2020-03-28

Người cha - Guy de Maupassant

2020-03-28

Người cha

Guy de Maupassant


Lớp học vừa tan, đám trò nhỏ ùa ra như bầy ong vỡ tổ. Song, thay vì chạy mau về nhà, chúng lại tụm năm tụm ba từng nhóm để xù xì to nhỏ. Lý do đơn giản, hôm nay là ngày đầu tiên cậu bé Simon con trai của nàng La Blanchotte đi học. Mọi người ai cũng biết đến nàng. Chẳng hiểu thiên hạ thương hay ghét, nhưng chắc một điều, họ nhìn nàng với cặp mắt ẩn giấu lòng khinh thị. Đám trẻ cũng nhận ra điều ấy, mặc dù chúng không thể nào hiểu nổi vì lý do gì. Riêng thằng bé, đám trẻ chẳng hề quen biết nó. Nó có bao giờ chơi với ai đâu. Đám trẻ chú ý đến thằng bé với một chút thích thú, một chút tò mò. Cầm đầu là chú nhóc đàn anh khoảng mười bốn hoặc mười lăm tuổi, chúng tụm với nhau rù rì, lặp đi lặp lại một câu duy nhất, "Mày biết thằng nhóc đó không?  Nó không có cha".

Thằng bé khoảng bảy hoặc tám tuổi, xanh xao nhút nhát. Điệu bộ của nó vụng về ngượng nghịu đến phát tội. Tan trường về nhà, tai nó nghe đầy lời đám trẻ xầm xì không ngừng. Chúng ranh mãnh theo dõi từng bước của nó. Bằng trò trêu ghẹo độc ác vô tội vạ của con nít, chúng chặn trước chặn sau, bao vây dồn thằng bé vào giữa. Nó chỉ biết đứng chịu trận, vừa ngạc nhiên, vừa hoang mang sợ hãi chẳng biết chúng muốn gì. Nó đỏ mặt cúi đầu xuống đất. Tên thủ lĩnh hất hàm.

- Tên gì? Mày!

Thằng bé lí nhí.

- Simon.

Một thằng vặn.

- Simon gì? Hở?

Thằng bé bối rối.

- Simon.

Tên thủ lĩnh quát vào mặt thằng bé.

- Đó không phải là tên. Simon gì mới được chứ!

Nước mắt chực trào ra, thằng bé khổ sở trả lời lần thứ ba.

- Em tên Simon.

Đám ranh con cười ồ. Tên thủ lĩnh oang oang chiến thắng.

- Tụi bây biết không, thằng này không có cha!

Đột nhiên cả đám im như tờ. Đám trẻ lặng người trước sự kiện khác thường quái dị này. Đứa trẻ không cha. Chúng nhìn thằng bé như một vật kỳ lạ, bất bình thường. Chúng thấy mình ngu xuẩn vì trước đến nay cứ hồ đồ thương hại người mẹ của nó. Phần thằng bé, nó chống người vào gốc cây cho khỏi té và đứng chết trân như trời trồng. Nó muốn mở miệng, nhưng lại không biết nói gì cho đám trẻ hiểu. Rõ ràng chẳng thể chối cãi được điều khủng khiếp ấy. Nó thật sự không có cha. Cuối cùng, nó liều lĩnh quát to.

- Có! Tao có cha.

Một thằng nhãi hất mặt.

- Đâu? Cha mày đâu?

Thằng bé làm thinh. Nó không biết cha mình ở đâu. Đám trẻ cười ngặt nghẽo và còn tỏ ra vô cùng thú vị. Lũ ranh con reo hò như đám thú điên tiết tàn nhẫn muốn banh xé con mồi, cho dù đó là đồng loại của mình. Thình lình, chú bé nhận ra trong đám trẻ có thằng nhóc láng giềng mà nó thường thấy luôn quanh quẩn bên bà mẹ goá. Nó chỉ thằng nhóc.

- Còn mày, mày cũng đâu có cha.

- Có, tao có cha.

- Cha mày đâu?

Thằng nhóc kiêu hãnh trả lời.

- Cha tao chết rồi. Ổng ở trong nghĩa địa kia.

Đám trẻ xôn xao, thể như bằng chứng có người cha chết chôn trong nghĩa địa đủ để người chiến hữu của mình đánh bại đối thủ không cha.

Sau đó lũ nhãi ranh, con của những tên ma đầu, rượu chè, trộm cắp, vũ phu, chen nhau lấn thằng bé. Tên thủ lĩnhbất ngờ le lưỡi trợn mắt.

- Lêu lêu không cha! Thằng không cha!

Thằng bé nổi giận, vừa túm tóc tên nhóc vừa giơ chân đá. Nó còn nhào đến, dữ tợn cắn vào má tên nhóc một phát, mở màn trận đấm đá tay đôi ác liệt, giữa đám giặc con đứng vòng ngoài vỗ tay reo hò. Tàn cuộc, thằng bé u đầu sứt trán, tay chân quần áo đầy đất cát. Một thằng lõi còn quát nó.

- Về méc với cha mày đi!

Tim thằng bé đau nhói. Chúng nó đông hơn, chỉ lấy thịt đè người cũng đủ chết, và thằng bé chẳng thể mở mồm biện minh được gì. Thật sự nó chẳng có người cha. Nó nghẹn ngào, nhưng vì niềm kiêu hãnh, nó cắn răng không khóc trước mặt lũ ranh. Thằng bé cố nén dòng nước mắt đang trào dâng, nhưng niềm tức tưởi oà thành tiếng nấc không ngừng. Lũ ranh vỡ trận cười thỏa thích. Chúng tay nắm tay nhau, reo hò nhẩy múa quanh thằng bé bằng điệp khúc, "Con không cha! Ê hê con không cha!"

Bất ngờ thằng bé ngừng tiếng nấc. Nó giận điên cuồng, cúi nhặt nắm đá dưới chân, bằng hết sức lực của mình ném mạnh vào lũ ranh đang hành hạ nó. Hai ba thằng bị trúng đạn, bỏ chạy. Vừa ôm đầu, vừa la làng khiến cả đám thất hồn kinh vía. Sự hèn nhát y như trò hề trước thằng bé. Sau đó, chúng giải tán đường ai nấy đi. Còn lại một mình, chú bé không cha ào chạy ra cánh đồng. Hồi ức đau lòng vừa qua trỗi dậy, khích động tâm hồn nó đến một quyết định không ngờ. Nó dừng lại suy nghĩ, muốn nhào xuống dòng sông. Trong khoảnh khắc ấy, nó nhớ lại cách đây tám ngày trước tại ngay chỗ này đây, có một tên sáu khổ mạt vận đâm đầu xuống vì đời hắn đã rơi đến tận cùng xã hội. Nó còn nhớ người ta vớt hắn lên. Tiếng thoi thóp, khuôn mặt tái nhợt nhạt, bộ râu sũng nước, và đôi mắt trợn tròng của hắn đã động lòng nó khủng khiếp. Nó còn nhớ tiếng xầm xì của người bu quanh.

- Hắn đã chết.

- Bây giờ thì hắn hoàn toàn sung sướng.

Thằng bé muốn dìm mình xuống sông vì nó không có cha. Nó tuyệt vọng cũng giống tên bần cùng bữa nọ. Nó chạm chân vào nước, đăm chiêu nhìn dòng sông lững lờ trôi. Vài con cá nhẩy lên mặt nước xanh để đớp ruồi. Nó nín khóc, thích thú nhìn cảnh ngộ nghĩnh đang diễn trước mắt. Tuy nhiên, giữa lúc giông bão trong lòng thằng bé tạm lắng, như ngọn gió thình lình táp mạnh vào thân cây rồi ào đi, nó lại nghe niềm đau cào cấu. "Tôi muốn buông mình cho chết vì làm con không cha." Trời thật ấm, ánh hồng trải mình trên cỏ, và dòng nước trong như gương. Thằng bé tận hưởng giây phút êm ả. Nó thổn thức một hồi, đoạn mệt nhoài buông mình mơ màng trên thảm cỏ.

Có con nhái xanh từ đâu nhảy dưới chân thằng bé. Nó chồm người chụp lấy, nhưng con nhái vụt mất. Nó rượt theo đến lần thứ tư mới bắt được. Nhìn con nhái cố sức ngọ nguậy trên tay nó để trốn thoát, thằng bé bật cười. Con nhái dồn sức xuống đôi chân sau, cố bật mạnh lên như chàng lực sĩ đang cử tạ. Tròng mở to như muốn lọt khỏi vòng mắt màu vàng viền bên ngoài, và hai chân trước chòi đạp như thể hai tay đang quơ ra cầu cứu. Hình ảnh ấy khiến thằng bé nhớ món đồ chơi của mình. Món đồ chơi được ghép bằng những mảnh gỗ nhỏ đóng từng đoạn chồng lên nhau. Trên ấy là hàng lính tí hon, thao tác tùy theo mảnh gỗ chuyển động. Nghĩ đến đây, nó nhớ nhà, nhớ mẹ, và tủi thân bật khóc. Tay chân thằng bé run rẩy, nó buông người quỳ xuống và cầu nguyện như hằng đêm trước khi đi ngủ. Song, chưa cầu nguyện xong, điều đau khổ lại trào dâng trong lòng khiến nó oà khóc lớn. Bất ngờ, có bàn tay ai nặng trịch đặt lên vai nó. Theo đó là giọng nói trầm hùng.

- Bé con ơi, việc gì khiến con buồn đến thế?

Thằng bé quay lại. Một người thợ với hàm râu đen và mái tóc dợn từng sợi, đang chăm chú nhìn nó. Thằng bé tức tưởi.

- Tụi nó đánh con vì con không có cha.

Người thợ mỉm cười.

- Sao kỳ cục vậy? Ai cũng có cha mà con.

Thằng bé đau thắt người, trả lời.

- Nhưng con không có.

Nghe câu nói, người thợ bối rối. Chàng nhận ra thằng bé là con của nàng. Dù chỉ mới đến vùng này, nhưng chàng đã nghe qua về hoàn cảnh mẹ con nàng. Chàng bảo thằng bé.

- Nín khóc đi con. Chú sẽ dắt con về với mẹ. Mẹ con sẽ chỉ cho biết cha ở đâu.

Chàng cầm tay thằng bé, dắt nó đi. Chàng mỉm cười lần nữa khi nghĩ đến nàng. Trong lòng chàng, không như mọi người ở đây thường nghĩ về nàng. Họ cho rằng người con gái đẹp nhất vùng này đã một lần hư thân sẽ tiếp tục chẳng ra gì. Nhưng chàng thì không, chàng có cái nhìn khác về mẹ con nàng. Họ về đến trước căn nhà nhỏ xinh xắn. Thằng bé gọi to.

- Mẹ ơi mẹ!

Người đàn bà trẻ xuất hiện, chàng vội nghiêm mặt. Vừa trông thấy nàng, chàng liền tự hiểu chớ nên coi thường người con gái xanh xao đang đứng ngay khung cửa này. Nàng đứng nghiêm trang trong dáng điệu phòng thủ, nét lạnh lùng cách biệt bắt đầu từ một lần bị lừa dối.

Cầm chiếc mũ trên tay, chàng ngượng ngập ấp úng.

- Thưa cô, tôi gặp cháu đi lạc ngoài bến sông...

Thằng bé nhào ôm cổ mẹ, mếu máo.

- Không phải mẹ ơi, con muốn nhảy xuống sông. Tại tụi nó đánh con... Tụi nó đánh con vì con không có cha.

Mặt nàng ửng đỏ, ôm vội con vào lòng mà nước mắt tuôn trên má. Chàng đứng yên không nhúc nhích và chẳng biết làm cách nào để thối lui. Chợt thằng bé chạy đến chân chàng.

- Chú làm cha con được không?

Ngột ngạt bao trùm, không ai nói một lời. Điếng người xấu hổ, nàng lảo đảo dựa vào tường, tay ôm lấy ngực. Thằng bé không nghe chàng trả lời, liền tuyên bố.

- Nếu chú không chịu làm cha của con, con sẽ nhảy xuống sông.

Chàng liền chộp câu đó như lời đùa.

- Được chứ sao không, nhóc con.

Thằng bé làm quen.

- Chú tên gì để có ai hỏi thì con nói.

- Philip.

Thằng bé im lặng vài giây như ghi nhớ vào lòng. Nó giơ tay âu yếm.

- Nè, Philip. Bây giờ chú là cha của con.

Chàng nhấc bổng nó lên, hôn mạnh đôi má thơ ngây, đoạn bỏ đi thật mau. Hôm sau đi học, thằng bé lại bị đám trẻ chọc ghẹo. Đến giờ tan trường, khi tên thủ lĩnh khởi sự thì thằng bé tuôn một tràng đã sắp xếp sẵn trong đầu.

- Cha tao tên Philip.

Cả bọn được dịp cười như vỡ chợ.

- Philip? Philip nào? Mày kiếm ở đâu ra hả?

Thằng bé đứng yên không đáp, thách thức nhìn bọn trẻ như sẵn sàng chịu đòn. Nhưng thầy giáo đến can thiệp cho nó về nhà với mẹ. Trong ba tháng liền, người thợ thường đi ngang nhà nàng. Khi gặp nàng ngồi may bên cửa sổ, chàng liều lĩnh bước đến gợi chuyện. Chàng hỏi, nàng trả lời lễ độ, nhưng trầm tĩnh nghiêm trang. Nàng chưa hề mở miệng cười đùa, cũng không hề mời chàng vào nhà. Dù vậy, lòng tự tin của người đàn ông cho chàng cảm giác nàng hồng đôi má khi tiếp chuyện chàng. Cho dù nàng kín đáo đến đâu cũng không qua được mắt dư luận, và lời đồn bắt đầu to nhỏ. Riêng thằng bé, nó yêu mến người cha mình vừa có quá đỗi. Gần như ngày nào nó cũng thả bộ với chàng khi chàng xong việc. Đến trường, nó hãnh diện với bạn. Rồi một ngày, tên thủ lĩnh tấn công lần trước, bảo nó.

- Mày nói dóc. Ổng đâu phải là cha mày.

Thằng bé khó chịu.

- Mắc mớ gì mày.

Tên nhóc xoa tay.

- Nếu ổng là cha mày thì ổng phải là chồng của mẹ mày chứ?

Thằng bé hồ nghi lẫn lộn, tuy vậy nó vẫn gân cổ.

- Không biết !!! Ổng là cha tao đó.

Tên nhóc chế nhạo.

- Không phải đâu cưng.

Thằng bé cúi đầu, cắm cổ đi thẳng đến lò rèn nơi chàng làm việc. Lò rèn nằm khuất dưới bóng cây. Bên trong tờ mờ, ánh lửa đỏ trong lò rọi sáng khuôn mặt năm người thợ đang đập ầm ỉ xuống cái đẹ. Họ quần quật cạnh ngọn lửa bốc cháy, và cặp mắt đổ trên miếng thép nóng rực dưới tay nện. Thằng bé âm thầm bước vào không ai để ý. Nó đưa tay kéo áo chàng. Khi chàng quay lại thì bọn thợ cũng ngừng tay, theo dõi. Sau một phút yên lặng, thằng bé đỏ mặt, rụt rè.

- Chú, cho con biết tại sao nó nói chú không phải là cha của con.

- Nó bảo sao?

- Nó nói chú không phải là chồng của mẹ.

Chẳng ai dám mở miệng cười. Chàng đứng chịu trận, một tay ôm đầu. Chàng chỉ biết ngậm câm. Bốn người bạn cứ nhìn trừng chàng như người khổng lồ đang theo dõi con chuột tí hon. Thằng bé sốt ruột. Bất ngờ, một người thợ lên tiếng bằng giọng thông cảm.

- Phải công nhận, mẹ thằng bé là người con gái ngoan và thành thật. Dù lầm lỡ một lần, nhưng sau đó nàng rất kiên quyết và đầy nghị lực. Nàng sẽ là người vợ xứng đáng.

Ba người bạn gật đầu đồng lòng.

- Đúng vậy.

Người thợ nói tiếp.

- Người con gái vấp ngã đâu phải lỗi chỉ ở mình nàng. Người ta từng hứa cưới nàng. Tôi còn biết họ là người được trọng vọng, và đã biết lỗi mình làm.

Ba người bạn nhất trí đồng thanh.

- Thật vậy mà.

Người thợ tiếp tục.

- Một mình nuôi dạy đứa con, nàng phải chịu đựng bao nhiêu đắng cay tủi cực. Nước mắt khóc âm thầm ai hay? Từ đó, không giao du, không qua lại với ai. Chỉ có trời mới hiểu lòng nàng.

Ba người bạn bảo nhau.

- Không sai!

Mọi người im lặng, chỉ còn tiếng cánh quạt thổi phù phù. Chàng vội vã cúi xuống bảo thằng bé.

- Con về cho mẹ hay, chú sẽ đến nói chuyện.

Nói xong, chàng đẩy vai thằng bé. Sau đó trở lại cùng đám bạn vùi đầu tiếp tục xuống cái đẹ. Họ làm việc vui vẻ hăng say đến khi trời sụp tối. Khi chuông nhà thờ ngân đổ từng hồi rộn rã, tiếng búa của chàng từng giây từng phút rền vang hơn. Nó ồn ào như chiến thắng vẻ vang. Mắt đổ vào chiếc lò rực sáng, chàng say sưa với niềm mãnh liệt toé lửa. Trời giăng đầy sao trên lối về nhà nàng. Tối ấy chàng trịnh trọng mặt chiếc áo đi lễ ngày Chúa Nhật, râu tóc tỉa gọn. Vừa nghe tiếng gõ ngập ngừng, nàng đã xuất hiện sát sau cánh cửa. Giọng nàng man mác.

- Trời đã tối, anh không nên đến đây.

Chàng muốn trả lời, nhưng chỉ đứng ngậm câm bối rối. Nàng khổ sở thổn thức.

- Anh cũng biết... mình đừng như thế. Tôi không kham nổi.

- Đừng em! Làm vợ anh nhé.

Không có tiếng trả lời, chỉ có bóng người rủ xống và tiếng thân người đổ nhào. Chàng giơ tay ra, nhảy vội đến. Thằng bé nằm trên giường, nhưng nó chưa ngủ. Nó nghe được tiếng người hôn nhau. Nó còn nghe giọng mẹ nó mềm nhũn.

Bất ngờ, có bàn tay lực sĩ nhấc nó lên và giọng trìu mến rót vào tai nó.

- Nè con, ngày mai đi học nhớ bảo tụi nó cha con là Philip Remy làm thợ rèn. Đứa nào láng cháng ông thợ rèn sẽ kéo đứt tai.

Hôm sau đến trường, khi cả lớp chuẩn bị đọc bài thì nó đứng lên. Mặt tái xanh và môi run run, nhưng nó nói rõ ràng từng chữ.

- Cha tao... cha tao là Philip Remy, làm thợ rèn. Đứa nào láng cháng, cha tao sẽ kéo đứt tai.

Không một ai trong đám trẻ dám mở miệng cười. Người thợ rèn Philip Remy nổi tiếng chúng đều biết, và đứa nào cũng đều hãnh diện có người cha oai phong như chàng.

➖ ➖ ➖

 

2020-03-21

Tôn tử, Ngô Khởi liệt truyện - Tư Mã Thiên

2020-03-21

Tôn tử, Ngô Khởi liệt truyện

Tư Mã Thiên


1. Tôn Tử tên là Vũ, người nước Tề, đem sách binh pháp yết kiến vua Ngô là Hạp Lư. Hạp Lư nói:

- Ta đã đọc cả mười ba thiên của ông rồi, nay ông thử áp dụng binh pháp điều khiển quân đội một cách tiểu qui mô có được không?

Tôn Tử đáp:

- Được ạ.

Hạp Lư nói:

- Đem đàn bà ra thí nghiệm có được không?

Tôn Tử đáp:

- Được ạ.

Vua bèn bằng lòng cho gái đẹp trong cung ra, tất cả một trăm tám mươi người. Tôn Tử chia ra làm hai đội lấy hai người quí phi vua nuông chiều làm đội trưởng, sai tất cả đều cầm giáo.

Tôn Tử ra lệnh nói:

- Các ngươi có biết quả tim, tay phải, tay trái và lưng không?

Bọn con gái nói:

- Có.

Tôn Tử nói:

- Khi ta nói "đằng trước" thì các ngươi nhìn vào quả tim, nói "bên trái" thì nhìn tay trái, nói "bên phải" thì nhìn tay phải, "đằng sau" thì nhìn đằng sau lưng.

Bọn đàn bà đều nói:

- Dạ.

Sau khi đã đưa ra kỷ luật, Tôn Tử bèn đặt phủ việt (những đồ nghi trượng ở trong quân đội), ban lệnh ba lần, nhắc nhở năm lượt. Sau đó đánh trống ra lệnh nhìn về bên phải. Bọn con gái cười rộ. Tôn Tử nói: - Kỷ luật không rõ ràng, nhắc nhở hiệu lệnh không kỹ càng, đó là tội của tướng.

Lại ra lệnh và nhắc lại ba lần năm lượt; rồi đánh trống ra lệnh nhìn về bên trái. Bọn con gái lại cười rộ. Tôn Tử nói:

- Kỷ luật không rõ ràng, nhắc nhở hiệu lệnh không kỹ lưỡng là tội của tướng; nay đã hiểu rõ kỷ luật rồi mà lại không theo kỷ luật là tội của đội trưởng.

Tôn Tử muốn chém hai người đội trưởng. Ngô Vương đứng trên đài xem, thấy ông ta sắp chém hai người ái cơ, hoảng sợ, vội vàng sai sứ giả truyền lệnh nói:

- Quả nhân đã biết cách dùng binh của tướng quân rồi! Không có hai ái cơ ấy thì quả nhân ăn không ngon, xin đừng chém!

Tôn Tử nói:

- Thần đã vâng mệnh lệnh bệ hạ làm tướng, tướng đã ở trong quân thì có khi không theo lệnh vua.

Bèn sai chém hai người đội trưởng để thị uy, đem người kế tiếp theo làm đội trưởng. Sau đó lại đánh trống chỉ huy. Bọn con gái nhìn bên trái, bên phải, trước, sau, quì, đứng dậy đều nghiêm chỉnh đúng đắn, không ai dám ho he. Tôn Tử sai sứ giả báo với nhà vua:

- Binh đã chỉnh tề, bệ hạ có thể xuống xem. Bệ hạ có thể dùng nó thế nào cũng được, dù có sai nó nhảy vào lửa, nước cũng được.

Ngô Vương nói:

- Tướng quân ra quán trọ mà nghỉ, quả nhân không muốn xuống xem.

Tôn Tử nói:

- Đại Vương thích nói suông, mà không thể dùng trong việc thực.

Do đó, Hạp Lư biết Tôn Tử có tài dùng binh và cho Tôn Tử làm tướng. Phía tây quân Ngô phá nước Sở mạnh, đi vào đất Sinh; phía bắc uy hiếp nước Tề, nước Tấn nổi tiếng ở chư hầu, Tôn Tử có công ở đấy.

2. Sau khi Tôn Vũ mất được hơn một trăm năm, có Tôn Tẫn.

Tẫn sinh ở giữa đất A và đất Quyến. Tẫn là con cháu của Tôn Tử. Tôn Tẫn xưa cùng Bàng Quyên học binh pháp. Sau đó, Bàng Quyên làm quan nước Nguỵ, được làm tướng quân của Huệ Vương, nhưng vẫn tự cho rằng mình không tài giỏi bằng Tôn Tẫn, cho nên ngầm sai người mời Tôn Tẫn đến. Khi Tẫn đến, Bàng Quyên sợ và ghét Tẫn hơn mình, bèn mượn pháp luật mà trị tội chặt hai chân và chàm vào mặt để cho ông ta giấu mình không xuất đầu lộ diện. Sứ giả nước Tề đến đất Lương, Tôn Tẫn mang thân đã bị hình phạt lén gặp, thuyết phục sứ giả. Sứ giả nước Tề cho là kỳ lạ mang trộm lên xe cùng về nước Tề. Tướng nước Tề là Điền Kỵ phục tài, đối đãi như là khách.

Kỵ nhiều lần đua ngựa đánh cuộc nhiều tiền với các công tử nước Tề. Tôn Tẫn thấy chân ngựa không hơn nhau lắm, ngựa có ba thứ giỏi, vừa và kém. Do đó, Tôn Tẫn nói với Điền Kỵ:

- Ngài cứ đặt cọc thật nhiều tiền đi, tôi có thể làm cho ngài thắng.

Điền Kỵ tin theo, đặt cọc với các công tử nghìn vàng. Đến khi ra trường đua, Tôn Tử nói:

- Nay ngài lấy con ngựa kém của ngài thi với ngựa giỏi của họ, lấy con ngựa giỏi của ngài thi với con ngựa vừa của họ, lấy con ngựa vừa của ngài thi với con ngựa kém của họ.

Sau khi đã đua ngựa ba lần, Điền Kỵ thua một, mà thắng hai, cuối cùng được nghìn vàng. Vì vậy, Kỵ tiến Tôn Tử với Uy Vương. Uy Vương hỏi về binh pháp, rồi tôn làm bậc thầy.

Sau đó, Nguỵ đánh Triệu, Triệu bị nguy cấp, cầu cứu với Tề. Tề Uy Vương muốn phong Tôn Tẫn làm tướng. Tẫn từ tạ nói:

- Người đã bị hình phạt không thể làm tướng.

Vua bèn cho Điền Kỵ làm tướng. Tôn Tẫn làm quân sư chở ở trong xe kín, ngồi bàn mưu kế. Điền Kỵ muốn đem quân đến Triệu, Tôn Tử nói:

- Muốn gỡ mối rối ren thì phải làm từ từ không được căng thẳng, muốn cứu những người đang đánh nhau thì không nên xông vào đánh giùm, tránh chỗ thực, đánh vào chỗ hư; hình thế chống nhau, thì tức khắc gỡ được thôi. Nay quân Lương (Nguỵ cũng có tên gọi là Lương), và quân Triệu đánh nhau, ở ngoài binh khí nhẹ và quân lính tinh nhuệ kiệt sức, ở trong người già người yếu mỏi mệt. Chi bằng ngài cứ đem quân đi nhanh về Đại Lương, cắt đứt đường giao thông, đánh vào nơi trống của Nguỵ, thì Nguỵ nhất định phải bỏ Triệu để tự cứu lấy mình. Như thế là đánh một nơi mà giải vây cho nước Triệu, lại đồng thời làm cho quân Nguỵ kiệt quệ.

Điền Kỵ nghe theo. Quả nhiên quân Nguỵ rời bỏ Hàm Đan (Kinh đô của Triệu), đánh nhau với quân Tề ở Quế Lăng. Điền Kỵ phá tan quân Lương.

Mười ba năm sau (353), Nguỵ và Triệu đánh Hàn, Hàn cáo cấp với Tề. Tề sai Điền Kỵ làm tướng quân đi thẳng đến Đại Lương. Tướng Nguỵ là Bàng Quyên nghe vậy rời bỏ Hàn quay về, bây giờ quân Tề đã đi khỏi biên giới về phía tây. Tôn Tử nói với Điền Kỵ:

- Quân của Tam Tấn (Tam Tấn là tên chung để chỉ Hàn, Triệu, Nguỵ, ở đây cốt chỉ Nguỵ), vốn hung tợn và khinh quân Tề, quân Tề mang tiếng khiếp nhược. Người thiện chiến thì nhân cái thế của mình mà lợi dụng (ý nói giả bộ khiếp nhược để nhử cho quân Nguỵ đuổi theo). Theo binh pháp, nếu chạy đi tìm lợi một ngày trăm dặm thì viên thượng tướng sẽ què; nếu chạy theo lợi một ngày năm mươi dặm thì quân sĩ chỉ đến một nửa. Ngài hãy sai quân Tề vào đất Nguỵ làm mười vạn cái bếp, ngày hôm sau làm năm vạn cái, lại ngày hôm sau nữa làm ba vạn cái.

Bàng Quyên đi được ba ngày cả mừng, nói:

- Ta vốn biết quân Tề nhát gan, mới vào đất ta ba ngày mà quân sĩ bỏ trốn đã quá nửa.

Bàng Quyên bèn rời bỏ bộ binh mang khinh binh, cùng lính tinh nhuệ một ngày đi gấp đôi đường để đuổi theo.

Tôn Tử trù tính họ đi đến đêm thì tới Mã Lăng. Đường Mã Lăng hẹp, hai bên hiểm trở, có thể phục binh bèn sai chặt cây to bôi trắng và viết: "Bàng Quyên chết dưới cây này!". Lại sai một vạn quân Tề giỏi bắn tên nấp ở bên đường, hẹn, "Ban đêm thấy lửa đốt lên thì đều bắn tên ra."

Bàng Quyên quả nhiên đêm ấy đến dưới gốc cây bị đẽo, thấy có chữ viết trên gỗ bôi trắng bèn sai xoi gỗ lấy lửa thắp đuốc. Đọc hàng chữ chưa xong, thì một vạn nỏ của quân Tề đều bắn ra, quân Nguỵ trốn chạy tán loạn. Bàng Quyên tự biết mình trí cùng, binh bại, bèn tự đâm cổ chết, nói:

- Thế là ta làm cái thằng ấy nổi danh!

Quân Tề thừa thắng phá tan tất cả quân Nguỵ, bắt Nguỵ thái tử là Thân đem về. Do đó, Tôn Tẫn nổi danh ở thiên hạ, đời truyền binh pháp của ông ta.

3. Ngô Khởi là người nước Vệ, thích dùng binh. Khởi thường học với Tăng Tử, thờ vua Lỗ. Người Tề đánh nước Lỗ, nước Lỗ muốn dùng Ngô Khởi làm tướng nhưng vì Ngô Khởi lấy con gái Tề làm vợ nên người Lỗ ngờ vực. Ngô Khởi muốn lập danh, bèn giết vợ để tỏ rằng mình không liên hệ gì với Tề. Về sau nước Lỗ cho Ngô Khởi làm tướng, cầm quân đánh tan quân Tề. Có người nước Lỗ ghét Ngô Khởi nói:

- Khởi là người tính nghi kỵ và tàn nhẫn. Lúc còn nhỏ, nhà cửa ông ta có hàng ngàn lạng vàng, đi du thuyết tìm công danh không được, Khởi bèn phá hết của nhà. Người làng xóm chê cười. Ngô Khởi giết hơn ba mươi người chê cười mình, rồi đi ra ngoài thành về phía đông, từ biệt mẹ, cắn vào cánh tay mà thề, "Khởi này không làm khanh, tướng thì nhất định không quay lại nước Vệ nữa." Khởi bèn đi học với Tăng Tử. Được ít lâu, mẹ Khởi chết, Khởi cũng không về. Tăng Tử khinh bỉ và tuyệt giao với Khởi. Khởi bèn đến nước Lỗ, học binh pháp để thờ vua Lỗ, vua Lỗ nghi ngờ. Khởi giết vợ để làm tướng. Lỗ là nước nhỏ, lại mang danh chiến thắng, thì chư hầu sẽ mưu đánh Lỗ mất. Vả lại, nước Lỗ và nước Vệ là hai nước anh em, nay vua dùng Khởi thì tức là bỏ nước Vệ.

Vua Lỗ nghi ngờ, từ tạ Ngô Khởi không tin dùng.

Ngô Khởi nghe tin Nguỵ Văn Hầu hiền, muốn theo.

Văn Hầu hỏi Lý Khắc:

- Ngô Khởi là người như thế nào?

Lý Khắc đáp:

- Khởi tham lam và hiếu sắc, nhưng về mặt dùng binh thì Tư Mã Nhượng Thư (Xem Tư Mã Nhượng Thư liệt truyện) cũng không thể hơn được.

Vì vậy Nguỵ Văn Hầu cho Khởi làm tướng, đánh Tần, lấy năm thành.

Khi Khởi làm tướng thì cùng ăn mặc như người lính bậc thấp nhất, lúc ngủ không trải chiếu, đi không ngồi xe, thân hành mang lương thực, cùng chia khó nhọc với quân sĩ. Có người lính mắc bệnh ung thư, Khởi hút mủ cho anh ta. Mẹ người lính nghe vậy khóc. Có người hỏi:

- Con bà là lính, thế mà tướng quân thân hành hút mủ cho, bà còn khóc gì nữa?

Bà mẹ nói:

- Không phải thế. Năm xưa Ngô Công hút mủ cho cha nó; cha nó chiến đấu không được bao lâu rồi bị địch giết. Nay Ngô Công lại hút mủ cho con tôi; không biết lúc nào hay nơi nào nó sẽ chết. Vì vậy cho nên khóc.

Văn Hầu cho Ngô Khởi giỏi dùng binh, thanh liêm, công bình, được lòng quân sĩ, nên cho Khởi làm quan thú Tây Hà, để chống lại quân các nước Tần và Hàn.

Sau khi Nguỵ Văn Hầu mất, Khởi thờ con Văn Hầu là Vũ Hầu. Vũ Hầu thả thuyền xuôi dòng sông Tây Hà, ở giữa dòng sông, quay nhìn nói với Ngô Khởi:

- Đẹp thay! Núi sông hiểm trở! Quả là của quí của nước Nguỵ!

Khởi thưa:

- Giữ nước cốt ở đức chứ không ở chỗ đất đai hiểm yếu. Ngày xưa, Tam Miêu bên trái là hồ Động Đình, bên phải là hồ Bành Lãi, nhưng vì không trau dồi đức nghĩa, nên bị vua Vũ diệt. Đô thành vua Kiệt nhà Hạ, bên trái là Hoàng Hà, bên phải là Thái Sơn, Hoạ Sơn, núi Y Khuyết ở phía nam, núi Dương Trường ở phía bắc, nhưng chính vì sự bất nhân nên bị vua Thang diệt. Nước của vua Trụ nhà Ân, bên trái là núi Mạnh Môn, bên phải là núi Thái Hàng, núi Thường Sơn ở phía bắc, sông Đại Hà chạy dọc phía nam, nhưng vì chính sự không có đức cho nên bị Vũ Vương diệt. Do đó mà xem, thì giữ nước ở đức chứ không ở chỗ hiểm. Nếu nhà vua không lo tu đức, thì người trong thuyền đều là nước địch vậy.

Vũ Hầu nói:

- Phải!

Liền phong Ngô Khởi làm Tây Hà Thú, rất nổi tiếng.

Nguỵ đặt tể tướng, cho Điền Văn làm tể tướng. Ngô Khởi không bằng lòng, bảo Điền Văn:

- Tôi muốn so sánh công lao với ông có được không?

Điền Văn nói:

- Được.

Ngô Khởi nói:

- Làm tướng ba quân khiến sĩ tốt vui lòng chết, nước địch không dám dòm ngó, ông có bằng Khởi không?

Điền Văn đáp:

- Tôi không bằng ông.

Ngô Khởi nói:

- Coi trăm quan, thân với vạn dân, làm cho kho tàng đầy đủ, ông có bằng Khởi không?

Điền Văn nói:

- Tôi không bằng ông.

Ngô Khởi nói:

- Giữ Tây Hà mà quân Tần không dám xâm phạm ở phía đông, Hàn, Nguỵ theo, ông có bằng Khởi không?

Điền Văn nói:

- Tôi không bằng ông.

Ngô Khởi nói:

- Cả ba việc này, ông đều thua tôi mà địa vị ông lại ở trên tôi là tại làm sao?

Điền Văn nói:

- Khi vua còn nhỏ, nước rối ren, các quan đại thần chưa thân, trăm họ không tin, trong lúc ấy thì giao nước cho ông hay cho tôi? (Ý Điền Văn nói mình tài năng không bằng Ngô Khởi nhưng có đạo đức được mọi người tin cậy.)

Khởi im lặng một hồi lâu rồi nói:

- Giao cho ông.

Điền Văn nói:

- Vì thế cho nên địa vị tôi ở trên ông đấy!

Ngô Khởi mới tự biết mình không bằng Điền Văn.

Sau khi Điền Văn chết, Công Thúc làm tể tướng, lấy Nguỵ công chúa, muốn hại Ngô Khởi. Người đầy tớ của công chúa nói:

- Làm cho Ngô Khởi đi thì dễ thôi!

Công Thúc hỏi:

- Làm thế nào?

Người kia nói:

- Ngô Khởi là người khí tiết, liêm khiết lại thích danh. Ngài hãy nói với Vũ Hầu trước, "Ngô Khởi là người hiền mà nước Nguỵ nhỏ, lại ở sát biên giới nước Tần mạnh, thần trộm lo rằng Khởi không có bụng muốn ở lại." Như thế, thế nào Vũ Hầu cũng hỏi, "Làm sao bây giờ?". Ngài nhân thế nói với Vũ Hầu, "Hãy gã công chúa cho Khởi để xem thử, nếu bụng Khởi muốn ở lại thì Khởi sẽ nhận, nếu không thì ông ta nhất định sẽ từ chối. Do đó, mà đoán được." Ngài nhân mời Ngô Khởi cùng về nhà, khiến công chúa giận mắng ngài, Ngô Khởi đã thấy công chúa khinh ngài thì thế nào cũng từ chối.

Quả nhiên, Ngô Khởi thấy công chúa khinh Nguỵ tể tướng nên từ chối Nguỵ Vũ Hầu. Nguỵ Vũ Hầu nghi và không tin Khởi. Ngô Khởi sợ bị tội nên bỏ đi, liền sang Sở.

Vua Sở là Điệu Vương vốn nghe tiếng Ngô Khởi hiền, nên Khởi đến Sở liền được làm tể tướng. Khởi nêu rõ pháp luật, lệnh ra thì thi hành bỏ những chức quan không cần thiết, bỏ không chu cấp cho những người họ nhà vua đã xa đời, để hậu đãi nuôi dưỡng những người chiến đấu, cốt làm cho quân mạnh, phá tan những bọn chỉ đi nói suông về việc "hợp tung" hay "liên hoành". Kết quả: phía nam bình định Bách Việt, phía bắc lấy đất Trần, đất Thái, cự tuyệt Tam Tấn, phía tây đánh Tần.

Chư hầu lo Sở mạnh, những người quí tộc nước Sở ngày trước đều muốn hại Ngô Khởi. Đến khi Điệu Vương mất, các đại thần, tôn thất làm loạn đánh Ngô Khởi. Ngô Khởi chạy đến nấp bên thây vua. Những người nổi loạn bắn và đâm chết Ngô Khởi, nhưng cũng bắn phải thi thể Điệu Vương. Sau khi Điệu Vương được chôn cất, thái tử được lập bèn sai lệnh doãn giết tất cả những người bắn Ngô Khởi. Hơn bảy mươi người vì mắc vào tội bắn Khởi mà bị giết cả họ.

4. Thái Sử Công nói: Thế tục khi khen tài năng quân sự đều nói đến mười ba thiên của Tôn Tử. Sách binh pháp của Ngô Khởi thế gian nhiều người có, nên không bàn, chỉ bàn những sự việc các ông ấy làm. Tục ngữ nói, "Người làm được chưa chắc đã nói được; người nói được chưa chắc làm được." Tôn Tử trù tính đối phó với Bàng Quyên thật rõ ràng. Thế nhưng vẫn không thể sớm tự lo cứu mình khỏi bị hình phạt. Ngô Khởi bàn với Vũ Hầu rằng hình thế không quan trọng bằng đức; nhưng khi thi hành ở Sở, thì lại vì khắc bạc, ít ân đức, mà bỏ thân mình. Thương thay!

 

➖ ➖ ➖

 

Việt Điện U Linh Tập - Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) - Lý Tế Xuyên

 2026-10-10 Việt Điện U Linh Tập Trung Dục Vũ Phụ Uy Linh Vương (Chuyện Thần Bạch Hạc) ...