2020-05-02
~Return to Belgium~
Virtual Reality (5)
😈 #5: 2019-09-16 ~🏫 Thăm trường cũ: ULB, UT, FPMs 🏫~
@Planning
Ngay
từ lúc mới manh nha ý tưởng quay trở lại Belgium, ai cũng mong thăm lại trường
cũ. Một phần vì lâu lắm rồi chưa quay lại (gần 40 năm) và một phần cũng muốn
cho vợ con đi cùng biết “chốn xưa”. Vẫn mơ hồ phỏng đoán “chốn xưa” có thể
không bằng “chốn nay” khi thế giới liên tục phát triển, nhiều lĩnh vực công
nghệ thay đổi hàng ngày. Nhưng “chốn xưa” là “mối tình đầu” của lũ cư học sỹ
chúng tôi. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy / Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên"
(Thế Lữ).
~
Các
cư học sỹ thời đó học ở nhiều trường, xin liệt kê các trường này theo thứ tự
ABC:
- Institut
Supérieur Industriel du Hainaut (Học viện Công nghiệp Cao cấp
Hainaut): Trường này nằm ở thành phố Charleroi (Sác-lơ-roa). Học viện này thuộc
tổ hợp của trường Université du Travail Paul Pastur (Đại học
Lao động, viết tắt là UT). Đây cũng là trường dự bị cho các cư học sỹ đến
Belgium năm 1978. Sinh viên cũ trường này có các cư học sỹ: Mr. Phạm
Mạnh Cổn, Mr. Nguyễn Đàm, Mr. Nguyễn Quốc Khánh, Mr. Trần Văn Thìn, Mr. Vũ Đức
Trọng và Mr. Nguyễn Văn Vinh.
- Institut
Supérieur Industriel de Tournai (Học viện Công nghiệp Cao cấp
Tournai): Trường này nằm ở thành phố Tournai (Tuốc-nê). Sinh viên cũ trường này
có các cư học sỹ: Mr. Nguyễn Tuấn Anh, Mr. Nguyễn Viết Hải, Mr. Nguyễn
Viết Khôi, Mr. Phạm Mạnh Lâm, Mr. Nguyễn Kỳ Phượng và Mr. Trương Tiến Thục.
- Polytechnique
de Mons (Bách khoa Mons, viết tắt là FPMs): Trường này nằm ở thành phố
Mons (Mông-xơ). Sinh viên cũ trường này có các cư học sỹ: Mr. Dương Văn
An, Mr. Đặng Quốc Anh, Mr. Trần Văn Điệt, Mr. Nguyễn Sĩ Huề, Mr. Nguyễn Ngọc
Hà, Mr. Phạm Hồng Hải, Mr. Lê Thái Hồng, Mr. Lê Đức Kiển, Mr. Vũ Xuân Minh, Mr.
Trần Hữu Nam, Mr. Phạm Văn Năng, Mr. Bạch Văn Thuần và Mr. Lê Văn Vọng.
- Université
de Liège (Đại học Liège, viết tắt là ULiège): Trường này nằm ở thành
phố Liège (Li-è-giơ). Sinh viên cũ trường này có các cư học sỹ: Mr.
Phạm Văn Năng (anh Năng học ở hai trường: trường này và trường Polytechnique de
Mons), Mr. Tạ Ngọc Long, Mr. Nguyễn Minh Tân (đã mất) và Mr. Ngô Trọng Vũ (đã
mất).
- Université
catholique de Louvain (Đại học Công giáo Louvain, viết tắt là
UCLouvain): Trường này nằm ở thành phố đại học Louvain-la-Neuve
(Lu-vanh-la-nơ-vơ). Tên Louvain-la-Neuve trong tiếng Pháp có nghĩa là thành phố
Lu-vanh mới – để phân biệt với một thành phố khác cũng có tên là Louvain. Sinh
viên cũ trường này có các cư học sỹ: Mr. Trần Quang Đẩu, Mr. Phạm Quang
Hà, Mr. Phan Huấn, Mr. Trần Văn Hùng, Mr. Mẫn Hoàng Hữu, Mr. Phan Đình Nhã, Mr.
Đặng Đình Quang và Mr. Mai Huy Thế.
- Université
Libre de Bruxelles (Đại học Tự do Bruxelles, viết tắt là ULB): Trường
này nằm ở thủ đô Bruxelles (Bờ-rúc-xen). Sinh viên cũ trường này có các cư học
sỹ: Mr. Lương Mạnh Bá, Mr. Trương Quốc Dũng, Mr. Vũ Đức Đam, Mr. Nguyễn
Khiêm, Mr. Lê Văn Lợi, Mr. Nguyễn Hồng Quang, Mr. Trần Quốc Trung.
~
Sau
nhiều lần bàn luận qua email, đoàn đi đến thống nhất là trong một ngày chỉ
đủ thời gian để đi thăm 3 trường. Đầu tiên là thăm trường Université
Libre de Bruxelles (ULB) ở Bruxelles, tiếp theo là trường Université
du Travail Paul Pastur (UT) ở Charleroi và cuối cùng đến thăm Polytechnique
de Mons (FPMs) ở thành phố Mons.
~
Thật
tiếc khi không thể đi thăm (và tham quan) thêm 3 trường nữa là Institut
Supérieur Industriel de Tournai, Université de Liège và Université
catholique de Louvain. Chúng tôi hiểu rằng mọi sự ở đời chẳng có gì là toàn
vẹn cả và biết chấp nhận cái mà mình có thể làm được 😊.
~
Lại
nói đến câu chuyện chuẩn bị cho chuyến thăm các trường. Việc liên hệ với các
trường dựa trên cơ sở tự nguyện.
-
Mr. Lê Văn Lợi liên lạc với thầy Guy Louchard - nguyên là chủ
nhiệm khoa Tin học trường ULB. Việc này cũng cần phải nói lời cảm ơn tới
thầy Raymond Devillers. Nhóm cư học sỹ ở Bruxelles đã có dịp được
đón hai vợ chồng thầy Devillers, cả ở Hà Nội và TP. HCM. Khi Mr.
Lợi liên lạc với thầy, do thầy bận đi nước ngoài vào thời gian đó nên thầy đã
giới thiệu thầy Guy Louchard.
-
Anh Nguyễn Đàm liên lạc với trường UT. Trên thực tế, anh Đàm đã huy động cả
“Ban Giám đốc” của UT ra đón đoàn: thầy Tổng giám đốc Van Koninckxloo chuẩn
y kế hoạch đón từ lúc xe đến khu ký túc xá sẽ có thầy Gaëtan Bangisa đón
đi ăn, rồi đến lúc thăm ký túc xá thì sẽ có thầy Daniel Verhaeghe giới
thiệu và khi đi thăm khu giảng đường thì sẽ có thầy Willy Pourcel.
Rất chu đáo.
-
Anh Lê Văn Vọng và anh Bạch Văn Thuần liên lạc với thầy Serge Boucher,
hiệu trưởng danh dự của FPMs. Thầy Serge Boucher đồng thời
cũng là cố vấn cao cấp cho Trung tâm đổi mới sáng tạo Multitel.
Thành ra, đến thành phố Mons, ngoài việc thăm lại trường cũ, chúng tôi cũng có
dịp đến thăm một trung tâm chuyên về R&D, do FPMs khởi xướng vào năm 1995.
-
@Visit_ULB
Hôm
16/9 là ngày khai trường của sinh viên Belgium – một lần nữa cảm ơn Ban tổ
chức, thật khéo sắp xếp. Brussels vẫn là thành phố đông dân và kẹt đường vào
giờ cao điểm. Trước cửa khách sạn Citadines Toison d’Or người
ta không cho đỗ xe nên đoàn hôm đó phải đợi sẵn ở cửa khách sạn và xe chỉ được
phép dừng lại không quá vài phút nên bắt buộc tất cả phải nhanh chóng lên xe.
~
Trên
đường đi đến khuôn viên Plaine của ULB, lan man nghĩ về thời
chân ướt chân ráo đến trường. Sinh viên trường ULB hồi xưa có tục lệ là quân cũ
(sinh viên năm thứ ba, thứ tư gọi là quân đỏ - trong tiếng Pháp là Rouge)
bắt nạt quân mới (sinh viên năm thứ nhất gọi là quân xanh – trong tiếng Pháp
là Bleu). Nhớ hôm đó là buổi học lần thứ hai hay lần thứ ba gì đó.
Sau khi kết thúc tiết thứ tư – tiết cuối cùng, tự nhiên thấy thông báo có tiết
học thêm, không nằm trong thời khóa biểu. Một bạn quân đỏ đóng vai giáo sư (sau
này biết bạn này đá bóng rất hay), có 2 bạn quân đỏ khác đóng vai trợ giảng,
một nam, một nữ. Nếu người viết nhớ không nhầm thì hôm đó các bạn ấy đặt tên
môn học là “Logique et illogique” (Logic và phi logic). Đầu tiên, “giáo
sư” yêu cầu một bạn nam lên bảng và trả lời câu hỏi đại loại như 7 + 3 bằng bao
nhiêu? Bạn này trả lời: tổng này bằng 10. “Giáo sư” lúc đó tỏ ra hơi chau mày,
và cho điểm 3/20 (ở Belgium chấm điểm 20). Đại ý “giáo sư” nói câu trả lời quá
“tầm thường” và chẳng có gì là logic cả nên chỉ cho chừng ấy điểm thôi. Gần như
cả lớp (trong đó có người viết) ồ lên phản đối. Có một vài tiếng cười khúc
khích (chắc là thuộc đội quân đỏ của “giáo sư”). Sau đó, bạn trợ lý mời lên
bảng một bạn khác (chắc là cùng đội với họ) và bạn ấy trả lời rằng kết quả có
thể là 10 hoặc có thể có rất nhiều kết quả khác tùy theo định nghĩa phép “+” là
như thế nào. Lập tức bạn trợ lý nữ đề nghị “giáo sư” cho 20 điểm (điểm tuyệt
đối). “Giáo sư” quay sang hỏi bạn trợ lý nam. Bạn này huyên thuyên một hồi, lý luận
rất rắc rối (cố tình), ở dưới hội trường chả ai hiểu bạn ấy nói gì nhưng “giáo
sư” lại cho là “tuyệt vời”! Lúc này có rất nhiều tiếng cười to. Một số sinh
viên không biết thực chất của màn kịch này đứng lên phản đối và bỏ ra khỏi giảng
đường. Các bạn “phản đối” này lập tức được các bạn quân đỏ đứng đón ở cửa và được
mời uống bia sau đó 😊. Quân đỏ tuy nghịch ngợm đôi chút nhưng
thật dễ mến.
~
Hẹn
thầy Louchard khoảng 8:30 nhưng phải đến 9:30 mới đến được bãi
đỗ xe của khuôn viên Plaine của ULB. Phải thú nhận rằng khuôn
viên Plaine của ULB bây giờ so với cách đây 40 năm … chả thay
đổi gì mấy. Vẫn những tòa nhà đấy, vẫn cánh cửa cũ cũ như hồi xưa, bãi cỏ vẫn
thế. Vẫn một không gian học đường, nghiên cứu. Mọi thứ vẫn tĩnh lặng, suy tư. Ở
Việt Nam chúng ta thường thấy rất nhiều thay đổi và không khí mọi nơi có chút
ồn ào, huyên náo. Khi sang đến đây thấy ít thay đổi, cũng có phần hơi ngạc
nhiên. Thế mới thấy họ đã phát triển đến một độ nào đó và từ mức độ đó sẽ rất
ít có sự thay đổi. Hoặc cũng có thể thấy châu Âu là lục địa già. Không biết
nữa.
~
Lại
nói về thầy Guy Louchard. Thầy gốc là giáo sư toán, sau đó thầy lập
ra Khoa Tin học (Département d'Informatique) của trường ULB. Vì là “cha
đẻ” ra khoa này nên mặc dù đã ở tuổi 80, nghỉ hưu đã lâu, thầy vẫn được cấp một
phòng làm việc giống như các giáo sư khác tại khoa, trên tầng 8 tòa nhà N.O.
(Chả thế mà trong thư cảm ơn gửi cho thầy sau này, người viết đã nhấn mạnh rằng
Khoa Tin học là “đứa con tinh thần” của thầy và thấy thầy mỉm cười, không nói
gì 😊.) Khi còn làm chủ nhiệm khoa, trước cửa
phòng của thầy luôn có câu “Presque rien n'est déjà infini”, trong tiếng
Pháp có nghĩa là “Gần như không có gì thì đã là vô tận”. Đây là một
triết lý về thế giới quan vũ trụ: một không gian dù nhỏ bé đến mấy đi nữa thì
vẫn là vô hạn. Ngoài đi dạy, thầy dành toàn bộ công sức cho nghiên cứu về toán
xác suất, thống kê và thuật toán máy tính. Thầy là một người mẫu mực về cống
hiến cho khoa học.
-
@Meeting_with_Prof_Louchard_and_Prof_Cardinal
Mặc
dù thầy Louchard đã bố trì phòng lớn trong tòa nhà N.O, nhưng
do số lượng người đông nên phòng vẫn có cảm giác hơi chật. Hôm đó, thầy Louchard nhờ
giáo sư Jean Cardinal giới thiệu về các hướng nghiên cứu của
Khoa Tin học gồm:
-
Nhóm nghiên cứu về thuật toán (Algorithmic)
-
Nhóm nghiên cứu về Học máy (Machine Learning), về Trí tuệ hành vi (Behavioural
Intelligence), về Dữ liệu lớn (Big Data Science), về Tin sinh học và
Sinh học điện toán (Bioinformatics and Computational Biology)
-
Nhóm nghiên cứu về Đồ thị và tối ưu hóa toán học (Graphs and Mathematical
Optimisation)
-
Nhóm nghiên cứu về Phương pháp hình thức và Xác thực (Formal Methods and
Verification)
-
Nhóm nghiên cứu về Chất lượng và Bảo mật của hệ thống thông tin (Quality and
Security of Information Systems)
-
Nhóm nghiên cứu về Kiến trúc song song cho các hệ thống Thời gian thực (Parallel
Architectures for Real-Time Systems)
~
Giáo
sư Cardinal trình bày có cảm giác như trong một hội thảo
chuyên môn sâu về công nghệ thông tin. Giáo sư không để ý rằng người nghe là một
nhóm hỗn hợp, và mục tiêu chính của nhóm này là … du lịch. 😊 Do thiếu thời gian nên chúng tôi đã phải rút ngắn để
còn có dịp tặng quà lưu niệm và một chút hội thoại ngắn với thầy Louchard.
Thầy Louchard cho biết là hiện nay, số người của khoa xấp xỉ
100 (so với khoảng 30 người thời đầu những năm 1980). Thầy tiễn chúng tôi ra
tận bãi đỗ xe và vẫy tay chào thân ái chúng tôi khi xe rời trường ULB để đi
thăm UT ở Charleroi.
~
À
quên, xin có đôi lời về ULB. Vì là học sinh trường ULB nên xin phép giới thiệu
thêm về Trường Đại học Tự do Brúc-xen (Free University of Brussels),
tiếng Pháp là: Université libre de Bruxelles.
Trường
ULB được luật sư Pierre-Théodore Verhaegen thành lập năm 1834.
Đến năm 1970 tách thành 2: trường dạy bằng tiếng Pháp vẫn lấy tên là ULB và
trường dạy bằng tiếng Hà Lan lấy tên Vrije Universiteit Brussel (VUB).
Cả hai trường đều giữ nguyên tên là Trường Đại học Tự do Brúc-xen.
Hiện
nay trường có hơn 24 nghìn sinh viên theo học, trong đó khoảng 1/3 là sinh viên
quốc tế. Trường ULB được xếp hạng trong khoảng từ 150 đến 175 trên toàn thế
giới, tùy theo tổ chức xếp hạng.
Trường
ULB có 3 khuôn viên đại học (campuses): khuôn viên Plaine là
nơi chúng ta vừa đến để gặp thầy Louchard, khuôn viên to nhất
là Solbosch trong đó gồm khu hành chính và rất nhiều khoa
khác, và một khuôn viên nữa có tên là Erasmus nằm ở quận Anderlecht (những
ai đam mê môn túc cầu chắc phải biết đến câu lạc bộ bóng đá Anderlecht).
Trường
ULB có 6 người đoạt giải Nô ben (Nobel Prize), xếp theo thứ tự tăng dần của
thời gian:
1. Henri
La Fontaine (1854–1943): Nô ben Hòa Bình 1913.
2. Jules
Bordet (1870–1961): Nô ben Y học 1919.
3. Albert
Claude (1898–1983): Nô ben Y học 1974.
4. Ilya
Prigogine (1917–2003): Nô ben Hóa học 1977.
5. François
Englert (sinh năm 1932): Nô ben Vật lý 2013.
6. Denis
Mukwege (sinh năm 1955): Nô ben Hòa bình 2018.
~
Để
tiện so sánh, cả nước Belgium cho đến thời điểm hiện nay chỉ có 10 người đoạt
giải Nô ben thì ULB đã đóng góp 5 người (ông Denis Mukwege trong
danh sách trên tuy học ở ULB nhưng là người Công-gô).
~
Một
trong những cựu sinh viên người Việt thành đạt và nổi tiếng của ULB là
anh Vũ Đức Đam, hiện là Phó thủ tướng Chính phủ Việt Nam.
~
ULB còn là nơi tổ chức hội
nghị lừng danh Solvay Conference. Solvay Conference tổ
chức 3 năm 1 lần (có một số lần bị gián đoạn do chiến tranh). Năm gần đây nhất
là 2017. Chủ đề chính của các hội nghị này là về Vật lý. Những ai quan tâm đến
vật lý có lẽ đều biết đến bức ảnh chụp Solvay Conference vào
tháng 10 năm 1927 (hội nghị lần thứ 5) gồm 29 nhà khoa học lừng danh mọi thời đại
(xem https://en.wikipedia.org/wiki/Solvay_Conference).
~
Được là sinh viên của ULB nên thơm lây 😊.
-
@Visit_Bois_de_la_Cambre
Trên đường đến Charleroi, đoàn nhân tiện ghé qua khu Bois
de la Cambre (Khu rừng hình cung). Khu thảm cỏ và cây xanh này được
thiết kế bởi một kiến trúc sư người Đức tên là Édouard Keilig vào
năm 1861. Nếu anh/chị dạo bước từ mép ngoài vào, anh chị sẽ thấy giữa công viên
có một hồ, giữa hồ có một cù lao có tên là Đảo Robinson (liên tưởng đến tiểu
thuyết Robinson Crusoe của nhà văn Daniel Defoe)
và trên đảo này lại có Chalet Robinson (Nhà gỗ Robinson). Vài
chục phút trên đảo này để mô phỏng 28 năm của Robinson giữa đảo hoang trùng
khơi. Mọi thứ đều rất nên thơ, đúng không ạ?
Điểm đặc biệt củ Bois de la Cambre là nơi này
chỉ cách 14 Guillaume Gilbert (nơi ở của các cư học sỹ
Brúc-xen những năm 1980) khoảng hơn cây số. Hồi ấy, khi các cư học sỹ các nơi
khác lên “thủ đô” chơi, các cư học sỹ Bruxellois thường dẫn họ ra đây đi dạo,
ngắm hồ, ngắm thiên nga, vịt giời ở giữa hồ. Hôm nay đoàn đến đây thì chủ yếu
là để chụp ảnh, để về sau khoe với anh em, bạn bè là trong chuyến du ngoạn đến
Belgium đã “check in” Bois de la Cambre 😊. Nếu
anh/chị nào khi quảng bá về du lịch Brussels, đừng bỏ qua công viên này nhé,
không ồn ào kiểu đô hội nhưng tĩnh lặng, thư thái, thanh bình.
-
@Visit_Lions_Mound
Ra khỏi Bois de la Cambre, chúng tôi đến ghé qua
chụp ảnh ở dưới chân Gò Sư tử (Lion’s Mound) ở khu Waterloo.
(Ngoài lề: tư dinh của Mdme. Chương Đài và Mr. Phan Ngọc Lân cũng ở
khu Waterloo. Hết ngoài lề.) Lion’s Mound là
biểu tượng ghi nhớ trận chiến huyền thoại Waterloo, nơi mà Napoleon
Bonaparte đã bị đánh bại bởi Liên minh thứ bảy (Seventh Coalition)
do Công tước Wellington chỉ huy.
~
Gò này được xây dựng trên một đồi nhân tạo cao 43 mét và có chu
vi chân đồi 520 mét. Trên đỉnh đồi có một bệ đá cao và trên bệ đá là tượng một
con sư tử. Sư tử tượng trưng cho lòng dũng cảm. Bàn chân phải của con sư tử đặt
lên một quả cầu. Đó là biểu trưng của chiến thắng toàn cầu. Từ chân đồi lên
đỉnh đồi là 226 bậc.
~
Đoàn chúng tôi không lên đỉnh đồi, chỉ đến chân đồi ngắm nghía,
chụp ảnh, post ảnh lên mạng xã hội (Facebook, Zalo) và coi như đã “check in”,
đúng theo trào lưu giới phượt thủ thời @. Khi chuẩn bị lên xe để đi Charleroi,
anh Nguyễn Văn Vinh kết luận: trong các loài sư tử thì sư tử có bờm là hiền
lành nhất. (Ý anh ấy so sánh các loại sư tử: sư tử có bờm, sư
tử đá và sư tử Hà Đông 😊.)
-
@Visit_UT
Nhìn vào bản đồ Google Maps, hóa ra từ Lion’s Mound đến
khu ký túc xá của trường UT chỉ khoảng 35 km và đi ô tô chỉ mất chừng 30 phút.
Đối với những ai hay “mơ về hồi xưa” thì tôi kèm theo bức ảnh dưới đây
của Cité estudiantine “La Vigie” (Ký túc xá sinh viên “Hoa
tiêu”). Mách nhỏ với anh/chị: tòa nhà 17 tầng này gần như cao nhất Charleroi
đấy; đứng trên mái có thể quan sát toàn cảnh thành phố; đoàn lưu học sinh năm
1978 học dự bị tại đây, các cư học sỹ thời đó lưu trú tại các tầng 13 và 16.
Ký túc xá sinh viên “Hoa tiêu”
~
Khi đến nơi, một cảm giác rất lạ là gần như mọi thứ ở đây chả
khác gì so với cách đây 40 năm. Vẫn thấy một số bạn sinh viên (bản địa lẫn quốc
tế) đứng lố nhố hoặc ngồi vắt vẻo trước cửa tầng trệt, tỏ vẻ hơi ngạc nhiên khi
thấy đoàn chúng tôi. (Chắc các bạn ấy đoán đoàn chúng tôi là phụ huynh đến
xem trước để đăng ký cho các cháu vào học, vì hôm đấy đúng là ngày khai trường 😊.)
~
Theo đúng kế hoạch, anh Nguyễn Đàm đến đón chúng tôi và mời vào
nhà hàng có tên là Restaurant estudiantin "La Mosaïque" (Nhà
hàng sinh viên “Tấm khảm”). Chú ý rằng từ “La Mosaïque” trong tiếng Pháp
còn có một nghĩa tương đối đặc biệt, có nghĩa là “Bộ sưu tập các bức ảnh của
sinh viên tốt nghiệp cùng ngành, cùng năm”. Người ta thật khéo đặt tên “La
Mosaïque”, để tên này gắn liền với đời sống học đường. Mà đúng thế, nhà
hàng này chỉ phục vụ giáo viên và học sinh trường UT, không phục vụ khách
ngoài. Sở dĩ hôm đó chúng tôi vẫn vào được nhà hàng này là nhờ anh Nguyễn Đàm
liên hệ lãnh đạo nhà trường từ trước nhằm tạo chúng tôi có dịp trải nghiệm bữa
ăn sinh viên. Hôm đó nhà hàng có món súp cà chua, món thịt băm hầm và khoai tây
nghiền (purée). Mỗi người cầm một cái khay, xếp hàng tuần tự chọn món.
Ăn xong thì tự dọn khay, đem đến chồng ở tầng xe đẩy. Không rõ những người khác
thế nào chứ hôm đó tôi thấy mọi thứ đều “đậm đà” (hơi mặn 😊).
~
Thực đơn bữa trưa của nhà hàng được thay đổi theo ngày trong
tuần, từ thứ Hai đến thứ Sáu và được thông báo trước một tuần. Thứ Bảy và Chủ
nhật, nhà hàng không mở cửa. Nhìn thực đơn, anh/chị chỉ thấy có 2 mục rất đơn
giản là món súp và món chính. Ngoài 2 món trên thực đơn, nhà hàng có một số lựa
chọn khác như nước uống, rau quả, tráng miệng. Các món này không thay đổi, lúc
nào cũng có sẵn nên không xuất hiện trên thực đơn. Thực đơn món chính thứ Sáu
thường là món cá. Đặc điểm này chắc xuất phát từ việc ăn chay của những người
theo Công giáo (thứ Sáu hàng tuần kiêng thịt).
~
Sau bữa trưa, chúng tôi được ông Daniel Verhaeghe dẫn
đi thăm khu ký túc xá. Người thân chúng tôi được dịp thị sát phòng có diện tích
10m2 mà chúng tôi tá túc cách đây 41 năm. Có cải tiến nhưng
không khác là mấy, vẫn giường, nệm, bàn làm việc, ghế, tủ, kệ, bồn rửa được sắp
xếp một cách tối giản. Khu dịch vụ chung có khá hơn trước: mỗi tầng đều có vòi
tắm hoa sen, khu vệ sinh, nhà bếp, máy giặt và máy sấy. Hồi xưa khu này chỉ
dành cho nam sinh viên, bây giờ không còn quy định này nữa. Hồi xưa chúng tôi
chỉ được phép tiếp khách ở tầng trệt, khách không được lên phòng của sinh viên.
Bây giờ không rõ có còn quy định này hay không.
~
Tầng 4 vẫn là không gian thư giãn có quán bar, bàn bi-a, bàn
bóng đá bằng tay (table football), bóng bàn, TV, phòng nghe nhạc. Thời
chúng tôi ở đấy (1978-1979), sau cơm tối là cùng nhau xuống xem thời sự và xem
thể thao. Thể thao thời đó chúng tôi thích xem bóng đá và tennis. Bóng đá thì
đã biết từ trước nhưng môn tennis (quần vợt) thì lúc đấy chúng tôi mới “vỡ vạc”
ra.
~
Các cư học sỹ hàng tuần vẫn tổ chức đá bóng ở sân kiểu footsal dưới
tầng hầm. Các anh “ham chơi” chia thành 2 đội, mỗi bên 5, 6 người. Các cầu thủ
“lừng danh” thời đó có anh Trần Hữu Nam, anh Phạm Hồng Hải, anh Vũ Xuân Minh,
anh Trần Quốc Trung, anh Đặng Quốc Anh. Sau khi chơi, chúng tôi được uống bia
bàn (tiếng Pháp: bière de table, tiếng Hà Lan: tafelbier).
Nói thêm về bia bàn. Bia này chỉ có ở Belgium, độ cồn chỉ từ 1% đến 2.5%, có
màu vàng nhạt hoặc đen huyền. Bia bàn nhạt hơn bia hơi Hà Nội, mặc dù bia hơi
Hà Nội chính gốc (hầm ủ ở Hoàng Hoa Thám) đã là nhạt rồi. Sau khi chơi
thể thao, uống bia bàn này rất mát, giải nhiệt.
~
Sau khi thăm khu ký túc xá, chúng tôi tạm biệt ông Daniel
Verhaeghe và tiếp đó được thầy Willy Pourcel dẫn đi
giới thiệu về tòa nhà Gramme và khu giảng đường.
~
Một vài dòng về UT. L'Université du Travail Paul Pastur (Đại
học Lao động Paul Pastur), tuy tên là đại học nhưng trên thực tế đây là một tổ
chức giáo dục hỗn hợp gồm cả trung học, giáo dục dạy nghề và đại học. Ông Paul
Pasteur thành lập UT với sứ mệnh lúc đó là đào tạo hướng nghiệp và
phục vụ công nghiệp hóa cho tỉnh Hainaut và vùng lân cận. Tinh
thần và linh hồn của trường là lao động. Khi đi từ quảng trường Jules
Hiernaux, anh/chị sẽ bắt gặp bức phù điêu với đề tựa bằng tiếng Pháp: “Ce
qui frappe dans l'accomplissement des grands labeurs humains c'est la ténacité
l'esprit de la suite l'inlassable patience qu'ils réclament” (xem ảnh). Câu
này rất khó (?!), tôi dịch đại như thế này: “Điểm nổi bật trong thành tựu
của những người lao động vĩ đại là tinh thần kiên định với mục tiêu đã đề ra”.
Các chuyên gia hàng đầu về tiếng Tây như anh Lê Văn Vọng, anh Nguyễn Đàm, Mdme.
Đỗ Thị Chương Đài, Mr. Phan Ngọc Lân, Mr. Nguyễn Hồng Quang, Mr. Trần Hữu Nam
(…) hỗ trợ nhé. Đối với những ai chưa thạo tiếng Pháp thì tạm thời chấp nhận
đại ý rằng, bức phù điêu này ca ngợi tinh thần lao động của con người. Thì loài
người chả tiến hóa thông qua lao động là gì 😊!?
Bức phù điêu góc quảng trường Jules Hiernaux
~
Thầy Willy Pourcel dẫn chúng tôi đi một vòng
qua tượng Paul Pastur, cổng và lối vào tòa nhà Gramme,
giới thiệu và giải thích cho chúng tôi về sự ra đời của tòa nhà Gramme,
tòa nhà Solvay, tòa nhà Roullier, khu hành chính, thư
viện. Sau đó thầy dẫn vào hành lang tòa nhà Gramme là khu mô
phỏng & phòng thí nghiệm cơ điện. Khi đến một giảng đường đang có lớp học,
thầy bảo chúng tôi đứng đợi ở ngoài. Hóa ra lúc đó thầy vào đàm phán với giáo
sư đang lên lớp để cho đoàn chúng tôi vào để “trải nghiệm” một giờ học của
sinh viên UT. Đương nhiên chúng tôi chỉ vào đó khoảng 5 phút, mọi người tản ra
tìm các bàn học còn trống và ngồi như một sinh viên đang tham dự lớp học. Khi
hết giờ chia tay thầy, chúng tôi còn loanh quanh chụp ảnh và bàn tán trước khi
lên xe đi đến thành phố Mons để thăm FPMs.
~
Hiển nhiên, khi sống ở Charleroi, chúng tôi không
chỉ đóng khung trong bốn bức tường ký túc xá hoặc loanh quanh trong giảng
đường. Những ngày ở Charleroi là thời gian đầu chúng tôi tiếp
cận văn hóa xứ Belgium. Phải nói tuy Charleroi là thành phố,
nhưng văn hóa ở đây có rất nhiều nét “xưa”, “quê”, “bảo thủ” thật dễ mến. Ở các
thành phố lớn như Brúc-xen, có một cái gì đó xa cách chứ không cảm thấy gần gũi
như ở đây. Điển hình như khu ký túc xá hồi xưa rất “nghiêm và kỷ cương”: nam
riêng, nữ riêng, khách không được lên phòng riêng, buổi tối không được về muộn.
Hay như khi chúng tôi gặp người lớn tuổi, người già họ đều gọi chúng tôi là “Mes
enfants” (Các con) một cách trìu mến. Chúng tôi trải nghiệm mùa đông tuyết
rơi đầu tiên, semaine blanche (tuần lễ trắng) ở đây. Lang
thang các cửa hàng “window shopping” hay vào siêu thị mua thì ít mà ngắm
nghía tò mò thì nhiều cũng là ở đây. Lạ lẫm nhìn các đôi tình nhân trẻ ôm hôn
nhau ngoài đường, cũng lại là ở đây. Rất nhiều những cái đầu tiên. Nhiều lắm,
không kể hết được. Những cái đầu tiên thường khắc sâu trong tâm khảm của chúng
ta. Chắc phải nhờ đến bộ nhớ của anh Nguyễn Quốc Khánh để viết “Lược biên sự
kiện BelUnion ở Charleroi” và phải lập “Chỉ dẫn” ở cuối sách thì may
ra mới liệt kê hết được!
~
Trong chuyến trở lại Charleroi lần này, chúng
tôi đã không đủ thời gian để đến tham quan Hôtel de Ville (Tòa
Thị chính) có Bảo tàng Nghệ thuật ở tầng 2. Bên cạnh Tòa Thị chính còn có tháp
chuông Art Deco cao 70 mét. Trên đỉnh tháp chuông này, cứ 15
phút thì có 47 tiếng chuông vang lên trên nền giai điệu bài “Pays de
Charleroi” (Xứ sở Charleroi) của tác giả Jacques Bertrand. Jacques
Bertrand quê ở Charleroi. Cũng lưu ý thêm với anh/chị: tháp
chuông Art Deco nằm trong Danh sách Di sản Thế giới
của UNESCO (Belgium có 33 và Pháp có 23 tháp chuông).
~
@Visit_Multitel
Tạm biệt UT, chúng tôi đến trung tâm nghiên cứu Multitel,
hẹn gặp thầy Serge Boucher ở đó. Đường cũng không xa lắm, tính
từ UT chỉ khoảng 50 km và chỉ hơn nửa tiếng đồng hồ chúng tôi đã đến nơi.
~
Trung tâm Multitel được FPMs (Bách
khoa Mons) thành lập năm 1995. Lúc đầu trung tâm tập trung vào nghiên cứu mạng
máy tính, quang tử (photonics), xử lý tiếng nói. Sau này, họ mở rộng
sang một số lĩnh vực khác như thị giác máy tính (computer vision), chứng
thực tín hiệu đường sắt. Ngoài trụ sở ở Mons, Multitel còn có
văn phòng ở Tournai và Lille (Pháp). Điểm đặc
biệt của Multitel là phi lợi nhuận, hoạt động dựa vào ủy nhiệm
của doanh nghiệp vùng Wallonie (vùng nói tiếng Pháp của
Belgium) và là điểm gắn kết giữa hàn lâm và thực tiễn.
~
Hôm đó thầy Boucher tổ chức đón chúng tôi rất
long trọng, xem đoàn chúng tôi như một đối tác tiềm năng trong tương lai 😊. Đầu
tiên thầy nghe anh Lê Văn Vọng thay mặt đoàn giới thiệu từng cựu sinh viên (và
gia đình). Sau đó thầy tổ chức một hội thảo (séminaire). Thầy
đứng ra làm MC và phát biểu khai mạc. Tiếp theo thầy giới thiệu một nữ diễn giả
trình bày một cách khái quát về trung tâm nghiên cứu Multitel, có
slides đi kèm được trình chiếu trên projector. Diễn giả này trình bày một cách
say sưa về các hoạt động của trung tâm từ ủy nhiệm của các doanh nghiệp thông
qua các dự án: hỗ trợ quy trình đổi mới sáng tạo, đồng bộ hóa & hướng dẫn
công nghệ, kiểm tra kỹ thuật, nghiên cứu khả thi, tạo mẫu (prototype)
& sản xuất loạt nhỏ, thực nghiệm ý tưởng mới, chuyển giao công nghệ, đào tạo
theo chương trình (đào tạo đại trà) và đào tạo tại chỗ (in-house). Đoàn
chúng tôi cũng nghe say sưa, nhưng người viết đoán, phần nhiều trong đoàn đều
là người ngoại đạo … về khoa học 😊.
~
Đoàn chúng tôi tặng thầy Boucher một quà lưu
niệm, thầy lại tặng cho các madame và các cháu nữ trong đoàn mỗi người một thỏi
sô cô la tươi nhãn hiệu Neuhaus có thắt nơ! Nhân gói quà này
lại nói thêm đôi ba dòng về sô cô la Neuhaus. Có lẽ chúng ta ai
cũng biết Belgium là xứ sở của sô cô la, rằng Jean Neuhaus đã
mở một cửa hàng bào chế vào năm 1857 tại Galeries Royales, gần
Grand Place (Bruxelles), bằng cách phủ sô cô la lên thuốc (dược phẩm) để người
bệnh uống dễ hơn. Nhưng ít người biết là bà Louise Agostini, vợ của Jean
Neuhaus đệ nhị, tức là cháu dâu của Jean Neuhaus, đã đăng
ký bằng sáng chế hộp gói quà sô cô la có tên là ballotin vào
năm 1915, cách đây hơn 100 năm. Điểm đáng chú ý và khâm phục: bà Louise
Agostini đã ý thức được rằng nhãn hiệu hàng hóa là sở
hữu trí tuệ (Intellectual Property) từ rất sớm! Không tin
anh/chị cứ tham khảo tư vấn anh Trần Hữu Nam hoặc công ty luật Tran
H.N. & Associates về sở hữu trí tuệ, về bằng sáng chế và nhãn hiệu
hàng hóa thì sẽ rõ 😊!
Một mẫu bao bì của sô cô la Neuhaus
-
@Visit_FPMs
Tạm biệt Multitel, chúng tôi đến thăm FPMs,
cách Multitel chỉ khoảng 3 km. Theo nhận xét của mấy anh
Montois (người sống ở thành phố Mons) thì cơ bản cảnh vẫn như xưa, nhìn cảnh
vật này vẫn làm cho các anh ấy sống lại “một thời”!
~
Đầu tiên chúng tôi đến khu ký túc xá. Qua khu đón tiếp, đến quán
sinh viên chúng tôi gặp một nhóm đang hát đồng ca. Chúng tôi hòa vào nhóm này
và mỗi người được phát một bản sao chép lời bài hát. Nhạc thì chúng tôi không
biết, thực chất chúng tôi hát là phụ họa các bạn trẻ ấy bằng cách đọc theo họ.
Lời bài hát này như sau (nguyên bản tiếng Pháp, bản dịch ra tiếng Việt là của
người viết, mục tiêu dịch là để cho những người không biết tiếng Pháp tham khảo
thôi, các chuyên gia tiếng Pháp góp ý nhé):
|
Chant de la Polytech - Mons |
Bách khoa Mons ca |
|
Refrain: |
Điệp khúc: |
|
|
|
|
En notre Wallonie, il est une faculté |
Ở Wallonie của chúng tôi, có một khoa |
|
Où l'on n'craint pas la vie, de l'étudiant guinsé. |
Sinh viên chuột lang, chả sợ quái gì cả |
|
Quand dans la guindaille, parmi les futailles, |
Đằng sau tấm kính kia, các thùng bia tô nô, |
|
La Polytech de Mons est là, on ne nous ignore pas. |
Bách khoa Mons ở đó, chúng tôi không bỏ qua. |
|
Et aux petites heures du matin, quand tous les gamins sont
mort pleins |
Và vào nửa đêm về sáng, khi tất cả bọn trẻ đều no say. |
|
La Polytech de Mons tient le coup, et on reste debout. |
Bách khoa Mons trụ vững, và vẫn đứng đó. |
|
On nous a dit: les études que vous faites |
Chúng tôi biết chứ: bài vở đang học |
|
Sont pas faciles, il faudra travailler, |
Không dễ đâu, cần phải chăm chứ, |
|
Vous ne serez pas toujours à la fête |
Bạn biết đấy, không phải lúc nào cũng hội hè |
|
Si vous ne voulez pas vous faire péter. |
Nếu bạn không muốn bị hụt hơi. |
|
Mais pour un étudiant, c'est pas une vie |
Nhưng đời sinh viên, đó không phải là cuộc sống |
|
Que de bloquer sans cesse et sans arrêt, |
Bị ngăn chặn vô tận và liên hồi, |
|
J'm'en fous et j'suis en Polytechnique |
Tôi đách quan tâm và tôi đang ở Bách khoa |
|
Pour m'amuser, pour boire et guindailler (bis) |
Để vui chơi, uống và nhậu nhẹt (hai lần) |
|
|
|
|
Et quand nous nous éveillons, midi sonne |
Và khi chúng tôi tỉnh dậy, chuông trưa reo vang |
|
Il est trop tard, encore trois cours brossés. |
Đã quá muộn, thêm ba bài học nữa. |
|
Aucun regret, la bière est toujours bonne |
Không hối tiếc, bia vẫn ngon quá |
|
Et nous attend au bistrot d'à côté. |
Quán rượu bên kia vẫn vẫy chào. |
|
Agités par un réflexe éthylique, |
Hơi men kích thích quá, |
|
On se lève et on va la déguster |
Chúng tôi thức dậy và nếm thử |
|
On est entré à la Polytechnique |
Chúng tôi vào trường Bách khoa |
|
Pour s'amuser, pour boire et guindailler. (bis) |
Để vui chơi, uống và nhậu nhẹt. (hai lần) |
|
|
|
|
Et quand nous sortirons de notre rêve |
Và khi chúng ta thoát khỏi giấc mơ |
|
Une triste vie pour nous va commencer: |
Một cuộc đời buồn cho chúng ta sẽ bắt đầu: |
|
La femme, les gosses et puis la crève |
Đàn bà, những đứa trẻ rồi cái chết. |
|
Ne cesserons pas de nous emmerder. |
Chúng ta sẽ không ngừng buồn chán. |
|
Profitons-en, le temps passe si vite |
Hãy tận hưởng, thời gian trôi nhanh lắm |
|
On n'meurt qu'une fois, c'est là la vérité. |
Con người chỉ sống một đời thôi, đó là sự thật. |
|
On est rentré à la Polytechnique |
Chúng tôi đã trở lại trường Bách khoa |
|
Pour s'amuser, pour boire et guindailler. (bis) |
Để vui chơi, uống và nhậu nhẹt. (hai lần) |
Bắt chước ý lời bài hát trên, mời anh/chị nhại lại đoạn cuối: chúng
tôi đã trở lại trường Bách khoa Mons _ ngắt nhịp _ để vui
chơi, uống và hồi tưởng đời sinh viên xứ này. (bis) 😊.
~
Tiếp theo, chúng tôi đến thăm lại khu giảng đường. Nhìn ảnh (ở
dưới) anh/chị dễ dàng nhận thấy khu này gồm ba tòa nhà xếp theo hình chữ U.
Điểm khác biệt so với các tòa nhà thông thường khác là cả ba dãy tòa nhà đều có
một loại cây dây leo bám vào các cửa sổ tạo một khung cảnh cổ kính, tĩnh lặng,
thanh bình và thân thiện với thiên nhiên. Tôi đã hỏi các chuyên gia về thực vật
trong đoàn nhưng không ai biết tên loài dây leo này là gì.
Khu giảng đường Bách khoa Mons (FPMs)
~
Sau khi dạo một vòng các giảng đường, chúng tôi thảnh thơi ngồi
chụp ảnh, trò chuyện tại các ghế băng ở sân trường. Xin có một đôi dòng về
FPMs.
~
FPMs là trường đại học lâu đời nhất của thành phố Mons và là
trường Kỹ nghệ dân dụng (civil engineering) đầu tiên ở Belgium (1836).
Ban đầu tên của trường là École des Mines (Trường Mỏ). Tháng 1
năm 2009, FPMs nhập với Đại học Mons-Hainaut thành Đại học
Mons (UMons). Trường đào tạo kỹ sư công nghệ, thạc sỹ khoa học (MSc.) và
tiến sỹ khoa học ứng dụng. Trường có 4 đơn vị nghiên cứu phát triển:
• Multitel:
như đã được giới thiệu ở trên. Lĩnh vực nghiên cứu của Multitel là điện tử,
viễn thông, công nghệ thông tin;
• Materia
Nova: Trung tâm nghiên cứu về vật liệu mới như Điện tử hữu cơ, Cảm biến hóa
học, Ăn mòn, Lớp phủ điện hóa, Công nghệ Plasma, Polyme và vật liệu tổng hợp, …
• INISMa (INstitut Interuniversitaire
des Silicates, Sols et Matériaux): Viện liên đại
học về Silicat, Đất và Vật liệu. Lĩnh vực chính của đơn vị này là nghiên cứu về
môi trường;
• CETIC:
Trung tâm nghiên cứu về công nghệ thông tin và truyền thông. Lĩnh vực nghiên
cứu của đơn vị này là Dữ liệu lớn, Điện toán đám mây, Internet vạn vật, Kiểm
soát chất lượng phần mềm, An toàn an ninh các hệ thống thông tin.
~
Thật ra thì anh/chị cũng đừng nên nhức đầu với các lĩnh vực
nghiên cứu người viết đã liệt kê ở trên. Đại loại chỉ cần biết là họ gắn việc
học hành nghiên cứu với thực tiễn cuộc sống. Họ học hành nghiêm túc nhưng cuộc
sống sinh viên cũng vui chơi hết mình.
-
@Visit_Grand_Place_de_Mons
Hết thăm trường, chúng tôi thư thái dạo bước đi tham quan Grand
Place của thành phố Mons. Anh Lê Văn Vọng làm hướng dẫn viên (tour
guide). Tuy là “thổ dân” ở đây rồi nhưng anh Vọng vẫn cẩn thận in một tệp
giấy lăm lăm cầm trên tay. (Chúng ta dễ nhận thấy anh ấy là nhân viên hợp đồng
của Sở Du lịch thành phố Mons 😊.) Theo
thói quen, anh ấy hoa chân múa tay say sưa giới thiệu thắng cảnh số một quê
hương của vợ mình (chị Dominique Coquillart là người ở Mons).
~
Thoạt đầu, chúng ta có cảm giác rằng Grand Place ở đây thoáng có
nét như các Grand Place khác ở Belgium hay các nước Tây Âu. Vẫn có các Terrace
Café ở quanh quảng trường. Vẫn có các du khách ngồi thong thả nhâm nhi
cà phê hoặc thưởng thức một cốc bia lạnh đặc sản của Belgium. Tuy nhiên, có 2
điểm khác biệt: đá nền ở đây hoàn toàn bằng đá cuội và anh chị nhớ sờ đầu tượng
chú khỉ con (Le petit singe) ở một góc quảng trường, nhớ là phải sờ bằng
tay trái để được hưởng “phúc” cho cả năm. Chú ý rằng “Le petit singe” là
biểu tượng của thành phố Mons đấy, từa tựa như “Manneken Pis” là biểu
tượng của Brussels vậy. Tất nhiên ở đây cũng có Hotel de Ville (Tòa
thị chính), rồi Nhà hát thành phố, Nhà nguyện Thánh George, Maison de
la Toison d’Or (Ngôi nhà Lông cừu vàng), … Anh Vọng còn dẫn chúng tôi
đến Jardin du Mayeur (Vườn Thị trưởng) ngay đằng sau Grand
Place và đi lòng vòng khu các nhà thờ.
Le petit singe
~
Có một thứ đặc biệt ở Grand Place mà hôm đó anh Vọng bắt chúng
tôi phải tưởng tượng (vì không đúng vào dịp lễ hội), đó là lễ hội Ducasse
de Mons. Lễ hội này có 2 phần: phần diễu hành diễn ra vào ngày
thứ Bảy và Trò chơi Thánh George diễn ra vào ngày Chủ nhật (thứ
Bảy và Chủ nhật của ngày diễn ra lễ hội được tính cách 57 ngày kể từ thứ Sáu Lễ
Phục sinh). Trò chơi này là cuộc đấu giữa Thánh George (đại diện
cho cái Thiện) và con rồng (đại diện cho cái Ác). Tất
nhiên là Thiện thắng Ác rồi, hẳn phải vậy 😊. Lúc
đầu Thánh George dùng cây thương để giết con rồng nhưng khi
cây thương đụng vào da của rồng là cây thương bị gãy. Loay hoay mãi, cuối
cùng Thánh George dùng súng bắn 3 phát, thế là rồng chết. (Thiện
cũng phải sử dụng đến vũ khí hiện đại để diệt trừ Ác 😊.) Đại
loại tích là như vậy, chi tiết ra thì còn dài lắm (nên nhớ rằng anh Vọng là
người hoạt ngôn).
-
@Barbecue_party_at_Thuan_Nhans_home
Theo hẹn, sau khi du ngoạn Grand Place là bữa tiệc chiêu đãi
thịt nướng ngoài trời (barbecue) tại tư dinh của Mr. Bạch Văn Thuần và
Mdme. Lê Thị Kiều Nhan, tại số nhà 123 phố Digue des Peupliers (Đê
chắn sóng Bạch dương). Đi bộ từ Grand Place về nhà anh Thuần chị Nhan mất
khoảng 15-20 phút. Lúc chúng tôi còn ở Grand Place thì trời còn tạnh nhưng trên
đường đến nhà anh Thuần chị Nhan thì trời lất phất mưa thu.
~
Đằng sau nhà anh Thuần chị Nhan có khu vườn nho nhỏ xinh xinh:
một khoảng trồng hoa, cây cảnh (ở đó nhiều loại hoa lạ mà các madame chuyên gia
cây cảnh trong đoàn chúng tôi cũng không biết), rồi đến một vườn “treo” – là
một giàn bầu (và một số loại hoa quả khác mà người viết không nhớ). Ngay ngôi
nhà, theo như anh Thuần “khoe”, hoàn toàn do “một tay” anh dựng lên: từ thiết
kế, xây, theo dõi công trình và nghe nói kể cả tham gia “đặt các viên gạch” vào
chỗ này, chỗ kia nữa. Đối với anh Thuần thì mỗi một đồ vật đều có đời sống tinh
thần của nó. Thiết kế không gian nơi ở, mua sắm đồ đạc trong nhà, chăm sóc cây
cối ngoài vườn – tất cả toát lên phong cách của gia chủ. Hẳn là thế rồi, đúng
không anh/chị?
~
Trở lại với bữa tiệc barbecue. Anh Thuần, chị Nhan
hôm đó phải “hy sinh” việc du ngoạn ngoài phố, ở nhà tất bật lo tiếp đón đoàn.
Khi chúng tôi đến nơi thì gần như mọi thứ đã xong. Nhưng mưa phùn có vẻ nặng hạt
hơn. Anh Thuần, chị Nhan đi ra, đi vào, thỉnh thoảng ngước nhìn các đám mây xa
xa, như có ý nhắc “Ông Trời ngừng mưa đi!”. Sau này, khi post lên
Facebook, anh Thuần, chị Nhan như thấy mình “có lỗi” với đoàn khi để trời mưa
phùn 😊. Chúng tôi lại cảm nhận khác. Đó là một bữa tiệc khác biệt, đặc
sắc. Giả thiết bây giờ đoàn yêu cầu tổ chức một bữa tiệc ngoài trời mà phải có
mưa phùn lất phất thì liệu anh Thuần, chị Nhan có dám chắc làm được hay không?!
~
Mọi người sà vào ba dãy bàn kéo dài, xung quanh đều là hoa (hoa
tự nhiên nhé, hoa đã mọc sẵn trong vườn, chứ không phải là mấy bó
hoa mua ở ngoài chợ về đâu). Không khí tiết mùa thu se lạnh. Đồ ăn có thịt nướng,
bánh mỳ và bia Jupiler. Trộm nghĩ, hồi xưa vua chúa không biết thế
nào, chắc cũng chỉ đến thế là cùng thôi chứ! 😊
~
Bữa tiệc có 2 tiết mục đặc sắc. Tiết mục thứ nhất là chị Trương
Thị Ly, (phu nhân anh Nguyễn Ngọc Hà) phát biểu cảm tưởng. Người viết
không nhớ chính xác nội dung chị Ly nói gì nhưng đại ý là cảm ơn gia chủ (anh
Thuần, chị Nhan) và chắc là ca ngợi các thành viên của BelUnion. Vì sao tôi lại
“dám chắc” như vậy? Vì trong bức ảnh post lên Facebook lúc chị Ly phát biểu,
anh Trần Hữu Nam lại comment là cảm ơn anh Nguyễn Ngọc Hà!?
~
Tiết mục thứ hai là pha hôn môi của cặp tình nhân – vợ chồng Mr.
Lê Văn Vọng và Mdme. Dominique Coquillart. Mọi người vỗ tay rần rần như trong
một hôn lễ. Kể ra, đến tuổi này mà vẫn giữ được “tình lãng mạn” như thế thật là
quý. Ý người viết không chê các cặp đôi khác đâu nhé, chỉ là
ngợi ca những gì mắt thấy tai nghe.
~
Mời anh/chị tham khảo bức ảnh cuối bữa tiệc hôm đó, với chú giải
tên của từng người. Nếu có sai sót thì anh/chị bỏ qua cho, vì tuổi này chuyện “lẫn”
cũng là chuyện thường ngày ở huyện.
Hàng ngồi từ trái sang:
1. Mdme. Đoàn Thị Thanh Hương (phu nhân của
Mr. Đặng Quốc Anh)
2. Mr. Phan Ngọc Lân (đồng Trưởng ban Tổ
chức BelUnion 2019)
3. Mr. Nguyễn Văn Vinh
4. Mr. Nguyễn Tuấn Anh (President à vie de
BelUnion)
5. Mr. Trần Văn Điệt
6. Mr. Trần Quốc Trung
7. Mr. Nguyễn Ngọc Hà
-
Hàng đứng từ trái sang:
1. Mr. Lê Hùng Chinh (bạn của Mr. Trần Hữu
Nam)
2. Mdme. Bế Thị Hồng Vân (phu nhân của Mr.
Lê Văn Lợi)
3. Mdme. Hoàng Thị Minh Thủy (phu nhân của
Mr. Nguyễn Văn Vinh)
4. Mdme. Đỗ Thị Chương Đài (Trưởng ban Tổ
chức BelUnion 2019)
5. Mdme. Trần Thị Hoàng Yến (phu nhân của
Mr. Lê Hùng Chinh)
6. Mdme. Lê Thị Kiều Nhan (phu nhân của Mr.
Bạch Văn Thuần)
7. Mdme. Nguyễn Thúy Liễu (phu nhân của Mr.
Trần Hữu Nam)
8. Mdme. Phạm Thị Lan Hương (phu nhân của
Mr. Ngô Trọng Vũ)
9. Mr. Trần Hữu Nam
10. Mdme. Vũ Thị Minh Hà (phu nhân của Mr.
Nguyễn Tuấn Anh)
11. Mr. Phạm Quang Hà
12. Mlle. Stéphanie (chauffeuse của
BelUnion 2019)
13. Mr. Lê Văn Vọng
14. Mr. Đặng Quốc Anh
15. Mr. Nguyễn Hùng Sơn (bạn của Mr. Trần
Hữu Nam)
16. Mdme. Dominique Coquillart (phu nhân
của Mr. Lê Văn Vọng)
17. Mr. Lê Văn Lợi
18. Mdme. Trương Thị Ly (phu nhân của Mr.
Nguyễn Ngọc Hà)
19. Mr. Bạch Văn Thuần
20. Mdme. Lê Thị Ngọc Lý (chị Ba của Mdme.
Lê Thị Kiều Nhan)
21. Mr. Chu Việt Dũng (phu quân của Mdme.
Lê Thị Ngọc Lý, anh rể của Mdme. Lê Thị Kiều Nhan)
~
Ảnh trên không đủ số người tham dự hôm đó, còn
3 cháu ngồi trong nhà không ra chụp ảnh ngoài vườn. Đó là:
1. Cháu Đặng Quốc Thái (con của Mr. Đặng
Quốc Anh và Mdme. Đoàn Thị Thanh Hương)
2. Cháu Trần Thúy Uyển Nhi (con của Mr.
Trần Hữu Nam và Mdme. Nguyễn Thúy Liễu)
3. Cháu Lê Hoàng Đức (con của Mr. Lê Văn
Lợi và Mdme. Bế Thị Hồng Vân)
~
Xin nhại thơ Nguyễn Bính để lưu lại “mối
tình” với trường xưa và cảm ơn bữa tiệc “độc nhất vô nhị” của anh Thuần,
chị Nhan:
~
Bữa ấy mưa thu phơi phới bay
Hoa thu lớp lớp rụng vơi đầy
Ngày hội BelUnion đến ngôi nhà nhỏ
Trời bảo: “Hãy cứ vui tối nay”
...
Lòng thấy giăng tơ bao năm cũ
Cùng bạn hữu ta giữa vườn xinh
Hình như hai má ta bừng đỏ
Có lẽ là ta nghĩ đến nhau?
...
Ta ngả tóc sương đón mưa rơi
Gió vuốt bàn tay lạnh khí trời
Mưa bụi nên ta không ướt áo
Chỉ là món nướng tẩm mưa thôi
...
Người ạ! Mùa thu đã cạn ngày!
Bao giờ ta lại gặp nhau đây?
Bao giờ hội BelUnion đi đến ngõ
nhỏ
Ðể Thuần-Nhan “barbecue tối nay”?
➖ ➖ ➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét