Việt Điện U Linh Tập - Gia Ứng Thiện Cảm Linh Vũ Đại Vương (Chuyện Sĩ Nhiếp) - Lý Tế Xuyên
2026-04-25
Việt
Điện U Linh Tập
Gia Ứng Thiện Cảm Linh Vũ Đại Vương
(Chuyện Sĩ Nhiếp)
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Xét
Tam Quốc Chí thì Vương họ Sĩ tên Nhiếp, người làng Quảng Tín, quận Thương Ngô;
tiên tổ người làng Vấn Dương nước Lỗ, chạy loạn sang ở đấy, sáu đời thì đến
Vương.
Thân
phụ của Vương tên là Tứ, thời vua Hoàn Đế nhà Hán, làm Thái thú quận Nhật Nam.
Thiếu thời, Vương du học Kinh Sư (Kinh Sư có tên là Hán Kinh, tức nay là thành
Long Biên chuyên khảo Tả Thị Xuân Thu, được cử là Hiếu Liêm, được bổ Thượng Thư
Lang, vì lỗi về công sự, bị miễn quan.
Sau
khi mãn tang thân phụ, ông được cử là Mậu tài, được bổ Vu Dương Lệnh, thời vua
Hiến Đế nhà Hán, đổi làm Thái Thú Giao Châu ta, thời Trương Tân đang làm Thứ sử.
Thời
Hán mạt, tam hùng chia nước Tàu thành thế chân vạc, Vương được cai trị hai
thành Luy Lâu và Quảng Tín. Sau khi Tân bị tướng giặc là Khu Cảnh sát hại, Lưu
Biểu ở Kinh Châu khiến quan lệnh Linh Lăng là Lại Cung quyền nhiếp Thứ sử Giao
Châu ta.
Vua
Hiến Đế nghe tin mới ban cho Vương một bức tỉ thư rằng: "Giao Châu ở về
tuyệt thực, nhã hóa thấm xa, sơn hà từ sao Dực sao Chẩn, thiên thư đã định phần,
sơn xuyên nhiều thắng cảnh, Nam Bắc cách trở xa xôi, ơn trên không được tuyên
dương, nghĩa dưới nhiều bề ủng tắc, ngu xuẩn thay tướng giặc dám lộng binh uy
hy vọng mưu đồ chuyện kiểu hãnh, gia dĩ nghịch tặc Lưu Biểu dám khiến Lại Cung
dòm dỏ đất Nam, thật là một người tự bạo tự khí, chỉ muốn lạm dụng chức vụ để một
mình ra oai, tội trạng như thế giấy chẳng chép xiết. Nay đặc ủy cho khanh làm
chức Tuy Nam Trung Lang Tướng, đổng đốc binh mã bảy quận, lĩnh chức Thái Thú
Giao Châu, nhất thiết được tiện nghi hành sự, vụ được thanh bình, đuổi trộm cướp,
tụ dân lành, chỉnh đốn biên trần cho thanh lặng, ban bố ơn khương thường cho rộng
rãi, sự vụ trong ngòai, nhất thiết ủy cho khanh; khanh nên hết bổn phận mình,
chớ bỏ lệnh Trẫm".
Vương
mới sai Trương Mân phụng cống đến Hán kinh. Bấy giờ đương lúc binh cách, thiên
hạ tang loạn, đạo đồ du viễn, vãng phẫn gian lao, thế mà Vương không phế bỏ chức
cống, kính giữ đạo tôi. Vua Hán lại hạ chiếu gia tưởng. Lời chiếu rằng:
"Giao
Châu là đất văn hiến, núi sông vun đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan,
nhân tài kiệt xuất, mấy năm nhân họa chiến tranh, mục thú ít người xứng chức,
nên chi phương xa không thấm nhuần được nhã hóa, nay đặc ủy cho Khanh được trọng
nhậm, Khanh nên theo phong tục của học Triệu, họ Đỗ, lấy nhân ân mà mục dân, đừng
phụ cái tài lương đống. Nay lại cho Khanh làm An Viễn Tướng Quân, phong Long Độ
Đình Hầu".
Sau
này Thái thú Thương Ngô tên là Ngô Cự cùng với Lại Cung có hiềm khích. Cự cử
binh đến đánh đuổi. Cung bại, chạy về Linh Lăng. Lúc bấy giờ Ngô Tôn Quyền sai
Bộ Chất làm Thứ sử Giao Châu ta. Chất đến, Vương đốc suất anh em phụng thừa Tiết
Độ. Vua Ngô phong cho Vương chức Tả tuớng quân. Ba con đương làm Trung Lang tướng,
Vương khiến vào làm con tin ở nước Ngô, lại dụ dỗ kẻ thổ hào Ích Châu là Ung Khải
đem dân trong quận phụ thuộc nhà Ngô; Ngô càng khen Vương, thăng Vệ Tướng quân,
phong Long Biên Hầu Đệ Nhất Thiên Tướng Quân. Vương sai sứ đến nước Ngô đem cống
các thứ tạp hương, vải tế cát, ngọc châu, đồi mồi, lưu ly, lông phi thúy, sừng
tê giác, ngà voi, hoa quý, cỏ lạ, chuối, dừa, nhãn, năm nào cũng sang cống, mỗi
lần đi cống thì chở ngựa vài trăm thớt. Ngô Vương muốn đáp lại lòng chân thành
mới phong cho ba người em: Nhất làm Thái thú Hiệp Phố (nay là huyện Từ Liêm); Vỹ
làm Thái thú quận Cửu Chân (nay là Thanh Hóa); Vũ lãnh Thái thú Nam Hải
(nay là Quảng Châu).
Vương
thể khí khoan hậu, khiêm hư đãi kẻ sĩ, bởi vậy, các nhà Nho đời Hán, tị loạn,
chạy sang với Vương rất nhiều; người trong châu đều gọi là Vương. Lúc ấy Trần
Quốc Huy đưa thư cho Thượng thư Lệnh Tuân Úc, đại khái nói rằng: "Sĩ Phu
Quân ở Giao Châu, học vấn ưu bác, lại thạo về chính trị, xử trong lúc đại loạn
mà bảo toàn được một phương, hơn hai mươi năm cương trường vô sự, dân không mất
mùa, những người ky lữ đều nhờ được ân huệ, tuy Đậu Dung giữ Hà Tây cũng không
hơn được; các em Vương đều hùng cứ mỗi người mỗi châu, ở ngòai vạn dặm, một
châu yên lành, uy tôn của Vương không ai hơn được, mỗi khi ra vào, chuông khánh
đều đánh, đủ cả uy nghi, kèn sáo, trống phách, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi
bên xe đốt hương; thường có hàng chục thê thiếp ngồi trong xe biền tri, theo
sau là đòan kỵ binh của đệ tử; đương thời quý trọng, uy chấn vạn lý, Triệu Đà
cũng chẳng hơn được vậy".
Vương
mất, thọ chín mươi tuổi, ở châu 48 năm. Xét truyện Báo Cực chép rằng Vương khéo
sự nhiếp dưỡng, chết đã chôn dưới đất rồi, đến cuối đời Tấn là hơn một trăm sáu
mươi năm, nước Lâm Ấp (Chiêm Thành) vào đánh cướp, đào mộ Vương lên thì thấy
thi thể y nguyên, diện mạo như khi sống, chúng cả sợ liền chôn lấp lại. Thổ
nhân truyền lấy làm thần, lập miếu phụng tự, hiệu là Sĩ Vương Tiên.
Giữa
niên hiệu Hàm Thông nhà Đường, Cao Biền phá Nam Chiếu, đi đến cõi ấy thì gặp một
dị nhân diện mạo hòa nhã, bận nghê thường vũ y, đón đường cùng đi đến; Cao Biền
mời vào trong màn nói chuyện thì nói tòan chuyện thời sự đời Tam Quốc. Sau khi
từ biệt, Cao Biền đưa ra đến cửa hốt nhiên không thấy đâu. Cao Biền lấy làm lạ,
hỏi người trong thôn. Thôn nhân chỉ mộ Sĩ Vương mà thưa. Biền than tiếc không kịp
biết, rồi ngâm rằng:
Sau
thưở Hoàng Sơ Ngụy
Cách
đây năm trăm niên
Đường,
Hàm Thông thứ tám,
Nay
gặp Sĩ Vương tiên.
Thôn
dân mỗi khi có việc gì, cầu đảo đều có linh ứng đến nay vẫn là phúc thần.
Hoàng Triều niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Gia Ứng Đại Vương. Năm thứ tư, gia thêm hai chữ Thiện Cảm. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Linh Vũ; nhờ công âm phù mặc tướng của thần, thôn dân hưởng được nhiều hạnh phúc vậy.
Tiếm
bình
Nước
ta xưa có nước Việt Thường, nói thì uốn lưỡi, thân hình vẽ rồng, phong túc phác
lậu, đại khái như thổ dân các châu động ngày nay.
Từ
khi Triệu Đà cai trị bảy quận, đem Thi, Thư giáo huấn quốc tục, Nhâm Diên làm
Thái thú Cửu Chân lại đem lễ nghĩa dạy dỗ quốc dân, bởi vậy, nước ta mới dần dần
hiểu biết văn tự có ích cho người, lễ nghĩa quan hệ đến phong tục, cái đà văn
minh cũng do đấy dần dần tiến triển. Kịp đến lúc Sĩ Phủ Quân đem sóng dư của
sông Thù sông Tứ tràn dần qua Nam Hải, bàn việc trở đầu trong hội can qua, gảy
đờn ca ở làng hầu hến, người nghe điếc tai vì tiếng chuông, thanh giáo phổ cập
đến đâu là đấy hấp thụ được hoa phong. Sau này, triều Lý, triều Trần, triều Lê
thay đổi nhau dựng trường học, đặt khoa thi, văn trị bột phát trên dưới vài
nghìn năm trăm năm, nhân tài bối xuất, bèn xưng là nước văn hiến, hóan tỉnh
lòng người, huy đẳng thượng quốc. Sử gọi văn phong Lĩnh Nam, bắt đầu từ Sĩ
Vương thì công ấy há chẳng tốt đẹp lắm ru? Đang lúc ấy, tam quốc chia thành thế
chân vạc, trung nguyên như nồi canh sôi, duy nước ta một phương được nhờ yên ổn,
những kẻ danh hiền, đạt nhân nghe tiếng mà đến, làm thành một nơi văn vật đô hội
lừng lẫy. Vương, phương Bắc thờ nhà Đại Hán, phương Đông đẹp lòng Cường Ngô,
anh em đều làm chủ các quận, vinh diệu một thời, hàn mặc lừng lẫy. Vương hiệu
là do cửa miệng của người trong châu xưng hô, chứ Vương không hề ngang nhiên
dám tự tôn đại, như Nam Hải Úy Đà cỡi xe hoàng ốc, cắm cờ tả đạo. Sách rằng:
"Sợ mệnh trời, giữ được nước" Vương thực là đúng, còn như chuông trống,
xe cộ, nghi vệ ra vào ấy chẳng có gì là lạm. Bôn mươi tám năm ở quận, hưởng thọ
hơn chín mươi năm, sống có vinh danh, chết được hiển hiện, oanh oanh liệt liệt
một trường giữ tròn chung thủy, ít thấy ai được như vậy.
Tập
U Linh có chép vài việc, người đời sau hiếu ký thêm vào, tương truyền rằng:
Vương sinh tiền dạy học trò đến vài nghìn người, sau khi mất, có di chúc chôn sấp
chứ đừng chôn ngửa thì tiếng giảng sách mới không có, nhưng sau học trò không nỡ
làm như thế, cứ chiếu lệ thường mà khăn liệm. Mỗi khi đêm lặng trăng sáng thường
nghe tiếng Vương giảng sách ở dưới mồ như lúc bình sinh dạy học. Người Tàu thấy
Vương linh dị, sợ hãi mới đào mộ Vương lên chôn sấp lại, từ đấy không nghe tiếng
giảng sách nữa. Thuyết ấy quá ư quái đản, không chắc đã đúng. Nay miếu tại sông
Thanh Tương, huyện Siếu Loại, mấy triều đều có phong tặng, còn mộ ở làng Tam Á
huyện Gia Định, gò đóng bao bọc, cây cỏ um tùm, dân chúng ở quanh vùng có việc
đến cầu đảo đều có linh ứng. Ngoài đường thiên lý có đình thờ vọng, giữa treo bức
biến đề bốn chữ "Nam Giao Học Tổ", đúc ngựa đồng để thờ, người đi đường
đều phải xuống ngựa cúi đầu. Bạch Phương Am tiên sinh, có đặt cho làng đó một
câu đối thờ ở đình rằng:
Việt
điện văn tông sau Thù, Tứ.
Nam
giao học tổ trước Lạc, Mân.
Cũng
là tuyên dương công nghiệp Vương đã đem văn hóa dạy cho dân vậy.
Xét
người đời xưa hay cữ tên chứ không cữ họ, nay hai huyện Siêu Lọai và Gia Định ở
gần đều cữ chữ Sĩ, rồi tên cũng cữ luôn, thành ra mất cả họ tên, như thế thực
là quê lậu, cũng như người huyện Đông An cữ tên Chử Đồng Tử, lại lấy chữ Tử là
húy mà cứ thì cũng giống như đây.
Phụ
lục
Phủ
Thuận An, huyện Gia Định, xã Tam Á, đồng xã quan viên, chức sắc, kỳ lão, văn
thuộc:
Thường
nghe nấu đồng đúc ngựa là muốn để cho được bền lâu, chọn đá khắc bia là muốn
khiến cho khỏi mục nát, bởi vậy đời xưa có đặt đồng đá, có bia rùa đá, chứ
không phải đời nay mới có, cũng để tỏ ra sự tôn kính vậy. Huống nay đúc ngựa chạm
bia thì không phải là để cho vui lòng đẹp mắt mà thôi. Ôi! vần của sẵn có ở núi
Trang sơn, tìm thợ khéo để đúc, khiêng tảng đá chưa đẽo ở núi Nam sơn, tìm thợ
chạm để trổ, có phải là hư phí đâu! Chính vì chỗ phụng thờ mà có. Nhân đúc ngựa
mà có bia, bia không khắc đá thì không thể được lâu dài, ngựa không đúc bằng đồng
thì không lấy gì bền chắc, nếu không ngựa không bia, lấy gì tôn nghiêm chỗ đền
miếu, người trông vào kính sợ, xa gần nô nức, tỏ tấm lòng thành phụng sự, và hiển
dương công đức của Thần linh?
Kính
nghĩ: Tôn vương là vị Thượng đẳng thần linh, Tông chủ Nam văn, Tiên tổ xuất từ
làng Vấn Dương nước Đông Lỗ là một nước lớn, nhân tránh Mãng triều, qua ở làng
Quảng Tín, quận Thượng Ngô ta, dần dà, sáu đời, mới đến Tôn Vương, đang lúc vua
Hoàng Đế trị ngôi ở Trung Hoa, thân phụ Vương làm quan Thái thú Nhật Nam, khai
công ở trước, dần thịnh về sau. Vương hun đúc khí tốt, nối chí tiền nhân, du học
Hán kinh và Dĩnh Châu, được nhờ thầy nhờ bạn lúc tuổi trẻ, chuyên học sách Xuân
Thu Tả thị, giải chú thành một nhà, nghĩa sách Thượng thư thêm rõ, câu nghi
trong giản tịch đều được tất cứu, tập theo cái thói phong lưu của nước Lỗ, như
thế cũng đáng gọi là một nhà học vấn ưu bác. Thế rồi đậu khoa Hiếu Liêm, được bổ
Thượng thư Lang, đậu khoa Mậu tài được thăng Chánh Dương Lệnh (thực ra là Vũ
Dương Lệnh), sự nghiệp khoa cử cũng đáng nên kể, thế cũng thạo về chính trị. Kịp
đến cuối đời vua Linh Đế dời sang chức Thái thú Giao Châu. Nhậm chức Thái thú rồi,
rộng rãi biết thương dân, khiêm nhường đãi kẻ sĩ, giữ tòan bờ cõi, chính lệnh mỗi
ngày một mới, người làm ruộng, kẻ đi buôn được yên ổn làm ăn, xóm làng cửa
ngòai không đóng, trộm cắp đều không, người tha hương lỡ làng đều được thỏa
nguyện. Người trong nước thân mến đều gọi bằng Vương; nhà nho học lánh nạn nhờ
Vương đãi đằng, tuy Đậu Dung giữ Hà Tây cũng không hơn Vương được. Anh em đều
là Thái thú châu quận, con cháu lãnh chức Trung Lang tướng, Vương ra vào có chuồng
trống, đờn ca, uy lừng muôn dặm, danh trọng đương thời, trăm mọi kính phục, tuy
vua Võ Đế sáng lập Đế cơ, cũng không hơn vậy.
Năm
Đinh Hợi, vua Hán Đế nhân sự thất bại của Trương Tân mới cho Vương bức tỉ thư,
giao ủy đổng đốc binh mã bảy quận.
Năm
Canh Dần, vua Ngô Tôn Quyền sai Bộ Chất làm Tiết Độ Sứ, Vương lại dựa thế nhà
Đông Ngô. Năm nay Tào Tháo phong Long độ hầu, sang năm Tôn Quyền phong Long
biên hầu. Vương chẳng lấy đồi mồi minh châu làm quý, long nhãn, tiên gia làm
ngon, chỉ lo bờ cõi vững vàng, nhân dân yên ổn, đang lúc tam quốc chí chiến
tranh mà thành quách nhân dân toàn Việt được hưởng nan ninh, nếu người không
trí thì không thế được.
Vương
khi nào viếc quan nhàn hạ, thường dạo chơi sơn thủy làm vui, hoặc xem xét đồ
thư, thăm dò ý tứ của thánh hiền, phát mình phần tiển; dạy dỗ cho người: mỗi
khi Vương giảng sách, những khách tấn thân kéo đến quanh Vương mà nghe; lấy lễ
nghĩa mà đào tạo lòng người, lấy thi thư mà khai hóa quốc tục, khi ấy Long Biên
mới nghe có tiếng đàn, tiếng học áo mão chẳng khác gì Lỗ Trân Luy Lâu hóa thành
Thù Tứ, nhiều kẻ sĩ bơi lội ở trong. Nước An Nam được xưng là Văn hiến chi
bang, cả đến đạo lý cương thường cũng đều tự Vương sáng thủy, công ơn ấy không
những chỉ nhất thời, có lẽ lưu truyền đến hậu thế, thật là vẻ vang thay! Xem bức
thư của Viên Huy đưa cho Tuân Úc thì biết người Hán cũng còn kính nể, há chi
người Hồ đi bên xe đốt trầm mà thôi đâu.
Đọc
bài chế vua Tống Thái Tông phong Đại Hành, thời Bốc sử cũng lưu tiếng thơm,
không chỉ Nam sử chép để sự nghiệp công đức mà thôi vậy. Sau khi Vương mất, anh
linh không tán, Lâm Ấp sợ mà phải lui binh, thịnh đức chưa đền, Giao Châu cảm
mà lo lập miếu. Long Biên nhân đấy cũng dựng đền phụng sự; Trần triều nhân đấy
mà truy phong tự điển, hương hỏa đời đời, tất cả anh tài hiền phụ đều phải vòng
tay cúi đầu trước anh danh vỹ liệt, suốt nghìn xưa mà càng tôn. Ngày nay Quốc
triều, Hoàng đồ bền vững, văn trị tiến phát, văn tinh chói lọi, xuân khắp non
sông, bờ cõi vững như âu vàng, xã tắc yên như bàn đá, truy cái công khai vật
thành vụ thì phải nhớ đến gốc đến nguồn, biên đậu chưng bày, heo xôi tinh khiết,
báo đáp ơn trên, tỏ lòng kẻ dưới; nếu không có kẻ tiên giác, lấy ai khai hóa hậu
nhân? chín lớp cung tường, thấy điều lễ thì biết việc chính, nghe đến nhạc thì
biết đến đức, nghì thu danh giáo, kính người hiền mà thân kẻ thân, vui đều vui
mà lợi đều lợi.
Nay
đền thờ tại Gia Định ở làng Tam Á, tại Siêu Lọai ở làng Lũng Triền, chỗ nào có
đền thờ thì dân làm chủ hộ, quan đặt Giám thủ, đến nay cũng đã lâu năm. Bây giờ
dân chúng xã Tam Á trộm nghĩ: Miếu vũ xây cất ngày xưa, trang nghiêm, hùng vĩ,
duy chỉ ngựa gỗ lâu năm sứt mòn nhiều chỗ, kém về uy nghi, luôn tiện chúng tôi
sơn thếp lại Loan giá, nghĩ rằng gỗ có ngày hư, chứ đồng thời bền bỉ, mới hội đồng
dư nghị, lo việc khởi công, tìm mua đồng nguyên, đúc thành ngựa mới, một con
màu hồng, một con màu trắng, thợ đúc công thoan, để nghìn vạn đại, miếu điện
thêm phần long trọng, xuân thu cúng tế uy nghiêm, dân được nhờ ơn của thần, nước
được vững bền thịnh trị, âm phù mặc tướng cho dân, linh thanh ngày thêm lừng lẫy.
Nhân khắc vào đá, lưu truyền đời sau:
Khắc
thời Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ hai (1706), sau rằm tháng Mạnh
Thu năm Giáp Tý, ngày tốt. Tân Vỵ Khoa (1691). Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất
thân, Kinh Bắc Đẳng Xứ, Hiến Sát Sứ Ty, Hiến Sát Sứ quận Hải Nam, làng Chí Kiệt,
Nguyễn Hậu phụng soạn.
(
Phủ Thuận An, huyện Gia Định, xã Tam Á có đền thờ Sĩ Vương.)
Vương
ban đầu làm Thái thú nước Việt ta, đóng đô ở thành Long Biên, sau này lăng cũng
xây ở đấy, đền thờ cũng dựng ở đấy. Ta nhậm chứ Án Sát bản quận, trên đường
ngang qua đền, nhân vào đền làm lễ bái yết, vừa gặp đang khi làng ấy khởi công
tu bổ đền, các bậc quan viên, phụ lão đến trước ta, thỉnh ta soạn bài văn bia,
ta bằng lòng. Văn rằng:
"Sỹ
Vương dòng dõi làng Vấn Dương nước Lỗ, vừa là ông Tổ văn hiến nước Việt ta. Phổ
hệ trước sau, lý lịch gốc ngọn, học vấn sâu rộng, cùng với công to giáo hóa,
chính trị rõ rệt, trí lược phục kẻ xa, thỏa người gần, sách sử đã chép rõ,
không cần phải kể lại ở bia làm gì, mà bia cũng không thể hình dung hết được.
Các
ông làng đều bảo: Hòang triều niên hiệu Vĩnh trị năm đầu, có ban Lệnh chỉ cho
làng ấy làm dân Tao lệ, thì đã có ông Kỷ hợi khoa đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ tam
danh Quang Tiến Thận Lộc đại phu Lại Bộ Hữu Thị Lang, Kinh Thuận Gia Tướng Công
Nguyễn Phủ đã soạn rồi. Đến năm Vĩnh Thịnh thứ hai, làng ấy đúc hai con ngựa bằng
đồng, một con màu hồng một con màu trắng, cũng đã có bia, văn bia do quan Kinh
bắc xứ Hiến Sát sứ Chí Lĩnh Kiệt Trì Tôn Tướng Công soạn. Ngựa đồng ấy bị giặc
cướp toan muốn khiêng đi, may nhờ uy linh của Vương, lập tức thâu hồi được từ
đó ngựa đồng đem đặt qua sở Tế điền.
Bây
giờ nhân dân trong xã hưng công tu bổ đền thờ, hội nghị lạc quyên đồng tốt theo
y thức dạng ngày trước, đúc lại ngựa đồng để thờ phụng. Ta đây cũng là Kinh Bắc
Hiến Sát sứ, nhân làng xin văn, ta cũng có nhớ rằng: theo quốc sử, Vương nhậm
chức ở châu hơn bốn mươi năm, thọ hơn chín mươi tuổi, đương thời uy danh không
hai, kính phục trăm mọi, nghi vệ khua chuông gióng trống, Hồ nhân bên xe đốt trầm,
y nhiên như còn, chỉ vì năm lâu vật cũ, chưa có đủ tế nghi để cho tôn thêm miếu
mạo. Duy dương thưở ấy, ngọc sắc như sống, cướp được phách nước Lâm hồ cuối đời
Tấn, Thần uy xa cảm,khiến nhà Trần ngọc tỷ bao phong, anh khí không tán. Sở dĩ
làm thần, linh sản ở trên trời, trải nghìn xưa như một ngày. Vậy nên ở trong
tòan cõi, một dạ tôn sùng, đã đúc ngựa đồng cho rạng văn vẻ, lại khắc bia đá
lưu truyền đời sau, thực là nên lắm. Ta kính rửa tay cầm bút, chép làm bài Ký
này.
Hoàng
triều niên hiểu Cảnh hưng năm thứ bốn mươi (1779) tháng Mạnh Thu, năm Kỷ hợi
ngày tốt.
Kỷ
sửu khoa (1769), đồng Tiến sĩ xuất thân, Kinh bắc đẳng xứ thự Hiến sát sú, Hình
Khoa Đô cấp sự trung, huyện Thanh Hà, làng Hoàng Vĩnh, Nguyễn Đình Giản hiệu Dị
Hiên bái thủ phụng soạn.
Wikipedia:
Sĩ Nhiếp
Sĩ
Nhiếp hoặc Sĩ Tiếp (chữ Hán: 士燮;
137 - 226) là Thái thú Giao Chỉ vào cuối đời nhà Hán. Qua giai đoạn Tam Quốc,
ông cát cứ và cai trị Giao Châu như một quốc gia độc lập từ 187 đến 226.
Do
ông đã thực thi nhiều chính sách tiến bộ nên được hậu thế tôn làm Nam Giao học
tổ (南交學祖), đến Nhà Trần lại sắc
phong mỹ tự Thiện cảm Gia ứng Linh vũ Đại vương (善感嘉應靈武大王),
một số các sử quan đánh giá cao gọi là Sĩ vương (士王).
Tên
gọi
Tên
gọi của ông trong thư tịch Hán văn cổ được ghi dưới hai dạng là "士燮" và "士爕". Hai chữ 燮 và 爕
có cùng âm đọc và ý nghĩa, chỉ khác nhau về tự dạng. 爕 là tục tự (thể chữ viết trái quy phạm và được lưu
hành trong dân gian) của chữ 燮.
Chữ 爕 khác với chữ 燮 ở chỗ nửa bên dưới của nó là chữ "hỏa" 火 chứ không phải là chữ "hựu" 又.
Xuất
thân
Sĩ
Nhiếp có tên biểu tự là Uy Ngạn (威彥), tổ tiên là người Vấn
Dương nước Lỗ. Khi Vương Mãng thay ngôi Nhà Hán, tổ tiên Sĩ Nhiếp mới tránh loạn
sang tỵ nạn Giao Châu, tới Nhiếp là sáu đời.
Cha
ông tên là Sĩ Tứ (士賜),
làm thái thú quận Nhật Nam thời Hán Hoàn Đế, cho Sĩ Nhiếp về du học ở kinh sư,
theo học Lưu Tử Kỳ người Dĩnh Xuyên, chuyên trị sách Tả Thị Xuân Thu. Sĩ Nhiếp
đỗ hiếu liêm, được bổ Thượng thư lang, vì việc công bị miễn chức, rồi về chịu
tang cha. Sau lại đỗ Mậu tài, bổ làm Huyện lệnh Vu Dương, sau đổi làm Thái thú ở
quận Giao Chỉ, được tước Long Độ Đình Hầu (龍度亭侯),
"đóng đô" ở Luy Lâu (thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay).
Sách
Tam Quốc chí, Ngô thư quyển 4, Sĩ Nhiếp truyện chép về ông như sau:
Sĩ
Nhiếp (chữ Hán: 士燮;
tự: Uy Ngạn 威彥) là một quan lại và học giả người Giao Châu dưới thời
Đông Hán. Ông quê ở huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô (蒼梧廣信), tổ tiên vốn là người Vận Dương, nước Lỗ
(汶陽, 魯國). Vào thời loạn Vương Mãng, gia tộc ông
di cư đến Giao Châu để tránh chiến tranh.
Đến
đời thứ sáu, cha ông là Sĩ Tứ (士賜)
từng giữ chức Thái thú quận Nhật Nam dưới triều Hán Hoàn Đế. Sĩ Nhiếp thuở nhỏ
từng lên kinh đô học tập, theo học Lưu Tử Kỳ (劉子奇)
người quận Dĩnh Xuyên, chuyên nghiên cứu bộ Tả thị Xuân Thu (左氏春秋).
Ông
được tiến cử là hiếu liêm, sau đó được bổ nhiệm làm Thượng thư lang. Tuy nhiên,
do liên quan đến công vụ, ông bị miễn chức. Sau khi mãn tang cha, ông được tiến
cử là mậu tài, được bổ làm lệnh huyện Vu, rồi thăng chức làm Thái thú Giao Chỉ.
Sĩ
Nhất (士壹) là em trai của Sĩ Nhiếp,
từng giữ chức Đốc bưu quận (郡督郵)
vào thời Đông Hán. Khi Thứ sử Giao Châu là Đinh Cung (丁宮) được triệu hồi về kinh đô, Sĩ Nhất đã
theo hầu và phục vụ tận tụy, cung kính. Đinh Cung cảm kích trước sự trung hậu của
ông, lúc chia tay có nói: “Nếu sau này ta được bổ nhiệm vào Tam công, ắt sẽ tiến
cử khanh.”
Về
sau, khi Đinh Cung được bổ nhiệm làm Tư đồ, ông đã thực hiện lời hứa và tiến cử
Sĩ Nhất. Tuy nhiên, khi Sĩ Nhất đến nơi thì Đinh Cung đã bị bãi chức, người kế
nhiệm là Hoàng Uyển (黃琬)
– cũng giữ chức Tư đồ – lại rất trọng đãi và đối xử lễ độ với ông.
Khi
Đổng Trác (董卓) gây loạn triều
đình, Sĩ Nhất rời kinh, trở về quê nhà.
Theo Ngô
Thư, Hoàng Uyển (黃琬)
và Đổng Trác (董卓) có mối hiềm
khích lẫn nhau. Sĩ Nhất (士壹),
em trai của Sĩ Nhiếp, một lòng trung thành với Hoàng Uyển, nhờ đó mà danh tiếng
của ông ngày càng vang xa. Đổng Trác vì ganh ghét nên đã ra lệnh viết chiếu:
“Tư đồ duyện Sĩ Nhất không được bổ nhiệm hay cất nhắc.” Do đó, Sĩ Nhất bị đình
trệ chức vụ trong nhiều năm.
Khi
Đổng Trác tiến vào Quan Trung, Sĩ Nhất nhân cơ hội rời bỏ kinh thành, trở về
quê nhà.
Lúc
ấy, Thứ sử Giao Châu là Chu Phù (朱符)
bị giặc man di sát hại, khiến tình hình châu quận hỗn loạn. Sĩ Nhiếp (士燮) bèn dâng biểu xin cho Sĩ Nhất đảm nhiệm
chức Thái thú Hợp Phố. Người em kế là Sĩ Tô (士䵋), khi đó đang làm lệnh
huyện Từ Văn, được bổ nhiệm làm Thái thú Cửu Chân (chữ 䵋 đọc là “ư bỉ” phản, tự
là Lâm). Em út là Sĩ Vũ (士武)
được giao giữ chức Thái thú Nam Hải.
-
Việc
cai trị Giao Châu
Giữ
yên Giao Châu
Năm
200 (Canh Thìn), Thứ sử Chu Phù (朱符)
bị quân khởi nghĩa giết, châu quận rối loạn. Sĩ Nhiếp có ba em trai tên là Nhất
(壹), Vĩ (䵋) và Vũ (武), bèn dâng biểu cho Nhà Hán cử Nhất làm Thái thú Hợp
Phố, Vũ làm Thái thú Nam Hải. Sử cũ đều ca tụng Sĩ Nhiếp là vị quan tốt, rất có
uy tín trong dân chúng.
Ngô
Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư:
"Vương
(Sĩ Nhiếp) độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước
yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ Nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng
trăm người".
Sĩ
Nhiếp được đánh giá cao nhất bởi có công trong việc duy trì tình trạng hòa bình
yên ổn ở Giao Châu trong suốt giai đoạn nội chiến Tam Quốc hết sức phức tạp tại
Trung Quốc kéo dài hơn nửa thế kỷ. Chính tích đó giúp Sĩ Nhiếp gần như trở
thành một vị vua tự trị của Giao Châu, thoát hẳn ra khỏi ảnh hưởng và mệnh lệnh
của Nhà Hán, vốn chỉ còn là "bung xung" cho cuộc tranh giành của các
tập đoàn phong kiến ở Trung Quốc. Điều đó thể hiện qua lá thư của Viên Huy (袁徽), vốn là quan Nhà Hán bấy giờ đang ở Giao
Châu, gửi cho Thượng thư lệnh Nhà Hán là Tuân Úc (荀彧) năm 207. Lá thư viết:
"Giao
Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong thời buổi
đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn hai mươi năm, bờ cõi không xảy ra việc gì,
dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu
Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được. Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì
chăm xem các sách thư, truyện. Phàm những chỗ biên chép không rõ ràng trong
sách Xuân Thu Tả Thị truyện, (tôi) đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những
chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ. Lại như
sách Thượng thư, cả cổ văn và kim văn, những ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu biết
tường tận, đầy đủ. Anh em ông làm quan coi quận, hùng trưởng một châu, ở lánh
ngoài muôn dặm, uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi
đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt
hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi
ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ
phục, dẫu Úy Đà cũng không hơn được".
Quan
hệ với Nhà Hán
Năm
201, Hán Hiến Đế sai Trương Tân (張津)
làm Thứ sử Giao Châu. Tân thích việc quỷ thần, thường đội khăn đỏ, gảy đàn, đốt
hương, đọc sách Đạo giáo, nói rằng có thể giúp việc giáo hóa, sau bị thuộc tướng
là Khu Cảnh (區景) giết. Nhân cơ hội,
châu mục Kinh Châu là Lưu Biểu sai Huyện lệnh Linh Lăng là Lại Cung (賴恭) thay Tân. Cùng lúc đó, Thái thú Thương
Ngô là Sử Hoàng (史璜)
qua đời, Lưu Biểu lại cử Ngô Cự (吳巨)
thay thế, cả hai người cùng tiến vào Giao Châu. Hán đế nghe tin Tân chết, gửi
cho Sĩ Nhiếp bức thư có đóng dấu ấn nói rằng:
"Giao
Châu ở cõi xa, một dải sông biển ở phía nam, ơn trên không truyền đến, nghĩa dưới
bị nghẽn tắc, thế mà nghịch tặc Lưu Biểu lại sai Lại Cung dòm ngó đất nam, nay
cho khanh làm Tuy Nam trung lang tướng (綏南中郎將)
trông coi bảy quận, lĩnh Thái thú Giao Chỉ (交阯太守) như cũ".
Sĩ
Nhiếp bèn sai thuộc lại là Trương Mân mang đồ cống sang kinh đô Nhà Hán. Bấy giờ
chiến tranh loạn lạc, đường sá đứt nghẽn, nhưng Sĩ Nhiếp vẫn không bỏ việc nộp
cống. Có thể thấy đó là một phần trong chính sách hòa hiếu của Sĩ Nhiếp giúp
cho Giao Châu yên ổn. Hán đế lại xuống chiếu cho Nhiếp làm An Viễn tướng quân (安遠將軍), phong tước Long Độ Đình hầu (龍度亭侯). Lại Cung tuy nhận lệnh của Lưu Biểu
nhưng chưa sang được Giao Châu mà ở quận Thương Ngô, sau Thái thú Thương Ngô là
Ngô Cự bất hòa với Cung, đem binh đánh đuổi, Cung lại chạy về Linh Lăng.
Từ
năm 206, do nhà Đông Hán chia năm xẻ bảy, vùng Giao Châu do Sĩ Nhiếp đứng đầu tồn
tại như một quốc gia tự trị cho đến năm 210.
Quan
hệ với Đông Ngô
Năm
210, quân phiệt Giang Đông là Tôn Quyền sai Bộ Chất (步隲) làm Thứ sử Giao Châu. Khi Chất đến, Sĩ
Nhiếp không chống cự mà đem anh em đến vâng theo mệnh lệnh. Tôn Quyền bèn cho
Nhiếp làm Tả tướng quân (左將軍).
Trong khi đó, Ngô Cự (吳巨)
có ý chống đối, nên bị Bộ Chất xử chém.
Sau
Nhiếp còn sai con là Sĩ Ngẩm (hay Sĩ Hâm, 廞)
làm con tin ở nước Ngô, Quyền cho Ngẩm giữ chức Thái thú Vũ Xương. Các con của
Sĩ Nhiếp và Sĩ Nhất ở phương nam đều nhận chức Trung lang tướng. Sĩ Nhiếp lại
chiêu dụ thổ hào ở Ích Châu là bọn Ung Khải (雍闓)
đem dân chúng trong quận quy hàng Ngô, khiến vùng đất phía nam Nhà Hán (Thục
Hán) lâm vào hỗn loạn, làm cho thừa tướng Nhà Thục Hán là Gia Cát Lượng phải tiến
hành bình định. Công tích này được Tôn Quyền tán thưởng, thăng chức cho Sĩ Nhiếp
là Vệ tướng quân (衞將軍),
tước Long Biên hầu (龍編侯).
Em trai là Sĩ Nhất được phong làm Thiên tướng quân (偏將軍), tước Đô Hương hầu (都鄉侯).
Hằng
năm, Sĩ Nhiếp đều sai sứ thần dâng cống phẩm cho Đông Ngô, gồm hàng ngàn bó
hương quý, vải lụa mịn, cùng các loại trân bảo như minh châu, đại bối, lưu ly,
phỉ thúy, đồi mồi, ngà voi, sừng tê, và các loại trái cây quý hiếm như chuối, dứa,
long nhãn. Riêng Sĩ Nhất từng dâng cống hàng trăm con ngựa. Tôn Quyền thường
đích thân viết thư hồi đáp, ban thưởng hậu hĩnh để tỏ lòng trọng đãi.
Sự
mềm dẻo trong chính sách đối ngoại để giữ yên bờ cõi của Sĩ Nhiếp được đánh giá
rất cao. Sử gia lớn thời Trần là Lê Văn Hưu nhận xét:
"Sĩ
Vương biết lấy khoan hậu khiêm tốn để kính trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà
đạt đến quý thịnh một thời. Lại hiểu nghĩa, thức thời, tuy tài và dũng không bằng
Triệu Vũ Đế, nhưng chịu nhún mình thờ nước lớn, để giữ vẹn bờ cõi, có thể gọi
là người trí."
Việc
tiến cử nhân tài Giao Châu
Giai
đoạn Sĩ Nhiếp cai trị Giao Chỉ còn đánh dấu sự xuất hiện của những người Việt đầu
tiên làm việc cho triều đình phong kiến Trung Quốc. Do sự thỉnh cầu khẩn thiết
của Thứ sử Lý Tiến năm 200, Hán Hiến Đế xuống chiếu lấy một người mậu tài của
Giao Châu làm Huyện lệnh Hạ Dương, một người hiếu liêm làm Huyện lệnh Lục Hợp.
Sau Lý Cầm làm quan đến Tư lệ hiệu úy, Trương Trọng, người quận Nhật Nam, làm
Thái thú Kim Thành. Người Việt được cùng tuyển dụng như người Hán là mở đầu từ
Lý Cầm, Trương Trọng.
Về
vấn đề này, Ngô Sĩ Liên nhận xét:
"Người
quân tử đối với lời nói không thể cho qua được. Ngày xưa Tông Miệt nếu không có
lời nói thì cùng với cỏ cây mục nát mà thôi. Lý Cầm không có lời nói thì sao được
dùng ở đời, mà người tài giỏi của nước Việt ta, người phương bắc làm sao biết
được? Lời nói không thể cho qua là vì vậy. Tuy nhiên, đây chỉ nói riêng về nhân
tài thôi, còn như Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiên thì không nói thế được".
Người
kế tục
Năm
226, Sĩ Nhiếp mất, thọ 90 tuổi, cai trị Giao Châu tổng cộng 40 năm (187 - 226).
Theo huyền sử, Sĩ Nhiếp ốm, đã chết đi ba ngày, nhưng được Đổng Phụng cho một
viên thuốc hòa vào nước ngậm, rồi đỡ lấy đầu mà lay động, lại mở mắt động tay,
sắc mặt bình phục dần dần, ngày hôm sau ngồi dậy được, bốn ngày lại nói được, rồi
trở lại bình thường.
Nhà
Đông Hán mất ngôi, Trung Quốc phân ra làm ba nước: Tào Ngụy, Thục Hán, Đông
Ngô. Đất Giao Châu bấy giờ thuộc về Đông Ngô. Sĩ Nhiếp ở Giao Châu được 40 năm,
nắm uy quyền thực sự, nhưng vẫn theo lệ triều cống Nhà Hán, và đến khi Nhà Hán
mất thì lại triều cống nhà Ngô. Sau khi Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy (士徽) tự xưng làm Thái thú. Ngô chủ là Tôn Quyền
bèn chia đất Giao Châu, từ Hợp Phố về bắc gọi là Quảng Châu. Sai Lã Đại làm thứ
sử Quảng Châu, Đái Lương làm thứ sử Giao Châu, và sai Trần Thì sang thay Sĩ Nhiếp
làm Thái thú quận Giao Chỉ. Sĩ Huy chống cự, bị quân nhà Đông Ngô lừa bắt giết
cả nhà.
Sĩ
Nhiếp có 5 người con, trừ Sĩ Ngẩm tất cả đều bị Lữ Đại bắt giết:
· Sĩ Ngẩm
· Sĩ Chi
· Sĩ Huy
· Sĩ Cán
· Sĩ Tụng
Quyền
thế và truyền thuyết
Anh
em nhà họ Sĩ đều nắm giữ các chức vụ quan trọng tại các quận lớn trong Giao
Châu, trở thành thế lực đứng đầu một vùng rộng lớn nơi biên viễn. Trong suốt một
thời gian dài, họ gần như độc lập cai trị cả một châu, cách xa trung ương hàng
vạn dặm, quyền uy không ai sánh kịp.
Khi
ra vào, họ sử dụng đầy đủ nghi trượng như chuông, khánh, cờ xí, kèn trống, xe
ngựa nối dài khắp đường. Người Hồ (chỉ các dân tộc thiểu số hoặc ngoại tộc) thường
đi hai bên xe, đốt hương theo hầu, có khi lên đến vài chục người. Vợ lẽ và thê
thiếp của họ ngồi xe mui có màn che (輜軿), con cháu thì cưỡi ngựa
theo sau, tạo nên một đoàn tùy tùng đông đảo và uy nghi. Địa vị và ảnh hưởng của
họ khiến các bộ tộc Man Di đều phải kính phục, không thua kém gì các thế lực lớn
như Úy Đà (尉他) trước đó.
Theo
Thần Tiên truyện của Cát Hồng, từng có ghi chép rằng: Sĩ Nhiếp từng mắc
bệnh nặng và qua đời, thi thể đã nằm ba ngày. Lúc ấy, một vị tiên nhân tên Đổng
Phụng (董奉) – tự là Xương Dị, người
huyện Hầu Quan – đã đến, cho ông uống một viên thuốc, dùng nước súc miệng, rồi
đỡ đầu ông, lay nhẹ. Chỉ trong chốc lát, Sĩ Nhiếp mở mắt, cử động tay, sắc mặt
dần hồng hào trở lại. Nửa ngày sau ông có thể ngồi dậy, bốn ngày sau thì nói
chuyện được, rồi hồi phục hoàn toàn.
Tuy
nhiên, em út là Sĩ Vũ (士武)
thì mất sớm do bệnh, không được cứu chữa kịp thời.
Suy
vong của gia tộc họ Sĩ
Sau
khi Sĩ Nhiếp qua đời, Tôn Quyền cho rằng quận Giao Chỉ ở quá xa, nên quyết định
chia tách: phần từ Hợp Phố trở ra Bắc lập thành Quảng Châu, giao cho Lữ Đại (呂岱) làm Thứ sử; phần từ Giao Chỉ trở vào Nam
vẫn là Giao Châu, do Đới Lương (戴良)
làm Thứ sử. Đồng thời, Trần Thì (陳時)
được cử thay Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao Chỉ.
Lữ
Đại đóng quân tại Nam Hải, còn Đới Lương và Trần Thì tiến quân đến Hợp Phố. Lúc
này, con trai của Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy (士徽)
tự xưng làm Thái thú Giao Chỉ, huy động tộc binh chống lại Đới Lương. Đới Lương
phải tạm thời đóng quân tại Hợp Phố.
Hoàn
Lân (桓鄰), một thuộc hạ cũ do Sĩ
Nhiếp tiến cử, dập đầu can gián Sĩ Huy nên ra nghênh tiếp Đới Lương, nhưng bị
Sĩ Huy nổi giận, đánh đòn đến chết. Anh của Hoàn Lân là Hoàn Trị, con là Hoàn
Phát, liền liên kết với tộc binh đánh Sĩ Huy. Huy cố thủ trong thành, hai bên
giao tranh nhiều tháng không phân thắng bại, cuối cùng giảng hòa, rút quân.
Sau
đó, Lữ Đại nhận chiếu chỉ từ triều đình, dẫn quân từ Quảng Châu tiến gấp ngày
đêm, qua Hợp Phố, cùng Đới Lương tiến vào Giao Chỉ. Sĩ Khuông (士匡), con trai của Sĩ Nhất, vốn có quan hệ
thân thiết với Lữ Đại, được phong làm Tòng sự sư hữu, được cử đi trước viết thư
cảnh báo Sĩ Huy, khuyên nên đầu hàng để giữ mạng. Sĩ Khuông còn trực tiếp gặp
Huy, thuyết phục ông quy thuận.
Lữ
Đại sau đó đến nơi, anh em Sĩ Huy gồm Sĩ Chi, Sĩ Cán, Sĩ Tụng và ba người khác,
tổng cộng sáu người, đều cởi trần ra nghênh đón, tỏ lòng quy phục. Lữ Đại giả vờ
tiếp nhận, cho họ phục chức, rồi hôm sau bày tiệc lớn, mời họ lần lượt vào. Khi
khách khứa đã đông đủ, Lữ Đại đứng dậy, cầm tiết việt đọc chiếu thư, liệt kê tội
trạng, rồi ra lệnh bắt trói và xử chém toàn bộ, đầu được gửi về Vũ Xương.
Tôn
Thịnh (孫盛) bình luận:
“Việc
thu phục kẻ xa, giữ vững kẻ gần, không gì bằng chữ tín; giữ vững đại nghiệp, lập
công định quốc, không gì bằng đạo nghĩa. Như Tề Hoàn Công, nhờ đức mà nổi danh ở
Kha Hội; Tấn Văn Công, nhờ nghĩa mà xưng bá khi phạt nước Nguyên. Nhờ đó mà có
thể chín lần hội minh, một lần cứu giúp, lưu danh thiên cổ, làm gương cho muôn
đời. Lữ Đại dùng Sĩ Khuông làm sứ giả, lấy lời tín nghĩa để chiêu dụ, khiến anh
em Sĩ Huy cởi trần ra hàng, phó thác sinh mệnh. Nhưng rồi lại giết họ để cầu
công danh, cho thấy Tôn Quyền không có tầm nhìn xa, còn họ Lữ thì phúc mỏng,
nên cơ nghiệp chẳng thể bền lâu.”
Sau
sự kiện đó, các con trai khác của Sĩ Nhất như Sĩ Tô, Sĩ Khuông đều bị miễn chức,
trở thành thứ dân. Con tin của Sĩ Nhiếp là Sĩ Ngẫm (Hâm) (士廞) cũng bị giáng chức. Vài năm sau, Sĩ Nhất
và Sĩ Tô bị xử tử vì phạm pháp. Sĩ Ngẫm lâm bệnh qua đời, không có con nối dõi.
Triều đình ban chiếu cấp gạo hàng tháng và 40 vạn tiền cho vợ ông để sinh sống.
Sử
gia nhận xét:
·
Lưu Dao (劉繇)
là người có danh tiếng nghiêm cẩn, chú trọng phẩm hạnh, thường hay phê phán
đúng sai. Tuy nhiên, khi thời cuộc rối ren, ông lại chiếm giữ một vùng đất rộng
lớn nơi biên viễn, điều này không phải là sở trường của ông.
·
Thái Sử Từ (太史慈)
là người trung tín, nghĩa khí, dũng cảm, có phong thái của bậc hiền nhân thời
xưa.
·
Sĩ Nhiếp (士燮)
giữ chức Thái thú ở phương Nam, sống an nhàn suốt đời. Tuy nhiên, con ông không
biết giữ mình, dẫn đến tai họa. Điều này cho thấy: kẻ tầm thường nếu quá hưởng
vinh hoa phú quý, lại ỷ vào địa thế hiểm trở, thì tất sẽ chuốc lấy tai vạ.
Ghi
nhận của đời sau
·
Nhà
Trần truy
phong Sĩ Nhiếp làm Thiện Cảm Gia Ứng Linh Vũ Đại Vương (善感嘉應靈武大王).
·
Sử gia lớn thời Trần, Lê Văn Hưu nhận xét: "Sĩ
Vương biết lấy khoan hậu khiêm tốn để kính trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà
đạt đến quý thịnh một thời. Lại hiểu nghĩa, thức thời, tuy tài và dũng không bằng
Triệu Vũ Đế, nhưng chịu nhún mình thờ nước lớn, để giữ vẹn bờ cõi, có thể gọi
là người trí".
·
Sử gia lớn Nhà
Lê sơ, Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vương
(Sĩ Nhiếp) là người khoan hậu khiêm tốn, lòng người yêu quý, giữ vẹn đất Việt để
đương đầu với sức mạnh của Tam quốc, đã sáng suốt lại mưu trí, đáng gọi là người
hiền".
·
Cũng Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký
toàn thư, viết: "Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước
văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà
còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Con không hiền là tội của con thôi. Tục
truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà
Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm
Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn
như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi
là "Tiên Sĩ Vương". Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần
vậy".
·
Đền thờ Sĩ Nhiếp ở thôn Tam Á, xã Gia
Đông, Thuận Thành, Bắc
Ninh.
Tranh
cãi
Một
số sử gia phong kiến chính thống, trong đó có Ngô Sĩ Liên, đánh giá rất cao Sĩ
Nhiếp, gọi ông là Sĩ Vương, sánh ngang với các bậc vương giả, đồng thời coi Sĩ
Nhiếp là ông tổ của Nho
học ở
Việt Nam. Tuy nhiên, Khâm định Việt sử Thông
giám Cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn
lại viết:
"Sĩ
Nhiếp theo lệnh triều đình Trung Quốc phái sang làm Thái thú, không từng xưng
vương bao giờ, thế mà sử cũ cũng chép riêng thành một kỷ, nay tước bỏ đi, chỉ
chép thẳng công việc thời ấy để ghi lấy sự thực..."
Các
sử gia hiện đại của Việt Nam, dù chính thống hay không, cũng đều thừa nhận rằng
việc quá đề cao Sĩ Nhiếp và gọi ông là Sĩ Vương của Ngô Sĩ Liên là không hợp lý.
Ngô
Sĩ Liên cũng cho rằng Sĩ Nhiếp là người có công khai phá Nho học ở Việt Nam.
Tuy nhiên, theo Việt sử lược, điều đó không chắc đã
đúng. Việt sử lược viết:
"Nhà
làm sử thường cho nước ta (Việt Nam) có văn học là khởi đầu từ Sĩ Nhiếp. Cái ý
kiến đó có lẽ không phải. Vì rằng từ khi nhà
Hán cai trị đất Giao Chỉ đến đời Sĩ Nhiếp đã được
hơn 300 năm, người Giao
Chỉ đã có người học hành thi đỗ hiếu
liêm, mậu tài. Vậy nói rằng đến ông Sĩ Nhiếp mới có Nho học thì chẳng sai lắm
ru. Hoặc giả ông ấy là một người có văn học trong khi làm quan, lo mở mang sự học
hành, hay giúp đỡ những kẻ có chữ nghĩa, cho nên về sau mới được cái tiếng làm
học tổ ở nước Nam, tưởng như thế thì có thể hợp lẽ hơn".
Sách Các
triều đại Việt Nam của Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng viết:
Nhìn
chung, các triều đại phong kiến Trung
Quốc tự xem mình là "Thiên tử"
coi dân Việt là "man di" nên người Việt dẫu có học hành thông thái
cũng không được trọng dụng. Ngoài trường hợp Trương Trọng,
mãi đến đời vua Linh
Đế (168-189) cuối nhà Đông
Hán, mới lại có người Việt, nhờ học giỏi, được cất nhắc
làm thái thú quận Giao
Chỉ. Lý
Tiến dâng sớ xin cho người Giao Chỉ được
bổ đi làm quân bất kỳ quận nào, kể cả ở Trung Nguyên. Nhưng Hán đế chỉ cho những
người đỗ Mậu tài hoặc Hiếu liêm được làm quan trong xứ mà thôi. Lúc đó có người
Giao Chỉ tên là Lý Cầm,
làm lính túc vệ trong cung, khẩn thiết xin Hán đế bãi lệnh đó. Nói mãi, Hán đế
mới cử một người Giao Chỉ đỗ Mậu tài đi làm quân lệnh ở Hạ Dương và
một người đỗ Hiếu liêm làm quan lệnh ở Lục
Hợp. Thực tế đất Âu
Lạc từng có những người đỗ Mậu tài, Hiếu liêm, làm
quan Nhà Hán, bác bỏ luận điểm của các nhà sử học Trung Quốc cho rằng đất Giao
Chỉ từ khi Sĩ Nhiếp (187-226) sang làm thái
thú vǎn hóa mới phát triển, nền giáo dục mới được mở
mang là không đúng.
Theo Việt
sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần,
có dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư,
viết thêm:
Năm Canh
Thìn (200), một sự kiện khác đặc biệt đã
xảy ra ở ngay giữa triều đình Nhà Hán. Sự kiện này gắn liền với tên tuổi của
hai người. Một là Lý
Tiến và hai là Lý Cầm.
Lý Tiến là quan văn, được cử giữ chức thứ sử là chức trông coi toàn bộ các địa
phương của nước ta lúc bấy giờ. Lý Cầm là quan võ bậc thấp, lúc ấy đang làm túc
vệ là chức bảo vệ thường trực ở triều đình Nhà Hán. Hai người hoàn toàn khác
nhau nhưng lại cùng họ Lý, và quan trọng hơn, cùng gắn với một sự kiện được
sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lại... Thế là nhân tài nước Việt ta được tuyển
dụng tương tự như người Hán, bắt đầu từ Lý Tiến, Lý Cầm vậy. Nhà
Hán hẳn nhiên chẳng vì lời tâu của Lý Tiến và Lý Cầm
mà thay đổi cách tuyển dụng người, nhưng dẫu sao thì cũng đã phải buộc lòng ghi
nhận. Nếu thiếu dũng khí, chẳng thể nói được những lời như Lý Tiến và Lý Cầm đã
nói đâu. Sử cũ chép chuyện Trương Trọng ngay sau chuyện Lý Tiến và Lý Cầm, dẫu
biết rõ Trương Trọng[5] sống
sau hai nhân vật họ Lý này đến hơn 100 năm, ấy là muốn chép cho liền mạch dũng
khí mà trước đó Lý Tiến và Lý Cầm đã tạo ra đó thôi.
Đưa
ra nhiều tài liệu dẫn chứng, giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng, trong thực
tế chính quyền Sĩ Nhiếp (từ 187), cũng như trước đó là Chu Phù (khoảng 180),
là chính quyền Việt Nam độc lập.
Sử Trung Hoa chép rõ Chu Phù vứt điển huấn tiền thánh, bỏ pháp luật Hán gia. Còn đối với Sĩ Nhiếp, sử Hoa (Ngô chí) viết rằng: [Sĩ Nhiếp] tổ tiên vốn người Mấn Dương nước Lỗ, đến loạn Vương Mãng tị nạn Giao Châu, tới Nhiếp là sáu đời. Ông cho rằng một người có tổ tiên 6 đời ở Việt Nam thì đã "Việt Nam hóa", trở thành người Việt rồi. Cũng theo Ngô chí: Sĩ phủ quân (Sĩ Nhiếp) của Giao Chỉ học vấn đã ưu bác, lại thành công về chính trị, ở trong đại loạn, bảo toàn một quận hơn 20 năm, cương trường vô sự, dân không thất nghiệp, những bọn lệ thuộc đều được nhờ ân; Anh em Nhiếp đều là người hùng các quận, làm tướng một châu, riêng ở vạn lý, uy tôn vô thượng. Ra vào đánh chuông khánh, đầy đủ uy nghi, kèn sáo cổ xuy, xe ngựa đầy đường. Người Hồ theo sát đốt hương, thường có mấy mươi. Thê thiếp đi xe màn, tử đệ theo lính kỵ. Đương thời quý trọng, chấn phục trăm mọi. Úy Đà cũng không đủ hơn. Từ tài liệu trên, theo giáo sư Lê Mạnh Thát: Sĩ Nhiếp dẫu được đào tạo trong khuôn mẫu Trung Quốc, đã có những hành vi xa lạ với phong tục tập quán Trung Quốc. Nói rõ ra, ông đã được Việt hóa. Việc Ngô chí so sánh Sĩ Nhiếp với Triệu Đà cho thấy nền cai trị nước Việt thời bấy giờ độc lập tới mức nào. Thực tế có thể nói chính quyền độc lập đầu tiên sau chính quyền Hai Bà Trưng là chính quyền Chu Phù - Sĩ Nhiếp. Theo ông, dưới thời Sĩ Nhiếp, nước Việt đã có một nền nông nghiệp rất phát triển. Lúa Giao Chỉ mùa hè chín, nông dân một năm trồng hai lần (theo Kinh Dương dĩ nam dị vật chí). Một năm tám lứa kén tằm đến từ Nhật Nam (Văn tuyển 5 tờ 9b4). Nhiếp mỗi khi sai sứ đến Quyền đều dâng tạp hương, vải mỏng thường tới số ngàn. Món quý minh châu, sò lớn, lưu ly, lông thú, đồi mồi, sừng tê, ngà voi, các thứ vật lạ quả kỳ như chuối, dừa, long nhãn, không năm nào không đưa đến (Ngô chí 4 tờ 8b1-3 nói về những cống vật mà Sĩ Nhiếp gửi đến Tôn Quyền). Giáo sư Lê Mạnh Thát dẫn giải tiếp: Sau khi Sĩ Nhiếp chết (226), lúc ấy Tôn Quyền đã chiếm cứ phía Nam Trung Quốc để tranh hùng với Tào Tháo và Lưu Bị, nên nhân cái chết của Sĩ Nhiếp tiến hành thôn tính nước ta, lúc đó là một nước độc lập dựa trên điển huấn và pháp luật của người Việt. Con Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy nối nghiệp cha, chống lại Tôn Quyền, tuy nhiên do mất cảnh giác, nên đã thất bại, Sĩ Huy bị bắt và bị giết, Tôn Quyền chiếm nước ta. Nhưng do bị chống đối quyết liệt, nền cai trị của Tôn Quyền không bền vững và không lâu dài, vì chỉ 18 năm sau, Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) cùng anh là Triệu Quốc Đạt nổi lên khởi nghĩa giành lại chính quyền.
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét