2020-05-09
Chiếc lá cuối cùng
(The last leaf)
O. Henry
Trong một khu nhỏ ở phía Tây quảng trường
Washington, đường phố chạy ngoằn ngoèo và tự cắt thành những mảnh nhỏ gọi là
"biệt khu". Những "biệt khu" này tạo thành những góc và
đường lượn kỳ lạ. Mỗi con phố tự cắt một hoặc hai lần.
Một dạo, có nghệ sĩ đã khám phá ra khả năng hữu ích của con phố
này. Thử hình dung, một người khi thu hoá đơn tiền sơn, tiền giấy và tiền vải
vẽ đi qua phố ấy, bỗng nhiên nhận thấy mình quay lại mà chưa thu được lấy một
xu nào. Vậy nên chẳng mấy chốc cánh nghệ sĩ đổ xô dến ngôi làng Greenwich cổ
kính kì quặc đó, săn tìm những cửa sổ phía Bắc, những đầu hồi thế kỉ thứ mười
tám và những căn phòng áp mái kiểu Hà Lan với giá thuê rẻ. Rồi họ nhập khẩu vài
cái xô chậu đúc bằng hợp kim chì và thiếc, một hoặc hai cái bếp lẩu từ đại lộ
Thứ Sáu rồi hình thành nên "khu hoạ sĩ". Áp mái tòa nhà gạch ba tầng
thấp tịt, Sue và Johnsy có một xưởng vẽ. Johnsy là tên gọi thân mật của Joanna.
Một người từ Maine đến, còn người kia đến từ California. Họ gặp nhau tại Table
d'hôte trong tiệm Delmonico trên phố Thứ Tám và nhận thấy có cùng sở thích về
nghệ thuật, về món salad rau diếp, về kiểu ống tay áo ngoài rộng và hợp nhau
đến nỗi kết quả là một xưởng vẽ chung ra đời. Dạo ấy là vào tháng Năm. Tháng
Mười Một, gã khách lạ chưa hề được thấy mặt, lạnh lẽo, mà bác sĩ gọi là gã Viêm
Phổi, rình rập đến khu họa sĩ, thỉnh thoảng vươn những ngón tay lạnh buốt của
mình chạm vào ai đó. Khắp mạn Ðông, kẻ hủy diệt ấy hùng dũng bước đi, quật ngã
hàng chục nạn nhân; nhưng khi qua những "biệt khu" đầy rêu và những
con phố hẹp loằng ngoằng, bàn chân gã bước đi dè dặt. Ngài Viêm Phổi không
thuộc hàng chính nhân quân tử. Một phụ nữ mảnh mai, máu kiệt dần bởi những cơn
gió Tây miền California khó có thể là đối thủ chính đáng của gã đần có nắm đấm
đỏ, thở dốc, già nua kia. Nhưng gã vẫn quật ngã Johnsy; cô nằm, hầu như không
động đậy trên chiếc giường sắt sơn của mình, nhìn qua những ô kính cửa sổ nhỏ
kiểu Hà Lan lên bức tường trống trơn của ngôi nhà gạch đối diện. Sáng nọ, ông
bác sỹ có đôi mày rậm, đốm bạc gọi Sue ra hành lang.
- Ta có thể nói cơ hội sống của cô ấy chỉ còn lại một phần mười,
- ông nói khi lắc nhiệt kế để thuỷ ngân hạ xuống.
- Nhưng cái phần đó còn phụ thuộc vào việc cô ấy có muốn sống
nữa hay không. Cái kiểu con người cứ sắp hàng bên cạnh ông chủ nhà hòm như thế
thì thuốc men cũng chẳng có nghĩa lí gì. Cô bạn bé nhỏ của cô đã nghĩ rằng mình
sẽ không bình phục nữa. Cô ấy có điều gì vướng mắc trong đầu không?
- Bạn ấy - bạn ấy mong ước có ngày vẽ được vịnh Naples, - Sue
đáp.
- Vẽ ư? Hừ! Cô ấy không có điều gì đáng để bận tâm gấp bội lần
hơn ư? - một chàng trai, chẳng hạn?
- Một chàng trai à? - Sue nói, cao giọng như thể tiếng đàn chợt
buông dây. - Một người đàn ông thì tốt ư? Nhưng, không, thưa bác sỹ, không có
chuyện đó đâu.
- À, vậy ra chỉ tại yếu thôi, - bác sỹ nói. - Tôi sẽ cố hết sức
chữa chạy bằng tất cả vốn liếng y học của mình. Nhưng một khi bệnh nhận bắt đầu
tính có bao nhiêu xe dự tang lễ của mình thì tôi phải trừ đi năm mươi phần trăm
công hiệu cứu chữa của thuốc men. Nếu cô có thể làm cho cô ấy hỏi về những mốt
mới mùa đông, tay áo chẳng hạn, thì tôi chắc trong mười phần cô ấy đã khá lên
hai thay vì một như bây giờ. Sau khi bác sĩ ra về, Sue vào phòng làm việc, khóc
ướt đẫm cả chiếc khăn Nhật. Rồi cô bình tĩnh mang bảng vẽ vào phòng Johnsy,
miệng huýt sáo một điệu nhạc Jazz. Johnsy nằm, quay mặt về phía cửa sổ, tấm
chăn trên người hầu như không gợn vết nhăn nào. Sue ngừng huýt sáo bởi tưởng
bạn đã ngủ. Cô dựng bảng vẽ và bắt đầu vẽ bức minh họa cho câu chuyện tạp chí
bằng bút sắt. Những họa sĩ trẻ phải lát con đường đến nghệ thuật bằng các bức
tranh minh họa cho những truyện trên tạp chí do các cây bút trẻ đã lát xuống để
đến với văn học. Khi Sue đang vẽ phác chiếc quần dài cưỡi ngựa trang nhã và
chiếc kính một mắt cho nhân vật chính của truyện, anh chàng cao bồi Idaho, thì
cô nghe có tiếng thì thầm lặp đi lặp lại nhiều lần. Cô bước vội đến bên giường.
Mắt Johnsy mở to. Cô đang nhìn ra cửa sổ và đếm - đếm lùi lại. - Mười hai, - cô
đếm, ngừng một lát, - "mười một", rồi "mười",
"chín"; rồi gần như cùng một lúc "tám" và "bảy".
Sue lo lắng nhìn ra ngoài của sổ. Ðếm cài gì ở ngoài đó? Trong tầm mắt chỉ có
một cái sân trơ trụi, ảm đạm và bức tường trống trơn của ngôi nhà gạch cách
chừng sáu mét. Một dây trường xuân già, rất già, gốc cong queo và mục nát, leo
đến giữa bức tường gạch. Hơi thở lạnh lẽo của mùa thu đã bứt lá của nó ra khỏi
thân cho đến lúc chỉ còn trơ đám cành cây gần trụi hết lá bám vào những viên
gạch nẻ sứt.
- Cái gì vậy hả bạn? - Sue hỏi.
- Sáu, - Johnsy nói như thể là tiếng thì thào. - Giờ thì chúng
rụng nhanh hơn. Ba hôm trước phải gần cả trăm. Nó làm đầu mình phát đau lên khi
đếm. Nhưng bây giờ thì dễ rồi. Một chiếc nữa đã đi. Giờ chỉ còn năm.
- Năm cái gì hả bạn? Nói cho Sudie của bạn biết đi.
- Những chiếc lá. Trên cây trường xuân. Khi chiếc cuối cùng rơi,
chắc mình cũng ra đi. Mình biết điều đó đã ba ngày nay. Bác sĩ không nói gì với
bạn sao?
- Ồ, mình không nghe những chuyện nhảm nhí như vậy đâu, - Sue
trách với vẻ ân cần quả quyết. - Mấy chiếc lá trường xuân già đó thì có liên
quan gì đến việc bạn bình phục kia chứ? Tại bạn quá yêu các dây leo ấy, thế
đấy, bạn hư quá. Ðừng có nói dại nữa! À, sáng nay bác sỹ bảo mình rằng cơ hội
bình phục nhanh của bạn là - để mình nhớ chính xác lời ông ấy - ông nói cơ hội
chiếm đến chín phần mười! À, đấy là cơ hội gần chắc chắn như khi chúng ta đi ô
tô hay đi bộ vượt qua một tòa nhà mới ở New York. Bây giờ hãy cố ăn tí cháo và
để Sudie quay lại với bức vẽ, có thế thì bạn ấy mới có thể bán cho người biên
tập rồi mua rượu vang port cho cô bé ốm yếu của bạn và lườn lợn cho cái bụng
háu ăn của bạn ấy.
- Bạn không cần phải mua rượu vang nữa đâu, - Johnsy nói, mắt
vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ. - Một chiếc nữa rơi rồi. Không, mình không muốn ăn
cháo tí nào. Chỉ còn bốn chiếc lá. Mình muốn xem chiếc cuối cùng rụng trước khi
trời tối. Rồi mình cũng sẽ đi theo. - Bạn Johnsy yêu quý ơi, - Sue cúi người
xuống nói,
- bạn có hứa với mình là sẽ nhắm mắt và không nhìn ra ngoài cửa
sổ cho đến khi mình làm xong việc không? Mình phải nộp mấy bức này vào ngày
mai. Mình cần ánh sáng, nếu không thì mình đã buông rèm xuống.
- Bạn không thể vẽ ở phòng khác sao? - Johnsy hờ hững hỏi.
- Mình thích ở đây, bên bạn, - Sue đáp. - Hơn nữa mình không
muốn bạn cứ dán mắt vào những chiếc lá trường xuân ngớ ngẩn ấy. - Khi nào bạn
xong thì báo ngay cho mình nhé, - Johnsy nói, nhắm mắt lại và nằm im, tái nhợt
như một pho tượng đổ, - bởi vì mình mình muốn xem chiếc lá cuối cùng rụng. Mình
mệt mỏi vì chờ đợi. Mình rã rời vì suy nghĩ. Mình muốn tháo tung mọi thứ ràng
buộc và dong buồm lướt đi, lướt đi tựa như một trong những chiếc lá mòn mỏi
đáng thương kia.
- Hãy cố ngủ đi, - Sue nói. - Mình phải mời ông lão Behrman lên
làm mẫu bức người thợ mỏ già khắc khổ. Mình sẽ đi một chốc thôi. Ðừng cố di
chuyển cho đến khi mình quay lại. Ông lão Behrman là họa sĩ sống ở tầng trệt
bên dưới nhà họ. Lão đã ngoài sáu mươi, có bộ râu xoăn như bức tượng Moses của
Michael Angelo, lượn như tóc từ đầu của thần Satyr xuống thân hình một con quỷ
nhỏ. Behrman không thành công trong nghệ thuật. Ðã bốn mươi năm múa bút mà lão
chưa hề chạm tới được gấu áo Nữ thần của mình. Lão luôn ấp ủ ý định vẽ một kiệt
tác, nhưng vẫn chưa bắt đầu. Suốt nhiều năm nay, lão chẳng vẽ được gì ngoại trừ
thỉng thoảng làm mấy đường quảng cáo hay chào hàng. Lão kiếm được ít tiền bằng
cách ngồi mẫu cho mấy nghệ sĩ trẻ trong khu "hoạ sĩ" ấy, những người
không đủ tiền thuê người mẫu chuyên nghiệp. Lão uống gin quá độ, nhưng vẫn nói
về kiệt tác sắp vẽ của mình. Còn những lúc khác, lão là một lão già nhỏ thó
hung tợn, luôn chế nhạo tính nhu mì của bất kì ai và luôn tự xem mình như loại
khuyển đặc biệt, canh phòng bảo vệ hai nghệ sĩ trẻ ở xưởng vẽ bên trên. Sue tìm
thấy lão Behrman nồng nặc mùi rượu dâu nặng trong cái hang mờ tối của lão bên
dưới. Trong góc phòng, một tấm vải trống, căng sẵn trên giá, vẫn đợi suốt hai
mươi lăm năm nay chờ nét vẽ đầu tiên của bức kiệt tác. Cô kể cho lão nghe ý
nghĩ lạ lùng của Johnsy và cái cách bạn ấy thực sự đuối đi, sắp lìa tung như
một chiếc lá bay xa khi sự níu giữ mỏng manh của bạn ấy với thế giới này ngày
một yếu hơn. Lão Behrman, đôi mắt đỏ ngấn lệ, oang oang biểu lộ sự khinh thường
và công kích của mình trước chuyện tưởng tượng ngu ngốc như thế.
- Chà! Trên thế gian này còn có người ngốc đến độ muốn chết vì
những chiếc lá lìa xa cái dây leo dớ dẩn kia ư? Ta chưa bao giờ nghe chuyện nào
như thế cả. Không, ta sẽ không ngồi làm mẫu lão già đần độn khắc khổ ù lì của
cô đâu. Sao cô lại để cái chuyện ngu ngốc ấy chui vào óc của cô ta? Ôi, tội
nghiệp thay cho Johnsy bé bỏng.
- Bạn ấy ốm yếu lắm, - Sue nói, - và sốt đã làm đầu óc bạn ấy
đâm bệnh hoạn, đầy rẫy những ý tưởng hoang đường. Thôi được, bác Behrman à, nếu
bác không ngồi mẫu cho cháu thì cũng chẳng sao. Nhưng cháu nghĩ bác là một lão
già cục cằn, ba hoa, lọm khọm.
- Cô đúng là đồ đàn bà! - lão Behrman hét lên. - Ai bảo ta không
ngồi mẫu? Ði nào. Ta đi cùng cô. Ta đã nói suốt nửa tiếng đồng hồ rằng ta sẽ
làm mẫu rồi cơ mà. Lạy Chúa! Ðây không phải là nơi để một người tử tế như cô
Johnsy nằm dưỡng bệnh. Hôm nào đó ta sẽ vẽ kiệt tác đó và tất cả chúng ta sẽ
giã từ chốn này. Lạy Chúa! Ðúng đấy. Johnsy đang ngủ khi hai người lên gác. Sue
kéo rèm xuống che kín cửa sổ rồi ra hiệu cho lão Behrman sang phòng bên. Ở đấy,
họ lo lắng nhìn ra cửa sổ, về phía cây trường xuân. Rồi hai người im lặng nhìn
nhau một lát. Một cơn mưa lạnh, dai dẳng lẫn với tuyết đang rơi. Vận chiếc sơ
mi xanh cũ, Behrman ngồi trên cái ấm lật úp, giả làm hòn đá trong tư thế người
thợ mỏ khắc khổ. Sáng hôm sau, Sue thức giấc sau khi chợp mắt được một tiếng
đồng hồ, cô bắt gặp đôi mắt mở to, vô cảm của Johnsy nhìn trân trân vào tấm rèm
xanh nơi cửa sổ. - Kéo hộ nó lên đi; mình muốn nhìn, - cô thì thào giục. Sue
miễn cưỡng nghe lời. Nhưng, kìa! Sau một đêm mưa quật, gió mạnh lồng lộng không
ngớt, trên bức tường gạch kia chiếc lá trường xuân vẫn đứng nương vào vách. Ðấy
là chiếc lá cuối cùng. Vẫn xanh thẫm nơi gần cuống lá, nhung quanh rìa đã ngả
màu vàng sẫm và hư hoại; chiếc lá vững chãi bám chắc vào cành cây cách mặt đất
chừng sáu mét.
- Ðấy là chiếc lá cuối cùng, - Johnsy nói. - Mình tưởng chắc nó
đã rơi đêm qua rồi. Mình nghe tiếng gió. Hôm nay chắc nó sẽ rơi và lúc ấy mình
cũng sẽ chết.
- Bạn yêu quý, - Sue nói, mặt hốc hác cúi xuống gối, - nếu bạn
không nghĩ về bản thân thì hãy nghĩ đến mình. Mình biết làm gì bây giờ? Nhưng
Johnsy không trả lời. Trên cõi đời này, cái cô độc nhất là một linh hồn đang
chuẩn bị sẵn sàng để đi xa trên hành trình bí ẩn của nó. Ý nghĩ đó dường như
chế ngự cô mạnh hơn khi từng tí, sợi dây ràng buộc cô với tình bạn, với thế
gian này đang chùng ra. Ngày trôi qua và ngay đến khi trong ánh hoàng hôn họ
vẫn còn thấy chiếc lá trường xuân cô đơn bám chặt lấy thân cây tựa trên bờ
vách. Và rồi khi bóng đêm tràn đến, gió bắc lại lồng lên trong lúc mưa vẫn nặng
hạt quật vào cửa sổ, rơi xuống từ mái hiên thấp kiểu Hà Lan. Lúc trời vừa hửng
sáng, Johnsy tàn nhẫn yêu cầu kéo rèm lên. Chiếc lá trường xuân vẫn còn đó.
Johnsy nằm nhìn nó hồi lâu. Lát sau cô gọi nhẹ Sue, đang nấu cháo gà cho cô
trên cái bếp ga.
- Mình đúng là đồ tệ thật, Sudie à, - Johnsy nói. - Cái điều đã
khiến chiếc lá cuối cùng kia nằm đấy đã cho mình thấy mình là kẻ nhẫn tâm như
thế nào. Muốn chết là tội lỗi. Bây giờ bạn cho mình xin một tí cháo, ít sữa có
pha tí rượng vang, và... khoan đã, đưa cho mình chiếc gương tay trước rồi sắp
mấy cái gối quanh mình, mình sẽ ngồi dậy xem bạn nấu. Một giờ sau cô nói:
- Sudie à, hôm nào đó mình hi vọng sẽ vẽ vịnh Naples. Buổi chiều
bác sỹ đến, khi ông về, Sue kiếm cớ để theo ra hành lang.
- Thoát rồi, - bác sỹ nắm bàn tay gầy guộc run run của Sue và
nói. - Bằng tài chăm sóc khéo léo, cô đã chiến thắng. Bây giờ tôi phải đi thăm
một ca khác ở dưới lầu. Behrman, tên ông ấy... tôi chắc đó là một nghệ sĩ. Cũng
bị viêm phổi. Ông ấy đã già yếu mà bệnh tình thì lại nguy kịch. Không còn hi
vọng, nhưng hôm nay ông ấy sẽ nhập viện để được chăm sóc kỹ càng hơn. Hôm sau
bác sỹ bảo Sue:
- Cô ấy đã qua cơn hiểm nghèo. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần bồi
dưỡng và chăm sóc chu đáo, thế thôi. Chiều hôm ấy Sue đến bên giường, nơi
Johnsy đang nằm bình thản đan nhì nhằng chiếc khăn choàng len xanh thẫm và
choàng tay ôm lấy người Johnsy với cả đống gối.
- Mình có chuyện kể đây, chuột bạch này, - cô nói. - Hôm nay,
bác Behrman mất vì viêm phổi ở bệnh viện. Bác chỉ ốm có hai ngày. Sáng hôm đầu
tiên, người gác cổng đã thấy bác quằn quại đau trong phòng của bác nơi tầng
trệt. Giày và quần áo bác ướt sũng, lạnh băng. Họ không thể hình dung bác đã ở
đâu vào cái đêm khủng khiếp như thế. Rồi khi họ tìm thấy chiếc đèn lồng, hãy
còn sáng và cái thang đã bị kéo khỏi chỗ của nó, mấy chiếc bút lông vương vãi
và một bảng pha mầu với xanh vàng hòa lẫn, và... nhìn ra cửa sổ kia, bạn, chỗ
chiếc lá trường xuân cuối cùng ấy. Bạn không ngạc nhiên là tại sao nó chẳng hề
rung rinh hay di chuyển khi gió thổi? Ồ, bạn thân thương ơi, đấy là kiệt tác
của bác Behrman... bác vẽ nó ở đó vào cái đêm chiếc lá cuối cùng rơi.
➖➖➖
The Last Leaf
IN A LITTLE DISTRICT west of Washington Square the streets have
run crazy and broken themselves into small strips called 'places.' These
'places' make strange angles and curves. One street crosses itself a time or
two. An artist once discovered a valuable possibility in this street. Suppose a
collector with a bill for paints, paper and canvas should, in traversing this
route, suddenly meet himself coming back, without a cent having been paid on
account!
So, to quaint old Greenwich Village the art people soon came
prowling, hunting for north windows and eighteenth-century gables and Dutch
attics and low rents. Then they imported some pewter mugs and a chafing dish or
two from Sixth Avenue, and became a 'colony.'
At the top of a squatty, three-story brick Sue and Johnsy had
their studio. 'Johnsy' was familiar for Joanna. One was from Maine, the other
from California. They had met at the table d'hôte of an Eighth Street
'Delmonico's,' and found their tastes in art, chicory salad and bishop sleeves
so congenial that the joint studio resulted.
That was in May. In November a cold, unseen stranger, whom the
doctors called Pneumonia, stalked about the colony, touching one here and there
with his icy finger. Over on the East Side this ravager strode boldly, smiting
his victims by scores, but his feet trod slowly through the maze of the narrow
and moss-grown 'places.'
Mr. Pneumonia was not what you would call a chivalric old
gentleman. A mite of a little woman with blood thinned by Californian zephyrs
was hardly fair game for the red-fisted, short-breathed old duffer. But Johnsy
he smote; and she lay, scarcely moving, on her painted iron bedstead, looking
through the small Dutch window-panes at the blank side of the next brick house.
One morning the busy doctor invited Sue into the hallway with a
shaggy, grey eyebrow.
'She has one chance in - let us say, ten,' he said, as he shook
down the mercury in his clinical thermometer. 'And that chance is for her to
want to live. This way people have of lining-up on the side of the undertaker
makes the entire pharmacopoeia look silly. Your little lady has made up her
mind that she's not going to get well. Has she anything on her mind?'
'She - she wanted to paint the Bay of Naples some day,' said
Sue.
'Paint? - bosh! Has she anything on her mind worth thinking
about twice - a man, for instance?'
'A man?' said Sue, with a jews'-harp twang in her voice. 'Is a
man worth - but, no, doctor; there is nothing of the kind.'
'Well, it is the weakness, then,' said the doctor. 'I will do
all that science, so far as it may filter through my efforts, can accomplish.
But whenever my patient begins to count the carriages in her funeral procession
I subtract 50 per cent from the curative power of medicines. If you will get
her to ask one question about the new winter styles in cloak sleeves I will
promise you a one-in-five chance for her, instead of one in ten.'
After the doctor had gone, Sue went into the workroom and cried
a Japanese napkin to a pulp. Then she swaggered into Johnsy's room with her
drawing-board, whistling ragtime.
Johnsy lay, scarcely making a ripple under the bedclothes, with
her face toward the window. Sue stopped whistling, thinking she was asleep.
She arranged her board and began a pen-and-ink drawing to
illustrate a magazine story. Young artists must pave their way to Art by
drawing pictures for magazine stories that young authors write to pave their
way to Literature.
As Sue was sketching a pair of elegant horseshow riding trousers
and a monocle on the figure of the hero, an Idaho cowboy, she heard a low
sound, several times repeated. She went quickly to the bedside.
Johnsy's eyes were open wide. She was looking out the window and
counting - counting backward.
'Twelve,' she said, and a little later, 'eleven'; and then
'ten,' and 'nine'; and then 'eight' and 'seven,' almost together.
Sue looked solicitously out the window. What was there to count?
There was only a bare, dreary yard to be seen, and the blank side of the brick
house twenty feet away. An old, old ivy vine, gnarled and decayed at the roots,
climbed half-way up the brick wall. The cold breath of autumn had stricken its
leaves from the vine until its skeleton branches clung, almost bare, to the
crumbling bricks.
'What is it, dear?' asked Sue.
'Six,' said Johnsy, in almost a whisper. 'They're falling faster
now. Three days ago there were almost a hundred. It made my head ache to count
them. But now it's easy. There goes another one. There are only five left now.'
'Five what, dear? Tell your Sudie.'
'Leaves. On the ivy vine. When the last one falls I must go too.
I've known that for three days. Didn't the doctor tell you?'
'Oh, I never heard of such nonsense,' complained Sue, with
magnificent scorn. 'What have old ivy leaves to do with your getting well? And
you used to love that vine so, you naughty girl. Don't be a goosey. Why, the
doctor told me this morning that your chances for getting well real soon were -
let's see exactly what he said - he said the chances were ten to one! Why,
that's almost as good a chance as we have in New York when we ride on the
street-cars or walk past a new building. Try to take some broth now, and let
Sudie go back to her drawing, so she can sell the editor man with it, and buy
port wine for her sick child, and porkchops for her greedy self.'
'You needn't get any more wine,' said Johnsy, keeping her eyes
fixed out the window.
'There goes another. No, I don't want any broth. That leaves
just four. I want to see the last one fall before it gets dark. Then I'll go
too.'
'Johnsy, dear,' said Sue, bending over her, 'will you promise me
to keep your eyes closed, and not look out of the window until I am done
working? I must hand those drawings in by tomorrow. I need the light or I would
draw the shade down.'
'Couldn't you draw in the other room?' asked Johnsy coldly.
'I'd rather be here by you,' said Sue. 'Besides, I don't want
you to keep looking at those silly ivy leaves.'
'Tell me as soon as you have finished,' said Johnsy, closing her
eyes, and lying white and still as a fallen statue, 'because I want to see the
last one fall. I'm tired of waiting. I'm tired of thinking. I want to turn
loose my hold on everything, and go sailing down, down, just like one of those
poor, tired leaves.'
'Try to sleep,' said Sue. 'I must call Behrman up to be my model
for the old hermit miner. I'll not be gone a minute. Don't try to move till I
come back.'
Old Behrman was a painter who lived on the ground floor beneath
them. He was past sixty and had a Michael Angelo's Moses beard curling down
from the head of a satyr along the body of an imp. Behrman was a failure in
art. Forty years he had wielded the brush without getting near enough to touch
the hem of his Mistress's robe. He had been always about to paint a
masterpiece, but had never yet begun it. For several years he had painted
nothing except now and then a daub in the line of commerce or advertising. He
earned a little by serving as a model to those young artists in the colony who
could not pay the price of a professional. He drank gin to excess, and still
talked of his coming masterpiece. For the rest he was a fierce little old man,
who scoffed terribly at softness in anyone, and who regarded himself as
especial mastiff-in-waiting to protect the two young artists in the studio
above.
Sue found Behrman smelling strongly of juniper berries in his
dimly-lighted den below. In one corner was a blank canvas on an easel that had
been waiting there for twenty-five years to receive the first line of the
masterpiece. She told him of Johnsy's fancy, and how she feared she would,
indeed, light and fragile as a leaf herself, float away when her slight hold
upon the world grew weaker.
Old Behrman, with his red eyes plainly streaming, shouted his
contempt and derision for such idiotic imaginings.
'Vass!' he cried. 'Is dere people in de world mit der
foolishness to die because leafs dey drop off from a confounded vine? I haf not
heard of such a thing. No, I vill not bose as a model for your fool
hermit-dunderhead. Vy do you allow dot silly pusiness to come in der prain of
her? Ach, dot poor little Miss Yohnsy.'
'She is very ill arid weak,' said Sue, 'and the fever has left
her mind morbid and full of strange fancies. Very well, Mr. Behrman, if you do
not care to pose for me, you needn't. But I think you are a horrid old - old
flibberti-gibbet.'
'You are just like a woman!' yelled Behrman. 'Who said I vill
not bose? Go on. I come mit you. For half an hour I haf peen trying to say dot
I am ready to bose. Gott! dis is not any blace in which one so goot as Miss
Yohnsy shall lie sick. Some day I vill baint a masterpiece, and ve shall all go
avay. Gott! yes.'
Johnsy was sleeping when they went upstairs. Sue pulled the
shade down to the window-sill and motioned Behrman into the other room. In
there they peered out the window fearfully at the ivy vine. Then they looked at
each other for a moment without speaking. A persistent, cold rain was falling,
mingled with snow. Behrman, in his old blue shirt, took his seat as the
hermit-miner on an upturned kettle for a rock.
When Sue awoke from an hour's sleep the next morning she found
Johnsy with dull, wide-open eyes staring at the drawn green shade.
'Pull it up! I want to see,' she ordered, in a whisper.
Wearily Sue obeyed.
But, lo! after the beating rain and fierce gusts of wind that
had endured through the livelong night, there yet stood out against the brick
wall one ivy leaf. It was the last on the vine. Still dark green near its stem,
but with its serrated edges tinted with the yellow of dissolution and decay, it
hung bravely from a branch some twenty feet above the ground.
'It is the last one,' said Johnsy. 'I thought it would surely
fall during the night. I heard the wind. It will fall to-day, and I shall die
at the same time.'
'Dear, dear!' said Sue, leaning her worn face down to the
pillow; 'think of me, if you won't think of yourself. What would I do?'
But Johnsy did not answer. The lonesomest thing in all the world
is a soul when it is making ready to go on its mysterious, far journey. The
fancy seemed to possess her more strongly as one by one the ties that bound her
to friendship and to earth were loosed.
The day wore away, and even through the twilight they could see
the lone ivy leaf clinging to its stem against the wall. And then, with the
coming of the night the north wind was again loosed, while the rain still beat
against the windows and pattered down from the low Dutch eaves.
When it was light enough Johnsy, the merciless, commanded that
the shade be raised.
The ivy leaf was still there.
Johnsy lay for a long time looking at it. And then she called to
Sue, who was stirring her chicken broth over the gas stove.
'I've been a bad girl, Sudie,' said Johnsy. 'Something has made
that last leaf stay there to show me how wicked I was. It is a sin to want to
die. You may bring me a little broth now, and some milk with a little port in
it, and - no; bring me a hand-mirror first; and then pack some pillows about
me, and I will sit up and watch you cook.'
An hour later she said –
'Sudie, some day I hope to paint the Bay of Naples.'
The doctor came in the afternoon, and Sue had an excuse to go
into the hallway as he left.
'Even chances,' said the doctor, talking Sue's thin, shaking
hand in his. 'With good nursing you'll win. And now I must see another case I
have downstairs. Behrman, his name is -- some kind of an artist, I believe.
Pneumonia, too. He is an old, weak man, and the attack is acute. There is no
hope for him; but he goes to the hospital to-day to be made more comfortable.'
The next day the doctor said to Sue: 'She's out of danger.
You've won. Nutrition and care now - that's all.'
And that afternoon Sue came to the bed where Johnsy lay,
contentedly knitting a very blue and very useless woollen shoulder scarf, and
put one arm around her, pillows and all.
'I have something to tell you, white mouse,' she said. 'Mr.
Behrman died of pneumonia today in hospital. He was ill only two days. The
janitor found him on the morning of the first day in his room downstairs
helpless with pain. His shoes and clothing were wet through and icy cold. They
couldn't imagine where he had been on such a dreadful night. And then they
found a lantern, still lighted, and a ladder that had been dragged from its
place, and some scattered brushes, and a palette with green and yellow colours
mixed on it, and - look out the window, dear, at the last ivy leaf on the wall.
Didn't you wonder why it never fluttered or moved when the wind blew? Ah,
darling, it's Behrman's masterpiece - he painted it there the night that the
last leaf fell.'
➖ ➖ ➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét