2026-06-06
Việt
Điện U Linh Tập
Uy
Minh Dũng Liệt Hiển Trung Tá Thánh Phu Hựu Đại Vương
(Chuyện
Lý Hoảng)
ChatGPT
minh họa
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Vương
họ Lý tên Hoảng, con thứ tám vua Lý Thái Tông, bà mẹ là Trinh Minh Hoàng Hậu họ
Lê.
Vương
là người trung hiếu kính cẩn, quả quyết siêng năng, hiệu là Bát lang Hoàng tử.
Niên hiệu Kiền Phù Hữu Đạo năm đầu, phụng mệnh thâu thuế châu Nghệ An, làm việc
vài năm, một mảy lông mùa thu không nhũng lạm, nổi danh làm liêm trực, vua rất
yêu mến cho hiệu là Uy Minh Thái Tử, phong chức Tri Bản Châu Quân Dân Sự.
Lúc
bấy giờ vua Thái Tông muốn đánh Chiêm Thành sai vương lập một trại riêng gọi là
trại Bà Hòa, vụ được hiểm trở kiên cố, bốn mặt đào ao sâu, đắp luỹ cao, trong
trại thì đất phải cho rộng, có thể chứa được ba bốn vạn quân, kho tàng, tiền
lương cung cấp cho được ba năm.
Đến
lúc vua Thái Tông nam chinh, quả được đại tiệp, chém vua Chiêm Thành Sạ Đẩu ở
trận, bắt vợ hầu, trai gái, vàng bạc châu báu, dùng xe hạng nặng mà chở kể hàng
vạn ức. Ca khúc khải hoàn về đến hành dinh bản châu, biết Vương có tài đảm
đương việc công không thiếu sót điều gì, chinh lệnh mỗi ngày thêm mới, bèn uỷ
chức Bản Lộ Tiết Việt, gia phong tước Vương. Lại sắc cho Vương lập sổ dân một Lộ
ở bản châu, cộng được sáu Huyện, bốn Trường, sáu mươi Giáp, số nhà của dân được
bốn vạn sáu nghìn bốn trăm năm mươi nóc, số dân được năm vạn bốn nghìn ba trăm
sáu mươi bốn người. Lại vâng chỉ hễ các trường, giáp trưởng từ nay về sau chỉ
nên đặt chức Thái loát, Quản giáp mà thôi chứ không được như trước lạm xưng là
Thái tử chủ bộ, Vương phủ chủ bộ nữa.
Vương
lại cho châu Nghệ An, đất giáp miền núi, mọi lào phần nhiều chưa nội thuộc,
nhân tâu xin với triều. Có chiếu uỷ nhiệm cho Vương cầm cờ Tiết đi tuần biên,
các vị tù trưởng đều phục tùng hết, thu được năm châu, hai mươi hai trại, năm
mươi sáu sách.
Vua
lại chiếu cho Vương đạc lại châu địa ba phía ở cương giới, dựng bia khắc đá để
chép viễn công.
Kịp
đến triều vua Thánh Tông, năm Long Thuỵ Thái Bình thứ hai. Vương đánh dẹp được
giặc cỏ là Ông Kệ, Lý Phủ, lúc trở về, có kẻ dèm với vua Thánh Tông rằng:
"Vương ỷ quyền chuyên chính, tự ý dụng binh đi đánh dẹp". Vua Thánh
Tông lầm theo, bèn giải chức của Vương.
Vương
cai trị việc châu, phàm mười sáu năm, tiếng lành càng ngày càng đồn xa, nhân
dân tin mến, đến khi nghe Vương bị giải chức, dân chúng giành nhau níu xe, đón
ngựa, van khóc nguyện Vương ở lại.
Một
hôm Vương đang nhân tọa trong phủ, vừa có một con chim diều hâu bay vào trong
màn, giống chim sẻ sợ reo lên náo động, người nhà muốn đuổi bắt; Vương bảo để
im xem nó bay đậu ở chỗ nào. Chim diều hâu bay liệng trong màn ba vòng rồi bay
ra chỗ Vương ngồi, vừa bay vừa kêu, xêng đến trước bụng Vương rơi xuống thành
ra một trang giấy trắng. Trong trang giấy có nét chữ lờ mờ, trông không được
rõ, dạng như rồng mây, Vương bảo đem cất đi.
Đêm
ấy trăng trong gió mát, quang cảnh đáng yêu, Vương cho mời tất cả bạn thân cùng
đến thưởng ngoạn, đờn ca rộn rịp, cỗ rượu linh đình, nói cười vui vẻ chẳng khác
gì tiệc lớn ở Diêu Trì.
Vương
hốt nhiên ngồi nhắm mắt thấy một người tác chừng sáu mươi tuổi, đội mão giải trại,
bận áo tử hà, thắt lưng, tay cầm đao Thanh Long Yển Nguyệt đến trước mặt vái
chào, Vương liền hỏi. Thưa rằng:
-
Tôi là vì sao Võ Khúc ở trên trời, vâng lệnh đức Ngọc Hoàng ở điện Đan Tiêu, xuống
triệu Vương đến trước điện Tử Hư là chỗ Đế Quân ở, thảo một chương Ngọc Điệp.
Vương
thưa lại rằng:
-
Tôi là người lòng trần mắt thịt, đâu hay làm việc ở trên trời được?
Rồi
lấy tay gạt đao thanh long cố từ. Thoắt có trận gió ở đâu ào ào đưa đến. Vương
giật mình tỉnh lại thì ra là một giấc chiêm bao.
Vương
mới thuật lại đầu đuôi câu chuyện con chim diều hâu hôm trước cho thân bằng
nghe. Mọi người đều bảo đó là điềm tốt.
Tiệc
xong, Vương vào phòng ngủ, đêm ấy không đau ốm gì mà chết. Người trong châu xin
lập đền thờ phụng, mỗi khi cầu nắng, đảo mưa, đều có linh ứng, làm một vị Đại
phúc thần cho một châu. Các nơi thôn lạc đều có đền thờ, cũng đều linh ứng.
Mỗi
khi thiên tử đem quân đi đánh kẻ bạn nghịch thì rước kiệu Vương đi trước, đến
chỗ chiến địa, nghe trên không có tiếng binh mã rầm rộ, đều được đại thắng cả.
Giữa
năm Nguyên Phong nhà Trần, vua Thái Tông nam chinh Chiêm thành, thuyền vua đi
mau như gió, quả nhiên được đại thắng. Lúc khải hoàn về đến châu, vua ngự lên đền,
sắc phong Oai Minh Dũng Liệt Đại Vương.
Năm
Trùng Hưng năm đầu, lại cho thêm hai chữ Hiển Trung; năm thứ tư, gia phong hai
chữ Tá Thánh. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Phu Hựu.
~
Tiếm
bình
Nước
ta từ xưa lấy ải Mộc miên làm Nam giới, Nghệ An là đất cực biên của nước vậy.
Trải
đời các quan cai trị trong hạt, hết thảy đều lấy kỳ nam, trầm hương làm túi
mang; thiết mộc, bạch đàn làm rương hòm, ít ai lấy trách nhiệm vỏ về, rào ngăn
làm gánh nặng của mình.
Lý
Bát Lang thân làm con vua, giữ lấy tiết việt, đương một phương điện, khiến cho
nhân dân và mọi rợ đều sợ phục, triều nội xưng khen. Đến lúc đi có sự tình cảm
thì niu xe than khóc. Đến lúc chết có cái triệu chứng vâng mệnh lên trời. Lòng
dân mến công đức của Vương, lập đền thờ phụng, thì ra ân huệ cảm người biết là
ngần nào! Đang lúc ấy sáu cánh quân nam chinh, đường thuỷ, đường bộ đều tiến,
Vương thung dung làm xong các công việc, công tư đều tiện lợi, đó là một điểm rất
khó khăn. Gần đây có ông Uc Trai, ông Siêu Trung Công lưu trấn những mười tám
năm, mà công nghiệp vắng vẻ chẳng nghe gì. duy có ông Phạm Thượng thư vị nho thần
biết giảm thuế cho dân, nhưng thị trấn chưa được bao lâu đã vội mất, nhân dân
truy niệm công đức lập đền miếu, ở Cầu Dinh mà thờ phụng. Mới hay gánh nặng can
thành cho công hầu không chỉ chuyên nương tựa vào bậc võ phu mạnh mẽ mà thôi vậy.
~
Wikipedia
Lý
Nhật Quang
Lý
Nhật Quang (chữ
Hán:
李日㫕) (995-1057)
là một hoàng tử và quan nhà
Lý trong lịch sử Việt Nam.
Ông được nhân dân vùng Nghệ
Tĩnh tôn
làm bậc Thánh và lập đền thờ phụng tại nhiều nơi.
Thân
thế
Lý
Nhật Quang (李日㫕), húy là Lý Hoảng (李晃), là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, mẹ là Linh Hiển Hoàng hậu (theo
các nhà nghiên cứu là con của Lê Đại Hành và Hoàng hậu Dương Vân Nga),[2][cần dẫn nguồn] hiệu
là Bát lang Hoàng tử. Như vậy, ông là anh em cùng mẹ với vua Lý Thái Tông.
Sự
nghiệp
Lý
Nhật Quang nổi tiếng thông minh, 8 tuổi biết làm thơ, 10 tuổi tìm hiểu kinh sử.[3] Ông
được vua cha và hoàng tộc chăm lo dạy dỗ để sớm thành rường cột nước nhà.
Năm 1028,
vua Lý Thái Tổ băng hà, anh cùng mẹ
của Nhật Quang là Lý Phật Mã lên nối ngôi, tức là Lý Thái Tông.
Năm
Càn Phù Hữu Đạo thứ nhất (1039),
Uy Minh Hầu Lý Hoảng được Lý Thái Tông cử vào châu Nghệ
An lo
việc thu thuế. Tại đây, Lý Nhật Quang làm việc cần mẫn, thu đủ số thuế được
giao và không như các vị tiền nhiệm hà lạm thuế của dân nên được tiếng là thanh
liêm, chính trực.
Năm 1041,
xét thấy Lý Nhật Quang là người tin cẩn, Lý Thái Tông phong ông làm Tri
châu Nghệ An - tước hiệu là Uy
Minh hầu. Lúc này, Nghệ
An là
một vùng biên ải phía Nam của nước Đại Việt, việc quản lý còn lỏng lẻo.
Nhiều cuộc nổi dậy ở địa phương có tính chất phản loạn, gây sự phiền nhiễu cho
nhân dân, triều đình phải nhiều phen dẹp loạn. Nhưng sau khi Lý Nhật Quang được
cử làm Tri châu, tình hình xã hội ở Nghệ
An dần
dần ổn định, kỷ cương phép nước được lập lại. Ông đã cho làm sổ sách thống kê hộ
khẩu, nhân đinh. Theo sử gia Phan
Huy Chú: "Đời Lý,
việc kiểm soát hộ tịch rất là nghiêm ngặt. Dân đinh nào đến 18 tuổi thì biên
vào sổ bìa vàng, gọi là Hoàng nam, đến 20 tuổi gọi là Đại Hoàng nam". Những
biện pháp quản lý xã hội của Lý Nhật Quang cùng với sự độ lượng và tư tưởng
thân dân của ông dần dần đã cảm hoá và quy phục được tất cả mọi tầng lớp nhân
dân, làm cho vùng đất vốn phức tạp đã trở nên thuần hậu và thống nhất.[cần dẫn nguồn]
Khi
ấy Lý Thái Tông đã có ý định đánh chiếm Chiêm
Thành, vua giao Lý Nhật Quang chuẩn bị làm một hoành doanh
dọc sông Bà Hòa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn,
tỉnh Thanh Hóa) gọi là trại Bà Hòa.
Năm 1044, Lý Thái Tông cất quân đánh Chiêm
Thành, nhờ có trại Bà Hòa kiên cố và đầy đủ lương thực,
quân sĩ yên tâm chiến đấu. Trong trận chiến lớn bên sông Ngũ Bồ, tướng Quách
Gia Di chém đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu. Khi vua Lý Thái Tông khải hoàn đến trại
Bà Hòa, Lý Nhật Quang nghênh đón nhà vua và quân sĩ trọng thể, Lý Nhật Quang được
vua phong từ tước Hầu lên tước Vương.
Lý
Nhật Quang hết sức coi trọng việc phát triển kinh tế, khuyến khích, hướng dẫn
nhân dân mở mang nghề nghiệp, khai thác mọi tiềm năng của vùng đất xứ Nghệ.
Cùng với việc chiêu dân, khai hoang, lập ấp, ông còn dạy cho dân chúng nghề
nông tang, dệt lụa, dệt vải... Ông trở thành tổ sư của nhiều ngành nghề thủ
công nghiệp ở Nghệ
An.[cần dẫn nguồn] Với
cái nhìn có tính chiến lược, dưới con mắt của một danh tướng tinh thông binh
pháp, uyên thâm Phật pháp, Lý Nhật Quang đã chọn vùng Bạch Đường (nay gồm 3 xã:
Ngọc Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn - huyện Đô Lương) - là nơi có vị
trí trung tâm của cả châu, công thủ đều thuận lợi - để xây dựng lỵ sở. Vùng Phật
Kệ vốn trung tâm Phật giáo của châu Nghệ
An chuyển
lên vùng Bạch Đường cách khoảng 5 km ngược dòng sông
Lam.
Từ đây, Lý Nhật Quang đã ban hành và cho thực hiện nhiều chính sách tiến bộ và
táo bạo để mở mang phát triển sản xuất. Các vùng Khe Bố, Cự Đồn (Con Cuông),
Nam Hoa (Nam Đàn), Hoàng Mai (Quỳnh Lưu),
Công Trung (Yên Thành), Vinh, Nghi Xuân, Kỳ Anh (Hà
Tĩnh)...
là do ông chiêu dân lập ấp và sử dụng tù binh để khai khẩn đất hoang. Ông đã
cho mở hai con đường thượng đạo: một từ Đô Lương ra Thanh Hóa rồi ra Thăng
Long,
một từ Đô Lương lên Kỳ Sơn.
Ông cho đào và nạo vét các đoạn sông Đa Cái ở Hưng
Nguyên, kênh Sắt ở Nghi
Lộc,
kênh Son, kênh Dâu ở Quỳnh Lưu.
Ông còn khởi xướng việc đắp đê sông
Lam.
Không những quan tâm đến đời sống vật chất cho dân, ông còn rất quan tâm đến đời
sống văn hoá tinh thần của nhân dân, cho xây dựng nhiều chùa thờ Phật để nhân
dân đến sinh hoạt văn hóa tâm linh. Có thể nói, những việc làm có tính chất mở
đầu ở một vùng biên viễn của Lý Nhật Quang đã đạt đến tầm cỡ của một nhà chiến
lược, vừa an dân, vừa tạo dựng tiềm năng, thế mạnh để giữ gìn bờ cõi.[cần dẫn nguồn]
Uy
Minh vương Lý Nhật Quang đã góp phần giải quyết ổn thỏa sự xung đột trong nội bộ Chiêm
Thành, đồng thời tạo dựng mối quan hệ hoà hiếu giữa Chiêm
Thành với Đại Việt.[cần dẫn nguồn] Thần
tích đền Quả Sơn đã
ghi rõ: "Ngài ở châu 19 năm, trừng trị kẻ gian, khen thưởng người lành,
khai khẩn đất hoang, chiêu mộ lưu dân, bọn vô lại phải im hơi, người dân về với
Ngài được yên nghiệp. Ngài thường qua lại vùng này, vùng khác, dạy nghề làm ruộng,
trồng cây cối, nuôi gia súc, có nhiều chính sách lợi cho dân, làm cho nhân dân
đoàn kết. Người dân đến kiện tụng thì lấy liêm, sĩ, lễ, nghĩa giảng dạy làm cho
tự giác ngộ, ai nấy đều cảm hóa, không bàn đến chuyện kiện cáo nữa. Mọi người đều
gọi Ngài là Triệu Công".
Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết
về Lý Nhật Quang như sau:
Mùa
thu, tháng 7 (năm Giáp Thân, 1044), vua (Thái Tông Hoàng đế) đem quân vào thành
Phật Thệ, bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ kẻ nào giỏi hát múa khúc
điệu Tây Thiên. Sai sứ đi khắp các hương ấp, phủ dụ nhân dân. Các quan mừng thắng
trận.
Tháng
8, đem quân về. Đến hành dinh Nghệ An, gọi Uy Minh hầu là Nhật Quang đến để an ủi
và trao tiết việt cho trấn thủ châu ấy, gia phong tước vương. Trước đây vua ủy
cho Uy Minh thu thuế châu Nghệ An và sai đặt trại Bà Hoà cho trấn được bền vững;
lại đặt điếm canh ở các nơi, chứa lương thực
Đền
thờ
Theo
thống kê, tại Nghệ
An, Hà
Tĩnh và Thanh
Hóa,
có hơn 50 đền thờ Lý Nhật Quang, Trong đó ngôi đền chính nổi bật nhất là đền Quả
tại huyện Đô Lương với lễ hội tạ
ơn bà Bụt vào ngày 19 đến 21 tháng Giêng hàng năm. Đền Quả được Le Breton (tác
giả của "An Tĩnh cổ lục")
mệnh danh là "một trong 4 ngôi đền đẹp nhất xứ An Nam" và đi vào câu
nói đầy tự hào của nhân dân Nghệ Tĩnh về những di tích lịch sử của mảnh đất xứ
Nghệ: "nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng".
Bên
cạnh đền Quả, nhiều đền thờ Lý Nhật Quang hiện đang còn hoặc được phục dựng gồm:
- Đền
Bạch Mã ở Yên Thành có
từ gần 1000 năm nay, do chính Uy Minh vương Lý Nhật Quang dựng nên để thờ
vọng vua cha Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ;
thờ mẹ là Hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân;
thờ bà ngoại là Thái hậu Dương Vân Nga;
vua anh là Lý Thái Tông.[4] Theo
thời gian, đền đã bị xuống cấp. Vào giữa năm 2011, ngôi đền đã được đầu tư
nâng cấp tu bổ lại, phía trước có cổng tam quan, khu vực sân có tắc môn,
lư hương, bậc tam cấp. Phía trong gồm: 3 gian tiền tế có Ban thờ Phật, 2
gian hậu cung là nơi tôn nghiêm, thành kính thờ Cha, Mẹ của Uy Minh vương
Lý Nhật Quang.
- Đền
Tam Tòa ở xã Nghi Công Bắc, huyện Nghi
Lộc đã được UBND tỉnh Nghệ An xếp hạng Di tích
lịch sử tại quyết định số 2043/QĐ-UBND.VX ngày 8/6/2012.
- Đền
thờ tại xã Quỳnh Vinh, huyện Quỳnh Lưu được
công nhận là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại quyết định
số 734/QĐ-BT ngày 6 tháng 11 năm 1992 của Bộ
Văn hoá - Thông tin.
- Đền
thờ Lý Nhật Quang ở xã Vĩnh Sơn, huyện Anh
Sơn.
- Đền
Cả tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành.
- Đền
Tam Tòa tại thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông thờ đức thánh Lý Nhật
Quang nhưng hiện nay đã hoang phế. Tháng 6 năm 2012, UBND huyện Con Cuông
đã ra quyết định phục dựng lại đền.
- Đền
Nhạn Tháp tại xã Hồng Long, huyện Nam Đàn.
Tại
Hà Tĩnh, riêng huyện Nghi Xuân đã có đến 4 ngôi đền thờ Ngài, trong đó có 2
ngôi đền nổi tiếng là đền Lý Đại vương (nhân dân quen gọi là Đền Huyện) và đền
Tam vị Đại vương (nhân dân quen gọi là đền Thượng) đều ở xã Xuân Giang (đền Thượng
còn thờ Đông Chinh vương và Dực Thánh vương). Tại xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà, tỉnh
Hà Tĩnh có Đền Cả (còn có tên là đền Lớn hoặc Tam tòa Đại vương), đền thờ 3 vị:
Lý Nhật Quang (hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ), Lý Đạo Thành và Lý Thế Giai
(là 2 vương hầu của nhà Lý).
Tại Thanh
Hóa,
có đền thờ Lý Nhật Quang tại làng Nội Tý, xã Hoằng Đức, huyện Hoằng
Hóa.
Tại
tỉnh Bình Định cũng có đền thờ Lý Nhật Quang; ông Hoàng Mười tương
truyền là hiện thân của Hoàng tử Lý Nhật Quang.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét