2026-06-13
Việt Điện U Linh Tập
Hiệu
Uý Uy Mãnh Anh Liệt Phụ Tín Đại Vương
(Chuyện Lý Ông Trọng)
ChatGPT
minh họa
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Vương
họ Lý tên Ông Trọng, người huyện Từ Liêm, mình cao hai trượng ba thước, khí chất
đoan dũng khác người thường. Thiếu thời làm quan ở huyện ấp, bị quan Đô Đốc
đánh đòn, Vương than rằng:
-
Tráng chi của đời người nên như chim Loan chim Phụng, nhất cử vạn lý, đâu mà để
cho người thóa mạ, làm nô lệ cho người?
Vương
bèn chăm học, ngày tháng dùi mài, phát minh kinh sử, vào làm quan nhà Tần, làm
chức Tự lệ hiệu uý. Đến lúc Tần Thuỷ Hoàng thôn tính thiên hạ, sai Vương đem
binh trấn thủ Lâm Thao thì thanh danh chấn động Hung Nô. Thuỷ Hoàng lấy làm điềm
tốt.
Đến
sau, Vương giá cả về làng. Thuỷ Hoàng đúc tượng đồng, đặt ở ngoài cửa Tư mã Hàm
cung; trong ruột tượng chứa được vài mươi người, mỗi khi sứ bốn phương đến, thầm
khiến người vào trong ruột lay động pho tượng; Hung Nô thấy thế kinh sợ cho là
Hiệu Uý còn sống, bảo nhau không dám xâm phạm biên giới.
Đời
Đức Tông nhà Đường, niên hiệu Trinh Nguyên năm đầu, Triệu Xương qua làm Đô Hộ
nước An Nam ta thường qua chơi làng Vương, đêm mộng thấy cùng Vương nói chuyện
trị dân, và giảng luận sách Xuân Thu tả truyện, nhân đó Triệu Xương mới hỏi
thăm nhà cũ của Vương hồi xưa, thì chỉ thấy mù khói ngang trời, sông nước mênh
mông, rêu phong đường đá, xanh rời cụm hoang, một mảnh nhàn vân phất phơ trên
đám cỏ thôn hoa rụng. Ông mới lập lại đền thờ, xưởng cao lầu lớn, rồi chuẩn bị
lễ vật đem đến tế vương.
Đến
lúc Cao Biền đánh phá nước Nam Chiếu, Vương thường hiển linh trợ thuận. Cao Biền
lấy làm kinh dị, sai thợ trùng tu từ vũ tráng lệ hơn xưa, và chạm khắc tượng gỗ
son thếp giống như thực mà đem lễ vật đến tế, từ đó, hương hỏa không khi nào hết.
Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Anh Liệt Vương, đến bốn năm, gia phong hai
chữ Dũng Mãnh, năm Hưng Long thứ hai mươi, gia phong Phụ Tín Đại Vương.
~
Tiếm
bình
Hương,
Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta vậy. Phù Đổng Đại Vương; Đằng
Châu Thần Vương đều là linh khí hạo nhiên, không có thể là danh trạng được. Lý
Hiệu Uý lấy tấm thân cao hai trượng, làm quan thượng quốc, giữ chức Ty Lệ, oai
khiếp Hung Nô, người ở Lâm Thao sợ oai mà mến đức. Sống thời người đều hâm mộ;
chết thời nhớ chẳng quên. Tượng đồng đặt ngoài cửa, có máy lay chuyển động, oai
hùng như sống, đứng xa mà trông đủ khiến cho bọn cường hồ rụng hồn phách. Sau
vài trăm năm lại thác mộng cho Triệu Xương, hiển linh cho Cao Biền, tiếng thơm
oanh liệt, giống như các vị Thiên Thần không hơn không kém, như thế há chẳng
hùng vĩ lắm thay!
Bây
giờ miếu ở làng Thuỵ Hương huyện Từ Liêm, cách phía đông thành bốn mươi dặm đền
đài đồ sộ, miếu điện trang nghiêm, cao ngất ở trên bờ sông. Dầu cho sóng cả vỗ
bờ, muôn dặm chảy xiết, vẫn nghiễm nhiên đứng vững không lay. Ngay trước miếu
có bến đò ngang là con đường thượng lưu đến kinh phải ngang qua đấy, một chỗ đô
hội lớn, thương mại hành nhân, cao tài đặt khách, chắp nối ngựa xe qua lại như
dệt, mà trọn xưa vẫn an ổn, không xảy ra nạn gió sóng, nhân dân đều xưng tụng
công đức của thần. Làng Thuỵ Hương rất đông, giàu, đến khi cúng tế, lễ vật long
trọng tinh khiết, hằng năm đến ngày rằm tháng bảy, có ngày hội làm lễ Đại kỳ
phúc, người đến xem đông như rừng, đường sá chợ búa nhà cửa có cái quang cảnh
như thành thị. Lễ tế, đồ thờ nghiêm chỉnh, người đến xem lễ đều phải khỉ kính,
so với hai đền Tiên Du và Kim Động cùng ngang hàng với nhau. Nhiều người đến đền
cầu tự, có người bồng con đến xin Thần cho họ, như hai anh em Tiết, Nghĩa ở
làng Vân Canh, đến xưng họ Lý họ Trần tức là Thần cho họ đó. Tập Chích Quái
chép sự tích này cũng đồng với đây, nhưng trong ấy có vài chuyện như: đau bụng
đi tiêu, đem cháo xin phép thần, và dùng thuỷ ngân để liệm thây ma thì là quái
đản, nên bỏ đi cũng được.
~
Wikipedia
Lý
Ông Trọng
Lý
Ông Trọng (李翁仲),
tên khác là Lý Thân, không rõ năm sinh năm mất, là một nhà quân sự người
Việt thời cổ đại được ghi nhận trong một số sách của Việt Nam và Trung Quốc.
Theo truyền thuyết hay một số ghi chép ở Việt Nam, ông sống vào cuối đời Hùng Duệ Vương (Hùng
Vương thứ 18), đầu thời An Dương Vương,
gốc làng Chèm. Còn theo truyền thuyết Trung Quốc, ông tên là Nguyễn Ông
Trọng (阮翁仲),
người vùng Nam Hải, thời Tần Thủy Hoàng
Truyện
kể
Truyền
thuyết Việt Nam
Vào
thời Hùng Vương thứ 18,
Ông Trọng giữ một chức nhỏ ở huyện ấp, đời sau truyền rằng ông cao hai trượng
ba thước.
Với
bản tính cương trực, trung hậu, thương dân nên có lần thấy một tên lính huyện
ác ôn đánh đập dân phu dã man, ông đã nổi giận đánh chết tên lính đó và bị triều
đình khép tội chết. Nhưng vua thấy ông là người có tài đức, khỏe mạnh nên không
nỡ giết. Sau đó ông bỏ chức, đi cầu học phương xa. Đến thời An Dương Vương,
ông là một tướng giỏi giúp vua và được cử đi sứ nước Tần.
Bấy
giờ nhà Tần hay có nạn giặc Hung
Nô đánh
phá phía Bắc. Tuy Tần Thủy Hoàng đã
cho đắp Vạn Lý Trường Thành nhưng
vẫn không yên. Nhân có tướng tài của nước Âu
Lạc là
Lý Ông Trọng sang sứ nên vua Tần ngỏ ý mời ông giúp Tần trừ giặc Hung Nô, phong
ông làm Vạn Tín hầu. Ông Trọng cầm quân ra giữ đất Lâm Thao (vùng Cam
Túc, Trung
Quốc hiện
nay), hễ quân Hung Nô kéo đến bao nhiêu là bị đập tan bấy nhiêu. Giặc Hung Nô
kinh sợ và từ đó không dám xâm phạm biên ải nhà Tần nữa. Vua Tần hết sức khâm
phục, phong tước cao, thưởng hậu và gả cả công chúa cho Lý Ông Trọng, muốn lưu
ông ở lại Tần lâu dài. Sau đó một thời gian, Lý Ông Trọng nhớ quê hương xin vua
Tần cho về nước nghỉ ngơi.
