AQ chính truyện (7) - Lỗ Tấn
2026-04-04
AQ
chính truyện (7)
Lỗ Tấn
Người dịch: Đặng Thai Mai và Trương Chính
Nhà xuất bản Văn học, 1963
~
Bản tiếng Anh: “The True Story of Ah Q”
Translated into English by George Kin
Leung
The Commercial Press, Limited, Shanghai,
China, 1927
VII. CÁCH MẠNG
Tối
hôm mười bốn rạng ngày rằm tháng Chín niên hiệu Tuyên thống năm thứ ba, tức là
hôm AQ bán cái ruột tượng cho chú Triệu Bạch Nhẫn, vào hồi canh ba, lúc bốn giờ,
một chiếc thuyền ván, mui đen, khá to ghé vào bến trước nhà họ Triệu giữa lúc
đêm khuya trời tối mò mò, dân làng đang ngủ say, không ai hay biết gì hết. Và
chưa mờ sáng thì chiếc thuyền đã rời khỏi bến, chỉ có mấy người trông thấy mà
thôi. Sau lúc đã dò la, thầm thì thầm thụt cùng nhau khá lâu, người ta mới biết
rằng: chính là thuyền nhà cụ Cử.
Thuyền
nhà cụ Cử đã đưa đến cho làng Mùi một nỗi lo âu hết sức lớn. Chưa đúng ngọ, cả
làng đã nhốn nháo hẳn lên. Chiếc thuyền này về đây để làm gì thì nhà cụ Triệu hết
sức giữ bí mật. Nhưng trong các quán rượu và các hàng nước, đâu đâu người ta
cũng đồn dậy lên rằng: bọn Cách mạng sắp vào huyện nên cụ Cử chạy về làng lánh
nạn. Chỉ có thím Bảy là bảo không phải. Thím ấy nói: chỉ có mấy hòm quần áo cũ
trên cụ Cử gửi xuống nhờ giữ hộ, nhưng cụ Triệu không nhận và giả lại ngay. Chả
là cậu Tú Triệu và cụ Cử xưa nay không tương đắc gì, cho nên trong lúc hoạn nạn,
hai nhà nhất định không có thể san sẻ nỗi lo nỗi buồn cùng nhau. Vả lại thím Bảy
ở ngay bên cạnh nhà cụ Triệu, thấy tận mắt, nghe tận tai, cho nên chắc hẳn là
không sai.
Mặc
dù như thế, tiếng đồn vẫn lan rộng ra. Người ta bảo nhau: hình như cụ Cử không
về, nhưng cụ có viết một bức thư rất dài để làm thân với Cụ Cố. Cụ Cố làng ta
cũng đã nghĩ lại, và cụ cho rằng: cũng chả có hại gì nên đã cho gửi cái hòm lại.
Cái hòm ấy hiện giờ nhét dưới gầm giường cụ bà nằm. Còn như tin tức về bọn Cách
mạng thì có kẻ nói chính tối hôm qua chúng nó đã vào huyện rồi, chú nào chú ấy
áo giáp bạch, mũ bạch, ăn bận trắng toát một loạt để tang cho vua Sùng Chính.
Xưa
kia, AQ đã mấy lần nghe người ta nói đến cách mạng. Năm nay, y lại đã thấy chém
bọn Cách mạng độ vừa rồi. Nhưng trong óc y đã có sẵn một ý kiến chẳng biết nguồn
gốc từ đâu cho rằng: làm cách mạng tức là làm giặc; làm giặc tức là báo hại y.
Vì vậy nên xưa nay, y vẫn ghét cay ghét đắng bọn Cách mạng. Ngờ đâu chính bọn
đó đã làm cho cụ Cử danh giá khắp vùng như thế kia mà cũng phải sợ, thì y cũng
đã hơi lấy làm “lác mắt”. Huống nữa là y lại thấy lũ đàn ông đàn bà khốn nạn ở
làng Mùi cuống quít lên như vậy, thì y càng khoái chí. Y nghĩ bụng: “Cách mạng
cũng hay! Cách mẹ cái mạng lũ chúng nó đi! Ghét quá đi mất! Giận quá đi mất!
... Tớ, tớ cũng sẽ đi đầu hàng cách mạng.”
Gần
đây, AQ túng thiếu, thành thử y cũng có ý bất bình. Phần thì trưa hôm ấy, bụng
đói, uống hai bát rượu, cho nên y càng choáng váng say. Y vừa nghĩ ngợi vừa rảo
bước, tâm hồn lại nghe nhẹ nhàng hớn hở lên. Rồi chả biết thế quái nào mà bỗng
y đã tưởng tượng ngay rằng y là người cách mạng, và cả bọn dân làng Mùi đã
thành “tù binh” của y cả rồi! Trong lúc đắc ý, bất giác y hét to lên mấy tiếng:
-
Làm giặc nào! Làm giặc nào!
Dân
làng Mùi bấy giờ đều nhìn AQ bằng cặp mắt sợ hãi vô cùng. Điều đáng thương hại
đó xưa nay y chưa từng thấy. Thành ra y thích chí vô hạn, chẳng khác gì nắng
tháng sáu mà được uống nước đá vậy! Y càng hớn hở rảo bước và nói to:
-
Hay lắm! Tớ muốn gì sẽ được nấy! Tớ ưa ai là người ấy được nhờ!
Cắc,
cắc, tùng, tùng! Ăn năn đà quá muộn! Chỉ vì quá chén mà Trịnh hiền đệ bị giết
oan ... a ... a ... Tùng tùng, tùng tùng, cắc ... Cắc cắc, tùng tùng ... Thủ cấp
(i i i) cương (i i) liên (i-a) tương nỉ đả.
Trước
nhà Cụ Cố họ Triệu, hai bố con và hai người bà con chính tông của cụ đang đứng
xúm ở cổng bàn về cách mạng. AQ không trông thấy, cứ ngang nhiên rảo bước và vẫn
hát:
-
Tùng ! tùng ...
-
Này bác Q ơi!
Cụ
Cố gọi khe khẽ và có vẻ sợ sệt.
Xưa
nay, đã bao giờ AQ nghĩ người ta lại có thể kết liền chữ “bác” với tên mình để
gọi. Vậy nên y cho rằng người ta còn nói chuyện gì đâu đâu ấy, chứ chẳng liên
can gì đến mình. Y cứ hát:
-
Cắc, cắc, cắc, ... Tùng ... tùng ... tùng.
-
Bác Q này!
-
Ăn năn đà quá muộn, à ...!
Cậu
Tú đành phải gọi thẳng:
-
AQ à!
Lúc
đó AQ mới dừng chân, nghếch đầu lại hỏi:
-
Cái gì thế?
-
Bác Q này ... Độ này ...
Cụ
Cố bỗng không biết nói gì nữa
-
Độ này! ... phát tài chứ?
-
Vâng ạ! Phát tài hẳn chứ lỵ! Muốn gì là được nấy!
-
À, à bác Q này! Bọn mình là bạn nghèo với nhau cả, thì chắc chẳng lẽ gì ...
Triệu
Bạch Nhẫn rụt rè nói, cố ý dò xem ý tứ nhà cách mạng như thế nào.
-
Bạn nghèo à? Anh lại không phong lưu bằng mấy tôi ấy à?
Vừa
nói xong, AQ đã bước đi.
Mấy
người nhà họ Triệu nghe mà phát khiếp, đứng lặng đi một hồi. Chiều hôm ấy, hai
bố con nhà họ Triệu bàn bạc cùng nhau, cho mãi đến lúc đỏ đèn mới thôi. Còn chú
Triệu Bạch Nhẫn vừa về đến nhà là cởi ngay cái ruột tượng, bảo chị vợ giấu kín
vào dưới đáy hòm.
AQ
hớn hở nhẹ bước trên con đường làng một hồi khá lâu. Về đến đền Thổ Cốc thì y
đã tỉnh rượu hẳn. Chiều hôm ấy, lão từ đối với y cũng tỏ ý nhã nhặn khác thường,
mời y uống chén nước trà. Y nài lão thết y luôn hai khẩu bánh nữa. Ăn xong, y
còn lấy một đoạn nến bốn lạng thắp dở và cả cái cọc nến mang về buồng nhỏ của
y, đỏ đèn lên, một mình nằm nghỉ. Giờ này, bao nhiêu ý nghĩ tốt đẹp, bao nhiêu
niềm vui mà y không tài nào tả nên lời, đang nhảy múa trong đầu óc y giống như
ngọn đèn đêm nguyên đán vậy:
“Làm
giặc! Cũng vui đấy chứ! Một bọn làm cách mạng tuyền là mũ bạch, áo giáp bạch,
ai nấy tay cầm dao bản, roi sắt, lựu đạn, súng trường, nạng ba chia, câu liêm
chạy cả đến đền Thổ Cốc gọi: “AQ! Chúng ta cùng đi, đi!” Thế là cùng nhau đi
...
Lúc
đó tụi dân làng Mùi khốn nạn trông mới buồn cười! Chúng nó sẽ quì ràn rạt xuống
van xin:”AQ tha chết cho tôi đi!” Nhưng ai mà nghe chúng nó! Thằng cu D. đáng tội
chết trước. Rồi Cụ Cố họ Triệu, cả lão Tú nữa, cả thằng Tây giả nữa ... Có nên
tha thằng nào không nhỉ? Kể ra lão Vương Râu thì tha ra cũng chẳng hề gì, nhưng
bất tất!
“Đồ
đạc, thì cứ vào thẳng nhà Cụ Cố phá ngay cái rương ra xem ... Tiền đồng ...
vàng bạc ... áo sa ... Mà trước hết phải khuân ngay cái giường Hông-kông của mợ
Tú về đền Thổ Cốc cái đã ... Ngoài ra, còn bộ bàn ghế nhà họ Tiền cũng chuyển về
nốt. Hay là ta dùng ngay bộ của nhà họ Triệu vậy? Lẽ cố nhiên mình bất tất phải
bỏ tay ra khuân vác. Bảo thằng cu D. khiêng đi, mau lên! Chậm là tát vào mặt
...
“Lão
Triệu Tư Thần có con em, nhưng xấu quá! Còn con gái thím Bảy Trâu, vài năm nữa
hẵng nói chuyện ... Vợ lão Tây giả ... con này đã chung chạ với một thằng đàn
ông không có đuôi sam ... Chao! Tởm ... Thứ đàn bà ấy chả ra trò! Mụ Tú Triệu
phải một cái là trên mi mắt có một cái sẹo! Mà ... con mụ vú Ngò lâu nay đi đâu
nhỉ? Bực một nỗi là cái bàn chân chị ta to quá! ...”
Giữa
lúc đầu óc còn rối beng với bấy nhiêu ý nghĩ thì AQ đã ngáy khò khò. Cây nến bốn
lạng vừa cháy mất độ dăm phân, ngọn lửa lập lòe chiếu vào cái miệng hoác rộng của
y.
“Ha!
Ha!” AQ bỗng giật mình dậy, kêu to một tiếng rồi nghếch đầu lên, hoảng hốt nhìn
quanh nhìn quất. Nhìn thấy đoạn nến bốn lạng vẫn còn, y lại ngả người ra ngủ.
Ngày
hôm sau, AQ thức dậy rất muộn. Y chạy ra nhìn trên con đường làng, thì đâu vào
đấy, chả có gì thay đổi. Mà cái bụng của y nghe vẫn đói! Y ngẫm nghĩ hồi lâu
cũng chả nghĩ ra cái gì cả. Nhưng bỗng hình như y đã có một quyết định gì, rồi
cũng chẳng biết là vô tình hay hữu ý, y lại nhẹ bước lần đến chùa Tĩnh tu.
Sau
bức tường có trổ hai cánh cửa sơn đen, cảnh chùa vẫn vắng lặng như mùa xuân độ
nọ. AQ ngẫm nghĩ một chốc, rồi bước tới gõ cửa. Một con chó sủa từ trong chùa sủa
ra. AQ vội vàng nhặt lấy mảnh gạch vỡ bước tới gõ mạnh vào cánh cửa. Gõ mãi đến
lúc cánh cửa đầy những vết gạch đó mới nghe có tiếng người ra mở.
AQ
vội nắm chặt lấy mấy mảnh gạch trong tay, đứng theo thế mã bộ, sẵn sàng cầm cự
với con Mực. Nhưng cửa chùa chỉ hé ra một tí, con Mực cũng chẳng thấy xông ta.
Nhìn vào, chỉ thấy sư bà hôm nọ.
-
Bác lại tới đây làm gì nữa kia?
Sư
bà hỏi, giọng hớt hơ hớt hải.
-
Cách mạng rồi! Bà biết không?
AQ
trả lời vu vơ.
-
Cách mạng, cách mạng! Đã cách một lần rồi! Các bác còn muốn cách chúng tôi đến
như thế nào nữa kia!
Hai
con mắt sư bà đỏ bừng hẳn lên.
-
Thế nào?
AQ
rất lấy làm ngạc nhiên hỏi.
-
Bác không biết hay sao? Chúng nó đã đến đây ”cách” hết rồi! Nhà bác không biết
đó thôi.
AQ
càng lấy làm ngạc nhiên.
-
Ai kia?
-
Lão Tú với lão Tây giả ấy mà! ...
Thật
là một điều bất ngờ cho AQ, làm cho y hết sức ngơ ngác. Sư bà thấy y mất hẳn
nhuệ khí, tức thì đóng cửa lại. AQ lại đẩy cửa nhưng không tài nào xô cho ra được
nữa. Y gọi một thôi nữa, chả một ai trả lời.
Đó
là chuyện xảy ra buổi sáng. Cậu Tú bắt tin rất nhạy, vừa biết được rằng bọn
Cách mạng đã vào huyện đêm hôm trước, cậu liền đem đuôi sam quấn vòng quanh
trên đầu, vừa sáng thì tức tốc qua họ Tiền thăm lão Tây giả, là người xưa nay cậu
chả ưa tí nào, nhưng ngày nay trong vận hội mới, trong thời kỳ “cùng nhau mưu
cuộc duy tân” này, hai ông trò chuyện bỗng dưng thành ra thân mật, rất tâm đầu
ý hợp như hai đồng chí. Hai ông hẹn hò cùng nhau đi làm cách mạng. Hai nhà cách
mạng bàn bạc hồi lâu mới sực nhớ ra rằng: trong chùa Tĩnh tu còn có một cái bài
vị thờ vua với mấy chữ “Hoàng đế vạn tuế, vạn vạn tuế ...” phải “cách” ngay mới
được. Thế là hai ông cùng nhau tới chùa Tĩnh tu làm một cuộc cách mạng. Sư bà
ra cản trở, nói mấy câu; hai ông cho là sư bà ủng hộ chính phủ Mãn Thanh, nhè
vào đầu bà ta bổ ba-toong xuống. Cô tiểu thì mãi lúc hai ông đi đã xa mới hoàn
hồn. Kiểm điểm đồ nhà chùa lại, thì thấy cái bài vị cố nhiên bị đập nát ra giữa
chùa mà cái lư hương Tuyên Đức xưa nay vẫn để thờ trước tượng Đức Quan Âm đã biến
đâu mất rồi!
Câu
chuyện trên đây mãi về sau AQ mới biết. Y lấy làm hối hận vì ngủ quá giấc mà lỡ
dịp, nhưng cũng giận tụi chúng nó không tới gọi y cùng đi. Y nghĩ lại: “Lẽ nào
chúng nó lại chưa biết là mình đã đầu hàng cách mạng rồi hay sao?”
➖➖➖
Phần tiếng Anh
The
True Story of Ah Q (1927)
by Lu Xun,
translated by George Kin Leung
---
Chapter VII
The revolution
On
the fourteenth day of the ninth moon of the third year of the emperor Hsüan
T'ung — on the same day that Ah Q had sold Chao Pai-yen the purse — after three
strokes of the watchman's drum,[11] a large dark-sailed ship reached the Chao
household's landing place. Through the inky darkness, while the villagers
slumbered and knew nothing, this boat came rowing in. Dawn had almost arrived
when it left; and so few people saw it. But stealthy investigation resulted in
the discovery that it was Chü-jen Lao-yeh's ship!
The
ship caused a great deal of anxiety in Weichuang and it was not yet noon when
the hearts of the whole village were disturbed. As for the ship's mission, that
was kept very secret by the Chaos; but in the tea shops and in the wine shops,
it was rumored that rebels were advancing upon the city and that Chü-jen
Lao-yeh had come to their village to take refuge. Tsou Ch'i-sao, however, did
not agree with this rumor and maintained that Chü-jen Lao-yeh wished to store a
few battered clothes boxes, which the Venerable Mr. Chao had turned back. The
truth was that Chü-jen Lao-yeh and Chao Hsiu-t'sai had not been on good terms
in the past and they could not in all reason have had a mutual desire to share
each other's misfortunes! Moreover, Tsou Ch'i-sao, being a neighbor of the Chao
family, was close at hand to see and hear all that took place; so the
situation, generally speaking, ought to have been as she explained it.
Nevertheless,
rumor spread apace: it was said that although it did not appear as if Chü-jen
Lao-yeh had come in person, still a long letter had arrived, establishing an
indirect relationship with the Chao family. So, after turning the matter over
and over in his mind, the Venerable Mr. Chao came to the conclusion that he
himself could incur no harm and had the boxes received in the house. For the
time being, the boxes were stuffed under Mr. Chao's bed. As for the
Revolutionists, it was said that they had advanced on the city on that very
night, all wearing white helmets and white armor, as mourning for the Emperor
Ch'ung Chêng.
Ah
Q's ears had long heard the phrase, “Revolutionary Party,” and this year he had
witnessed with his own eyes the decapitation of various members of the party;
but it is not quite clear whence he got the idea that the Revolutionary party
was rebelling and that this rebellion had evil consequences for himself; yet it
was in accordance with this idea that in times past, he had deeply hated and
absolutely cut himself off from the movement. But how was it to be known that
this party could frighten the one hundred li renowned Chü-jen Lao-yeh?
Consequently, he could not escape an inspiration, while besides, the great fear
which this party had caused among the men and women of Weichuang filled Ah Q
with delight.
“Revolution
is good as it is,” thought Ah Q. “Cut off the lives of the whole village; they
are too hateful, too hateful. . . . As for me, I am determined to join the
ranks of the Revolutionists.”
Of
late, Ah Q's existence had experienced some hard knocks, and in general he was
rather dissatified; added to this, during the afternoon he had gulped down two
bowls of wine upon an empty stomach and had immediately become intoxicated. So,
walking along, he pondered on this matter. He seemed once more to be soaring on
airy pinions, and without so much as knowing how it happened, it appeared that
the Revolutionary party was HIMSELF and that all Weichuang were his captives.
In his excessive elation, he could not refrain from shouting: “Revolution,
revolution!”
The
Weichuangites stared at him with startled eyes and with peculiar pitying
glances, which Ah Q had never observed in the past. As soon as he noticed these
glances, he was made to feel as comfortable as one drinking ice water in July.
And so he felt blithe and merry and kept shouting as he walked along:
“Good
. . . I will do just as I please. I will like whom I please . . .”
“Tuck,
tuck, clang, clang!
“I
regret that I have . . . while drunken, hacked brother Cheng by mistake.
“I
regret that I have . . . Ha, ha, ha.
“Tuck,
tuck, clang, clang, tuck, chang, ling, chang!
“My
hand will seize a metal whip to flog you.”[12]
The
two men of the Chao family, along with two other relatives, happened to be
standing before the large door, discussing the Revolution.
Ah
Q did not see them, but sailed past, head high and singing: “Tuck . . .”
“Venerable
Q,” nervously called the Venerable Mr. Chao in a low voice.
“Chang,
clang,” continued Ah Q, not dreaming that the word “venerable” could ever be
connected with his own name, regarding it as an alien word that had nothing to
do with himself. He merely kept singing,
“Tuck,
chang, chang, ling, chang, chang!”
“Venerable
Q.”
“I
regret that I have . . .”
“Ah
Q!” shouted the Hsiu-t'sai, who was finally obliged to call him directly by his
name.
It
was then that Ah Q stopped and, putting his head to one side, asked, “What is
it?
“Venerable
Q . . . at present . . . ,” the Venerable Mr. Chao did not finish. “At present
. . . are you doing well?”
“Am
I doing well? Naturally . . . I do what pleases me . . .”
“Brother
Q . . . you need not mind poor friends like us . . . ,” added Chao Pai-jen
embarrassed and as if feeling for information concerning the policies of the
Revolutionary party.
“Poor
friends? Why, you are much wealthier than I!” said Ah Q, walking away.
All
concerned were disappointed and remained silent. The Venerable Mr. Chao and his
son returned to their home and sat in consultation until the hour for lamp
lighting. When Chao Pai-yen returned to his home, he took the purse from his
waist and gave it to his wife to place at the bottom of a box.
Having
soared on pinions of elation for some time, Ah Q returned to T'uku Temple; he
had by this time already completely recovered from his intoxication. On this
particular evening, the old man in charge of T'uku Temple was unusually benign
and requested him to have some tea. Ah Q even asked him for two cakes and after
eating them, took a candle holder and a partially used four-ounce candle. The
last he took home, lighted, and lay down utterly alone in his little room. He
could not express the joyous novelty that he felt. The candle flame sparkled
and danced as if it were New Year's Eve. His musings mounted with animated
pace, after this fashion:
“Revolt!
How interesting . . . along will come the Revolutionary party, clad in white
helmets and white armor, holding flat knives, metal flails, bombs, foreign
guns, three-pointed and double-edged knives, and spears with hoops. They will
pass T'uku Temple, calling, 'Ah Q, come with us, come with us!' Thus I will go
along with them . . .
“Then
how laughable the whole bunch of Weichuangites, men and women, will be,
kneeling and beseeching, 'Spare our lives, Ah Q!' And who will listen to them!
The first to deserve death are Little D and the Venerable Mr. Chao, also the
Hsiu-t'sai and the “False Foreigner” . . . will I spare a few lives? Wang-hu
might be saved . . . but even he is not wanted.
“Creature
. . . go and open that box at once: silver ingots, foreign coins, foreign cloth
. . . first of all move the Hsiu-t'sai's wife's Ningpo bed to T'uku Temple;
besides, bring along the chairs and tables of the Chin family, . . . perhaps,
those of the Chao family will do. I myself will not lift a hand; I will order
Little D to come move them. Little D must be spry; if he doesn't I will give
him a smack on the mouth.
“Chao
Szu-ch'ên's younger sister is very unsightly. Tsou Ch'i-sao's daughter will
come in for consideration a few years later. The “False Foreigner's” wife is a
bad woman to share the connubial couch of a queueless man. The Hsiu-ts'ai's
wife has scars on her eyelids. I will never look upon Amah Wu again and I do
not know where she is . . . alas, her feet are too big.”
Ah
Q had not thought out his plans to their conclusion when he had begun to snore.
The four-ounce candle had burned away only a bit more than half an inch; and
the sparkling red flames lighted his gaping mouth.
“Hey,
ho!” Ah Q suddenly exclaimed. He lifted his head in bewilderment, gazing
distractedly about. But by the time his eyes fell on the four-ounce candle, his
head had drooped and he was lost in sleep again.
On
the following day, he got up very late; and on going out to the street, he
noticed that everything was the same as it had been in the past. He eventually
became hungry and began to think but could think of nothing special. However,
he suddenly seemed to have made up his mind and slowly lengthened his stride,
and whether purposeful or without purpose, he arrived at the Temple of Quiet
Self-Improvement.
The
temple itself, with its white walls and black lacquer door, was as quiet as a
spring day. He thought for a moment and went forward to knock at the door. A
dog barked from within. He quickly snatched up a few fragments of bricks and
returned, exerting himself to throw the stones at the door until it became
scarred as if it were filled with pockmarks. It was then that he heard some one
opening the door.
Ah
Q quickly seized a few fragments of bricks and stood with legs apart in
preparation to open war upon the black dog; but the temple door had only opened
a crack and no black dog dashed out through it. When he looked, he saw that
only an old nun was there.
“And
why have you come again?” she cried, thoroughly frightened.
“Revolt
. . . has been effected . . . do you know it?” Ah Q muttered indistinctly.
“Revolt,
revolt, there has been one revolt . . . and if you mean to keep revolting, what
will our condition be?” continued the old nun, her eyes turning red with tears.
“What?”
asked Ah Q in surprise.
“Don't
you know that others have already come and revolted?”
“Who?”
asked Ah Q, all the more surprised.
“The
Hsiu-t'sai and the False Foreigner.”
This
was the last thing that Ah Q could have expected and he was struck with
amazement. When the old nun saw that his temper had abated, she swiftly closed
the door. Ah Q pushed it again, was unable to open it, but after knocking
repeatedly, there was still no answer.
This
took place in the forenoon. Chao was skilled in obtaining fresh news and as
soon as he knew that the Revolutionary party had entered the city in the night,
he wound his queue about his head and made an early call upon the
not-to-be-associated-with Chin “False Foreigner.” Since this was the time for
beginning everything over again, they found strong grounds for agreement,
immediately discovered the selfsame ambitions, and decided to join the
Revolutionary movement together.
After
they had pondered the matter over and over again, they recalled that in the
Temple of Quiet Self-Improvement, there was an imperial tablet, inscribed “Ten
thousand years for the Emperor, Ten thousand ten thousand years,” which ought
to be done away with quickly; therefore, they went to the temple to attest
their stand with the Revolutionary movement. Because the old nun offered
resistance to their intention, they classed her with the Manchu government, and
gave her several cuffs on the head with cane and knuckle. The old nun steadied
herself as she waited until they had left and then came out to examine the
tablet; but naturally the dragon tablet had been broken to fragments and lay on
the ground. The Hsüah-te censor before the shrine of Kwan Yin was also nowhere
to be seen.
These
facts Ah Q learned afterwards. He regretted somewhat that he had been asleep
and blamed them very much for not coming to invite him.
He
withdrew a step and said, “Can it really be that they do not know that I have
already joined the ranks of the Revolutionary party?”
---
Notes
11.
After 12 P. M.
12.
These lines are from the drama “The Struggle Between the Dragon and the Tiger,”
and obviously a great favorite with Ah Q.
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét