Việt Điện U Linh Tập - Triệu Việt Vương, Lý Nam Đế - Lý Tế Xuyên
2026-05-09
Việt Điện U Linh Tập
Triệu Việt Vương, Lý Nam Đế
Lý Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Việt
Vương họ Triệu, tên là Quang Phục. Nam Đế họ Lý, tên là Phật Tử. Hai ông này đều
là Bộ tướng của Nam Đế nhà tiền Lý tên là Lý Bôn.
Thời
Vũ Đế nhà Lương, ở huyện Thái Bình Giao Châu ta, có Lý Bôn gia tư hào hữu, lại
có kỳ tài xuất chúng, thường có khí độ giống như Tiêu Hà, Tào Tham, lại có Tinh
Thiều giàu về từ chương, ưu về văn học, cùng nhau qua nước Lương cầu xin làm
quan. Thượng thư Bộ Lại nhà Lương tên là Thái Tôn Tinh Thiều phong độ khả quan
mới bổ làm môn lang Quảng Dương. Thiều xấu hổ, cùng với Lý Bôn trở về cố quận.
Nhân Thứ sử Vũ Lâm Hầu là Tiêu Tư, hành chính khắc bạo rất thất nhân tâm nên
dân chúng âm thầm mưu phản, Lý Bôn lúc ấy đang làm Giám sát Cửu Đức liền liên kết
hào kiệt chín huyện; với khí giới tinh nhuệ, họ toàn là Việt binh đến đánh đuổi
Thứ sử Tiêu Tư chạy về Quảng Châu. Bôn vào chiếm cứ châu thành, vừa gặp Lâm Ap
đến cướp Nhật Nam; Bôn sai tướng Phạm Tu đem binh đến đánh ở Cửu Đức được đại
thắng, quân giặc tan tành. Lý Bôn bèn tự xưng là Việt Vương, đặt ra bách quan,
đổi niên hiệu là Thiên Đức, quốc hiệu là Vạn Xuân.
Lương
Đế nghe được tin, phong quan Thứ sử Quảng Châu Trần Bá Tiên sang làm Thứ sử ở
Giao Châu. Bá Tiên nghe Lý Bôn xưng Vương thì đem binh đến đánh, đánh nhau bảy
năm, đến năm Đại Tống thứ hai, Lý Bôn mất, cộng được tám năm.
Triệu
Quang Phục vốn là người Chu Diên, làm Tả tướng quân của Lý Bôn. Quân Chu Diên ở
phía Bắc có một chiếc đầm lớn, sâu rộng không biết ước độ bao nhiêu dặm.
Lý
Bôn mất rồi, Quang Phục thâu thập tán tốt được hai vạn người, giữ hiệu lệnh chỉ
huy tiềm ẩn trong đầm, đêm thời ra cướp doanh trại, ngày thời tiềm phục trong đầm;
Bá Tiên sai người do thám biết là Quang Phục, đem quân đến đánh nhưng cũng
không được. Chúng đều suy tôn Quang Phục làm Dạ Trạch Vương. Quang Phục ở trong
đầm được một năm, một đêm kia thấy một con rồng vàng cởi móng đem cho mà bảo rằng:
-
Lấy cái móng này cắm vào trên đâu mâu, hễ giặc thấy là tự nhiên uý phục.
Gặp
lúc Kiến Khương có việc triệu Bá Tiên về Bắc, Tiên lưu tướng là Dương Sằn ở lại
giữ trấn, đại diện cho ông mà hành sự.
Quang
Phục sau khi đã được móng thần thì mưu lược kỳ dị, đánh đâu thắng đấy, lại nhân
Bá Tiên về Bắc mới đem quân ra đánh Sằn; Sằn cự chiến, vừa trông thấy đâu mâu một
cái đã thua rồi chết. Quang Phục vào chiếm thành Long Biên quản trị cả hai xứ Lộc
Loa và Vũ Ninh, tự hiệu là Nam Việt Quốc Vương.
Phật
Tử là em họ của Lý Bôn; Bôn mất thì theo anh Lý Bôn là Thiên Bảo, đem ba vạn
quân chạy trốn vào mọi lào, Bá Tiên tìm kiếm không được, Thiên Bảo đi đến đầu
nguồn sông Đào Giang, đông Dã Năng, thấy chỗ ấy danh thắng, thổ vật phì nhiêu,
đất sản xuất nhiều lại rộng rãi, bèn đắp thành ở đó. Đời sống càng ngày càng phồn
thịnh, trí thức càng ngày càng quảng bá lập thành nước Dã Năng; dân chúng suy
tôn Thiên Bảo làm Đào Lang Vương. Chưa được bao lâu, Thiên Bảo hoăng, vô tư;
dân chúng hội nghị suy tôn Phật Tử làm Vương. Gặp lúc Bá Tiên về Bắc, Phật Tử
bèn dẫn binh xuống miền Đông; tả hữu khuyên Phật Tử xưng Đế; Phật Tử nghe theo
rồi lấy hiệu là Nam Đế.
Nam
Đế cùng với Việt Vương giao chiến ở Thái Bình đã năm trận, gươm giáo qua lại,
tên đạn như bay mà thắng phụ chưa quyết. Quân Nam Đế có hơi núng thế, cho là Việt
Vương có dị thuật mới thỉnh hòa. Việt Vương cũng nghĩ Nam Đế là tộc thuộc của
Lý Bôn bèn chia nước ra mà cùng trị, vạch bãi Quân Thần làm địa giới.
Nam
Đế ở thành Ô Diên cho con tên là Nhã Lang đến Việt Vương cầu hôn; Việt Vương
cho con gái là Cảo Nương về với Nhã Lang, thật là hảo tình mật thiết, cầm sắt
giao hài. Một hôm Nhã Lang hỏi nhỏ Cảo Nương rằng:
-
Hai nước ngày xưa là cừu thù, ngày nay lại là thông hôn, thật là thiên duyên
tác hợp, tao ngộ kỳ duyên. Trước kia hai nước giao tranh, binh cơ của phụ vương
em thần diệu xuất sắc hơn phụ vương anh nhiều; không hiểu có cái diệu thuật gì
mà nhiều kỳ mưu như vậy?
Cảo
Nương là bậc nữ lưu trâm tuyến, có biết đâu thế thái ba đào, mới mật lấy cái
đâu mâu móng rồng đem cho xem, kể sự đầu xuôi, và nói:
-
Xưa nay phụ vương thiếp hơn giặc là nhờ cái này.
Nhã
Lang xem xong, thầm mưu đổi cái móng rồng đi, bèn nói với Cảo Nương rằng:
-
Anh làm phò mã ở đây đã lâu, nay nhớ đến song thân, chẳng lẽ cứ lưu luyến tình
chiếu chăn riêng tư mà bỏ khuyết việc thần hôn phụng dưỡng, ý anh muốn tạm về vấn
an mới thỏa lòng. Nhưng mà đường sá xa xôi, đi về cách trở, không dễ một hôm một
mai mà trở lại được, sum họp ít mà chia phôi nhiều, anh thật ân hận quá. Sau
khi anh về nước, nếu mà có biến cố bất ngờ xảy ra, chắc là em phải theo vương
giá mà đi, đi về phương nào em nên rải lông ngỗng để cho anh tiện việc kiếm
tìm.
Nhã
Lang về nước, đem việc bạch ở Phụ vương; Nam Đế cả mừng, lập tức dẫn binh trực
nhập Việt cảnh như vào một chỗ không người, Việt vương không hề hay biết. Đến
khi Việt vương được tin báo, vội vàng xách đâu mâu ra cự chiến để đợi Nam Đế
nhưng thần cơ đã bị đoạt rồi, tinh thần binh sĩ không phấn chấn nữa. Việt vương
tự biết không thể địch nổi Nam Đế mới dắt con gái chạy về phương Nam để tìm chỗ
yếu hiểm tránh thân. Binh giặc vẫn đuổi theo sau; đến châu phủ thì Vương tạm
nghỉ ngơi, tả hữu báo binh Nam Đế đã đến Vương sợ hãi hô to lên rằng:
-
Hoàng Long thần vương sao không giúp ta?
Thoắt
thấy Hoàng Long chỉ tay cáo với Vương rằng:
-
Không phải ai đâu, chính là Cảo Nương con gái Vương rải lông ngỗng dẫn đường
cho giặc đó, giặc ở bên lưng không giết đi còn đợi gì nữa.
Vương
ngoảnh lại lấy gươm chém đầu Cảo Nương rơi xuống nước rồi bỏ đi. Vương giục ngựa
chạy đến cửa biển Tiểu Nha, cùng đường, lại phải chạy lui về hướng Đông đến cửa
biển Đại Nha, than rằng: "Ta cùng rồi!" Hốt nhiên, Hoàng long rẽ nước
thành đường dẫn Vương vào, nước lại như cũ. Nam Đế tiến binh đến đó, vắng vẻ
không biết đi về hướng nào bèn dẫn binh về.
Việt
vương dựng nước được mười chín năm, dấy từ năm Tân vỵ niên hiệu Đại Bảo thứ hai
nhà Lương đến năm Ất Sửu niên hiệu Đại Kiến năm đầu nhà Trần thì mất nước. Người
trong nước cho là linh di, lập đền thờ ở cửa biển Đại Nha.
Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sách phong Minh Đạo Hoàng Đế. Năm thứ tư, gia thêm hai
chữ Khai Cơ, niên hiệu Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong bốn chữ Thánh Liệt
Thần Vũ.
Nam
Đế đã chiếm được nước của Triệu Việt Vương rồi, thiên đô qua xứ Lộc Loa và Vũ
Ninh, phong cho người anh là Xương Ngập làm Thái bình hầu, giữ Long Biên, phong
Đại tướng quân là Lý Tấn Đỉnh làm An ninh hầu giữ thành Ô Diên, ở ngôi được ba
mươi năm, khởi từ năm Tân mão niên hiệu Đại Kiến thứ ba nhà Trần đến năm Nhân
tuất niên hiệu Nhân Thọ thứ hai vua Văn Đế nhà Tuỳ thì mất; con là Sư Lợi lên nối
ngôi, được vài năm thì bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương đánh chiếm mất nước.
Sau
khi Nam Đế đã hoăng, người trong nước chỗ nào cũng có lập đền thờ, có miếu ở tại
cửa biển Tiểu Nha, phường An Khương, rất linh dị.
Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sách phong Anh Liệt Trọng Uy Hoàng Đế. Năm thứ bốn
mươi, gia thêm hai chữ Nhân Hiếu. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia tặng bốn
chữ Khâm Minh Thánh Vũ.
Cả
hai miếu đến nay hương lửa chẳng dứt, có nhiều linh ứng vậy.
~
Tiếm
bình
Vua
tiền Lý Nam Đế mang cái tư cách hơn đời, rửa được cái nhục bị khuất ở người,
như chim cắt giăng thanh thế ở Cửu Đức, như chớp nhoáng ở Việt Nam, xưng đế đặt
quan, đổi niên hiệu, dựng quốc hiệu, như thế cũng đáng gọi là kẻ hào kiệt ở Nhật
Nam, Bá Tiên sáng Nam, động Khuất Liệu lui giữ, khiến cho người đời có ý bất
mãn.
Phật
Tử, Quang Phục đều là bộ tướng của nước Vạn Xuân, một bên thì ở đất Châu Diên,
chờ cơ mà giết Dương Sằn, một bên thu thập dân chúng ở động Dã Năng, thừa thời
mà dòm lãnh biểu, đều Đế đều Vương, đủ thư chí tráng. Nhưng mà một vực không dễ
ở được hai con giao, một cây không dễ đậu được hai con trống, biên giới tuy cắt
chứ hùng tâm không cắt, cưới nàng Cảo Nương, đổi móng rồng đâu mâu, bức cửa biển
Đại Nha, chiếm cứ thành Đại Loa, hiểm thay sự dụng tâm của vua Lý Nam Đế. Triều
nhà Trần sách phong cả hai, không chia Giáp-At nhưng rộng xét như tập U Linh đã
chép thì Việt Vương có phần chính hơn. Cái chuyện Long quân vạch nước đưa Vương
xuống sông, hoặc giả dấu việc tử trận để mà hồi hộ cho Vương chăng!
Móng
rùa của nhà Thục bị đổi trong tay Trọng Thuỷ; móng rồng của nhà Triệu bị đổi
trong tay Nhã Lang, trước sau ảnh hưởng giống nhau, cũng bởi hai nàng đắm đuối
vì tình mà không hiểu đến cơ quan của lang quân thâm độc. Còn như nàng Mỵ Châu
dấu sáng ở giếng ngọc, nàng Cảo Nương ngậm giận ở cửa Tiểu Nha, trong chỗ u
minh, hoặc có hoặc không, hoặc may hoặc rủi, việc ấy có chăng? "Đức Khổng
Thánh không nói chuyện quái".
~
Wikipedia
Triệu
Việt Vương
Triệu
Việt Vương (chữ
Hán:
趙越王; 524 – 571),
tên thật là Triệu Quang Phục (趙光復),
là một trong những nhà lãnh đạo khởi nghĩa, giành tự chủ
thời Bắc thuộc ở Việt Nam cai trị từ năm 548 đến
năm 571.
Ông có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm
lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước Vạn
Xuân.
Năm 571,
ông bị Lý Phật Tử đánh
úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông
Đáy.
Thân
thế
Triệu
Quang Phục là con của Thái phó Triệu
Túc,
người huyện Chu Diên (nay thuộc huyện Khoái Châu,
tỉnh Hưng Yên). Ông được sử sách mô tả
là người uy tráng dũng liệt.[1] Ông
cùng cha theo Lý Nam Đế khởi nghĩa từ ngày
đầu (541),
có công lao đánh đuổi quân Lương về nước, được giao chức Tả tướng quân nước Vạn
Xuân.
Sự
nghiệp
Đánh
đuổi quân Lương
Tháng
5 năm 545,
quân Lương do Dương Phiêu và Trần Bá Tiên[2] chỉ
huy lại sang đánh Vạn Xuân. Lý Nam Đế giao chiến bất lợi. Năm 546,
sau khi thua trận phải lui về động Khuất Lão, Lý Nam Đế đã ủy thác cho ông
giữ việc nước, điều quân đi đánh Trần Bá Tiên của nhà
Lương.[1]
Năm 547,
tháng Giêng, ông lui về giữ đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò,
xã Châu Ninh, tỉnh Hưng
Yên).
Đầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được,
bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt
trên cỏ nước mới có thể vào được. Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết
là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết. Quang Phục thuộc rõ đường
đi lối lại, đem hơn hai vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm. Ông dùng chiến
thuật du kích, ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền
độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên cướp lương thực vũ
khí, giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài.
Bá Tiên không đánh được. Người trong nước gọi ông là Dạ Trạch Vương (夜澤王).[1][3]
Sau
khi nghe tin Lý Nam Đế mất ở động Khuất Lão, Triệu Quang Phục tự xưng là Triệu
Việt Vương.
Năm 550,
Trần Bá Tiên mưu tính cầm cự lâu ngày để làm cho quân của ông lương hết, quân mệt
mỏi thì có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh,
gọi Trần Bá Tiên về (sau này Trần Bá Tiên cướp ngôi vua của nhà Lương năm 557),
ủy cho tì tướng là Dương Sàn ở lại. Ông tung quân ra đánh. Giặc chống cự, thua
chết. Quân Lương tan vỡ chạy về bắc.[1]
Chia
nước với họ Lý và mất nước
Thắng
trận, Triệu Việt Vương làm vua nước Vạn
Xuân,
đóng đô ở thành Long Uyên.[4]
Anh
của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo, vốn đã bị Trần Bá Tiên
đánh bại, chạy vào ở đất của người Di Lạo, xưng là Đào Lang Vương, lập nước gọi là nước Dã
Năng.
Năm 555,
Đào Lang Vương mất ở nước Dã Năng, không có con nối, quần chúng suy tôn người
cháu là Lý Phật Tử lên ngôi.
Năm 557,
Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông đánh nhau với Triệu Việt Vương ở huyện Thái
Bình (vùng Hoài Đức, Hà Nội). Hai bên
năm lần giáp trận, bất phân thắng bại. Quân của Lý Phật Tử có phần thất thế,
bèn xin giảng hòa.[3] Ông
nghĩ rằng Lý Phật Tử là người trong họ của Lý Nam Đế, không nỡ cự tuyệt, bèn
chia địa giới ở bãi Quân Thần[5] cho
ở phía tây của nước, Lý Phật Tử dời đến thành Ô Diên.[6]
Lý
Phật Tử có con trai là Nhã Lang, xin lấy con gái của ông là Cảo Nương. Ông bằng
lòng, kết thành thông gia.
Ông yêu quý Cảo Nương, cho Nhã Lang ở gửi rể. Theo đánh giá của các sử gia, cuộc
xung đột giữa họ Triệu và họ Lý cho thấy tuy đã đánh thắng được quân Lương
nhưng Triệu Việt Vương không kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ Vạn Xuân để huy động
lực lượng áp đảo được họ Lý.[7]
Năm 571,
Lý Phật Tử đem quân đánh úp Triệu Việt Vương. Bị đánh bất ngờ, Triệu Việt Vương
ra quân trong thế bị động, không thể chống được, bèn đem con gái chạy về phía
nam, tìm nơi đất hiểm để ẩn náu, nhưng đến đâu cũng bị quân của Lý Phật Tử đuổi
theo sát gót. Ông cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha, bị nước chắn, bèn nhảy
xuống biển tự vẫn.[1] Từ
đó họ Triệu mất nước.
Truyền
thuyết
Trong
sử sách cổ đại có nói rằng nguyên nhân được thua của ông là do được và mất mũ
đâu mâu móng rồng. Thực ra, đó chỉ là huyền thoại. Truyện kể như sau:
Năm 549,
ông ở trong đầm thấy quân Lương không lui, mới đốt hương cầu đảo, khẩn thiết
kính cáo với trời đất thần kỳ, thế rồi có điềm lành được mũ đâu mâu
móng rồng dùng để đánh giặc. Từ đó quân thanh lừng lẫy, đến đâu không
ai địch nổi (tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng
từ trên trời xuống, rút móng rồng trao cho ông, bảo gài lên mũ đâu mâu mà đánh
giặc). Năm 557, con gái của Triệu Quang Phục lấy con trai của Lý Phật Tử là Nhã
Lang. Năm 570,
Nhã Lang nói với vợ rằng: "Trước hai vua cha chúng ta cừu thù với nhau,
nay là thông gia, chẳng cũng hay lắm ư? Nhưng cha nàng có thuật gì mà có thể
làm lui được quân của cha tôi?". Cảo Nương không biết ý của chồng, bí mật
lấy mũ đâu mâu móng rồng cho xem. Nhã Lang mưu ngầm tráo đổi cái móng ấy, rồi bảo
riêng với Cảo Nương rằng: "Tôi nghĩ ơn sâu của cha mẹ nặng bằng trời đất,
vợ chồng ta hòa nhã yêu quý nhau không nỡ xa cách, nhưng tôi phải tạm dứt tình,
về thăm cha mẹ". Nhã Lang về, cùng với cha bàn mưu đánh úp, chiếm được nước.
Theo Ngô Sĩ Liên: Đàn bà gọi việc
lấy chồng là "quy" thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả
cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà
Doanh Tần để đến nỗi bại vong?.[1]
Truyện
này giống như truyền thuyết Mỵ
Châu-Trọng Thủy thời Triệu Đà đánh An Dương Vương.
Các sử gia nhà Nguyễn nhận xét về truyền thuyết này trong sách Khâm định
Việt sử thông giám cương mục như sau:
Sử
cũ chép việc Triệu Việt Vương được cái móng rồng của Chử Đồng Tử cho; việc Nhã
Lang sang gửi rể rồi lấy trộm móng rồng; việc Triệu Việt Vương vì mất cái móng
rồng mà bị thua. Đem những việc ấy kháp với chuyện Thục An Dương Vương và Triệu
Trọng Thủy trước kia giống nhau như hệt, kỳ quái trái thường không cần phải biện
bạch cho lắm. Nhưng Sử cũ chép phần nhiều trùng điệp nhau, sai hẳn sự
thực, đại loại như thế đấy. Nay muốn tìm ở Sử cũ lấy chuyện có thể tin ở đời
này và truyền lại đời sau, thật cũng khó lắm.[3]
Theo Đại Nam Quốc sử Diễn ca, Trương Hống và Trương Hát đã can Triệu Việt
Vương đừng gả Cảo Nương cho Nhã
Lang:
Có
người: Hống, Hát họ Trương
Vũ
biền nhưng cũng biết đường cơ mưu,
Rằng:
"Xưa Trọng Thủy, Mỵ
Châu,
Hôn
nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh
gương vãng sự còn gần,
Lại
toan dắt mối Châu Trần sao
nên?"
Tướng
lĩnh
Các
tướng phò giúp vua Triệu Quang Phục được thờ phụng tại các đền, đình,
nghè tại Việt Nam bao gồm:
1. Đức thánh Tam Giang được
thờ tại các làng ven ba con sông là sông
Cầu, sông Thương và sông Đuống.
2. Phùng Kim được
thờ cùng Triệu Quang Phục tại di tích đền Tiên Yên, chùa Kim Rong thuộc
xã Khánh Thiện, Ninh
Bình.
3. Đinh Bính Công được
thờ tại Đình Yên Mẫn, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh – Di
tích Lịch
sử cấp nhà nước.[8]
Lưu
danh
Người
đời sau lập nhiều đền thờ ông ở vùng cửa biển Đại Nha (Đại Nha có tên khác là Đại
Ác, thời nhà
Lý đổi
là Đại An), nay là cửa Liêu (cửa sông
Đáy).
Các đền thờ rất có nhiều ở vùng ven biển tỉnh Ninh
Bình.
Ninh
Bình hiện
là tỉnh có nhiều đền thờ Triệu Việt Vương nhất. Một số nơi tiêu biểu như đền
chùa Độc Bộ, xã Yên Cường; Tại vùng đất mới xã Rạng Đông nằm ở gần cửa Đáy, người
dân cũng xây dựng đền thờ; Đền làng Đồng Quỹ, xã Nam
Minh;
Đền làng Kiên Lao, xã Xuân Trường; đình làng Phúc Lộc và chùa Thiên Biên Tự, xã
Hải Hưng; Đình Chất Thành và đình làng Chỉ Thiện (xã Chất Bình);
đình làng Kiến Thái, đình làng Kim Chính, đền làng Yên Thổ, miếu Thượng (xã
Phát Diệm), miếu Ứng Luật và chùa Hòa Lạc (Quang Thiện).
Tại
vùng văn hóa cửa biển Thần Phù,
xã Yên Mạc, Ninh
Bình có
đình Phù Sa, đình Đông Cao và đền Nhân Phẩm[9] là
Di tích Văn hóa cấp Quốc gia thờ Triệu Việt Vương là Thành hoàng làng. Xã Yên Từ cũng có Miếu
Quảng Từ, đền Phúc Lại, đền thờ Triệu Việt Vương. Tại Ngã ba (sông Hoàng Long, Tây
Hoa Lư) người dân cũng lập đền thờ Vương đó là Đền La Phù,
đình La Phù, đền Triệu Việt Vương, đình Bạch Cừ, xã Ninh Khang. Gia Viễn cũng
có di tích thờ Triệu Việt Vương là Đình Cung Quế và Đình Thần Thiệu xã Gia Trấn,
Đền Sào Long và đền Đồng Mỹ xã Gia Vân; đền Duyên Phúc (xã Khánh Hồng);
đền Triệu Việt Vương xã Yên Khánh; đền Tiên Yên, chùa Kim Rong, đình Tiền Tiến
(Khánh Thiện),[10] đền
Đông và đền Triệu Việt Vương xã Yên Khánh,...
Tại
đền Hóa Dạ Trạch xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên, bên cạnh ban thờ của Chử Đồng
Tử có ban thờ của Triệu Việt Vương. Năm 2012, tại khu An Vỹ xã Triệu Việt Vương
đã xây dựng ngôi đền thờ riêng Triệu Việt Vương (còn gọi là đền Vua Rừng),
tương truyền là nơi ông tích trữ lương thảo và thao luyện quân sĩ. Đền còn thờ
cha mẹ, các vợ và các tướng phò giúp ông. Lễ hội đền diễn ra vào ngày 12 tháng
8 hằng năm. Năm 2015, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về
thăm và dâng hương tại đền.
Tỉnh Hưng yên cũng đang tiến
hành xây dựng một ngôi đền mới thờ riêng Triệu Việt Vương ngay cạnh đền Hóa Dạ
Trạch.
Tên
của ông được đặt cho nhiều công trình công cộng,
như đường phố, trường học.
➖➖➖

Nhận xét
Đăng nhận xét