiếm chứ không nhiều đâu.
Rồi
có những kẻ chỉ quan tâm đến vàng thôi. Họ chẳng bao giờ tìm ra được điều bí mật
cả vì họ quên rằng chì, đồng, sắt cũng phải đi trọn con đường tiền định của
chúng. Thanh ra ai mà can thiệp vào vận mệnh của sự vật khác sẽ không bao giờ
phát hiện được chính vận mệnh của mình”.
Những
lời này vang lên như một lời nguyền.
Ông
cúi nhặt một vỏ sò trên mặt cát: “Sa mạc này xưa kia là biển”.
“Cháu
cũng nhận thấy thế”, cậu đáp.
Nhà
luyện kim đan bảo cậu úp vỏ sò vào tai. Hồi nhỏ cậu đã từng nhiều lần làm như
thế và được nghe tiếng của biển.
“Biển
sống trong vỏ sò này vì số phận của nó là như vậy. Nó sẽ không bao giờ rời khỏi
vỏ sò cho đến khi sa mạc được phủ đầy nước”.
Họ
lên ngựa, đi về hướng Kim Tự Tháp Ai Cập. Khi trái tim cậu lên tiếng báo nguy
thì mặt trời đang lặn. Họ đang đứng giữa những đồi cát khổng lồ. Cậu nhìn nhà
luyện kim đan xem ông có cảm thấy điều gì không, song xem ra ông không hề biết
có hiểm nguy. Năm phút sau cậu thấy có hai kị sĩ đợi họ phía trước, bóng màu sẫm
in trên nền trời. Cậu chưa kịp nói gì với nhà luyện kim đan thì từ hai kị sĩ giờ
đã thành mười, rồi thành trăm, rồi thì trùng điệp khắp đồi cát.
Các
chiến binh này khoác áo màu xanh, chít vòng màu đen quanh khăn xếp. Khăn che mặt
cũng màu xanh, chỉ để hở đôi mắt. Tuy xa nhưng vẫn thấy được mắt họ toát ra sức
mạnh và chết chóc.
45🐫
Họ
dẫn hai người đến một doanh trại gần đó. Một người lính đẩy cậu và nhà luyện
kim đan vào một cái lều trông khác những lều cậu từng biết ở ốc đảo. Trong lều
người chỉ huy đang họp bàn với ban tham mưu.
“Bọn
này là gián điệp”, một người nói
“Chúng
tôi chỉ là khách lữ hành thôi”, nhà luyện kim đan đáp.
“Ba
ngày trước có kẻ trông thấy bọn mi ở khu trại địch, trò chuyện với một tay lính
ở đó”.
“Tôi
chỉ là một người vượt sa mạc và biết xem sao trời tìm phương hướng”, ông đáp. “Tôi
chẳng biết gì về các đạo quân hay sự chuyển quân của các bộ tộc. Tôi chỉ làm
người dẫn đường cho bạn tôi đây thôi”.
“Ai
là bạn mi?” Viên chỉ huy hỏi.
“Một
nhà luyện kim đan”, ông đáp. “Anh ta hiểu được sức mạnh của thiên nhiên và muốn
biểu dương cho mấy người thấy năng lực phi thường của mình”.
Cậu
im lặng lắng nghe mà lòng đầy sợ hãi.
“Gã
ngoại quốc này đến đây với ý đồ gì?” Một người khác hỏi.
“Anh
ta mang tiền đến tặng bộ tộc của mấy người”, nhà luyện kim đan đáp trước khi cậu
kịp mở miệng.
Rồi
ông ta chụp cái bị của cậu, lấy số tiền vàng đưa cho viên chỉ huy. Viên chỉ huy
Arập này cầm lấy tiền song không nói một lời. Đủ để hắn mua nhiều súng ống.
“Nhà
luyện kim đan là nhà gì?” Hắn muốn biết
“Là
một người hiểu được thiên nhiên và thế giới. Nếu muốn, anh ta có thể chỉ dùng sức
gió mà tàn phá được doanh trại này”.
Đám
người kia phá lên cười. Họ còn lạ gì sự tàn phá của chiến tranh và biết rằng
gió không thể nào giết nổi ai. Tuy vậy tim họ vẫn thót lại. Vì là người sa mạc
nên họ vẫn sợ các thầy phù thủy.
“Tôi
muốn được tận mắt thấy gã làm chuyện đó”, viên chỉ huy nói.
“Anh
ta cần ba ngày”, nhà luyện kim đan đáp. “Anh ta sẽ biến thành gió để chứng tỏ
năng lực của mình. Nếu như anh ta không làm được thì chúng tôi xin cúi đầu dâng
mạng sống cho bộ tộc các người”.
“Bọn
mi không thể dâng cái đã nằm sẵn trong tay ta”, viên chỉ huy khinh miệt đáp,
tuy nhiên hắn vẫn đồng ý cho họ thời hạn ba ngày.
Cậu
hoảng vía như bị tê liệt, khiến nhà luyện kim đan phải nắm tay dìu cậu ra khỏi
lều.
“Đừng
để họ thấy cậu sợ”, ông nói. “Bọn họ là những kẻ dũng cảm nên rất khinh những
ai hèn nhát”.
Nhưng
cậu không thốt nên lời. Mãi sau khi đã đi lại một lúc trong khu trại cậu mới mở
miệng nổi. Những người Arập thấy không cần giam giữ họ mà chỉ cần tịch thu ngựa
là đủ. Thế là một lần nữa thế giới lại cho thấy ngôn ngữ đa dạng của nó: mới đó
là sa mạc còn là mênh mông, thoắt giờ đây đã thành một bức tường không vượt qua
nổi.
“Ông
đã đưa cho họ hết mọi của cải mà cháu đã suốt đời dành dụm”, cậu tức giận nói.
“Ừ,
nhưng cậu cần chúng làm gì nữa nếu sắp phải chết?” Nhà luyện kim đan đáp. “Tiền
của cậu cho chúng ta sống thêm ba ngày nữa. Không phải lúc nào tiền cũng cứu được
mạng người đâu”.
Nhưng
vì cậu quá sợ nên không thể nghe lọt tai những lời sáng suốt kia. Cậu không biết
phải biến thành gió như thế nào vì cậu có phải nhà luyện kim đan đâu.
Nhà
luyện kim đan xin một người lính chút ít trà, rưới lên cổ tay cậu, miệng lẩm bẩm
những lời cậu không hiểu, song cậu thấy trong lòng tràn dâng cảm giác yên bình.
“Đừng
để nỗi sợ áp chế mình”, giọng ông dịu dàng khác thường. “Bằng không cậu không
thể trò chuyện với tim mình được đâu”.
“Nhưng
cháu không biết phải biến thành gió như thế nào”.
“Người
nào sống trọn đường đời của mình, người đó biết tất cả những gì cần biết. Chỉ
có một điều khiến không thể nào đạt được ước mơ: đó là sợ rằng sẽ thất bại”.
“Cháu
không sợ thất bại, mà chỉ không biết phải biến thành gió như thế nào thôi”.
“Thế
thì cậu phải học. Mạng sống của chúng ta tùy thuộc vào đó”
“Nếu
cháu không làm được thì sao?”
“Thì
cậu sẽ chết trong lúc cố sống theo vận mệnh mình. Như thế vẫn hay hơn là phải
chết như hàng triệu người không hề biết vận mệnh họ là gì. Nhưng đừng lo”, nhà
luyện kim đan nói tiếp. “Khi đứng ở ngưỡng cửa cõi chết người ta thường cảm nhận
sâu sắc hơn về cuộc sống”.
Ngày
đầu tiên trôi qua. Một trận đánh lớn diễn ra gần đó và nhiều người bị thương được
đưa về khu trại. Những người tử trận được thay bằng lính mới và dòng đời vẫn tiếp
tục.
“Cái
chết chẳng làm thay đổi gì hết”, cậu nghĩ.
“Làm
gì mà chết vội thế”, một người lính nói với cái xác của bạn gã. “Đợi thanh bình
rồi chết cũng được cơ mà. Nhưng mà trước sau gì thì bạn cũng chết thôi”.
Chiều
tối cậu đi tìm nhà luyện kim đan. Ông đang định đưa chim ưng đi săn.
“Cháu
vẫn chưa biết phải biến thành gió như thế nào” …
“Hãy
nhớ lại những gì ta đã nói: thế giới chỉ là phần thấy được của Thượng Đế. Thuật
luyện kim đan có nhiệm vụ chuyển sự toàn mĩ của tâm linh sang thế giới vật chất”.
“Ông
làm gì bây giờ?”
“Nếu
cháu không biến nổi thành gió thì cả ba chúng ta đều sẽ phải chết”, cậu nói. “Cho
nó ăn làm gì nữa”.
“Chỉ
có cậu sẽ chết thôi”, nhà luyện kim đan đáp. “Còn ta biết phải biến thành gió
như thế nào chứ”.
46🐫
Ngày
thứ hai cậu leo lên đỉnh một khối đá gần khu trại. Lính gác để cậu đi; họ đã
nghe nói về một phù thủy có khả năng biến thành gió nên không muốn đến gần cậu.
Hơn nữa sa mạc như một bức tường thành không thể vượt nổi. Cậu ngồi đó mãi cho
đến chiều, nhìn ra sa mạc và lắng nghe trái tim mình. Cả sa mạc cũng lắng nghe
nỗi sợ của cậu. Trái tim cậu và sa mạc vốn nói cùng một thứ ngôn ngữ.
47🐫
Sang
ngày thứ ba viên chỉ huy triệu tập các sĩ quan của mình.
Hắn
gọi nhà luyện kim đan đến rồi nói: “Chúng ta ra xem gã kia biến thành gió như
thế nào”.
“Rồi
khắc biết”, nhà luyện kim đan đáp.
Cậu
dẫn họ đến khối đá hôm qua, yêu cầu mọi người ngồi đó.
“Phải
đợi khá lâu đấy”, cậu nói.
“Đâu
có gì vội”, viên chỉ huy đáp. “Chúng ta là dân sa mạc mà”.
48🐫
Cậu
nhìn quanh mình. Xa xa phía chân trời kia là núi, đồi cát, đá tảng và các bụi
cây leo. Ở một nơi như không thể nào có nổi sự sống mà cây cỏ vẫn cố bám vào đó
để sống. Sa mạc này cậu đã đi qua nhiều tháng ròng, thế mà chỉ biết có một phần
rất nhỏ của nó. Trong thời gian này cậu đã gặp một người Anh, thấy nhiều đoàn lữ
hành, một ốc đảo với năm chục nghìn cây chà là và ba trăm giếng nước; cậu cũng
đã chứng kiến cuộc xung đột giữa các bộ tộc.
“Sao
bữa nay bạn còn đến đây?” Sa mạc hỏi cậu.
“Hôm
qua chẳng lẽ mình nhìn nhau chưa đủ à?”
“Bạn
giữ người tôi yêu ở một nơi nào đó”, cậu đáp. “Cho nên nhìn ngắm biển cát trải
dài vô tận của bạn cũng là ngắm nhìn nàng. Tôi muốn quay về với nàng nên cần bạn
giúp tôi biến thành gió”.
“Yêu
nghĩa là gì?” Sa mạc hỏi
“Yêu
giống như khi chim ưng bay trên biển cát của bạn. Bởi vì đối với chim thì bạn
là một cánh đồng xanh màu mỡ và nó chẳng bao giờ quay về mà không săn được gì.
Nó rành rẽ các tảng đá, các đồi cát, núi non của bạn, còn bạn thì hào phóng đối
với nó”.
“Nó
cướp đoạt của tôi thì có”, sa mạc đáp. “Tôi nuôi những con mồi của nó nhiều năm
ròng, cho chúng uống số nước ít ỏi tôi có được rồi tôi lại chỉ cho nó con mồi ở
đâu. Một ngày kia, khi tôi đang vui sướng thấy con mồi của nó chập chững đi
trên bãi cát của tôi thì nó từ trên bầu trời cao bổ xuống, cướp đi công trình
tôi đã nuôi”.
“Nhưng
bạn nuôi những con mồi cũng chính vì mục đích ấy thôi”, cậu đáp. “Để nuôi chim
ưng, rồi chim ưng nuôi người. Và cuối cùng, đến một ngày nào đó con người nuôi
lại bãi cát của bạn để các con mồi lại lớn lên. Đó chính là sự vận động của vũ
trụ.”
“Yêu
là thế à?”
“Phải,
yêu là thế đấy. Nó biến con mồi thành chim ưng, chim ưng thành người, rồi đến
lượt người biến thành sa mạc. Nó biến chì thành vàng rồi đưa vàng trở về với
lòng đất”.
“Tôi
chẳng hiểu bạn nói gì cả”, sa mạc nói.
“Nhưng
ít ra bạn cũng hiểu được rằng ở một nơi nào đó giữa các đồi cát của bạn có một
cô gái đang mong đợi tôi. Chính vì thế mà tôi phải biến thành gió”.
Sa
mạc làm thinh một lúc rồi mới nói với cậu: “Tôi sẽ cho bạn cát để gió thổi,
nhưng một mình tôi thì chẳng làm gì được đâu. Bạn phải yêu cầu gió mới giúp được”.
Một
làn gió nhè nhẹ nổi lên. Những người Arập quay nhìn cậu; họ không hiểu thứ tiếng
cậu nói đó.
Nhà
luyện kim đan mỉm cười.
Gió
mơn man khuôn mặt cậu. Nó nghe được những gì cậu nói với sa mạc, vì gió biết hết
mọi chuyện. Nó đi khắp thế giới nhưng không có chỗ nào là khởi điểm, cũng không
có nơi nào để gió dừng lại vĩnh viễn.
“Giúp
tôi với”, cậu nói. “Mới gần đây bạn đã đem đến cho tôi giọng nói của người tôi
yêu”.
“Ai
dạy bạn nói tiếng nói của sa mạc và gió?”
“Trái
tim tôi đấy”, cậu đáp.
Gió
có rất nhiều tên. Ở vùng này người Arập gọi nó là Sirocco và tin rằng nó mang
hơi ẩm từ vùng đất ngập nước, nơi cư trú của người da đen; ở vùng đất xa xôi
quê hương của cậu người ta gọi nó là Lavante, vì cho rằng nó mang theo cát sa mạc
và tiếng thét xung trận của người Mauren; còn ở những vùng xa nữa, phía sau những
đồng cỏ cậu vẫn thả cừu, thì người ta cho rằng gió đến từ Andalusia. Nhưng đúng
ra gió chẳng đến từ một nơi nào cả, cũng chẳng đi đâu hết; vì thế mà nó mạnh
hơn cả sa mạc. Một ngày nào đó có thể sẽ có người trồng được cây trên sa mạc,
thậm chí nuôi được cừu ở đó nữa, nhưng sẽ không ai khống chế được gió.
“Bạn
không thể thành gió được, vì thể chất chúng mình khác nhau hoàn toàn”, gió nói.
“Không
đúng”, cậu đáp. “Trên đường đi, tôi đã học được những bí mật của thuật luyện
kim đan. Trong người tôi tập hợp đủ cả gió, sa mạc, đại dương, sao trời và mọi
thứ trong vũ trụ. Chúng ta đều cùng do một bàn tay tạo ra và có cùng một linh hồn.
Tôi muốn được như bạn, có thể đến khắp mọi ngóc ngách, vượt biển cả, thổi bay lớp
cát che phủ kho báu của tôi và đem đến đây tiếng nói của người con gái tôi yêu”.
“Mấy
hôm trước tôi có nghe bạn trò chuyện với nhà luyện kim đan”, gió nói. “Ông bảo
mỗi sự vật đều có vận mệnh riêng. Con người không thể biến thành gió được”.
“Bạn
hãy dạy tôi cách biến thành gió một vài khoảnh khắc thôi; như thế bạn và tôi có
thể chuyện trò và khả năng vô hạn của người và gió”, cậu nói.
Gió
thêm hiếu kì; đó là điều chưa từng có. Nó muốn chuyện trò tiếp về những chuyện ấy
nhưng không biết phải biến người thành gió ra sao. Thế mà nó vốn làm được khối
chuyện cơ đấy! Tạo nên sa mạc này, đánh chìm tàu này, đốn ngã biết bao khu rừng
này, thổi qua các thành phố lớn đầy âm nhạc và những âm thanh lạ này. Nó nghĩ rằng
mình làm được hết rồi, thế mà một gã trai bảo rằng vẫn còn bao chuyện khác nữa
gió có thể làm được.
“Cái
đó gọi là tình yêu”, cậu nói khi thấy gió sắp xiêu lòng. “Khi yêu, người ta có
thể tạo dựng nên tất cả. Khi yêu thì không cần phải hiểu chuyện gì đang xảy ra
vì mọi sự diễn ra trong chính mình. Khi yêu thì ngay cả người cũng có thể biến
thành gió được. Tất nhiên phải được gió giúp sức”.
Gió
vốn tự cao nên không hài lòng khi nghe cậu nói. Nó bèn thổi mạnh hơn làm cát
bay mù. Nhưng rồi nó phải thừa nhận rằng tuy vẫn đi khắp thế giới thật nhưng
cũng không biết làm thế nào để biến được người thành gió, và cũng chẳng biết gì
về tình yêu cả.
“Trên
đường vòng quanh thế giới tôi thường được nghe người ta nhìn lên trời, nói về
tình yêu”, gió điên tiết nhìn nhận khả năng hạn chế của mình.
“Có
lẽ bạn nên hỏi trời xanh kia xem sao”.
“Được,
bạn hãy giúp tôi bằng cách tung đầy cát vào không khí, che khuất mặt trời để
tôi nhìn thấy mặt trời mà không sợ mù mắt”, cậu đáp.
Gió
bèn phùng má thổi. Một đám mây cát che kín bầu trời và mặt trời trông chỉ như
cái đĩa vàng. Ở doanh trại người ta không nhìn thấy gì nữa cả. Những người dân
sa mạc đã quá quen với thứ gió mà họ gọi là Samum này. Đối với họ thì nó
còn ghê gớm hơn bão tố trên biển cả, dù họ không biết biển là gì. Ngựa hí vang,
khí giới phủ đầy cát.
Trên
mỏm khối đá, một viên sĩ quan quay sang nói với viên chỉ huy: “Có lẽ mình nên
chấm dứt thôi!”
Họ
không còn có thể nhìn thấy cậu nữa. Mặt họ che bằng khăn màu xanh chỉ để lộ những
cặp mắt kinh hoàng.
“Chấm
dứt thôi”, một người khác nói.
“Tôi
muốn được chứng kiến sự vĩ đại của Allah”, giọng viên chỉ huy đầy thành kính. “Tôi
muốn được thấy người biến thành gió như thế nào”.
Nhưng
hắn ghi nhớ tên hai người vừa tỏ ra sợ hãi kia. Khi lặng gió hắn sẽ cách chức họ
vì đàn ông sa mạc không được phép biết sợ là gì.
“Gió
bảo tôi rằng bạn biết về tình yêu”, cậu nói với mặt trời. “Nếu đúng thế thì bạn
cũng phải biết về tâm linh vũ trụ vốn được hình thành từ tình yêu”.
“Từ
trên cao này”, mặt trời đáp, “tôi có thể trông thấy tâm linh vũ trụ. Chúng tôi
vẫn cùng hợp lực làm cho cây cỏ lớn lên, khiến cừu biết tìm bóng mát. Từ chỗ
này của tôi – xa mặt đất lắm nhé – tôi học được cách yêu. Tôi biết rằng chỉ cần
mình xích lại gần mặt đất một chút xíu thôi cũng đủ khiến mọi vật bị hủy diệt
và tâm linh vũ trụ cũng không tồn tại được nữa. Cho nên hai chúng tôi thân ái
nhìn ngắm nhau; tôi cống hiến ánh sáng và hơi ấm còn nó cho tôi lẽ sống.”
“Vậy
là bạn biết về tình yêu rồi”, cậu nói.
“Tôi
biết rõ cả tâm linh vũ trụ vì chúng tôi trò chuyện cùng nhau rất nhiều suốt cuộc
hành trình bất tận trong vũ trụ. Tâm linh vũ trụ bảo rằng khó khăn lớn nhất của
nó là cho tới nay chỉ có thú vật và cây cỏ hiểu được tất cả là một, rằng thật
ra sắt chẳng cần gì phải giống như đồng hay đồng giống như vàng. Mỗi loại cứ
làm tròn nhiệm vụ của mình thì tất cả sẽ cùng làm thành một bản giao hưởng của
hòa bình - nếu như bàn tay đã viết tất cả những điều này ngừng lại vào ngày
sáng thế thứ năm. Nhưng mà còn ngày thứ sáu nữa”, mặt trời nói.
“Bạn
sáng suốt lắm, bởi vì bạn quan sát sự vật từ xa”, cậu nói. “Nhưng bạn không biết
về tình yêu. Nếu không có ngày thứ sáu thì sẽ không có con người, đồng sẽ mãi
là đồng, chì chỉ là chì. Đúng là mọi thứ có vận mệnh của nó và sẽ có một ngày vận
mệnh hoàn thành. Rồi mỗi sự vật chuyển hóa thành tốt hơn, mang vận mệnh mới cho
đến khi tâm linh vũ trụ chỉ còn là một tổng thể duy nhất”.
Mặt
trời trầm ngâm một lúc rồi chiếu sáng hơn nữa. Gió rất thú vị với cuộc trò chuyện
nên ra sức thổi mạnh hơn để mặt trời khỏi làm mù mắt cậu.
“Chính
vì thế mà có thuật luyện kim đan”, cậu nói. “Để rồi ai cũng mơ ước tìm kiếm kho
báu của mình, rồi muốn được khá hơn kiếp trước. Chì sẽ giữ vai trò của nó cho đến
khi thế giới không cần chì nữa, thế là chì sẽ phải biến thành vàng. Đó chính là
việc của các nhà luyện kim đan. Họ cho thấy khi chúng ta ra sức tự hoàn thiện
thì mọi sự vật quanh ta cũng hoàn mĩ theo”.
“Vậy
tại sao bạn bảo tôi không biết về tình yêu?” Mặt trời hỏi cậu.
“Vì
tình yêu không tĩnh tại như sa mạc, cũng không lang thang cùng khắp thế giới
như gió, cũng không phải đứng từ xa nhìn sự vật như bạn vậy. Tình yêu là sức mạnh
làm chuyển biến và nâng tâm linh vũ trụ lên cao hơn nữa. Lần đầu tiên, khi nhập
vào tâm linh vũ trụ, tôi tưởng nó là tuyệt mĩ rồi. Về sau tôi mới biết nó là phản
ảnh của tạo vật, nghĩa là cũng mang trong nó chiến tranh và đam mê. Chúng ta
nuôi dưỡng tâm linh vũ trụ, và thế giới của chúng ta trở nên tốt hay xấu hơn
tùy theo bản thân chúng ta tốt hay xấu hơn. Ở điểm này mới thấy được vai trò sức
mạnh của tình yêu, vì khi yêu chúng ta cố trở nên tốt hơn”
“Bạn
muốn gì ở tôi?” Mặt trời hỏi.
“Tôi
muốn bạn giúp tôi biến thành gió”, cậu đáp
“Thiên
nhiên công nhận tôi là tạo vật, sáng suốt nhất trong muôn loài”, mặt trời đáp.
“Nhưng
tôi không biết cách biến bạn thành gió”.
“Vậy
tôi phải hỏi ai?” Mặt trời ngẫm nghĩ một lúc.
Ngọn
gió kia đang lắng nghe và nhất định sẽ đi rêu rao cùng khắp rằng khả năng của mặt
trời cũng hạn chế thôi. Mặt trời không dễ thoát khỏi cái anh chàng nói thứ ngôn
ngữ vũ trụ này.
“Bạn
hãy hỏi bàn tay đã ghi chép lên mọi sự”, mặt trời đáp.
Gió
reo mừng thổi mạnh hơn bao giờ hết, cuốn tung các mái lều, giật đứt dây ngựa buộc.
Trên đỉnh tảng đá những người Arập ôm chặt lấy nhau để khỏi bị thổi bay đi. Cậu
hướng lòng mình về cái bàn tay đã ghi chép mọi sự. Cậu cảm thấy vũ trụ nín lặng
nên cũng nín lặng luôn.
Tình
yêu trào dâng từ trái tim cậu; lần đầu tiên trong đời cậu lẩm nhẩm một bài kinh
không lời, không có cầu xin. Cậu không cám ơn vì lũ cừu đã tìm ra đồng cỏ mượt,
không cầu xin bán được nhiều hàng pha lê hơn nữa, hay cầu xin để người con gái
cậu yêu chờ đợi cậu trở về. Trong sự yên ắng cậu hiểu rằng sa mạc, gió và mặt
trời cũng đang cố hiểu những dấu hiệu được vẽ lên từ bàn tay nọ để tìm ra con
đường của mình và để hiểu những gì đã khắc trên phiến ngọc. Cậu biết rằng những
dấu hiệu này rải rác trên mặt đất và khắp vũ trụ; nhìn bề ngoài thì chúng chẳng
cho thấy một ý nghĩa nào cả nên sa mạc, gió, mặt trời và con người không biết
những dấu hiệu ấy được tạo ra để làm gì. Chỉ có bàn tay nọ biết căn nguyên của
mọi điều và chỉ riêng nó làm được những phép lạ như thành gió. Bởi bàn tay đó
thấu hiểu rằng có một lực siêu phàm đã xoay vần vũ trụ tới mức sáu ngày sáng thế
chuyển hóa thành Công trình vĩ đại.
Cậu
nhập vào tâm linh vũ trụ và nhận biết rằng nó là một phần linh hồn Hóa công và
linh hồn Hóa công là linh hồn của chính cậu. Như thế tự cậu cũng có thể làm được
phép lạ.
49🐫
Ngày
hôm ấy ngọn gió Samum thổi dữ dội chưa từng thấy. Nhiều đời sau người Arập
sẽ còn kể về huyền thoại một chàng trai đã không khiếp nhược trước viên chiến
tướng sa mạc và đã hoá thành gió, phá hầu như tan hoang cả một doanh trại.
Khi
lặng gió mọi người nhìn về phía cậu ngồi, nhưng cậu không còn ở chỗ cũ nữa mà
đang đứng cạnh một người lính canh bị cát vùi lấp, tuốt phía bên kia doanh trại.
Mọi
người khiếp đảm trước trò quỷ thuật này. Nhưng vẫn có hai người cười, đó là nhà
luyện kim đan vì ông đã tìm ra được một học trò xuất sắc và viên chỉ huy, vì hắn
đã được chứng kiến quyền năng tuyệt vời của Thượng Đế. Hôm sau, viên chỉ huy từ
giã nhà luyện kim đan và cậu rồi cho một đoàn lính tháp tùng hai người tới bất
kì nơi nào họ muốn.
50🐫
Sau
khi đã đi suốt ngày, chiếu tối họ tới được một tu viện Côptic. Nhà luyện kim
đan bảo đoàn tháp tùng quay về rồi xuống ngựa.
“Từ
đây cậu có thể tự mình đi tiếp được rồi đấy”, ông nói. “Chỉ cần ba tiếng nữa là
tới Kim Tự Tháp”.
“Cám
ơn ông đã dạy cháu ngôn ngữ vũ trụ”, cậu đáp.
“Ta
chỉ gợi cho cậu nhớ lại những gì cậu đã biết từ trước thôi”. Nhà luyện kim đan
gõ cổng tu viện.
Một
tu sĩ mặc toàn đen ra mở cửa. Họ nói với nhau mấy câu bằng tiếng Côptic rồi nhà
luyện kim đan bảo cậu vào.
“Ta
vừa mới yêu cầu tu sĩ nọ cho phép sử dụng cái bếp một lúc”, ông nói.
Họ
đi vào bếp. Nhà luyện kim đan nhóm lửa còn tu sĩ nọ lo mang chì đến để nhà luyện
kim đan nấy chảy trong một thùng sắt. Khi chì đã hóa lỏng, nhà luyện kim đan
móc túi ra quả trứng lạ lùng bằng thủy tinh màu vàng. Ông cạo một chút, mảnh
như sợi tóc, lấy sáp bọc lại rồi bỏ vào thùng.
Chất
lỏng biến thành đỏ như máu. Rồi ông bưng thùng khỏi bếp, để nguội. Trong khi chờ
đợi ông trò chuyện với người tu sĩ về cuộc xung đột giữa các bộ lạc.
“Sẽ
còn kéo dài lâu”, ông nói.
Người
tu sĩ tỏ vẻ bực dọc. Từ lâu nay các đoàn lữ hành đã phải nằm ở Gizeh chờ cuộc
xung đột kết thúc.
“Nhưng
rồi đâu cũng sẽ vào đấy, như ý Thượng Đế muốn cả thôi”, tu sĩ nói.
“Đúng
thế”, nhà luyện kim đan đáp.
Khi
thùng nguội, người tu sĩ và cậu nhìn vào mà kinh ngạc. Chì đã khô lại dưới đáy
thùng hình tròn, song không phải là chì nữa mà là vàng.
“Một
ngày nào đó cháu cũng sẽ làm được như vậy chứ?” Cậu hỏi.
“Đó
là vận mệnh của ta chứ không phải của cậu”, nhà luyện kim đan đáp. “Ta làm chỉ
để cho cậu thấy rằng có thể làm được”.
Rồi
ông chia chỗ vàng đó làm bốn phần.
“Để
cám ơn thầy”, ông nói và đưa tu sĩ một phần.
“Thế
là quá nhiều so với những gì tôi đã làm”, tu sĩ nói.
“Thầy
chớ nói thế nữa, kẻo Đời nghe thấy thì lần tới thầy sẽ được ít hơn đấy”.
Rồi
ông quay sang cậu.
“Phần
này để đền cậu số tiền đã trả cho viên tư lệnh”.
Cậu
muốn nói rằng như thế là quá nhiều so với số tiền nọ song lại thôi, vì vừa được
nghe những gì nhà luyện kim đan nói với người tu sĩ.
“Phần
này tôi giữ”, ông nói và cất đi. “Vì tôi còn phải vượt sa mạc và vùng có chiến
sự để về nhà”.
Phần
thứ tư ông đưa cho tu sĩ “Phần này để phòng khi cậu nhỏ đây cần đến”.
“Nhưng
mà cháu sắp tìm thấy kho báu rồi còn gì”, cậu đáp
“Ta
tin rằng cậu sẽ tìm thấy”, nhà luyện kim đan nói
“Vậy
phần cháu thêm làm gì nữa?”
“Vì
cậu đã hai lần mất sạch: một lần bị gã lưu manh bịp, một lần trả thù cho viên
chỉ huy nọ. Ta là một lão già Arập mê tín, tin vào châm ngôn nước mình. Châm
ngôn đó như thế này: “Những gì đã xảy đến với anh một lần có thể không bao giờ
xảy ra nữa; nhưng những gì đã xảy ra hai lần thì nhất định sẽ thêm lần thứ ba”.
Rồi
họ lại lên ngựa.
51🐫
“Trước
khi chia tay ta muốn kể cho cậu nghe một câu chuyện về giấc mơ”, nhà luyện kim
đan nói.
Cậu
bèn cho ngựa chạy sát lại gần.
“Ở
La Mã cổ đại, vào thời hoàng đế Tiberius, có một ông già kia có hai người con
trai. Một người con đi lính và phải đi đến những vùng đất xa xôi nhất của đế quốc.
Người con kia là thi sĩ và cả La Mã yêu thích những bài thơ tuyệt vời của anh
ta.
Một
đêm kia ông bố nằm mộng thấy thiên thần hiện đến bảo rằng những câu nói của một
trong hai người con ông được cả thế giới biết và được truyền tụng từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Người cha thức giấc, thầm cảm tạ Thượng Đế và khóc vì sung sướng
bởi cuộc đời quá hào phóng đã cho ông biết những điều mà mọi người cha đều tự
hào.
Không
lâu sau đó ông chết vì muốn cứu một đứa trả khỏi bị xe ngựa cán. Vì ông sống
ngay thẳng, đàng hoàng nên được lên ngay thiên đường. Ở đây ông gặp thiên thần
báo mộng cho ông.
“Ông
là một người tốt”, thiên thần nói. “Ông sống thương yêu người, ông chết vì làm
việc phải. Do đó ta sẽ thỏa mãn bất cứ điều gì ông ước muốn”.
“Cuộc
đời cũng đã rất ưu đãi tôi”, ông già đáp. “Ngày nọ, ngài đến với tôi trong giấc
mơ thì tôi thấy mọi công lao của mình đã được đền bù vì thơ của con tôi sẽ còn
được truyền tụng hàng trăm năm sau nữa. Cá nhân tôi không mong muốn gì cả,
nhưng người cha nào chẳng tự hào về đứa con mình đã nuôi dạy. Thành ra tôi muốn
rằng, trong một tương lai xa, được nghe những câu nói của con tôi”.
Thiên
thần bèn vuốt vai ông và hai người bước vào tương lai xa. Cả nghìn người đứng
quanh họ ở một quãng trường rộng lớn, nói với nhau bằng một thứ tiếng lạ.
Ông
già khóc vì sung sướng “Tôi biết mà! Thơ của con tôi hay và trở thành bất tử mà”,
ông xúc động nói với thiên thần.
“Tôi
rất muốn biết người ta đọc bài thơ nào của nó ở chốn này”.
Thiên
thần âu yếm nắm tay ông già rồi hai người cùng ngồi xuống một trong những ghế
dài trên quãng trường.
“Thơ
của con trai ông rất được yêu chuộng ở La Mã xưa”, thiên thần đáp. “Nhưng sau
triều đại của Tiberius thì thơ của con ông cũng bị rơi vào lãng quên. Những lời
mà người ta đang nói đây là của anh con trai đi lính cơ”.
Ông
già sửng sốt nhìn thiên thần.
“Anh
con trai đó phục vụ ở một nơi xa và lên đến chức tư lệnh. Anh ta cũng là một
người tốt và chính trực. Một ngày nọ người hầu của anh ốm nằm chờ chết. Người
con ông nghe nói có một tu sĩ Do Thái chữa được bệnh tật nên đi hết ngày này
sang ngày khác để tìm tu sĩ đó. Trên đường đi anh được biết người mình tìm đó
là con của Thượng Đế. Anh gặp những người đã được tu sĩ nọ chữa lành bệnh và họ
dạy anh những điều tu sĩ kia đã truyền dạy. Rồi, tuy là một chiến binh La Mã,
anh đã cải đạo. Không lâu sau đó anh gặp nhà tu sĩ. Anh kể ông nghe về bệnh
tình của người hầu. Nhà tu sĩ tỏ ý sẵn sàng đi đến nhà anh. Nhưng con trai ông
là một người một đạo nên khi nhìn vào mặt nhà tu sĩ anh biết chính đó là con
Thượng Đế. Và đây là những lời con trai ông lúc ấy đã nói với tu sĩ và sẽ đời đời
được truyền tụng:
“Lạy
Chúa, con không xứng đáng để được đón Người vào nhà. Xin Chúa hãy phán truyền
cho một tiếng thì kẻ đầy tớ của con sẽ khỏi bệnh ngay.”
“Bất
kể giàu hay nghèo, sang hay hèn, ai cũng đều có một vai trò chính trong lịch sử
thế giới. Có điều phần nhiều người ta không biết đó thôi”, nhà luyện kim đan
nói rồi thúc ngựa đi.
Cậu
mỉm cười. Làm sao cậu ngờ được rằng cuộc đời một kẻ chăn cừu lại có thể được
xem là quan trọng nhường ấy.
“Vĩnh
biệt!” Nhà luyện kim đan nói.
“Vĩnh
biệt!” Cậu đáp.
52🐫
Cậu
đi suốt hai tiếng rưỡi trên sa mạc, cố lắng nghe trái tim mình, vì nó sẽ cho cậu
biết chính xác kho tàng chôn giấu chỗ nào.
“Kho
tàng của cậu ở đâu thì trái tim cậu cũng ở đó”, nhà luyện kim đan đã bảo cậu thế.
Nhưng
tim cậu lại nói về những chuyện khác. Nó hãnh diện kể về một gã chăn cừu đã rời
bỏ đàn cừu của mình để theo một giấc mộng mà gã đã mơ thấy hai lần. Nó nói về vận
mệnh và về những người cũng đã từng lên đường đi tìm những vùng đất xa xôi và
đàn bà đẹp, đương đầu với những người đương thời cùng những thế giới quan và định
kiến của họ. Suốt dọc đường nó kể về những chuyến viễn du, những khám phá lớn,
những sách vở và những biến chuyển lớn lao.
Chỉ
vào lúc cậu định leo lên một đồi cát, đúng ngay giây phút đó, không hơn không
kém một giây, tim cậu mới thì thào: “Hãy ghi nhớ nơi mà cậu sẽ khóc. Tôi cũng sẽ
có mặt ở đó và đó cũng là nơi chôn giấu kho báu của cậu đấy”.
Cậu
từ từ leo lên đồi cát. Trăng lại tròn vành vạnh giữa bầu trời đầy sao. Cậu đã rời
ốc đảo được đúng một tháng. Đồi cát chỗ sáng chỗ tối dưới ánh trăng trông như mặt
biển gợn sóng làm cậu nhớ lại cái lần mình buông cương để ngựa đi tìm dấu hiệu
mà nhà luyện kim đan đòi hỏi. Ánh trăng soi trên sa mạc im ắng và soi cả những
chuyến viễn du của những người đi tìm kho báu.
Lát
sau, khi cậu leo lên được đỉnh đồi cát thì tim cậu rộn lên mừng rỡ. Kim Tự Tháp
Ai Cập nằm kia, đồ sộ và hùng vĩ trên mặt sa mạc loáng ánh trăng tròn.
Cậu
quì xuống và khóc vì ngợp trong hạnh phúc. Cậu tạ ơn Thượng Đế đã khiến cậu tin
vào vận mệnh mình cũng như đã khiến cậu gặp được vị vua già, chủ cửa hàng pha
lê, anh chàng người Anh và nhà luyện kim đan. Nhất là đã khiến cậu gặp được cô
gái sa mạc và cô đã cho cậu biết rằng tình yêu không bao giờ cản trở người trai
theo đuổi vận mệnh mình.
Các
Kim Tự Tháp hùng vĩ có từ hàng nghìn năm trước như nhìn xuống cậu. Nếu muốn cậu
có thể quay về ốc đảo ngay bây giờ, lấy Fatima và sống cuộc đời của người chăn
cừu bình thường. Ngay cả nhà luyện kim đan cũng sống trong sa mạc, dù ông biết
thứ ngôn ngữ vũ trụ và biến được chì thành vàng. Cậu chẳng cần phải chứng tỏ với
một ai kiến thức và tài sản của mình. Trên bước đường thực hiện vận mệnh mình cậu
đã học được mọi điều cần thiết và đã được sống như cậu hằng mơ tưởng. Bây giờ
thì cậu đã tới được nơi chôn giấu kho báu rồi. Nhưng một việc chỉ được coi là
hoàn tất khi nào đạt mục tiêu.
Cậu
đã khóc trên đồi cát này. Nhìn xuống mặt cát cậu thấy một con bọ hung đang bới
chỗ nước mắt cậu vừa rơi xuống. Trong những ngày ở sa mạc cậu học được rằng ở
Ai Cập bọ hung là dấu hiệu của Thượng Đế.
Thế
là thêm một điềm báo nữa! Cậu bắt đầu đào, vừa đào vừa nhớ tới điều người bán
hàng pha lê từng nói: ai cũng có thể xây được Kim Tự Tháp trong vườn của mình.
Bây giờ thì cậu thấy có bỏ cả đời để chồng đá lên nhau cũng chẳng bao giờ thành
nổi một Kim Tự Tháp được.
Cậu
đào suốt đêm chỉ một chỗ đó mà chẳng tìm thấy gì. Kim Tự Tháp hàng nghìn năm
kia lặng lẽ nhìn xuống cậu. Nhưng cậu không bỏ cuộc; cậu tiếp tục vừa đào vừa
phải cản ngọn gió cứ lùa cát vào lại lỗ trũng. Hai tay cậu mỏi nhừ, tấy lên
nhưng cậu tin vào trái tim mình. Nó đã bảo cậu phải đào chỗ những giọt nước mắt
rơi xuống.
Rồi
cậu chợt nghe có tiếng chân trong lúc đang moi đá. Có mấy bóng người đang lại gần.
Họ quay lưng về phía ánh trăng nên cậu không thấy được mặt mũi lẫn mắt họ.
“Mày
làm trò gì đấy?” Một cái bóng hỏi.
Cậu
không đáp mà thấy sợ, sợ mất kho báu.
“Bọn
ta chạy lạc vì các bộ lạc đánh nhau, nên rất cần tiền”, một bóng khác nói. “Mày
giấu gì ở đấy?”
“Tôi
chẳng giấu gì cả”, cậu đáp. Nhưng một cái bóng khác túm lấy cậu, kéo ra khỏi hố.
Một tên khác lục túi cậu, thấy thỏi vàng.
“Nó
có vàng trong người”, gã đó kêu.
Ánh
trăng rọi vào mặt gã và cậu nhìn thấy thần chết trong đôi mắt họ.
“Chắc
là nó còn giấu trong cát nhiều vàng nữa”, một gã khác nói.
Chúng
bắt cậu đào tiếp, nhưng rút cục vẫn chẳng thấy gì hết. Thế là chúng xúm lại tẩn
cậu, mãi cho đến khi mặt trời ló dạng. Quần áo cậu rách bươm và cậu cảm thấy
mình gần kề cái chết.
“Đằng
nào mình cũng sẽ chết thì tiền còn quí báu gì nữa?”
Cậu
nghĩ và nhớ lại nhà luyện kim đan đã từng nói: “Ít khi tiền cứu được người ta
khỏi chết”
Thế
là cậu thú thực: “Tôi tìm kho báu”, rồi với đôi môi dập nát và sưng vù cậu kể
cho bọn kia rằng đã hai lần mơ thấy một kho tàng giấu gần Kim Tự Tháp này. Gã
có vẻ là đầu sỏ lũ này im lặng một lúc rồi bảo đồng bọn: “Thả nó ra. Nó hết sạch
rồi. Chỗ vàng này chắc là nó lấy cắp được”.
Cậu
úp mặt xuống cát
“Thôi
bọn mình đi”, tay đầu sỏ nói.
Rồi
gã quay sang cậu: “Mày không chết được đâu. Mày sẽ còn phải sống để nhớ rằng đừng
nên ngu xuẩn thế. Hai năm trước, ngay chính chỗ này, tao cũng đã nhiều lần mơ rằng
tao phải đi Tây Ban Nha, tìm một ngôi nhà thờ làng đã sụp lở mà lũ chăn cừu thường
đưa cừu vào đó làm chỗ trú chân. Trong phòng thay áo lễ có mọc một cây cầu, dưới
rễ nó chôn giấu một kho vàng. Tao đâu có ngu để chỉ vì một giấc mơ mà vượt sa mạc”.
Rồi
chúng bỏ đi. Cậu lảo đảo đứng dậy, nhìn về phía Kim Tự Tháp. Tháp mỉm cười với
cậu, cậu cười lại. Tim cậu tràn ngập niềm vui. Giờ thì cậu tìm thấy kho báu rồi.
BẠT
Cậu
tên là Santiago. Cậu đến ngôi nhà nhỏ hoang phế kia khi trời vừa nhá nhem tối.
Cây dâu mọc trong cái phòng thay áo lễ trước kia vẫn còn đó. Qua cái mái đã sập
một nửa người ta vẫn có thể thấy được sao trời. Cậu nhớ lại cách đây không lâu
mình và lũ cừu đã ở đây một đêm rất yên bình – không kể giấc mộng.
Bây
giờ không có bầy cừu bên cậu nữa; trong tay cậu là một cái xẻng. Cậu nhìn lên
trời một lúc, rồi lấy từ túi ra một chai vang, nhâm nhi. Cậu nhớ lại cái đêm
nhìn trăng trong sa mạc, uống vang với nhà luyện kim đan; nhớ lại những chặng
đường đã trải qua và cái phương cách lạ thường Chúa chọn để chỉ cho cậu kho
tàng. Nếu không tin vào điều cậu hai lần mơ thì cậu sẽ không bao giờ gặp bà lão
Zigeuner, nhà vua già, gã bịp và những người khác trên con đường dài rong ruổi.
“Danh
sách những người và việc mình đã gặp thì dài lắm. Nhưng đã có dấu hiệu chỉ mình
hướng đi thì mình không thể nhầm lẫn được”, cậu tự nhủ.
Rồi
cậu thiếp đi mà không hay. Khi mở mắt thì mặt trời đã lên cao. Cậu bắt đầu đào
bới dưới gốc cây dâu.
“Ông
đúng là một lão phù thủy”, cậu thầm nghĩ. “Ông biết trước cả rồi. Thậm chí ông
đã để lại cả vàng cho cháu để cháu có tiền đi đường, trở lại ngôi nhà thờ này.
Người tu sĩ Côptic đã cười khi thấy cháu quay lại tu viện với quần áo rách
bươm. Chẳng lẽ ông không thể miễn cho cháu những khốn khổ đó được à?”
“Không”,
cậu nghe gió đáp. “Nếu ta cảnh báo cậu thì cậu sẽ chẳng bao giờ thấy được Kim Tự
Tháp. Mà chúng đẹp biết bao, phải thế không?”
Đó
là tiếng nhà luyện kim đan.
Cậu
cười, đào tiếp. Sau nữa giờ lưỡi xẻng chạm phải vật gì cứng. Một giờ sau cậu đứng
trước một cái hòm đầy tiền vàng cổ Tây Ban Nha. Có cả đá quí, mặt nạ vàng đính
lông trắng, đỏ và cả những pho tượng cẩn ngọc. Đó là những thứ cướp bóc được
trong thời kì xâm lược mà đất nước này đã quên từ lâu và những kẻ đi xâm lược
cũng không kể lại cho con cháu họ.
Cậu
moi bị lấy ra hai viên Urim và Thummim mà cậu chỉ dùng có mỗi một lần, vào một
buổi sáng nọ ở bãi chợ. Đời cậu và con đường cậu trải qua đều rải đầy dấu hiệu.
Cậu
bỏ hai viên đá vào hòm. Chúng cũng là một phần của kho tàng vì chúng gợi cậu nhớ
đến nhà vua già mà cậu hẳn sẽ không bao giờ gặp lại nữa.
“Đúng
là cuộc đời rất hào phóng với người nào chịu theo đuổi vận mệnh mình”, cậu
nghĩ. Rồi cậu nhớ rằng phải đến Tarifa để trả bà lão Zigeuner một phần mười kho
báu.
“Sao
họ tinh ranh thế nhỉ? Có lẽ vì họ đi nhiều”, cậu nghĩ.
Gió
lại thổi, gió Levante từ châu Phi. Lần này gió không mang lại mùi sa mạc hay mối
đe dọa xâm lược của người Mauren, mà mang đến một mùi thơm cậu rất quen, và một
nụ hôn nhẹ nhàng chạm trên môi cậu. Cậu mỉm cười. Lần đầu tiên cô ấy hôn mình.
“Anh
đến đây, Fatima “, cậu nói.
➖➖➖
Bản tiếng Anh
The Alchemist
Translated by Clifford E. Landers
PART TWO (continued)
THE
BOY APPROACHED THE GUARD AT THE FRONT OF THE huge white tent at the center of
the oasis.
“I
want to see the chieftains. I’ve brought omens from the desert.”
Without
responding, the guard entered the tent, where he remained for some time. When
he emerged, it was with a young Arab, dressed in white and gold. The boy told
the younger man what he had seen, and the man asked him to wait there. He
disappeared into the tent.
Night
fell, and an assortment of fighting men and merchants entered and exited the
tent. One by one, the campfires were extinguished, and the oasis fell as quiet
as the desert. Only the lights in the great tent remained. During all this
time, the boy thought about Fatima, and he was still unable to understand his
last conversation with her.
Finally,
after hours of waiting, the guard bade the boy enter. The boy was astonished by
what he saw inside. Never could he have imagined that, there in the middle of
the desert, there existed a tent like this one. The ground was covered with the
most beautiful carpets he had ever walked upon, and from the top of the
structure hung lamps of handwrought gold, each with a lighted candle. The
tribal chieftains were seated at the back of the tent in a semicircle, resting
upon richly embroidered silk cushions. Servants came and went with silver trays
laden with spices and tea. Other servants maintained the fires in the hookahs.
The atmosphere was suffused with the sweet scent of smoke.
There
were eight chieftains, but the boy could see immediately which of them was the
most important: an Arab dressed in white and gold, seated at the center of the
semicircle. At his side was the young Arab the boy had spoken with earlier.
“Who
is this stranger who speaks of omens?” asked one of the chieftains, eyeing the
boy.
“It
is I,” the boy answered. And he told what he had seen.
“Why
would the desert reveal such things to a stranger, when it knows that we have
been here for generations?” said another of the chieftains.
“Because
my eyes are not yet accustomed to the desert,” the boy said. “I can see things
that eyes habituated to the desert might not see.”
And
also because I know about the Soul of the World, he thought to himself.
“The
oasis is neutral ground. No one attacks an oasis,” said a third chieftain.
“I
can only tell you what I saw. If you don’t want to believe me, you don’t have
to do anything about it.”
The
men fell into an animated discussion. They spoke in an Arabic dialect that the
boy didn’t understand, but, when he made to leave, the guard told him to stay.
The boy became fearful; the omens told him that something was wrong. He
regretted having spoken to the camel driver about what he had seen in the
desert.
Suddenly,
the elder at the center smiled almost imperceptibly, and the boy felt better.
The man hadn’t participated in the discussion, and, in fact, hadn’t said a word
up to that point. But the boy was already used to the Language of the World,
and he could feel the vibrations of peace throughout the tent. Now his
intuition was that he had been right in coming.
The
discussion ended. The chieftains were silent for a few moments as they listened
to what the old man was saying. Then he turned to the boy: this time his
expression was cold and distant.
“Two
thousand years ago, in a distant land, a man who believed in dreams was thrown
into a dungeon and then sold as a slave,” the old man said, now in the dialect
the boy understood. “Our merchants bought that man, and brought him to Egypt.
All of us know that whoever believes in dreams also knows how to interpret
them.”
The
elder continued, “When the pharaoh dreamed of cows that were thin and cows that
were fat, this man I’m speaking of rescued Egypt from famine. His name was
Joseph. He, too, was a stranger in a strange land, like you, and he was
probably about your age.”
He
paused, and his eyes were still unfriendly.
“We
always observe the Tradition. The Tradition saved Egypt from famine in those
days, and made the Egyptians the wealthiest of peoples. The Tradition teaches
men how to cross the desert, and how their children should marry. The Tradition
says that an oasis is neutral territory, because both sides have oases, and so
both are vulnerable.”
No
one said a word as the old man continued.
“But
the Tradition also says that we should believe the messages of the desert.
Everything we know was taught to us by the desert.”
The
old man gave a signal, and everyone stood. The meeting was over. The hookahs
were extinguished, and the guards stood at attention. The boy made ready to
leave, but the old man spoke again:
“Tomorrow,
we are going to break the agreement that says that no one at the oasis may
carry arms. Throughout the entire day we will be on the lookout for our
enemies. When the sun sets, the men will once again surrender their arms to me.
For every ten dead men among our enemies, you will receive a piece of gold.
“But
arms cannot be drawn unless they also go into battle. Arms are as capricious as
the desert, and, if they are not used, the next time they might not function.
If at least one of them hasn’t been used by the end of the day tomorrow, one
will be used on you.”
When
the boy left the tent, the oasis was illuminated only by the light of the full
moon. He was twenty minutes from his tent, and began to make his way there.
He
was alarmed by what had happened. He had succeeded in reaching through to the
Soul of the World, and now the price for having done so might be his life. It
was a frightening bet. But he had been making risky bets ever since the day he
had sold his sheep to pursue his Personal Legend. And, as the camel driver had
said, to die tomorrow was no worse than dying on any other day. Every day was
there to be lived or to mark one’s departure from this world. Everything
depended on one word: “Maktub.”
Walking
along in the silence, he had no regrets. If he died tomorrow, it would be
because God was not willing to change the future. He would at least have died
after having crossed the strait, after having worked in a crystal shop, and
after having known the silence of the desert and Fatima’s eyes. He had lived
every one of his days intensely since he had left home so long ago. If he died
tomorrow, he would already have seen more than other shepherds, and he was
proud of that.
Suddenly
he heard a thundering sound, and he was thrown to the ground by a wind such as
he had never known. The area was swirling in dust so intense that it hid the
moon from view. Before him was an enormous white horse, rearing over him with a
frightening scream.
When
the blinding dust had settled a bit, the boy trembled at what he saw. Astride
the animal was a horseman dressed completely in black, with a falcon perched on
his left shoulder. He wore a turban and his entire face, except for his eyes,
was covered with a black kerchief. He appeared to be a messenger from the desert,
but his presence was much more powerful than that of a mere messenger.
The
strange horseman drew an enormous, curved sword from a scabbard mounted on his
saddle. The steel of its blade glittered in the light of the moon.
“Who
dares to read the meaning of the flight of the hawks?” he demanded, so loudly
that his words seemed to echo through the fifty thousand palm trees of
Al-Fayoum.
“It
is I who dared to do so,” said the boy. He was reminded of the image of
Santiago Matamoros, mounted on his white horse, with the infidels beneath his
hooves. This man looked exactly the same, except that now the roles were
reversed.
“It
is I who dared to do so,” he repeated, and he lowered his head to receive a
blow from the sword. “Many lives will be saved, because I was able to see
through to the Soul of the World.”
The
sword didn’t fall. Instead, the stranger lowered it slowly, until the point
touched the boy’s forehead. It drew a droplet of blood.
The
horseman was completely immobile, as was the boy. It didn’t even occur to the
boy to flee. In his heart, he felt a strange sense of joy: he was about to die
in pursuit of his Personal Legend. And for Fatima. The omens had been true,
after all. Here he was, face-to-face with his enemy, but there was no need to
be concerned about dying—the Soul of the World awaited him, and he would soon
be a part of it. And, tomorrow, his enemy would also be a part of that Soul.
The
stranger continued to hold the sword at the boy’s forehead. “Why did you read
the flight of the birds?”
“I
read only what the birds wanted to tell me. They wanted to save the oasis.
Tomorrow all of you will die, because there are more men at the oasis than you
have.”
The
sword remained where it was. “Who are you to change what Allah has willed?”
“Allah
created the armies, and he also created the hawks. Allah taught me the language
of the birds. Everything has been written by the same hand,” the boy said,
remembering the camel driver’s words.
The
stranger withdrew the sword from the boy’s forehead, and the boy felt immensely
relieved. But he still couldn’t flee.
“Be
careful with your prognostications,” said the stranger. “When something is
written, there is no way to change it.”
“All
I saw was an army,” said the boy. “I didn’t see the outcome of the battle.”
The
stranger seemed satisfied with the answer. But he kept the sword in his hand.
“What is a stranger doing in a strange land?”
“I
am following my Personal Legend. It’s not something you would understand.”
The
stranger placed his sword in its scabbard, and the boy relaxed.
“I
had to test your courage,” the stranger said. “Courage is the quality most
essential to understanding the Language of the World.”
The
boy was surprised. The stranger was speaking of things that very few people
knew about.
“You
must not let up, even after having come so far,” he continued. “You must love
the desert, but never trust it completely. Because the desert tests all men: it
challenges every step, and kills those who become distracted.”
What
he said reminded the boy of the old king.
“If
the warriors come here, and your head is still on your shoulders at sunset,
come and find me,” said the stranger.
The
same hand that had brandished the sword now held a whip. The horse reared
again, raising a cloud of dust.
“Where
do you live?” shouted the boy, as the horseman rode away.
The
hand with the whip pointed to the south.
The
boy had met the alchemist.
NEXT
MORNING, THERE WERE TWO THOUSAND ARMED men scattered throughout the palm trees
at Al-Fayoum. Before the sun had reached its high point, five hundred tribesmen
appeared on the horizon. The mounted troops entered the oasis from the north;
it appeared to be a peaceful expedition, but they all carried arms hidden in
their robes. When they reached the white tent at the center of Al-Fayoum, they
withdrew their scimitars and rifles. And they attacked an empty tent.
The
men of the oasis surrounded the horsemen from the desert and within half an
hour all but one of the intruders were dead. The children had been kept at the
other side of a grove of palm trees, and saw nothing of what had happened. The
women had remained in their tents, praying for the safekeeping of their
husbands, and saw nothing of the battle, either. Were it not for the bodies
there on the ground, it would have appeared to be a normal day at the oasis.
The
only tribesman spared was the commander of the battalion. That afternoon, he
was brought before the tribal chieftains, who asked him why he had violated the
Tradition. The commander said that his men had been starving and thirsty,
exhausted from many days of battle, and had decided to take the oasis so as to
be able to return to the war.
The
tribal chieftain said that he felt sorry for the tribesmen, but that the
Tradition was sacred. He condemned the commander to death without honor. Rather
than being killed by a blade or a bullet, he was hanged from a dead palm tree,
where his body twisted in the desert wind.
The
tribal chieftain called for the boy, and presented him with fifty pieces of
gold. He repeated his story about Joseph of Egypt, and asked the boy to become
the counselor of the oasis.
WHEN
THE SUN HAD SET, AND THE FIRST STARS MADE their appearance, the boy started to
walk to the south. He eventually sighted a single tent, and a group of Arabs
passing by told the boy that it was a place inhabited by genies. But the boy
sat down and waited.
Not
until the moon was high did the alchemist ride into view. He carried two dead
hawks over his shoulder.
“I
am here,” the boy said.
“You
shouldn’t be here,” the alchemist answered. “Or is it your Personal Legend that
brings you here?”
“With
the wars between the tribes, it’s impossible to cross the desert. So I have
come here.”
The
alchemist dismounted from his horse, and signaled that the boy should enter the
tent with him. It was a tent like many at the oasis. The boy looked around for
the ovens and other apparatus used in alchemy, but saw none. There were only
some books in a pile, a small cooking stove, and the carpets, covered with
mysterious designs.
“Sit
down. We’ll have something to drink and eat these hawks,” said the alchemist.
The
boy suspected that they were the same hawks he had seen on the day before, but
he said nothing. The alchemist lighted the fire, and soon a delicious aroma
filled the tent. It was better than the scent of the hookahs.
“Why
did you want to see me?” the boy asked.
“Because
of the omens,” the alchemist answered. “The wind told me you would be coming,
and that you would need help.”
“It’s
not I the wind spoke about. It’s the other foreigner, the Englishman. He’s the
one that’s looking for you.”
“He
has other things to do first. But he’s on the right track. He has begun to try
to understand the desert.”
“And
what about me?”
“When
a person really desires something, all the universe conspires to help that
person to realize his dream,” said the alchemist, echoing the words of the old
king. The boy understood. Another person was there to help him toward his
Personal Legend.
“So
you are going to instruct me?”
“No.
You already know all you need to know. I am only going to point you in the
direction of your treasure.”
“But
there’s a tribal war,” the boy reiterated.
“I
know what’s happening in the desert.”
“I
have already found my treasure. I have a camel, I have my money from the
crystal shop, and I have fifty gold pieces. In my own country, I would be a
rich man.”
“But
none of that is from the Pyramids,” said the alchemist.
“I
also have Fatima. She is a treasure greater than anything else I have won.”
“She
wasn’t found at the Pyramids, either.”
They
ate in silence. The alchemist opened a bottle and poured a red liquid into the
boy’s cup. It was the most delicious wine he had ever tasted.
“Isn’t
wine prohibited here?” the boy asked
“It’s
not what enters men’s mouths that’s evil,” said the alchemist. “It’s what comes
out of their mouths that is.”
The
alchemist was a bit daunting, but, as the boy drank the wine, he relaxed. After
they finished eating they sat outside the tent, under a moon so brilliant that
it made the stars pale.
“Drink
and enjoy yourself,” said the alchemist, noticing that the boy was feeling
happier. “Rest well tonight, as if you were a warrior preparing for combat.
Remember that wherever your heart is, there you will find your treasure. You’ve
got to find the treasure, so that everything you have learned along the way can
make sense.
“Tomorrow,
sell your camel and buy a horse. Camels are traitorous: they walk thousands of
paces and never seem to tire. Then suddenly, they kneel and die. But horses
tire bit by bit. You always know how much you can ask of them, and when it is
that they are about to die.”
THE
FOLLOWING NIGHT, THE BOY APPEARED AT THE alchemist’s tent with a horse. The
alchemist was ready, and he mounted his own steed and placed the falcon on his
left shoulder. He said to the boy, “Show me where there is life out in the
desert. Only those who can see such signs of life are able to find treasure.”
They
began to ride out over the sands, with the moon lighting their way. I don’t
know if I’ll be able to find life in the desert, the boy thought. I don’t know
the desert that well yet.
He
wanted to say so to the alchemist, but he was afraid of the man. They reached
the rocky place where the boy had seen the hawks in the sky, but now there was
only silence and the wind.
“I
don’t know how to find life in the desert,” the boy said. “I know that there is
life here, but I don’t know where to look.”
“Life
attracts life,” the alchemist answered.
And
then the boy understood. He loosened the reins on his horse, who galloped
forward over the rocks and sand. The alchemist followed as the boy’s horse ran
for almost half an hour. They could no longer see the palms of the oasis—only
the gigantic moon above them, and its silver reflections from the stones of the
desert. Suddenly, for no apparent reason, the boy’s horse began to slow.
“There’s
life here,” the boy said to the alchemist. “I don’t know the language of the
desert, but my horse knows the language of life.”
They
dismounted, and the alchemist said nothing. Advancing slowly, they searched
among the stones. The alchemist stopped abruptly, and bent to the ground. There
was a hole there among the stones. The alchemist put his hand into the hole,
and then his entire arm, up to his shoulder. Something was moving there, and
the alchemist’s eyes—the boy could see only his eyes—squinted with his effort.
His arm seemed to be battling with whatever was in the hole. Then, with a
motion that startled the boy, he withdrew his arm and leaped to his feet. In
his hand, he grasped a snake by the tail.
The
boy leapt as well, but away from the alchemist. The snake fought frantically,
making hissing sounds that shattered the silence of the desert. It was a cobra,
whose venom could kill a person in minutes.
“Watch
out for his venom,” the boy said. But even though the alchemist had put his
hand in the hole, and had surely already been bitten, his expression was calm.
“The alchemist is two hundred years old,” the Englishman had told him. He must
know how to deal with the snakes of the desert.
The
boy watched as his companion went to his horse and withdrew a scimitar. With
its blade, he drew a circle in the sand, and then he placed the snake within
it. The serpent relaxed immediately.
“Not
to worry,” said the alchemist. “He won’t leave the circle. You found life in
the desert, the omen that I needed.”
“Why
was that so important?”
“Because
the Pyramids are surrounded by the desert.”
The
boy didn’t want to talk about the Pyramids. His heart was heavy, and he had
been melancholy since the previous night. To continue his search for the
treasure meant that he had to abandon Fatima.
“I’m
going to guide you across the desert,” the alchemist said.
“I
want to stay at the oasis,” the boy answered. “I’ve found Fatima, and, as far
as I’m concerned, she’s worth more than treasure.”
“Fatima
is a woman of the desert,” said the alchemist. “She knows that men have to go
away in order to return. And she already has her treasure: it’s you. Now she
expects that you will find what it is you’re looking for.”
“Well,
what if I decide to stay?”
“Let
me tell you what will happen. You’ll be the counselor of the oasis. You have
enough gold to buy many sheep and many camels. You’ll marry Fatima, and you’ll
both be happy for a year. You’ll learn to love the desert, and you’ll get to
know every one of the fifty thousand palms. You’ll watch them as they grow,
demonstrating how the world is always changing. And you’ll get better and
better at understanding omens, because the desert is the best teacher there is.
“Sometime
during the second year, you’ll remember about the treasure. The omens will
begin insistently to speak of it, and you’ll try to ignore them. You’ll use
your knowledge for the welfare of the oasis and its inhabitants. The tribal
chieftains will appreciate what you do. And your camels will bring you wealth
and power.
“During
the third year, the omens will continue to speak of your treasure and your
Personal Legend. You’ll walk around, night after night, at the oasis, and
Fatima will be unhappy because she’ll feel it was she who interrupted your
quest. But you will love her, and she’ll return your love. You’ll remember that
she never asked you to stay, because a woman of the desert knows that she must
await her man. So you won’t blame her. But many times you’ll walk the sands of
the desert, thinking that maybe you could have left…that you could have trusted
more in your love for Fatima. Because what kept you at the oasis was your own
fear that you might never come back. At that point, the omens will tell you
that your treasure is buried forever.
“Then,
sometime during the fourth year, the omens will abandon you, because you’ve
stopped listening to them. The tribal chieftains will see that, and you’ll be
dismissed from your position as counselor. But, by then, you’ll be a rich
merchant, with many camels and a great deal of merchandise. You’ll spend the
rest of your days knowing that you didn’t pursue your Personal Legend, and that
now it’s too late.
“You
must understand that love never keeps a man from pursuing his Personal Legend.
If he abandons that pursuit, it’s because it wasn’t true love…the love that
speaks the Language of the World.”
The
alchemist erased the circle in the sand, and the snake slithered away among the
rocks. The boy remembered the crystal merchant who had always wanted to go to
Mecca, and the Englishman in search of the alchemist. He thought of the woman
who had trusted in the desert. And he looked out over the desert that had
brought him to the woman he loved.
They
mounted their horses, and this time it was the boy who followed the alchemist
back to the oasis. The wind brought the sounds of the oasis to them, and the
boy tried to hear Fatima’s voice.
But
that night, as he had watched the cobra within the circle, the strange horseman
with the falcon on his shoulder had spoken of love and treasure, of the women
of the desert and of his Personal Legend.
“I’m
going with you,” the boy said. And he immediately felt peace in his heart.
“We’ll
leave tomorrow before sunrise,” was the alchemist’s only response.
THE
BOY SPENT A SLEEPLESS NIGHT. TWO HOURS BEFORE dawn, he awoke one of the boys
who slept in his tent, and asked him to show him where Fatima lived. They went
to her tent, and the boy gave his friend enough gold to buy a sheep.
Then
he asked his friend to go into the tent where Fatima was sleeping, and to
awaken her and tell her that he was waiting outside. The young Arab did as he
was asked, and was given enough gold to buy yet another sheep.
“Now
leave us alone,” said the boy to the young Arab. The Arab returned to his tent
to sleep, proud to have helped the counselor of the oasis, and happy at having
enough money to buy himself some sheep.
Fatima
appeared at the entrance to the tent. The two walked out among the palms. The
boy knew that it was a violation of the Tradition, but that didn’t matter to
him now.
“I’m
going away,” he said. “And I want you to know that I’m coming back. I love you
because…”
“Don’t
say anything,” Fatima interrupted. “One is loved because one is loved. No
reason is needed for loving.”
But
the boy continued, “I had a dream, and I met with a king. I sold crystal and
crossed the desert. And, because the tribes declared war, I went to the well,
seeking the alchemist. So, I love you because the entire universe conspired to
help me find you.”
The
two embraced. It was the first time either had touched the other.
“I’ll
be back,” the boy said.
“Before
this, I always looked to the desert with longing,” said Fatima. “Now it will be
with hope. My father went away one day, but he returned to my mother, and he
has always come back since then.”
They
said nothing else. They walked a bit farther among the palms, and then the boy
left her at the entrance to her tent.
“I’ll
return, just as your father came back to your mother,” he said.
He
saw that Fatima’s eyes were filled with tears.
“You’re
crying?”
“I’m
a woman of the desert,” she said, averting her face. “But above all, I’m a
woman.”
Fatima
went back to her tent, and, when daylight came, she went out to do the chores
she had done for years. But everything had changed. The boy was no longer at
the oasis, and the oasis would never again have the same meaning it had had
only yesterday. It would no longer be a place with fifty thousand palm trees
and three hundred wells, where the pilgrims arrived, relieved at the end of
their long journeys. From that day on, the oasis would be an empty place for
her.
From
that day on, it was the desert that would be important. She would look to it
every day, and would try to guess which star the boy was following in search of
his treasure. She would have to send her kisses on the wind, hoping that the
wind would touch the boy’s face, and would tell him that she was alive. That
she was waiting for him, a woman awaiting a courageous man in search of his
treasure. From that day on, the desert would represent only one thing to her:
the hope for his return.
“DON’T
THINK ABOUT WHAT YOU’VE LEFT BEHIND,” THE alchemist said to the boy as they
began to ride across the sands of the desert. “Everything is written in the
Soul of the World, and there it will stay forever.”
“Men
dream more about coming home than about leaving,” the boy said. He was already
reaccustomed to the desert’s silence.
“If
what one finds is made of pure matter, it will never spoil. And one can always
come back. If what you had found was only a moment of light, like the explosion
of a star, you would find nothing on your return.”
The
man was speaking the language of alchemy. But the boy knew that he was
referring to Fatima.
It
was difficult not to think about what he had left behind. The desert, with its
endless monotony, put him to dreaming. The boy could still see the palm trees,
the wells, and the face of the woman he loved. He could see the Englishman at
his experiments, and the camel driver who was a teacher without realizing it.
Maybe the alchemist has never been in love, the boy thought.
The
alchemist rode in front, with the falcon on his shoulder. The bird knew the
language of the desert well, and whenever they stopped, he flew off in search
of game. On the first day he returned with a rabbit, and on the second with two
birds.
At
night, they spread their sleeping gear and kept their fires hidden. The desert
nights were cold, and were becoming darker and darker as the phases of the moon
passed. They went on for a week, speaking only of the precautions they needed
to follow in order to avoid the battles between the tribes. The war continued,
and at times the wind carried the sweet, sickly smell of blood. Battles had
been fought nearby, and the wind reminded the boy that there was the language
of omens, always ready to show him what his eyes had failed to observe.
On
the seventh day, the alchemist decided to make camp earlier than usual. The
falcon flew off to find game, and the alchemist offered his water container to
the boy.
“You
are almost at the end of your journey,” said the alchemist. “I congratulate you
for having pursued your Personal Legend.”
“And
you’ve told me nothing along the way,” said the boy. “I thought you were going
to teach me some of the things you know. A while ago, I rode through the desert
with a man who had books on alchemy. But I wasn’t able to learn anything from
them.”
“There
is only one way to learn,” the alchemist answered. “It’s through action.
Everything you need to know you have learned through your journey. You need to
learn only one thing more.”
The
boy wanted to know what that was, but the alchemist was searching the horizon,
looking for the falcon.
“Why
are you called the alchemist?”
“Because
that’s what I am.”
“And
what went wrong when other alchemists tried to make gold and were unable to do
so?”
“They
were looking only for gold,” his companion answered. “They were seeking the
treasure of their Personal Legend, without wanting actually to live out the
Personal Legend.”
“What
is it that I still need to know?” the boy asked.
But
the alchemist continued to look to the horizon. And finally the falcon returned
with their meal. They dug a hole and lit their fire in it, so that the light of
the flames would not be seen.
“I’m
an alchemist simply because I’m an alchemist,” he said, as he prepared the
meal. “I learned the science from my grandfather, who learned from his father,
and so on, back to the creation of the world. In those times, the Master Work
could be written simply on an emerald. But men began to reject simple things,
and to write tracts, interpretations, and philosophical studies. They also
began to feel that they knew a better way than others had. Yet the Emerald
Tablet is still alive today.”
“What
was written on the Emerald Tablet?” the boy wanted to know.
The
alchemist began to draw in the sand, and completed his drawing in less than
five minutes. As he drew, the boy thought of the old king, and the plaza where
they had met that day; it seemed as if it had taken place years and years ago.
“This
is what was written on the Emerald Tablet,” said the alchemist, when he had
finished.
The
boy tried to read what was written in the sand.
“It’s
a code,” said the boy, a bit disappointed. “It looks like what I saw in the
Englishman’s books.”
“No,”
the alchemist answered. “It’s like the flight of those two hawks; it can’t be
understood by reason alone. The Emerald Tablet is a direct passage to the Soul
of the World.
“The
wise men understood that this natural world is only an image and a copy of
paradise. The existence of this world is simply a guarantee that there exists a
world that is perfect. God created the world so that, through its visible
objects, men could understand his spiritual teachings and the marvels of his
wisdom. That’s what I mean by action.”
“Should
I understand the Emerald Tablet?” the boy asked.
“Perhaps,
if you were in a laboratory of alchemy, this would be the right time to study
the best way to understand the Emerald Tablet. But you are in the desert. So
immerse yourself in it. The desert will give you an understanding of the world;
in fact, anything on the face of the earth will do that. You don’t even have to
understand the desert: all you have to do is contemplate a simple grain of
sand, and you will see in it all the marvels of creation.”
“How
do I immerse myself in the desert?”
“Listen
to your heart. It knows all things, because it came from the Soul of the World,
and it will one day return there.”
THEY
CROSSED THE DESERT FOR ANOTHER TWO DAYS IN silence. The alchemist had become
much more cautious, because they were approaching the area where the most
violent battles were being waged. As they moved along, the boy tried to listen
to his heart.
It
was not easy to do; in earlier times, his heart had always been ready to tell
its story, but lately that wasn’t true. There had been times when his heart
spent hours telling of its sadness, and at other times it became so emotional
over the desert sunrise that the boy had to hide his tears. His heart beat
fastest when it spoke to the boy of treasure, and more slowly when the boy
stared entranced at the endless horizons of the desert. But his heart was never
quiet, even when the boy and the alchemist had fallen into silence.
“Why
do we have to listen to our hearts?” the boy asked, when they had made camp
that day.
“Because,
wherever your heart is, that is where you’ll find your treasure.”
“But
my heart is agitated,” the boy said. “It has its dreams, it gets emotional, and
it’s become passionate over a woman of the desert. It asks things of me, and it
keeps me from sleeping many nights, when I’m thinking about her.”
“Well,
that’s good. Your heart is alive. Keep listening to what it has to say.”
During
the next three days, the two travelers passed by a number of armed tribesmen,
and saw others on the horizon. The boy’s heart began to speak of fear. It told
him stories it had heard from the Soul of the World, stories of men who sought
to find their treasure and never succeeded. Sometimes it frightened the boy
with the idea that he might not find his treasure, or that he might die there
in the desert. At other times, it told the boy that it was satisfied: it had
found love and riches.
“My
heart is a traitor,” the boy said to the alchemist, when they had paused to
rest the horses. “It doesn’t want me to go on.”
“That
makes sense,” the alchemist answered. “Naturally it’s afraid that, in pursuing
your dream, you might lose everything you’ve won.”
“Well,
then, why should I listen to my heart?”
“Because
you will never again be able to keep it quiet. Even if you pretend not to have
heard what it tells you, it will always be there inside you, repeating to you
what you’re thinking about life and about the world.”
“You
mean I should listen, even if it’s treasonous?”
“Treason
is a blow that comes unexpectedly. If you know your heart well, it will never
be able to do that to you. Because you’ll know its dreams and wishes, and will
know how to deal with them.
“You
will never be able to escape from your heart. So it’s better to listen to what
it has to say. That way, you’ll never have to fear an unanticipated blow.”
The
boy continued to listen to his heart as they crossed the desert. He came to
understand its dodges and tricks, and to accept it as it was. He lost his fear,
and forgot about his need to go back to the oasis, because, one afternoon, his
heart told him that it was happy. “Even though I complain sometimes,” it said,
“it’s because I’m the heart of a person, and people’s hearts are that way.
People are afraid to pursue their most important dreams, because they feel that
they don’t deserve them, or that they’ll be unable to achieve them. We, their
hearts, become fearful just thinking of loved ones who go away forever, or of
moments that could have been good but weren’t, or of treasures that might have
been found but were forever hidden in the sands. Because, when these things
happen, we suffer terribly.”
“My
heart is afraid that it will have to suffer,” the boy told the alchemist one
night as they looked up at the moonless sky.
“Tell
your heart that the fear of suffering is worse than the suffering itself. And
that no heart has ever suffered when it goes in search of its dreams, because
every second of the search is a second’s encounter with God and with eternity.”
“Every
second of the search is an encounter with God,” the boy told his heart. “When I
have been truly searching for my treasure, every day has been luminous, because
I’ve known that every hour was a part of the dream that I would find it. When I
have been truly searching for my treasure, I’ve discovered things along the way
that I never would have seen had I not had the courage to try things that
seemed impossible for a shepherd to achieve.”
So
his heart was quiet for an entire afternoon. That night, the boy slept deeply,
and, when he awoke, his heart began to tell him things that came from the Soul
of the World. It said that all people who are happy have God within them. And
that happiness could be found in a grain of sand from the desert, as the
alchemist had said. Because a grain of sand is a moment of creation, and the
universe has taken millions of years to create it. “Everyone on earth has a
treasure that awaits him,” his heart said. “We, people’s hearts, seldom say
much about those treasures, because people no longer want to go in search of
them. We speak of them only to children. Later, we simply let life proceed, in
its own direction, toward its own fate. But, unfortunately, very few follow the
path laid out for them—the path to their Personal Legends, and to happiness.
Most people see the world as a threatening place, and, because they do, the
world turns out, indeed, to be a threatening place.
“So,
we, their hearts, speak more and more softly. We never stop speaking out, but
we begin to hope that our words won’t be heard: we don’t want people to suffer
because they don’t follow their hearts.”
“Why
don’t people’s hearts tell them to continue to follow their dreams?” the boy
asked the alchemist.
“Because
that’s what makes a heart suffer most, and hearts don’t like to suffer.”
From
then on, the boy understood his heart. He asked it, please, never to stop
speaking to him. He asked that, when he wandered far from his dreams, his heart
press him and sound the alarm. The boy swore that, every time he heard the
alarm, he would heed its message.
That
night, he told all of this to the alchemist. And the alchemist understood that
the boy’s heart had returned to the Soul of the World.
“So
what should I do now?” the boy asked.
“Continue
in the direction of the Pyramids,” said the alchemist. “And continue to pay
heed to the omens. Your heart is still capable of showing you where the
treasure is.”
“Is
that the one thing I still needed to know?”
“No,”
the alchemist answered. “What you still need to know is this: before a dream is
realized, the Soul of the World tests everything that was learned along the
way. It does this not because it is evil, but so that we can, in addition to
realizing our dreams, master the lessons we’ve learned as we’ve moved toward
that dream. That’s the point at which most people give up. It’s the point at
which, as we say in the language of the desert, one ‘dies of thirst just when
the palm trees have appeared on the horizon.’
“Every
search begins with beginner’s luck. And every search ends with the victor’s
being severely tested.”
The
boy remembered an old proverb from his country. It said that the darkest hour
of the night came just before the dawn.
ON
THE FOLLOWING DAY, THE FIRST CLEAR SIGN OF danger appeared. Three armed
tribesmen approached, and asked what the boy and the alchemist were doing
there.
“I’m
hunting with my falcon,” the alchemist answered.
“We’re
going to have to search you to see whether you’re armed,” one of the tribesmen
said.
The
alchemist dismounted slowly, and the boy did the same.
“Why
are you carrying money?” asked the tribesman, when he had searched the boy’s
bag.
“I
need it to get to the Pyramids,” he said.
The
tribesman who was searching the alchemist’s belongings found a small crystal
flask filled with a liquid, and a yellow glass egg that was slightly larger
than a chicken’s egg.
“What
are these things?” he asked.
“That’s
the Philosopher’s Stone and the Elixir of Life. It’s the Master Work of the
alchemists. Whoever swallows that elixir will never be sick again, and a
fragment from that stone turns any metal into gold.”
The
Arabs laughed at him, and the alchemist laughed along. They thought his answer
was amusing, and they allowed the boy and the alchemist to proceed with all of
their belongings.
“Are
you crazy?” the boy asked the alchemist, when they had moved on. “What did you
do that for?”
“To
show you one of life’s simple lessons,” the alchemist answered. “When you
possess great treasures within you, and try to tell others of them, seldom are
you believed.”
They
continued across the desert. With every day that passed, the boy’s heart became
more and more silent. It no longer wanted to know about things of the past or
future; it was content simply to contemplate the desert, and to drink with the
boy from the Soul of the World. The boy and his heart had become friends, and
neither was capable now of betraying the other.
When
his heart spoke to him, it was to provide a stimulus to the boy, and to give
him strength, because the days of silence there in the desert were wearisome.
His heart told the boy what his strongest qualities were: his courage in having
given up his sheep and in trying to live out his Personal Legend, and his
enthusiasm during the time he had worked at the crystal shop.
And
his heart told him something else that the boy had never noticed: it told the
boy of dangers that had threatened him, but that he had never perceived. His
heart said that one time it had hidden the rifle the boy had taken from his
father, because of the possibility that the boy might wound himself. And it
reminded the boy of the day when he had been ill and vomiting out in the
fields, after which he had fallen into a deep sleep. There had been two thieves
farther ahead who were planning to steal the boy’s sheep and murder him. But,
since the boy hadn’t passed by, they had decided to move on, thinking that he
had changed his route.
“Does
a man’s heart always help him?” the boy asked the alchemist.
“Mostly
just the hearts of those who are trying to realize their Personal Legends. But
they do help children, drunkards, and the elderly, too.”
“Does
that mean that I’ll never run into danger?”
“It
means only that the heart does what it can,” the alchemist said.
One
afternoon, they passed by the encampment of one of the tribes. At each corner
of the camp were Arabs garbed in beautiful white robes, with arms at the ready.
The men were smoking their hookahs and trading stories from the battlefield. No
one paid any attention to the two travelers.
“There’s
no danger,” the boy said, when they had moved on past the encampment.
The
alchemist sounded angry: “Trust in your heart, but never forget that you’re in
the desert. When men are at war with one another, the Soul of the World can
hear the screams of battle. No one fails to suffer the consequences of
everything under the sun.”
All
things are one, the boy thought. And then, as if the desert wanted to
demonstrate that the alchemist was right, two horsemen appeared from behind the
travelers.
“You
can’t go any farther,” one of them said. “You’re in the area where the tribes
are at war.”
“I’m
not going very far,” the alchemist answered, looking straight into the eyes of
the horsemen. They were silent for a moment, and then agreed that the boy and
the alchemist could move along.
The
boy watched the exchange with fascination. “You dominated those horsemen with
the way you looked at them,” he said.
“Your
eyes show the strength of your soul,” answered the alchemist.
That’s
true, the boy thought. He had noticed that, in the midst of the multitude of
armed men back at the encampment, there had been one who stared fixedly at the
two. He had been so far away that his face wasn’t even visible. But the boy was
certain that he had been looking at them.
Finally,
when they had crossed the mountain range that extended along the entire
horizon, the alchemist said that they were only two days from the Pyramids.
“If
we’re going to go our separate ways soon,” the boy said, “then teach me about
alchemy.”
“You
already know about alchemy. It is about penetrating to the Soul of the World,
and discovering the treasure that has been reserved for you.”
“No,
that’s not what I mean. I’m talking about transforming lead into gold.”
The
alchemist fell as silent as the desert, and answered the boy only after they
had stopped to eat.
“Everything
in the universe evolved,” he said. “And, for wise men, gold is the metal that
evolved the furthest. Don’t ask me why; I don’t know why. I just know that the
Tradition is always right.
“Men
have never understood the words of the wise. So gold, instead of being seen as
a symbol of evolution, became the basis for conflict.”
“There
are many languages spoken by things,” the boy said. “There was a time when, for
me, a camel’s whinnying was nothing more than whinnying. Then it became a
signal of danger. And, finally, it became just a whinny again.”
But
then he stopped. The alchemist probably already knew all that.
“I
have known true alchemists,” the alchemist continued. “They locked themselves
in their laboratories, and tried to evolve, as gold had. And they found the
Philosopher’s Stone, because they understood that when something evolves,
everything around that thing evolves as well.
“Others
stumbled upon the stone by accident. They already had the gift, and their souls
were readier for such things than the souls of others. But they don’t count.
They’re quite rare.
“And
then there were the others, who were interested only in gold. They never found
the secret. They forgot that lead, copper, and iron have their own Personal
Legends to fulfill. And anyone who interferes with the Personal Legend of
another thing never will discover his own.”
The
alchemist’s words echoed out like a curse. He reached over and picked up a
shell from the ground.
“This
desert was once a sea,” he said.
“I
noticed that,” the boy answered.
The
alchemist told the boy to place the shell over his ear. He had done that many
times when he was a child, and had heard the sound of the sea.
“The
sea has lived on in this shell, because that’s its Personal Legend. And it will
never cease doing so until the desert is once again covered by water.”
They
mounted their horses, and rode out in the direction of the Pyramids of Egypt.
THE
SUN WAS SETTING WHEN THE BOY’S HEART SOUNDED a danger signal. They were
surrounded by gigantic dunes, and the boy looked at the alchemist to see
whether he had sensed anything. But he appeared to be unaware of any danger.
Five minutes later, the boy saw two horsemen waiting ahead of them. Before he
could say anything to the alchemist, the two horsemen had become ten, and then
a hundred. And then they were everywhere in the dunes.
They
were tribesmen dressed in blue, with black rings surrounding their turbans.
Their faces were hidden behind blue veils, with only their eyes showing.
Even
from a distance, their eyes conveyed the strength of their souls. And their
eyes spoke of death.
THE
TWO WERE TAKEN TO A NEARBY MILITARY CAMP. A soldier shoved the boy and the
alchemist into a tent where the chief was holding a meeting with his staff.
“These
are the spies,” said one of the men.
“We’re
just travelers,” the alchemist answered.
“You
were seen at the enemy camp three days ago. And you were talking with one of
the troops there.”
“I’m
just a man who wanders the desert and knows the stars,” said the alchemist. “I
have no information about troops or about the movement of the tribes. I was
simply acting as a guide for my friend here.”
“Who
is your friend?” the chief asked.
“An
alchemist,” said the alchemist. “He understands the forces of nature. And he
wants to show you his extraordinary powers.”
The
boy listened quietly. And fearfully.
“What
is a foreigner doing here?” asked another of the men.
“He
has brought money to give to your tribe,” said the alchemist, before the boy
could say a word. And seizing the boy’s bag, the alchemist gave the gold coins
to the chief.
The
Arab accepted them without a word. There was enough there to buy a lot of
weapons.
“What
is an alchemist?” he asked, finally.
“It’s
a man who understands nature and the world. If he wanted to, he could destroy
this camp just with the force of the wind.”
The
men laughed. They were used to the ravages of war, and knew that the wind could
not deliver them a fatal blow. Yet each felt his heart beat a bit faster. They
were men of the desert, and they were fearful of sorcerers.
“I
want to see him do it,” said the chief.
“He
needs three days,” answered the alchemist. “He is going to transform himself
into the wind, just to demonstrate his powers. If he can’t do so, we humbly
offer you our lives, for the honor of your tribe.”
“You
can’t offer me something that is already mine,” the chief said, arrogantly. But
he granted the travelers three days.
The
boy was shaking with fear, but the alchemist helped him out of the tent.
“Don’t
let them see that you’re afraid,” the alchemist said. “They are brave men, and
they despise cowards.”
But
the boy couldn’t even speak. He was able to do so only after they had walked
through the center of the camp. There was no need to imprison them: the Arabs
simply confiscated their horses. So, once again, the world had demonstrated its
many languages: the desert only moments ago had been endless and free, and now
it was an impenetrable wall.
“You
gave them everything I had!” the boy said. “Everything I’ve saved in my entire
life!”
“Well,
what good would it be to you if you had to die?” the alchemist answered. “Your
money saved us for three days. It’s not often that money saves a person’s
life.”
But
the boy was too frightened to listen to words of wisdom. He had no idea how he
was going to transform himself into the wind. He wasn’t an alchemist!
The
alchemist asked one of the soldiers for some tea, and poured some on the boy’s
wrists. A wave of relief washed over him, and the alchemist muttered some words
that the boy didn’t understand.
“Don’t
give in to your fears,” said the alchemist, in a strangely gentle voice. “If
you do, you won’t be able to talk to your heart.”
“But
I have no idea how to turn myself into the wind.”
“If
a person is living out his Personal Legend, he knows everything he needs to
know. There is only one thing that makes a dream impossible to achieve: the
fear of failure.”
“I’m
not afraid of failing. It’s just that I don’t know how to turn myself into the
wind.”
“Well,
you’ll have to learn; your life depends on it.”
“But
what if I can’t?”
“Then
you’ll die in the midst of trying to realize your Personal Legend. That’s a lot
better than dying like millions of other people, who never even knew what their
Personal Legends were.
“But
don’t worry,” the alchemist continued. “Usually the threat of death makes
people a lot more aware of their lives.”
THE
FIRST DAY PASSED. THERE WAS A MAJOR BATTLE nearby, and a number of wounded were
brought back to the camp. The dead soldiers were replaced by others, and life
went on. Death doesn’t change anything, the boy thought.
“You
could have died later on,” a soldier said to the body of one of his companions.
“You could have died after peace had been declared. But, in any case, you were
going to die.”
At
the end of the day, the boy went looking for the alchemist, who had taken his
falcon out into the desert.
“I
still have no idea how to turn myself into the wind,” the boy repeated.
“Remember
what I told you: the world is only the visible aspect of God. And that what
alchemy does is to bring spiritual perfection into contact with the material
plane.”
“What
are you doing?”
“Feeding
my falcon.”
“If
I’m not able to turn myself into the wind, we’re going to die,” the boy said.
“Why feed your falcon?”
“You’re
the one who may die,” the alchemist said. “I already know how to turn myself
into the wind.”
ON
THE SECOND DAY, THE BOY CLIMBED TO THE TOP OF A cliff near the camp. The
sentinels allowed him to go; they had already heard about the sorcerer who
could turn himself into the wind, and they didn’t want to go near him. In any
case, the desert was impassable.
He
spent the entire afternoon of the second day looking out over the desert, and
listening to his heart. The boy knew the desert sensed his fear.
They
both spoke the same language.
ON
THE THIRD DAY, THE CHIEF MET WITH HIS OFFICERS. He called the alchemist to the
meeting and said, “Let’s go see the boy who turns himself into the wind.”
“Let’s,”
the alchemist answered.
The
boy took them to the cliff where he had been on the previous day. He told them
all to be seated.
“It’s
going to take awhile,” the boy said.
“We’re
in no hurry,” the chief answered. “We are men of the desert.”
The
boy looked out at the horizon. There were mountains in the distance. And there
were dunes, rocks, and plants that insisted on living where survival seemed
impossible. There was the desert that he had wandered for so many months;
despite all that time, he knew only a small part of it. Within that small part,
he had found an Englishman, caravans, tribal wars, and an oasis with fifty
thousand palm trees and three hundred wells.
“What
do you want here today?” the desert asked him. “Didn’t you spend enough time
looking at me yesterday?”
“Somewhere
you are holding the person I love,” the boy said. “So, when I look out over
your sands, I am also looking at her. I want to return to her, and I need your
help so that I can turn myself into the wind.”
“What
is love?” the desert asked.
“Love
is the falcon’s flight over your sands. Because for him, you are a green field,
from which he always returns with game. He knows your rocks, your dunes, and
your mountains, and you are generous to him.”
“The
falcon’s beak carries bits of me, myself,” the desert said. “For years, I care
for his game, feeding it with the little water that I have, and then I show him
where the game is. And, one day, as I enjoy the fact that his game thrives on
my surface, the falcon dives out of the sky, and takes away what I’ve created.”
“But
that’s why you created the game in the first place,” the boy answered. “To
nourish the falcon. And the falcon then nourishes man. And, eventually, man
will nourish your sands, where the game will once again flourish. That’s how
the world goes.”
“So
is that what love is?”
“Yes,
that’s what love is. It’s what makes the game become the falcon, the falcon
become man, and man, in his turn, the desert. It’s what turns lead into gold,
and makes the gold return to the earth.”
“I
don’t understand what you’re talking about,” the desert said.
“But
you can at least understand that somewhere in your sands there is a woman
waiting for me. And that’s why I have to turn myself into the wind.”
The
desert didn’t answer him for a few moments.
Then
it told him, “I’ll give you my sands to help the wind to blow, but, alone, I
can’t do anything. You have to ask for help from the wind.”
A
breeze began to blow. The tribesmen watched the boy from a distance, talking
among themselves in a language that the boy couldn’t understand.
The
alchemist smiled.
The
wind approached the boy and touched his face. It knew of the boy’s talk with
the desert, because the winds know everything. They blow across the world
without a birthplace, and with no place to die.
“Help
me,” the boy said. “One day you carried the voice of my loved one to me.”
“Who
taught you to speak the language of the desert and the wind?”
“My
heart,” the boy answered.
The
wind has many names. In that part of the world, it was called the sirocco,
because it brought moisture from the oceans to the east. In the distant land
the boy came from, they called it the levanter, because they believed that it
brought with it the sands of the desert, and the screams of the Moorish wars.
Perhaps, in the places beyond the pastures where his sheep lived, men thought
that the wind came from Andalusia. But, actually, the wind came from no place
at all, nor did it go to any place; that’s why it was stronger than the desert.
Someone might one day plant trees in the desert, and even raise sheep there,
but never would they harness the wind.
“You
can’t be the wind,” the wind said. “We’re two very different things.”
“That’s
not true,” the boy said. “I learned the alchemist’s secrets in my travels. I
have inside me the winds, the deserts, the oceans, the stars, and everything
created in the universe. We were all made by the same hand, and we have the
same soul. I want to be like you, able to reach every corner of the world,
cross the seas, blow away the sands that cover my treasure, and carry the voice
of the woman I love.”
“I
heard what you were talking about the other day with the alchemist,” the wind
said. “He said that everything has its own Personal Legend. But people can’t
turn themselves into the wind.”
“Just
teach me to be the wind for a few moments,” the boy said. “So you and I can
talk about the limitless possibilities of people and the winds.”
The
wind’s curiosity was aroused, something that had never happened before. It
wanted to talk about those things, but it didn’t know how to turn a man into
the wind. And look how many things the wind already knew how to do! It created
deserts, sank ships, felled entire forests, and blew through cities filled with
music and strange noises. It felt that it had no limits, yet here was a boy
saying that there were other things the wind should be able to do.
“This
is what we call love,” the boy said, seeing that the wind was close to granting
what he requested. “When you are loved, you can do anything in creation. When
you are loved, there’s no need at all to understand what’s happening, because
everything happens within you, and even men can turn themselves into the wind.
As long as the wind helps, of course.”
The
wind was a proud being, and it was becoming irritated with what the boy was
saying. It commenced to blow harder, raising the desert sands. But finally it
had to recognize that, even making its may around the world, it didn’t know how
to turn a man into the wind. And it knew nothing about love.
“In
my travels around the world, I’ve often seen people speaking of love and
looking toward the heavens,” the wind said, furious at having to acknowledge
its own limitations. “Maybe it’s better to ask heaven.”
“Well
then, help me do that,” the boy said. “Fill this place with a sandstorm so
strong that it blots out the sun. Then I can look to heaven without blinding
myself.”
So
the wind blew with all its strength, and the sky was filled with sand. The sun
was turned into a golden disk.
At
the camp, it was difficult to see anything. The men of the desert were already
familiar with that wind. They called it the simum, and it was worse than
a storm at sea. Their horses cried out, and all their weapons were filled with
sand.
On
the heights, one of the commanders turned to the chief and said, “Maybe we had
better end this!”
They
could barely see the boy. Their faces were covered with the blue cloths, and
their eyes showed fear.
“Let’s
stop this,” another commander said.
“I
want to see the greatness of Allah,” the chief said, with respect. “I want to
see how a man turns himself into the wind.”
But
he made a mental note of the names of the two men who had expressed their fear.
As soon as the wind stopped, he was going to remove them from their commands,
because true men of the desert are not afraid.
“The
wind told me that you know about love,” the boy said to the sun. “If you know
about love, you must also know about the Soul of the World, because it’s made
of love.”
“From
where I am,” the sun said, “I can see the Soul of the World. It communicates
with my soul, and together we cause the plants to grow and the sheep to seek
out shade. From where I am—and I’m a long way from the earth—I learned how to
love. I know that if I came even a little bit closer to the earth, everything
there would die, and the Soul of the World would no longer exist. So we
contemplate each other, and we want each other, and I give it life and warmth,
and it gives me my reason for living.”
“So
you know about love,” the boy said.
“And
I know the Soul of the World, because we have talked at great length to each
other during this endless trip through the universe. It tells me that its
greatest problem is that, up until now, only the minerals and vegetables
understand that all things are one. That there’s no need for iron to be the
same as copper, or copper the same as gold. Each performs its own exact
function as a unique being, and everything would be a symphony of peace if the
hand that wrote all this had stopped on the fifth day of creation.
“But
there was a sixth day,” the sun went on.
“You
are wise, because you observe everything from a distance,” the boy said. “But
you don’t know about love. If there hadn’t been a sixth day, man would not
exist; copper would always be just copper, and lead just lead. It’s true that
everything has its Personal Legend, but one day that Personal Legend will be
realized. So each thing has to transform itself into something better, and to
acquire a new Personal Legend, until, someday, the Soul of the World becomes
one thing only.”
The
sun thought about that, and decided to shine more brightly. The wind, which was
enjoying the conversation, started to blow with greater force, so that the sun
would not blind the boy.
“This
is why alchemy exists,” the boy said. “So that everyone will search for his
treasure, find it, and then want to be better than he was in his former life.
Lead will play its role until the world has no further need for lead; and then
lead will have to turn itself into gold.
“That’s
what alchemists do. They show that, when we strive to become better than we
are, everything around us becomes better, too.”
“Well,
why did you say that I don’t know about love?” the sun asked the boy.
“Because
it’s not love to be static like the desert, nor is it love to roam the world
like the wind. And it’s not love to see everything from a distance, like you
do. Love is the force that transforms and improves the Soul of the World. When
I first reached through to it, I thought the Soul of the World was perfect. But
later, I could see that it was like other aspects of creation, and had its own
passions and wars. It is we who nourish the Soul of the World, and the world we
live in will be either better or worse, depending on whether we become better
or worse. And that’s where the power of love comes in. Because when we love, we
always strive to become better than we are.”
“So
what do you want of me?” the sun asked.
“I
want you to help me turn myself into the wind,” the boy answered.
“Nature
knows me as the wisest being in creation,” the sun said. “But I don’t know how
to turn you into the wind.”
“Then,
whom should I ask?”
The
sun thought for a minute. The wind was listening closely, and wanted to tell
every corner of the world that the sun’s wisdom had its limitations. That it
was unable to deal with this boy who spoke the Language of the World.
“Speak
to the hand that wrote all,” said the sun.
The
wind screamed with delight, and blew harder than ever. The tents were being
blown from their ties to the earth, and the animals were being freed from their
tethers. On the cliff, the men clutched at each other as they sought to keep
from being blown away.
The
boy turned to the hand that wrote all. As he did so, he sensed that the
universe had fallen silent, and he decided not to speak.
A
current of love rushed from his heart, and the boy began to pray. It was a
prayer that he had never said before, because it was a prayer without words or
pleas. His prayer didn’t give thanks for his sheep having found new pastures;
it didn’t ask that the boy be able to sell more crystal; and it didn’t beseech
that the woman he had met continue to await his return. In the silence, the boy
understood that the desert, the wind, and the sun were also trying to
understand the signs written by the hand, and were seeking to follow their
paths, and to understand what had been written on a single emerald. He saw that
omens were scattered throughout the earth and in space, and that there was no
reason or significance attached to their appearance; he could see that not the
deserts, nor the winds, nor the sun, nor people knew why they had been created.
But that the hand had a reason for all of this, and that only the hand could
perform miracles, or transform the sea into a desert…or a man into the wind.
Because only the hand understood that it was a larger design that had moved the
universe to the point at which six days of creation had evolved into a Master
Work.
The
boy reached through to the Soul of the World, and saw that it was a part of the
Soul of God. And he saw that the Soul of God was his own soul. And that he, a
boy, could perform miracles.
THE
SIMUM BLEW THAT DAY AS IT HAD NEVER BLOWN before. For generations
thereafter, the Arabs recounted the legend of a boy who had turned himself into
the wind, almost destroying a military camp, in defiance of the most powerful
chief in the desert.
When
the simum ceased to blow, everyone looked to the place where the boy had
been. But he was no longer there; he was standing next to a sand-covered
sentinel, on the far side of the camp.
The
men were terrified at his sorcery. But there were two people who were smiling:
the alchemist, because he had found his perfect disciple, and the chief,
because that disciple had understood the glory of God.
The
following day, the general bade the boy and the alchemist farewell, and
provided them with an escort party to accompany them as far as they chose.
THEY
RODE FOR THE ENTIRE DAY. TOWARD THE END OF the afternoon, they came upon a
Coptic monastery. The alchemist dismounted, and told the escorts they could
return to the camp.
“From
here on, you will be alone,” the alchemist said. “You are only three hours from
the Pyramids.”
“Thank
you,” said the boy. “You taught me the Language of the World.”
“I
only invoked what you already knew.”
The
alchemist knocked on the gate of the monastery. A monk dressed in black came to
the gates. They spoke for a few minutes in the Coptic tongue, and the alchemist
bade the boy enter.
“I
asked him to let me use the kitchen for a while,” the alchemist smiled.
They
went to the kitchen at the back of the monastery. The alchemist lighted the
fire, and the monk brought him some lead, which the alchemist placed in an iron
pan. When the lead had become liquid, the alchemist took from his pouch the
strange yellow egg. He scraped from it a sliver as thin as a hair, wrapped it
in wax, and added it to the pan in which the lead had melted.
The
mixture took on a reddish color, almost the color of blood. The alchemist
removed the pan from the fire, and set it aside to cool. As he did so, he
talked with the monk about the tribal wars.
“I
think they’re going to last for a long time,” he said to the monk.
The
monk was irritated. The caravans had been stopped at Giza for some time,
waiting for the wars to end. “But God’s will be done,” the monk said.
“Exactly,”
answered the alchemist.
When
the pan had cooled, the monk and the boy looked at it, dazzled. The lead had
dried into the shape of the pan, but it was no longer lead. It was gold.
“Will
I learn to do that someday?” the boy asked.
“This
was my Personal Legend, not yours,” the alchemist answered. “But I wanted to
show you that it was possible.”
They
returned to the gates of the monastery. There, the alchemist separated the disk
into four parts.
“This
is for you,” he said, holding one of the parts out to the monk. “It’s for your
generosity to the pilgrims.”
“But
this payment goes well beyond my generosity,” the monk responded.
“Don’t
say that again. Life might be listening, and give you less the next time.”
The
alchemist turned to the boy. “This is for you. To make up for what you gave to
the general.”
The
boy was about to say that it was much more than he had given the general. But
he kept quiet, because he had heard what the alchemist said to the monk.
“And
this is for me,” said the alchemist, keeping one of the parts. “Because I have
to return to the desert, where there are tribal wars.”
He
took the fourth part and handed it to the monk.
“This
is for the boy. If he ever needs it.”
“But
I’m going in search of my treasure,” the boy said. “I’m very close to it now.”
“And
I’m certain you’ll find it,” the alchemist said.
“Then
why this?”
“Because
you have already lost your savings twice. Once to the thief, and once to the
general. I’m an old, superstitious Arab, and I believe in our proverbs. There’s
one that says, ‘Everything that happens once can never happen again. But
everything that happens twice will surely happen a third time.’” They mounted
their horses.
“I
WANT TO TELL YOU A STORY ABOUT DREAMS,” SAID THE alchemist.
The
boy brought his horse closer.
“In
ancient Rome, at the time of Emperor Tiberius, there lived a good man who had
two sons. One was in the military, and had been sent to the most distant
regions of the empire. The other son was a poet, and delighted all of Rome with
his beautiful verses.
“One
night, the father had a dream. An angel appeared to him, and told him that the
words of one of his sons would be learned and repeated throughout the world for
all generations to come. The father woke from his dream grateful and crying,
because life was generous, and had revealed to him something any father would
be proud to know.
“Shortly
thereafter, the father died as he tried to save a child who was about to be
crushed by the wheels of a chariot. Since he had lived his entire life in a
manner that was correct and fair, he went directly to heaven, where he met the
angel that had appeared in his dream.
“‘You
were always a good man,’ the angel said to him. ‘You lived your life in a
loving way, and died with dignity. I can now grant you any wish you desire.’
“‘Life
was good to me,’ the man said. ‘When you appeared in my dream, I felt that all
my efforts had been rewarded, because my son’s poems will be read by men for
generations to come. I don’t want anything for myself. But any father would be
proud of the fame achieved by one whom he had cared for as a child, and
educated as he grew up. Sometime in the distant future, I would like to see my
son’s words.’
“The
angel touched the man’s shoulder, and they were both projected far into the
future. They were in an immense setting, surrounded by thousands of people
speaking a strange language.
“The
man wept with happiness.
“‘I
knew that my son’s poems were immortal,’ he said to the angel through his
tears. ‘Can you please tell me which of my son’s poems these people are
repeating?’
“The
angel came closer to the man, and, with tenderness, led him to a bench nearby,
where they sat down.
“‘The
verses of your son who was the poet were very popular in Rome,’ the angel said.
‘Everyone loved them and enjoyed them. But when the reign of Tiberius ended,
his poems were forgotten. The words you’re hearing now are those of your son in
the military.’
“The
man looked at the angel in surprise.
“‘Your
son went to serve at a distant place, and became a centurion. He was just and
good. One afternoon, one of his servants fell ill, and it appeared that he
would die. Your son had heard of a rabbi who was able to cure illnesses, and he
rode out for days and days in search of this man. Along the way, he learned
that the man he was seeking was the Son of God. He met others who had been
cured by him, and they instructed your son in the man’s teachings. And so,
despite the fact that he was a Roman centurion, he converted to their faith.
Shortly thereafter, he reached the place where the man he was looking for was
visiting.’
“‘He
told the man that one of his servants was gravely ill, and the rabbi made ready
to go to his house with him. But the centurion was a man of faith, and, looking
into the eyes of the rabbi, he knew that he was surely in the presence of the
Son of God.’
“‘And
this is what your son said,’ the angel told the man. ‘These are the words he
said to the rabbi at that point, and they have never been forgotten: “My Lord,
I am not worthy that you should come under my roof. But only speak a word and
my servant will be healed.””’
The
alchemist said, “No matter what he does, every person on earth plays a central
role in the history of the world. And normally he doesn’t know it.”
The
boy smiled. He had never imagined that questions about life would be of such
importance to a shepherd.
“Good-bye,”
the alchemist said.
“Good-bye,”
said the boy.
THE
BOY RODE ALONG THROUGH THE DESERT FOR SEVERAL hours, listening avidly to what
his heart had to say. It was his heart that would tell him where his treasure
was hidden.
“Where
your treasure is, there also will be your heart,” the alchemist had told him.
But
his heart was speaking of other things. With pride, it told the story of a
shepherd who had left his flock to follow a dream he had on two different
occasions. It told of Personal Legend, and of the many men who had wandered in
search of distant lands or beautiful women, confronting the people of their
times with their preconceived notions. It spoke of journeys, discoveries,
books, and change.
As
he was about to climb yet another dune, his heart whispered, “Be aware of the
place where you are brought to tears. That’s where I am, and that’s where your
treasure is.”
The
boy climbed the dune slowly. A full moon rose again in the starry sky: it had
been a month since he had set forth from the oasis. The moonlight cast shadows
through the dunes, creating the appearance of a rolling sea; it reminded the
boy of the day when that horse had reared in the desert, and he had come to
know the alchemist. And the moon fell on the desert’s silence, and on a man’s
journey in search of treasure.
When
he reached the top of the dune, his heart leapt. There, illuminated by the
light of the moon and the brightness of the desert, stood the solemn and
majestic Pyramids of Egypt.
The
boy fell to his knees and wept. He thanked God for making him believe in his
Personal Legend, and for leading him to meet a king, a merchant, an Englishman,
and an alchemist. And above all for his having met a woman of the desert who
had told him that love would never keep a man from his Personal Legend.
If
he wanted to, he could now return to the oasis, go back to Fatima, and live his
life as a simple shepherd. After all, the alchemist continued to live in the
desert, even though he understood the Language of the World, and knew how to
transform lead into gold. He didn’t need to demonstrate his science and art to
anyone. The boy told himself that, on the way toward realizing his own Personal
Legend, he had learned all he needed to know, and had experienced everything he
might have dreamed of.
But
here he was, at the point of finding his treasure, and he reminded himself that
no project is completed until its objective has been achieved. The boy looked
at the sands around him, and saw that, where his tears had fallen, a scarab
beetle was scuttling through the sand. During his time in the desert, he had
learned that, in Egypt, the scarab beetles are a symbol of God.
Another
omen! The boy began to dig into the dune. As he did so, he thought of what the
crystal merchant had once said: that anyone could build a pyramid in his
backyard. The boy could see now that he couldn’t do so if he placed stone upon
stone for the rest of his life.
Throughout
the night, the boy dug at the place he had chosen, but found nothing. He felt
weighted down by the centuries of time since the Pyramids had been built. But
he didn’t stop. He struggled to continue digging as he fought the wind, which
often blew the sand back into the excavation. His hands were abraded and
exhausted, but he listened to his heart. It had told him to dig where his tears
fell.
As
he was attempting to pull out the rocks he encountered, he heard footsteps.
Several figures approached him. Their backs were to the moonlight, and the boy
could see neither their eyes nor their faces.
“What
are you doing here?” one of the figures demanded.
Because
he was terrified, the boy didn’t answer. He had found where his treasure was,
and was frightened at what might happen.
“We’re
refugees from the tribal wars, and we need money,” the other figure said. “What
are you hiding there?”
“I’m
not hiding anything,” the boy answered.
But
one of them seized the boy and yanked him back out of the hole. Another, who
was searching the boy’s bags, found the piece of gold.
“There’s
gold here,” he said.
The
moon shone on the face of the Arab who had seized him, and in the man’s eyes
the boy saw death.
“He’s
probably got more gold hidden in the ground.”
They
made the boy continue digging, but he found nothing. As the sun rose, the men
began to beat the boy. He was bruised and bleeding, his clothing was torn to
shreds, and he felt that death was near.
“What
good is money to you if you’re going to die? It’s not often that money can save
someone’s life,” the alchemist had said. Finally, the boy screamed at the men,
“I’m digging for treasure!” And, although his mouth was bleeding and swollen,
he told his attackers that he had twice dreamed of a treasure hidden near the
Pyramids of Egypt.
The
man who appeared to be the leader of the group spoke to one of the others:
“Leave him. He doesn’t have anything else. He must have stolen this gold.”
The
boy fell to the sand, nearly unconscious. The leader shook him and said, “We’re
leaving.”
But
before they left, he came back to the boy and said, “You’re not going to die.
You’ll live, and you’ll learn that a man shouldn’t be so stupid. Two years ago,
right here on this spot, I had a recurrent dream, too. I dreamed that I should
travel to the fields of Spain and look for a ruined church where shepherds and
their sheep slept. In my dream, there was a sycamore growing out of the ruins
of the sacristy, and I was told that, if I dug at the roots of the sycamore, I
would find a hidden treasure. But I’m not so stupid as to cross an entire
desert just because of a recurrent dream.”
And
they disappeared.
The
boy stood up shakily, and looked once more at the Pyramids. They seemed to
laugh at him, and he laughed back, his heart bursting with joy.
Because
now he knew where his treasure was.
EPILOGUE
THE
BOY REACHED THE SMALL, ABANDONED CHURCH JUST as night was falling. The sycamore
was still there in the sacristy, and the stars could still be seen through the
half-destroyed roof. He remembered the time he had been there with his sheep;
it had been a peaceful night…except for the dream.
Now
he was here not with his flock, but with a shovel.
He
sat looking at the sky for a long time. Then he took from his knapsack a bottle
of wine, and drank some. He remembered the night in the desert when he had sat
with the alchemist, as they looked at the stars and drank wine together. He
thought of the many roads he had traveled, and of the strange way God had
chosen to show him his treasure. If he hadn’t believed in the significance of
recurrent dreams, he would not have met the Gypsy woman, the king, the thief,
or…“Well, it’s a long list. But the path was written in the omens, and there
was no way I could go wrong,” he said to himself.
He
fell asleep, and when he awoke the sun was already high. He began to dig at the
base of the sycamore.
“You
old sorcerer,” the boy shouted up to the sky. “You knew the whole story. You
even left a bit of gold at the monastery so I could get back to this church.
The monk laughed when he saw me come back in tatters. Couldn’t you have saved
me from that?”
“No,”
he heard a voice on the wind say. “If I had told you, you wouldn’t have seen
the Pyramids. They’re beautiful, aren’t they?”
The
boy smiled, and continued digging. Half an hour later, his shovel hit something
solid. An hour later, he had before him a chest of Spanish gold coins. There
were also precious stones, gold masks adorned with red and white feathers, and
stone statues embedded with jewels. The spoils of a conquest that the country
had long ago forgotten, and that some conquistador had failed to tell his
children about.
The
boy took out Urim and Thummim from his bag. He had used the two stones only
once, one morning when he was at a marketplace. His life and his path had
always provided him with enough omens.
He
placed Urim and Thummim in the chest. They were also a part of his new
treasure, because they were a reminder of the old king, whom he would never see
again.
It’s
true; life really is generous to those who pursue their Personal Legend, the
boy thought. Then he remembered that he had to get to Tarifa so he could give
one-tenth of his treasure to the Gypsy woman, as he had promised. Those Gypsies
are really smart, he thought. Maybe it was because they moved around so much.
The
wind began to blow again. It was the levanter, the wind that came from Africa.
It didn’t bring with it the smell of the desert, nor the threat of Moorish
invasion. Instead, it brought the scent of a perfume he knew well, and the
touch of a kiss—a kiss that came from far away, slowly, slowly, until it rested
on his lips.
The
boy smiled. It was the first time she had done that.
“I’m
coming, Fatima,” he said.
ABOUT THE AUTHOR
PAULO
COELHO was born in Rio de Janeiro, Brazil, the city where he now lives. His own
life has in many ways been as varied and unusual as the protagonists of his
internationally acclaimed novels. Like them, Paulo Coelho has followed a dream
in a quest for fulfillment. His own dream, to be a writer, met with frustration
throughout much of his early adult life, a time in which he worked at various
professions, some of them materially rewarding but spiritually unfulfilling. “I
always knew,” he says, “that my Personal Legend, to use a term from alchemy,
was to write.” He was thirty-eight when he published his first book.
In
1970, after deciding that law school was not for him, he traveled through much
of South America, North Africa, Mexico, and Europe. Returning to Brazil after
two years, he began a successful career as popular songwriter. In 1974, he was
imprisoned for a short time by the military dictatorship then ruling in Brazil.
In 1980, he experienced one of the defining moments of his life: he walked the
five hundred-plus mile Road of Santiago de Compostela in northwestern Spain. On
this ancient highway, used for centuries by pilgrims from France to get to the
cathedral said to house the remains of St. James, he achieved a self-awareness
and a spiritual awakening that he later described in The Pilgrimage.
Paulo
Coelho once said that following your dream is like learning a foreign language;
you will make mistakes but you will get there in the end. In 1988, he published
The Alchemist, a novel that explores this theme, and it launched him as
an international bestselling author. Specifically, Paulo Coelho is recognized
for his powerful storytelling technique and the profound spiritual insights he
blends seamlessly into his parables. Since then, The Alchemist has sold
more than twenty million copies worldwide and has been translated into some
fifty-six languages. In addition to The Pilgrimage and The Alchemist,
Paulo Coelho has written luminous novels about the different streams of our
lives, including By the River Piedra I Sat Down and Wept, The
Valkyries, The Fifth Mountain, and Veronika Decides to Die. A
winner of numerous literary prizes, Paulo Coelho is also a prominent speaker
for humanitarian causes. In 1999, he received a Crystal Award for Artistic
Achievement at the Davos Economic Forum Conference.
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét