Việt Điện U Linh Tập - Bố Cái Đại Vương - Lý Tế Xuyên
2026-05-02
Việt
Điện U Linh Tập
Bố Cái Đại Vương
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Xét
Giao Châu Ký của Triệu Vương chép rằng: Vương họ Phùng tên Hưng, thế tập Biên
Khố Di Tù Trưởng châu Đường Lâm, hiệu là Quan Lang (man tục nay còn). Vương gia
tư hào hữu, sức lực dũng mãnh, đánh được hổ, vật được trâu; người em tên là Hãi
cũng có sức mạnh kỳ dị, vác được một tảng đá nặng mười nghìn cân, hay một chiếc
thuyền con chở nghìn hộc mà đi hơn mười dặm; mọi lào thấy vậy đều kinh hãi.
Giữa
niên hiệu Đại Lịch nhà Đường, nhân nước An Nam ta có quân loạn, anh em đem nhau
đi tuần các ấp lân cận đều hạ được cả, đi đến đâu thì chỗ ấy tan tác.
Đắc
chí rồi, Hưng cải danh là Cự Lão, Hãi cũng đổi tên là Cự Lực; Vương hiệu là Đô
Quán, Hãi hiệu là Đô Bảo, dùng kế hoạch của người Đường Lâm là Đỗ Anh Hậu đem
binh tuần hành mấy châu Đường Lâm, Trường Phong, thảy đều quy thuận cả; uy danh
chấn động, dương ngôn muốn đánh lấy Đô Hộ Phủ.
Lúc
bấy giờ quan Đô Hộ là Cao Chính Bình đem binh dưới trướng ra đánh không hơn được,
ưu phẫn phát bệnh vàng da mà chết. Vương vào Đô Phủ thị sự bảy năm rồi mất; dân
chúng muốn lập em là Hãi lên nối ngôi. Có kẻ phụ tá đầu mục là Bồ Phá Lặc, sức
có thể bài sơn cử đỉnh, dũng lực tuyệt luân, có ý không theo mới lập con Vương
là An, rồi đem quân chống Hãi; Hãi tránh Bồ Phá Lặc, dời qua ở động Chu Nham,
sau đấy không biết ra sao nữa.
An
tôn Hưng là Bố Cái Đại Vương, bởi quốc tục xưng cha là "Bố", mẹ là
"Cái" nên mới gọi như vậy.
An
lên kế vị được hai năm, vua Đức Tông phong Triệu Xương sang làm An Nam đô hộ;
Xương sang đến nơi, trước hết sai Sứ đem nghi vật dụ An; An sửa sang nghi vệ,
đem quân nghênh hàng Triệu Xương, các thân thuộc họ Phùng giải tán hết.
Vương
vừa mới mất đã hiển linh, thường ở trong thôn dân hiện hình thành thiên xa vạn
mã phi đằng trên gia ốc, trên cổ thụ; chúng nhân trông lên thực như đám mây ngũ
sắc, lại nghe thấy ti trúc, quản huyền giao hưởng trên không trung, tiếng hô
hoán, tiếng cờ trống võng kiệu vọng lên nghe thấy phân minh giữa ban ngày. Phàm
trong ấp có tai nạn hoặc việc vui mừng thì Ấp trưởng trong đêm đã thấy có dị
nhân báo cáo trước; chúng phục là thần, lập đền phía tây Đô phủ mà phụng sự,
phàm có việc trộm cướp, việc hồ nghi thì đại thể tề tựu trước đền mà bái yết thần,
vào trong đền mà minh thệ, lập tức thấy họa phúc. Nhà thương mại đem lễ đến đền
cầu lợi hậu đều có linh ứng; thôn dân gặp phải mưa dầm hay đại hạn; cầu đảo liền
được như ý. Mỗi năm xã đến ngày tạ lễ, người đến đông như rừng như biển, bánh
xe dấu ngựa đầy đường; miếu mạo nguy nga, hương đèn chẳng dứt.
Thời
Ngô Tiên chúa kiến quốc, Bắc binh nhập khấu, Tiên chúa đã lo, nửa đêm hốt nhiên
mộng thấy một ông già đầu bạc, y quan nghiêm nhã, tay cầm quạt lông, chống gậy
trúc, tự xưng tính danh rằng:
-
Ta lãnh thần binh vạn đội, sẵn sàng mai phục các chỗ yếu hại, chúa công tức tốc
tiến binh chống cự, đã có âm trợ, chớ lo phiền chi cả.
Đến
khi tiến binh trên Bạch Đằng, quả thấy trên không có tiếng xe ngựa, trận ấy quả
được đại tiệp; tiên chúa lấy làm lạ, chiếu kiến lập miếu điện, trang nghiêm có
từng hơn xưa, lại sắm thêm quạt lông, cờ hòang đạo, chiên đồng, trống đại, rồi
làm lễ thái lao, con hát đến làm lễ tạ; lịch triều theo đó dần dần thành ra cổ
lễ.
Hòang
triều niên hiệu Trùng hưng năm đầu, sắc phong Phu Hựu Đại Vương. Năm thứ bốn
mươi, gia thêm hai chữ Chương Tín, Năm Hưng Long thứ hai mươi, gia phong hai chữ
Sùng Nghĩa, đến bây giờ anh uy càng thịnh, hương lửa không ngớt vậy.
~
Tiếm
bình
Phùng
Đô Quân là một người phi thường, tất nhiên có sự gặp gỡ phi thường: sự gặp gỡ
phi thường chính là để đãi người có tài phi thường, xem việc sức bắt được hổ,
khi muốn nuốt sao Ngâu, khiến cho người trong châu đều úy phục, nếu không có
tài lược hơn người thời đâu được như thế?
Chính
Bình chết rồi, Vương thung dung vào đô thành cắm bảy mươi ngọn cờ, hùng oai
muôn dặm, độc quyền một phương, họa phúc do tay, nghiễm nhiên như một họ Triệu,
họ Lý vậy, há phải như Mai Hắc Đế chỉ chiếm một châu mà ví được đâu? Tuy vận
còn nội thuộc, chẳng bao lâu bị mất vào tay Triệu Xương, nhưng kẻ đại trượng
phu xuất sắc không chịu để cho bọn hồ lại giàn buộc, Ngọ Phong cho là tay cự
phách trong hạng Thổ hào, vận tuy bĩ cực, nhưng gặp gỡ đều hạnh thông, rõ thực
bậc anh hùng hảo hán, phương chi chốn Đại nội hiển linh, sông Bạch Đằng giúp trận,
Phu Hựu, Chương Nghĩa, chói lọi ở Loan thư, sống được vinh danh, chết lưu hiển
hiệu, người như Phùng Bố Cái chưa dễ có nhiều được.
Kẻ
thân hạ thì có Bồ Phá Lặc, tận trung thờ chúa, con thì có Phùng An, biết sợ mệnh
trời, một cõi Đường Lâm dần dần thành ra một làng danh thắng.
Ngày
nay anh tài nảy nở, vị tất đã không do Phùng Công đã cắm lá cờ đỏ đầu tiên, thực
là bất hủ.
Có
người bảo: Đường Lâm nay là Phúc Lộc thì phải, Phùng Sứ Quân nay làm Phúc thần
xã Mông Phụ, chưa biết có phải không.
~
Wikipedia
Phùng
Hưng
Phùng
Hưng (chữ
Hán:
馮興; ? – ?), nổi
tiếng với tôn hiệu Bố Cái Đại Vương (chữ Hán: 布盖大王), là thủ lĩnh khởi nghĩa chống lại ách đô
hộ An Nam của nhà Đường năm 791, thời Bắc thuộc lần thứ ba (602–905)
trong lịch sử Việt Nam.
Nguồn
gốc tôn hiệu
Tôn
hiệu phổ biến của Phùng Hưng, Bố Cái Đại Vương (布盖大王), được coi là một trong những trường hợp
sử dụng chữ Nôm bản địa cổ nhất hiện
còn lưu truyền. Việt điện u linh tập (1329)
giải nghĩa hai chữ Bố Cái (布盖)
là "bố mẹ", vì theo quốc tục mà đặt vậy. Các bộ chính sử về
sau như Đại Việt sử ký toàn thư (1697)
đời Hậu
Lê và Khâm định Việt sử Thông
giám cương mục (1859) đời Nguyễn đều
dẫn cổ sử mà khẳng định tương tự. Trong Việt-Nam cổ văn học sử (1942), Nguyễn Đổng Chi nhận
thấy sự tương đồng giữa danh hiệu trên và những từ chỉ đấng sinh thành
trong tiếng Mường Lào như bọ "bố"
và cày "mẹ".
Tuy
nhiên, tồn tại một luồng ý kiến trái chiều tới từ một số nhà ngôn ngữ học –
tiêu biểu gồm có A.G. Haudricourt và Mei Tsu-Lin –
cho rằng hai chữ kia đáng ra phải được hiểu là "bua/vua lớn" dựa trên
bằng chứng ngữ âm tiếng Hán trung cổ và
rằng cách đọc "bố cái" rõ ràng lệch thời. Nhận xét về giả thuyết
của Haudricourt, sử gia Keith W. Taylor trong
công trình The Birth of Vietnam (1983) cho rằng đề xuất đó tuy
"khá hợp lý và thú vị", song cũng phải chú ý rằng Việt điện u
linh tập, vốn được soạn gần thời gian xảy ra sự kiện hơn, minh giải danh hiệu
kia là "bố mẹ". Dù vậy, trong một bài đăng sau đó trên tạp
chí The Vietnam Forum (1986), Taylor rút lại nhận định của
mình và cho rằng suy đoán của Haudricourt khá thuyết phục.
Năm
1994, Nguyễn Tài Cẩn phản
bác giả thuyết "bua/vua cái" trong một bài báo ngôn ngữ học viết bằng tiếng
Nga,
đọc trước hội thảo khoa học tại Sankt-Peterburg.
Theo đó, hai luận điểm chính mà ông đưa ra là: (1) lý giải chữ "cái" ở
đây là "lớn" không thích hợp về mặt ngữ nghĩa, bởi vì từ này thường
được dùng cho các sự vật có tính đối lập nghĩa "lớn – nhỏ" hoặc
"mẹ – con"; và (2) "bố mẹ" hoàn toàn có thể mang nghĩa
"thủ lĩnh, lãnh đạo" mà không cần phải lập luận dựa trên sự thay đổi
cách đọc chữ 布, sở dĩ vì hiện tượng
lấy danh từ chỉ người bề trên để nói bóng về thủ lĩnh xuất hiện khá phổ biến
trong các ngôn ngữ ở Đông Dương.
Sử
liệu
Việt điện u linh tập (1329)
của Lý Tế Xuyên là tác phẩm có soạn
niên sớm nhất đề cập đến Phùng Hưng. Tuy nhiên, thông tin về thân thế và sự
nghiệp của ông trong tác phẩm này thực chất được dẫn lại từ một tác phẩm khác,
đã thất lạc, có nhan đề là Giao Châu ký (交州記), do một tác giả họ Triệu thời Đường biên soạn. Theo
một số nhà nghiên cứu, người họ Triệu này nhiều khả năng là Triệu Xương – viên quan giữ chức
Đô hộ An Nam sau cái chết của người tiền nhiệm Cao Chính Bình (高正平). Nhìn chung, đoạn nói về Phùng Hưng
trong Việt điện u linh tập chủ yếu giải thích sự phát triển tục
thờ phượng ông trên đất An Nam tự cổ chí kim, và những thông tin này hầu như được
Lý Tế Xuyên và các soạn giả đời sau thêm thắt vào.
Đáng
chú ý, về thông tin của cuộc khởi nghĩa, các nguồn chính sử cận thời của Trung
Quốc như Cựu Đường thư (945), Tân Đường thư (1054)
và Tư trị thông giám (k. 1084)
đều không thấy đề cập đến Phùng Hưng mà chỉ nhắc đến một thủ lĩnh bản địa tên
là Đỗ Anh Hàn dấy binh làm phản. Về
vấn đề này, Keith W. Taylor cho rằng "hoặc là người Trung Quốc không hiểu
rõ về bản chất của cuộc khởi nghĩa chống lại họ, hoặc là họ muốn xóa bỏ cái tên
Phùng Hưng khỏi lịch sử."
Tiểu
sử
Nơi sinh chính xác của Phùng Hưng, tức địa danh Đường Lâm được nhắc đến trong Việt điện u linh tập, hiện là một chủ đề gây nhiều tranh cãi trong giới Việt sử học. Tuy theo truyền thống thường được coi là gần làng cổ Đường Lâm ở Sơn Tây, Hà Nội ngày nay, tồn tại các giả thuyết trái chiều cho rằng Đường Lâm trong cổ sử nằm xa hơn về phía nam, có thể là tọa lạc ở Thanh Hóa hoặc Hà Tĩnh.
➖➖➖
Nhận xét
Đăng nhận xét