Khi
biết tin Lý Ông Trọng đã về nước, quân Hung Nô lại kéo sang đánh Tần. Vua Tần lại
sai sứ sang Âu Lạc mời Ông Trọng. Ông Trọng không muốn đi nên vua Thục nói rằng
ông đã mất. Vua Tần bất đắc dĩ phải đúc một pho tượng đồng khổng lồ hình Lý Ông
Trọng (bên trong rỗng, chứa được mấy chục người, có máy giật để cử động chân
tay như thật) đặt ở cửa Kim Mã, kinh thành Hàm
Dương. Giặc Hung Nô ngỡ là ông lại sang Tần nên không dám
xâm phạm nước này. Từ đó người phương Bắc thường gọi những pho tượng lớn là
"Ông Trọng".
Năm
860, Cao Biền cho sửa sang lại đền
thờ ở xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm (làng Chèm ngày nay), tạc tượng gỗ, tôn
xưng cho ông danh hiệu Lý hiệu úy.[1]
Tư
lệ Hiệu úy (tức Lý Ông Trọng) được phong tặng là Uy mãnh Oanh liệt Phụ
tín Đại vương (威猛英烈輔信大王).
Văn
Lang thành cổ sơn trung điệp
Ông
Trọng từ thâm vân đạm nùng
(Văn
Lang thành cổ non trung điệp
Ông
Trọng đền thiêng mây nhạt nồng)
Theo
sách Trung Quốc
Sách Từ
Nguyên Trung
Quốc ghi: "Nguyễn
Ông Trọng đời Tần, người Nam Hải, thân dài một trượng ba thước, khí chất đoan
dũng, khác với người thường. Vua Thủy Hoàng sai
cầm quân giữ đất Lâm Thao, thanh thế chấn động Hung Nô. Ông Trọng chết. Vua sai
đúc tượng đồng để ở cửa Tư Mã, coi giữ cung Hàm
Dương".
Theo
Đại Việt Sử ký Toàn thư
Năm 221
TCN (năm
thứ 26 triều Tần Thủy Hoàng),
nước Tần thôn tính cả sáu nước vùng Trung Nguyên và xưng Hoàng
đế.
Bấy giờ có người ở Từ Liêm, Giao
Chỉ là
Lý Ông Trọng người cao 2 trượng 3 thước, lúc ít tuổi đến hương ấp làm lực dịch,
bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước Tần, làm quan đến chức Tư lệ Hiệu úy. Thủy
Hoàng lấy được thiên hạ, bèn sai ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao (một huyện
thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay), uy danh
chấn động nước Hung Nô. Khi tuổi già về làng rồi chết.
Thủy
Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc đồng làm tượng để ở cửa Tư
Mã ở Hàm
Dương, bụng tượng chứa được mấy chục người, ngầm lay thì
chuyển động được, Hung Nô tưởng đó là Hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm.
Theo
Việt điện u linh
Vương
họ Lý tên Ông Trọng, người huyện Từ Liêm, mình cao hai trượng
ba thước, khí chất đoan dũng khác người thường. Thiếu thời làm quan ở huyện ấp,
bị quan Đô đốc đánh đòn, Vương than rằng:
Tráng
chi của đời người nên như chim Loan chim Phụng, nhất cử vạn lý, đâu mà để cho
người thóa mạ, làm nô lệ cho người?
Vương
bèn chăm học, ngày tháng dùi mài, phát minh kinh sử, vào làm quan nhà Tần, làm
chức Tư lệ hiệu úy.
Đến lúc Tần Thủy Hoàng thôn
tính thiên hạ, sai Vương đem binh trấn thủ Lâm Thao thì thanh danh chấn động
Hung Nô. Thủy Hoàng lấy làm điềm tốt. Đến sau, Vương già cả về làng. Thủy Hoàng
đúc tượng đồng, đặt ở ngoài cửa Tư mã Hàm
cung;
trong ruột tượng chứa được vài mươi người, mỗi khi sứ bốn phương đến, thầm khiến
người vào trong ruột lay động pho tượng; Hung Nô thấy thế kinh sợ cho là Hiệu
úy còn sống, bảo nhau không dám xâm phạm biên giới.
Đời Đức Tông nhà Đường, niên hiệu Trinh Nguyên
năm đầu, Triệu Xương qua làm Đô hộ nước An
Nam ta
thường qua chơi làng Vương, đêm mộng thấy cùng Vương nói chuyện trị dân, và giảng
luận sách Xuân
Thu tả truyện, nhân đó Triệu Xương mới hỏi thăm nhà cũ
của Vương hồi xưa, thì chỉ thấy mù khói ngang trời, sông nước mênh mông, rêu
phong đường đá, xanh rời cụm hoang, một mảnh nhàn vân phất phơ trên đám cỏ thôn
hoa rụng. Ông mới lập lại đền thờ, xưởng cao lầu lớn, rồi chuẩn bị lễ vật đem đến
tế vương. Đến lúc Cao
Biền đánh
phá nước Nam Chiếu, Vương thường hiển linh
trợ thuận. Cao Biền lấy làm kinh dị, sai thợ trùng tu từ vũ tráng lệ hơn xưa,
và chạm khắc tượng gỗ son thếp giống như thực mà đem lễ vật đến tế, từ đó,
hương hỏa không khi nào hết. Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu [1285, Trần Nhân
Tông], sắc phong Anh Liệt Vương, đến bốn năm sau gia phong hai chữ Dũng
Mãnh, năm Hưng Long thứ hai mươi [1312, Trần Anh Tông] gia phong Phụ
Tín Đại Vương.
Lời
bình trong truyện
- Lý
Hiệu úy lấy tấm thân cao hai trượng, làm quan thượng quốc, giữ chức Ty Lệ,
oai khiếp Hung Nô, người ở Lâm Thao sợ oai mà mến đức. Sống thời người đều
hâm mộ; chết thời nhớ chẳng quên. Tượng đồng đặt ngoài cửa, có máy lay
chuyển động, oai hùng như sống, đứng xa mà trông đủ khiến cho bọn cường hồ
rụng hồn phách. Sau vài trăm năm lại thác mộng cho Triệu Xương, hiển linh
cho Cao
Biền, tiếng thơm oanh liệt, giống như các
vị Thiên Thần không hơn không kém, như thế há chẳng hùng vĩ lắm thay!
- Miếu
ở làng Thụy Hương huyện Từ Liêm,
cách phía đông thành bốn mươi dặm đền đài đồ sộ, miếu điện trang nghiêm,
cao ngất ở trên bờ sông. Dầu cho sóng cả vỗ bờ, muôn dặm chảy xiết, vẫn
nghiễm nhiên đứng vững không lay. Ngay trước miếu có bến đò ngang là con
đường thượng lưu đến kinh phải ngang qua đấy, một chỗ đô hội lớn, thương mại
hành nhân, cao tài đặt khách, chắp nối ngựa xe qua lại như dệt, mà trọn
xưa vẫn an ổn, không xảy ra nạn gió sóng, nhân dân đều xưng tụng công đức
của thần. Làng Thụy Hương rất đông, giàu, đến khi cúng tế, lễ vật long trọng
tinh khiết, hằng năm đến ngày rằm tháng bảy, có ngày hội làm lễ Đại kỳ
phúc, người đến xem đông như rừng, đường sá chợ búa nhà cửa có cái quang cảnh
như thành thị. Lễ tế, đồ thờ nghiêm chỉnh, người đến xem lễ đều phải kín,
so với hai đền Tiên Du và Kim
Động cùng ngang hàng với nhau. Nhiều
người đến đền cầu tự, có người bồng con đến xin Thần cho họ, như hai anh
em Tiết, Nghĩa ở làng Vân Canh, đến xưng họ Lý họ Trần tức là Thần cho họ
đó. Tập Chích Quái chép
sự tích này cũng đồng với đây.
Tính
xác thực
Trong Việt sử tiêu án,
nhà sử học Ngô Thì Sĩ có chép lại và đánh
giá truyền thuyết Lý Ông Trọng như sau:
Ông
Trọng thân hình cao to, cùng việc đầu đuôi làm quan với nhà Tần, chưa chắc là
đúng.
Nhà
Tần đúc 12 người vàng, tuyệt đối không có danh hiệu
gì. Vua Ngụy muốn rời người vàng ấy đến đất Nghiệp nhưng nặng không mang đi được,
nhân lấy đồng đúc 3 người gọi là Ông Trọng, bày ra ở ngoài cửa Tư Mã, lại bàn ở
đàn miếu Thiên thu đình (ở bài chú Kinh Băng, Tiến Thủy) có hai Ông Trọng bằng
đá đối nhau, thì cái tên Ông Trọng cũng giống như tên vì sao Phi Liêm, người đời
sau đặt ra chuyện Ông Trọng thiêng liêng, để cho câu chuyện thần kỳ đó thôi.
Theo
các phân tích Trung Quốc, tiểu sử của Nguyễn Ông Trọng (tên trong sách Trung Quốc)
không được chính sử Trung Quốc ghi lại và các sách khác trước thời nhà
Minh cũng
hiếm khi nhắc đến, dù với chức vị và chiến công của ông thì lẽ ra phải được ghi
chép rất cụ thể (giống như Vương Tiễn, Bạch
Khởi, Mông Điềm...). Hơn nữa, câu truyện
về Ông Trọng có nhiều chi tiết phi lý: Quận Lâm Thao (Cam Túc) khi đó chưa từng
bị Hung Nô xâm phạm nên không thể có chuyện Ông Trọng giao chiến với Hung Nô tại
đây. Chức vụ "Tư lệ hiệu úy"
không có vào thời nhà Tần mà chỉ được thiết lập vào thời nhà
Hán,
và đây là chức quan văn chứ không phải quan võ. Vì thế, các
nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng đây chỉ là truyền thuyết hư cấu do dân gian
lưu truyền, nhằm giải thích một sự kiện có thật là Tần Thủy Hoàng đã
cho đúc 12 bức tượng đồng khổng lồ có tên là "Ông Trọng" và đặt ở bên
ngoài cổng Tư Mã của cung Hàm Dương.[2] Câu
chuyện dân gian đã được lan truyền khắp nơi và lan sang Việt Nam, và sau nhiều
thế kỷ (nhất là thời Bắc
thuộc), nó đã được truyền bá rộng trong nhân dân Việt Nam
và được đưa vào sách Lĩnh Nam chích quái.[3]
Đền
thờ
Truyền
thuyết Việt Nam kể rằng: vua
Tần sai
lập đền thờ ông, nay là di tích Đình
Chèm,
được nhân dân trong vùng xưng tôn là Đức Thánh Chèm.
Thực
ra, đền thờ Lý Ông Trọng gọi là Đình
Chèm chỉ
được xây dựng từ thời Bắc
thuộc (từ năm 603 đến
năm 938)
ở Thị Điềm, Thụy Phương (phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà
Nội ngày
nay). Trong Đình có các bia đá ghi chép lại lịch sử và nhân vật, đồng thời thờ
2 pho tượng đồng lớn: một là của Thượng đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng, pho tượng
còn lại là của bà vợ, hiệu Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung (con gái của Tần Thủy Hoàng).
Di tích Đình còn nguyên vẹn, kiến trúc rất đẹp.
Để
tưởng nhớ Lý Ông Trọng, hằng năm ba làng: Thụy Phương, Hoàng Mạc và Liên Mạc tổ
chức lễ hội đền Chèm từ 14 đến 16 tháng 5 âm
lịch.
➖➖➖