2020-10-03
Đôi mắt
Nam Cao
Anh
thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi:
-
Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây.
-
Cám ơn anh nhé. Lát nữa tôi sẽ sang nhà anh chơi.
Tôi
vỗ vai anh bảo vậy. Tôi toan vào. Anh vội ngăn tôi lại:
-
Khoan đã. Anh để em gọi cho anh trong nhà xích con chó lại. Con chó to và dữ
lắm.
Tôi
mở to đôi mắt, khẽ reo lên một tiếng thú vị. Tôi nhớ đến những lần đến chơi nhà
anh Hoàng ở Hà Nội. Bấm chuông xong, bao giờ tôi cũng phải chờ anh Hoàng thân
hành ra nắm chặt cái vòng da ở cổ một con chó tây to bằng con bê, dúi đầu nó
vào gầm cái cầu thang, rồi mới có đủ can đảm bước vội qua đằng sau cái đuôi nó
để vào phòng khách.
Tôi
rất sợ con chó giống Ðức hung hăng ấy. Sợ đến nỗi một lần đến chơi, không thấy
anh Hoàng ra đứng tấn để giữ nó lại buồn rầu báo cho tôi biết nó chết rồi, thì
mặc dầu có làm ra mặt tiếc với anh, thật tình thấy nhẹ cả người. Con chó chết
vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn
còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình. Không phải vì chủ nó không tìm nổi mỗi
ngày vài lạng thịt bò để nó ăn. Anh Hoàng là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng
là một tay chợ đen rất tài tình. Khi chúng tôi đến nơi chỉ còn một dúm xương và
rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu, con chó của
anh chưa phải nhịn bữa nào. Nhưng xác người chết đói ngập phố phường. Nó chết
có lẽ vì chén phải thịt người ươn hay vì hút phải nhiều xú khí. Thảm hại thay
cho nó.
Thế
mà bây giờ đến thăm anh Hoàng ở chỗ gia đình anh tản cư về, cách Hà Nội hàng
trăm cây số, tôi lại được nghe đến một con chó dữ. Thật là thú vị!... Tôi cười
nho nhỏ. Chẳng biết tôi cười gì, anh thanh niên cũng nhe răng ra cười. Ðáp lại
tiếng anh gọi, tiếng những chiếc guốc mỏng mảnh quét trên sân gạch nổi lên, lẹc
khẹc và mau mắn. Một thằng bé mũ nồi đen, áo len xám, chạy ra. Một đôi mắt đen
lay láy nhìn tôi...
-
Bác Ðộ, ba ơi! Bác Ðộ!...
Thằng
Ngữ, con anh Hoàng. Nó chẳng kịp chào tôi, ngoắt chạy trở vào, reo rối rít.
-
Cái gì? Cái gì? Hừm!
Tiếng
trầm trầm nhưng lại có vẻ nạt nộ của anh Hoàng hỏi nó. (Bao giờ nói với con,
anh Hoàng cũng có cái giọng dậm doạ buồn cười ấy). Thằng bé líu ríu những gì
tôi nghe không rõ. Rồi thấy tiếng thanh thanh của chị Hoàng giục con:
-
Ngữ xích con chó lại. Xích con chó lại cái cột tít đằng kia.
Anh
Hoàng đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả, bởi vì người khí béo quá, vừa
bước vừa bơi hai cánh tay kềnh khệnh ra hai bên, những khối thịt ở bên dưới
nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá. Cái dáng điệu nặng nề ấy, hồi còn
ở Hà Nội anh mặc quần áo tây cả bộ, trông chỉ thấy là chững chạc và hơi bệ vệ.
Bây giờ nó lộ ra khá rõ ràng trong bộ áo ngủ màu xanh nhạt, phủ một cái áo len
trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được.
Anh
đứng lại bên trong cổng, một bàn tay múp míp hơi chìa về phía tôi, đầu hơi ngửa
về đằng sau, miệng hé mở, bộ điệu một người ngạc nhiên hay mừng rỡ quá. Tôi có
thì giờ nhận rõ một sự thay đổi trên bộ mặt đầy đặn của anh: trên mép một cái
vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ.
Sửng
người ra một lúc, rồi anh mới lâm li kêu lên những tiếng ở trong cổ họng:
-
Ối giời ơi! Anh! Quý hoá quá!
Anh
quay lại:
-
Mình ơi! Anh Ðộ thật. Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng mình.
Chị
Hoàng lúc bấy giờ đã chạy ra, tay còn đang cài nốt khuy chiếc áo dài màu gạch
vừa mới mặc vội vào để ra đón khách. Người đàn bà vồn vã:
-
Mong bác mãi. Lúc thằng cháu mới chạy vào, nhà tôi cứ tưởng nó trông nhầm. Cứ
tưởng bác ở cách hàng mười lăm hai mươi cây số...
Bắt
tay tôi xong, anh Hoàng dịu dàng đẩy tôi đi trước. Chị vợ đã nhanh nhẹn chạy
trước vào nhà, dọn bàn dọn ghế. Sao lại có sự săn đón cảm động như thế được?
Tôi đâm ngờ những ý nghĩ không tốt của tôi về anh, từ hồi Tổng khởi nghĩa trở
đi. Sau Tổng khởi nghĩa, anh Hoàng đối với tôi đột nhiên nhạt hẳn đi. Mấy lần
tôi đến chơi với anh, định để xem anh thay đổi thế nào trong cuộc thay đổi lớn
của dân tộc chúng ta, nhưng đều không gặp anh. Cửa nhà anh đóng luôn luôn.
Thằng nhỏ nhà anh đứng bên trong cái cửa nhìn qua một lỗ con, bao giờ cũng hỏi
cặn kẽ tên tôi, để một lúc sau ra bảo tôi rằng ông nó không có nhà.
Mấy
lần đều như vậy cả nên tôi đã sinh nghi. Lần cuối cùng, trước khi bấm chuông,
tôi còn nghe thấy tiếng vợ chồng anh. Nhưng thằng nhỏ vẫn quả quyết rằng ông bà
nó về trại những từ tối hôm trước kia rồi. Ðã đích xác là anh không muốn tiếp
tôi. Chẳng hiểu vì sao. Nhưng từ đấy tôi không đến nữa. Mỗi lần gặp nhau ở
ngoài đường, chúng tôi chỉ bắt tay nhau một cách rất lạnh lùng, hỏi thăm nhau
một câu chiếu lệ, rồi ai đi đường nấy. Tôi đã biết Hoàng vẫn có tính tự nhiên
"đá" bạn một cách đột ngột, vì những cớ mà chỉ mình anh biết. Có khi
chỉ là vì một tác phẩm của người bạn ấy được cảm tình của một nhà phê bình đã
chê một vài tác phẩm của anh. Có khi cũng chẳng cần đến thế. Anh có thể là một
người bạn rất thân của anh Hoàng khi anh chỉ là một nhà văn ở tỉnh xa chỉ góp
mặt với Hà Nội bằng những bài gửi về đăng báo, nhưng nếu anh lại về sống hẳn ở
thủ đô, giao thiệp với ít nhiều nhà văn khác, anh sẽ không phải là bạn anh
Hoàng nữa. Có lẽ anh Hoàng biết cái giới văn nghệ sĩ Hà Nội chửi anh nhiều quá.
Riêng
tôi, trước đây, tôi vẫn không hiểu sao người ta có thể khinh ghét anh nhiều
thế. Tận đến lúc bị anh đá tôi mới hiểu. Tôi còn được hiểu rõ ràng hơn. Vào cái
hồi quân đội Ðồng minh vào giải giáp quân Nhật ở nước ta, một số gái kiếm tiền
trút bộ đầm ra để mặc bộ áo Tầu. Còn anh bạn của tôi, chẳng biết bám được ông
má chín nào, ra một tờ báo hằng ngày để chửi vung lên. Chửi hết cả mọi người
rồi anh mới lôi đến một số bạn cũ của anh ra. Toàn là những người hiền lành,
xưa nay chưa hề chạm đến một sợi tóc của anh. Nhưng tên họ trên những tờ báo
của phong trào giải phóng quốc gia được hoan nghênh làm ngứa mắt anh. Anh hằn
học mỉa họ là những nhà văn vô sản và cho họ là một bọn khố rách áo ôm đã đến
ngày mả phát, ăn mặc và tẩm bổ hết cả phần thiên hạ. Tôi cười nhạt. Không phải
tôi khó chịu vì những lời vu cáo của anh. Tôi khó chịu chính vì thấy đến tận
lúc ấy mà vẫn còn một số nhà văn Việt Nam dùng ngòi bút mình để làm những việc
đê tiện thế. Anh Hoàng vẫn là con người cũ. Anh không chịu đổi. Tôi đã tưởng anh
với tôi chẳng bao giờ còn thân mật với nhau trở lại... Nhưng sao gặp tôi lần
này anh lại hân hoan đến thế? Anh đã đủ thì giờ để lột xác rồi chăng? Hay cuộc
kháng chiến mãnh liệt của dân ta đã quét sạch khỏi đầu anh những cái gì cũ còn
sót lại? Thật tình, tôi rất cảm động khi nghe thấy anh kể lể:
-
Chẳng ngày nào chúng tôi không nhắc đến anh. Nguyên một hôm xem tờ báo của ông
hàng xóm thấy có bài của anh, tôi đoán anh làm tuyên truyền ở tỉnh này. Tiện
gặp một cán bộ về làng, tôi nhờ gửi cho anh một bức thư. Cũng là gửi cầu may.
Thật không dám chắc thư đến tay anh. Mà có đến, có lẽ anh nhiều việc, cũng khó
lòng về chơi với chúng tôi. Thế mà lại được gặp anh. Trông anh không lấy gì làm
khoẻ mà sao anh đi bộ tài thế? Mà sao anh lại tìm vào được đúng làng này? Hồi
mới đến đây, tôi ra khỏi nhà độ mươi bước là đã lạc. Nhiều ngõ quá mà ngõ nào
cũng giống ngõ nào. Có khi ra đồng về cũng nhầm ngõ...
Cái
nhà Hoàng ở nhờ có thể gọi là rộng rãi. Ba gian nhà gạch sạch sẽ. Hàng hiên
rộng ở ngoài. Sân gạch, tường hoa. Một mảnh vườn trồng rau tươi rười rượi. Xinh
xắn lắm. Thích nhất là gia đình anh được ở cả nhà. Chủ nhân cũng là người buôn
bán trên Hà Nội. Ông thường nhờ vốn liếng và mối hàng của vợ chồng anh. Còn gì
hơn là lúc này trả nghĩa lại nhau. Ông đã dọn sang nhà ông bố ở liền bên,
nhường lại nhà cho anh hoàn toàn sử dụng. Anh cho tôi biết thế và bảo tiếp:
-
Giá chúng tôi chưa tìm được nhà ông thì chưa biết ra sao. Tôi thấy nhiều người
tản cư khổ lắm. Anh tính có đời nào anh ruột tản cư về nhà em mà đến lúc vợ đẻ,
em bắt ra một cái lều ngoài vườn để đẻ!
Tôi
cho anh biết người nhà quê mình có tục kiêng...
-
Thì đã đành là vậy... Anh nói giọng tức tối và bất bình - Thì đã đành là vậy,
nhưng lúc này còn kiêng kỵ gì? Mà có những thế thôi đâu! Thấy anh bây giờ khổ
sở, em đã chẳng thương, lại còn xỉa xói, nhắc đến những lúc hoang phí trước để
mà xỉ vả. Nào "lúc có tiền thì chẳng biết ăn biết nhịn để dè, chỉ biết nay
gà mai chó!", nào "lúc buôn bán phát tài, bảo gửi tiền về quê tậu
ruộng vườn thì bảo không cần vườn ruộng, để tậu nhà ở tỉnh kia, bây giờ không
bám lấy nhà ở tỉnh đi?..." Tệ lắm! Anh tính mấy đời mới có một phen loạn
lạc thế này? Có tiền, thằng nào chẳng ăn chơi? Có mấy người cứ còm cọm làm như
trâu, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, ở thì chui rúc thế nào cho xong thôi,
để tiền mà tậu vườn, tậu ruộng như họ?
Chị
Hoàng tiếp lời chồng:
-
Họ làm chính chúng tôi cũng đâm lo. Có thể nói rằng trong một trăm người thì
chín mươi người cho rằng Tây không đời nào dám đánh mình. Mãi đến lúc có lệnh
tản cư tôi vẫn cho là mình tản cư để dọa nó thôi. Thế rồi đùng một cái, đánh
nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì chạy làm sao kịp? May mà còn vớt
vát được ít tiền, một ít hàng để ở cái trại của chúng tôi, ở ngoại thành. Khéo
lắm thì ăn được độ một năm. Ðến lúc hết tất nhiên là phải khổ rồi. Chỉ sợ đến
lúc ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ, lý ra thì có muốn ăn một con gà chưa
đến nỗi không mua nổi mà ăn, nhưng ăn lại sợ người ta biết, sau này người ta
nói cho thì nhục.
Họ
tàn nhẫn lắm cơ, bác ạ!
Anh
Hoàng cười:
-
Mà sao họ đã bận rộn nhiều đến thế mà vẫn còn thì giờ chú ý đến những người
chung quanh nhiều đến thế? Anh chỉ giết một con gà ngày mai cả làng này đã
biết. Này, anh mới đến chơi thế mà lúc nãy tôi đã thấy có người nấp nom rồi.
Ngày mai thế nào chuyện anh đến chơi tôi cũng đã chạy khắp làng. Họ sẽ kể rất
rạch ròi tên anh, tuổi anh, anh béo gầy thế nào, có bao nhiêu nốt ruồi ở mặt,
có mấy lỗ rách ở ống quần bên trái.
Tôi
mỉm cười, cắt nghĩa cho anh hiểu: lúc này họ cần để ý đến những người lạ mặt
tới làng. Tôi chắc mấy người nấp nom tôi là mấy người có trách nhiệm trong uỷ
ban mấy anh tự vệ.
-
Lại còn các ông ủy ban với các bố tự vệ nữa mới chết người ta chứ! Họ vừa ngố
vừa nhặng sị. Ðàn bà chửa mà đến nỗi cho là có lựu đạn giắt trong quần! Họ đánh
vần xong một cái giấy ít nhất phải mất mười lăm phút, thế mà động thấy ai đi
qua là hỏi giấy. Anh đi, hỏi. Anh về, hỏi, hỏi nữa. Anh vừa ra khỏi làng, sực
nhớ quên cái mũ, trở lại lấy, cũng hỏi rồi mới cho vào. Lát nữa anh ra, lại
hỏi. Hình như họ cho cái việc hỏi giấy là thú lắm.
Anh
cười gằn một tiếng, nhìn bao trùm cả người tôi, hỏi:
-
Anh sống ở nhà quê nhiều, anh có hiểu tâm lý của họ không? Anh thử cắt nghĩa hộ
tôi tại làm sao họ lại nhiêu khê đến thế?
Từ
trước đến nay, tôi chỉ hoàn toàn ở Hà Nội, thành thử chỉ mới biết những người
nhà quê qua những truyện ngắn của anh. Bây giờ gần họ, tôi quả là thấy không
nhịn được. Không chịu được!
Nỗi
khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn
lại như ngửi thấy mùi xác thối. Vợ chồng anh thi nhau kể tội người nhà quê đủ
thứ. Toàn là những người đần độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả. Cha
con, anh em ruột cũng chẳng tốt với nhau. Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới
bây giờ lại càng lố lăng. Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện
chính trị rối rít cả lên. Mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh
cáo, thực dân phát xít, phản động, xã hội chủ nghĩa, dân chủ với cả dân tân chủ
nữa mới khổ thiên hạ chứ! Họ mà tóm được ai thì có mà chạy lên trời! Thế nào họ
cũng tuyên truyền cho hàng giờ. Có lẽ họ cho những người ở Hà Nội về như vợ
chồng anh đều lạc hậu, chưa giác ngộ nên họ không bỏ lỡ một dịp nào để tuyên
truyền vợ chồng anh. Mà tuyên truyền như thế nào!...
Anh
trợn mắt bảo tôi:
-
Tôi kể cho anh nghe chuyện này thế nào anh cũng cho là bịa. Nhưng tôi có bịa
một tí nào, tôi chết. Một hôm, tôi đi chợ huyện chơi. Ở nhà đã hỏi đường cẩn
thận rồi, nhưng đến một ngã ba, lại quên béng mất, không biết phải rẽ lối nào.
Ðành đứng lại, chờ có người đi qua thì hỏi. Chờ mãi mới thấy một ông thanh niên
nghễu nghện vác một bó tre đi tới. Tôi chào rồi hỏi: "Ði chợ huyện lối
nào, ông làm ơn chỉ giúp tôi!" Anh ta trố mặt nhìn tôi chẳng rằng chẳng
nói, như nhìn một giống người lạ mới từ Hoả tinh rơi xuống. Tôi biết hiệu, rút
giấy đưa cho anh xem rồi lại hỏi. Bây giờ anh ta mới bảo: "Ông cứ đi lối
này, đến chỗ có một cây đa to thì rẽ về tay phải, đi một quãng lại rẽ về tay
trái, qua một cách đồng, vào đường gạch làng Ngò, vòng qua đằng sau đình, rẽ về
tay phải, đi một quãng nữa là đến chợ". Ðại khái thế, chứ không hoàn toàn
đúng thế. Chỉ biết là nó lôi thôi rắc rối, nhiều bên phải bên trái quá, đến nỗi
tôi không tài nào nhận được. Anh ta bày cho tôi một cách: đứng đợi đấy, gặp ai
gánh hàng đi chợ thì theo. Tôi cho là phải. Anh ta cười bảo: "Thôi thế
chào ông. Cháu vô phép ông đi trước. Cháu vội lắm. Cháu phải vác ngay bó tre
này lên Thượng để làm công tác phá hoại, cản cơ giới hoá tối tân của địch. Cuộc
trường kỳ kháng chiến của ta phải chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phòng ngự,
giai đoạn cầm cự, giai đoạn tổng phản công. Giai đoạn phòng ngự nghĩa
là..." Anh ta cứ thế, đọc thuộc lòng cho tôi nghe cả một bài dài đến năm
trang giấy.
Chị
Hoàng cười rú lên. Tôi cũng cười, nhưng có lẽ cái cười chẳng được tươi cho lắm.
Anh thấy cần phải thề lần nữa:
-
Tôi có bịa thì tôi chết. Mà tôi lại thề với anh rằng lúc ấy tôi ngạc nhiên quá,
không còn cười được, vả lại cũng không dám cười. Cười, nhỡ anh ta đánh cho thì
tai hại. Nhưng từ hôm ấy ngày nào tôi cũng bắt nhà tôi đóng cổng suốt ngày
không dám đi đâu nữa.
Tôi
cười gượng. Ðiều muốn nói với anh, tôi đành giấu kín trong lòng không nói nữa.
Tôi biết chẳng đời nào anh nhận làm một anh tuyên truyền nhãi nhép như tôi. Vả
lại dầu có rủ được anh làm như tôi, khoác cái ba lô lên vai, đi hết làng nọ đến
làng kia để nhận xét nông thôn một cách kỹ càng hơn cũng chẳng ích gì. Anh đã
quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi. Anh trông thấy anh thanh niên đọc
thuộc lòng bài "ba giai đoạn" nhưng anh không trông thấy bó tre anh
thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh
niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ nhìn
thấy cái ngố bề ngoài của nó mà không nhìn thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên
trong. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm,
người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản.
Tôi
biết lắm. Trước mặt người đàn anh trong văn giới ấy, tôi chỉ là một kẻ non dại,
mới tập tọng học nghề. Bởi vậy tôi không dám nói hết những ý nghĩa của tôi ra.
Tôi chỉ rụt rè và đưa ra vài điểm nhận xét:
-
Có nhiều cái kỳ lạ lắm. Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái bí mật
đối với chúng ta. Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi dã gần như thất vọng vì thấy họ
phần đông dốt nát, theo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương. Nghe
các ông nói đến "sức mạnh quần chúng", tôi rất nghi ngờ. Tôi vẫn cho
rằng đa số nước mình là nông dân, mà nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng
chưa làm cách mạng. Cái thời Lê Lợi, Quang Trung, có lẽ đã chết hẳn rồi, chẳng
bao giờ còn trở lại. Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngả ngửa người.
Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm cách mạng hăng
hái lắm. Tôi đã theo họ đi đánh phủ. Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ.
Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là "nựu đạn", hát Tiến quân
ca như người buồn ngủ cầu kinh, mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm. Mà
không hề bận tâm đến vợ con, nhà cửa, như họ vẫn thường thế nữa. Gặp họ, anh
không thể tưởng tượng được rằng chính những người ấy, chỉ trước đây dăm tháng,
giá có bị anh lính lệ ghẹo vợ ngay trước mặt cũng chỉ đành im thin thít mà đi,
đi một quãng thật xa rồi mới dám lẩm bẩm chửi thầm vài tiếng, còn bao nhiêu
ghen tức đành là đem về nhà trút vào má vợ.
Hoàng
nhếch một khoé môi lên, gay gắt:
-
Nhưng anh vẫn không thể chối được rằng họ có nhiều cái ngố không chịu được. Tôi
thấy có nhiều ông tự vệ hay cả vệ quốc quân nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn
làm chết người như bỡn. Nhiều ông cầm đến một khẩu súng kiểu lạ, không biết bắn
thế nào. Nước mình như vậy, suốt đời không được mó đến khẩu súng thì làm gì
biết bắn, họ đánh mãi rồi cũng biết. Thì cứ để cho họ đánh Tây đi! Nhưng tai
hại là người ta lại cứ muốn cho họ làm uỷ ban nọ, uỷ ban kia nữa, thế mới chết
người ta chứ! Nói thí dụ ngay như cái thằng chủ tịch uỷ ban khu phố tôi ở Hà
Nội lúc chưa đánh nhau, nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết
đánh tiết canh, chứ biết làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm uỷ ban? Ông chủ tịch
làng này, xem giấy của nhà tôi, thấy đề Nguyễn Thục Hiền, cứ nhất định bảo là
giấy mượn của đàn ông. Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải là thị này, thị nọ.
Chị Hoàng cười nhiều quá, phát ho, chảy cả nước mắt ra. Rút khăn tay lau nước
mắt xong, chị chép miệng lắc đầu, bảo tôi:
-
Giá bác ở đây thì nhiều lúc bác cũng cười đến chết. Thế mà ông chủ tịch ấy cứ
nằn nì mãi hai ba lượt, yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ hay làm tuyên
truyền giúp.
Anh
chồng tiếp:
-
Tôi chẳng có việc gì làm, lắm lúc cũng buồn. Nhưng công tác với những người như
vậy thì anh bảo công tác làm sao được? Ðành để các ông ấy gọi là phản động.
Muốn
lảng chuyện, tôi hỏi:
-
Lúc này nhiều thì giờ thế, chắc anh viết được. Anh đã viết được cái gì thú
chưa?
-
Chưa, bởi vì ngay đến một cái bàn viết ra hồn cũng không còn nữa. Nhưng thế nào
chúng mình cũng phải viết một cái gì để ghi lại cái thời này. Nếu khéo làm còn
có thể hay bằng mấy cái "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng. Phụng nó còn sống
đến lúc này phải biết!
Cơm
chiều xong vào lúc bốn giờ, Hoàng mời tôi cùng đi với vợ chồng anh đến chơi nhà
mấy người ở phố cũng tản cư về. Có đâu một ông tuần phu về hưu, một ông đốc học
bị thải hồi vì một vụ hiếp học trò, một cụ phán già trước đây chuyên môn sống
về nghề lo kiện, hay chạy cửu phẩm cho thiên hạ. Anh chẳng ưa gì họ bởi vì họ
chẳng biết gì đến văn chương nghệ thuật, chỉ tổ tôm là giỏi.
Nói
chuyện với họ chán phè. Nhưng nếu chẳng giao thiệp với họ thì cũng chẳng biết
đến chơi nhà ai được nữa... Anh vừa đi vừa tâm sự nhỏ với tôi như vậy, và thì
hầm kề sát tai tôi những cái thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời của từng người
một, trong khi chúng tôi bước chầm chậm để đợi chị Hoàng ra sau chúng tôi một
chút.
Chị
Hoàng rảo bước để theo kịp chúng tôi. Hai má đỏ ứng vì lửa bếp. Chị cắt nghĩa
sự chậm trễ của chị:
-
Tôi xem lại nồi khoai lang vui, để lát nữa về ăn. Ở đây cao lương mỹ vị chẳng
có gì, nhưng được cái thức ăn vặt thì sẵn. Bác ở chơi đây, mai tôi xem nhà ai
có mía to mua mấy cây về ướp hoa bưởi ăn thơm lắm.
Ðến
một cái cổng gạch lớn có dây leo, anh Hoàng giật dây chuông.
Một
thằng bé chạy ra, lễ phép chào:
-
Lạy ông!
-
Không dám. Cụ Phạm có nhà không cậu?
-
Bẩm ông, cụ sang bên ông đốc.
-
Sao thấy nói ông đốc ở đây từ sáng?
-
Bẩm không ạ! Sáng nay không thấy ông đốc sang chơi bên này.
Chúng
tôi quay trở lại. Qua mấy cái ngõ ngoằn ngoèo khác, đến một cái cổng gạch có
dây leo khác. Một chị vú ẵm em đứng cổng:
-
Lạy ông! Lạy bà!
-
Không dám. Ông đốc có nhà hay đi chơi vắng?
-
Bẩm ông, ông đốc con sang cụ tuần.
-
Sao bên cụ tuần bảo sang đây?
-
Bẩm ông, không ạ!
Anh
Hoàng quay ra. Ði được mấy bước, anh quay lại khẽ bảo vợ:
-
Các bố lại tổ tôm. Mụ Yên Kỷ cũng không có nhà, phải không?
Con
mụ ấy cũng là đệ tử tổ tôm hạng nặng. Chắc họ tụ tập ở đây hay ở bên nhà cụ
Phạm, sai người gác cổng.
Chị
Hoàng không có ý kiến gì. Anh Hoàng vỗ vai bảo tôi:
-
Anh nghĩ có buồn không? Tri thức thì thế đấy. Còn dân thì... như anh đã biết.
Tôi
thầm rủa sự tình cờ sao lại xô đẩy anh về đây cùng với bằng ấy thứ cặn bã của
giới thượng lưu trí thức. Sao anh không đi theo bộ đội, đi diễn kịch tuyên
truyền nhập bọn với các đoàn văn hoá kháng chiến để được thấy những sinh viên,
công chức sung vào vệ quốc quân, những bác sĩ sốt sắng làm việc trong các viện
khảo cứu hay các viện quân y, những bạn văn nghệ sĩ của anh đang mê mải đi sâu
vào quần chúng để học họ và dạy họ, đồng thời tìm những cảm hứng mới cho văn
nghệ?
Tôi
cười nhạt:
-
Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có lẽ đến hỏng à?
Anh
chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột:
-
Ấy đấy, tôi bi lắm. Cứ quan sát kỹ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì
tôi tin vào ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng
chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn
một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng
khổ cho ông Cụ lắm. Anh tính tượng trưng cho phong trào giải phóng cả một cái
đệ tứ cường quốc là Ðại Pháp, mà chỉ có đến thằng Ðờ-Gôn.
Tôi
nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến khác của Pháp, còn đáng tiêu biểu bằng
mấy Ðờ-Gôn. Anh lắc đầu:
-
Bằng thế nào được Hồ Chí Minh!
Và
anh tiếp:
-
Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi
nữa, ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp
định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mỹ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng
không thể nào bịp ông già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa là gì? Bệt lắm rồi. Không
có thằng Mỹ xúi thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3? Mình
cho nó như vậy đã là phúc đời nhà nó lắm rồi. Ðáng lẽ nó phải bám chằng chằng
lấy chứ?
Buổi
tối ăn khoai vùi xong, uống mấy tuần trà rồi đi nằm sớm. Anh sợ tôi đã đi hàng
mười cây số, lại ngồi nói chuyện suốt từ lúc đến, chắc không thể ngồi được nữa.
Vả lại tuy chưa buồn ngủ nhưng nằm đắp chăn cho ấm và buông màn cho khỏi muỗi
thì vẫn tốt. Hai cái giường nhỏ kề song song, cách nhau có một lối đi nhỏ. Màn
tuyn trắng toát. Chỉ trông cũng đã thấy thơm tho và thoải mái.
Hoàng
với tôi đi nằm trước. Một gói thuốc lá thơm và một bao diêm đặt ở bên cạnh cái
đĩa gạt tàn thuốc lá ở đầu giường. Tôi để nguyên cả quần áo tây và chỉ ngay
ngáy lo đêm nay một vài chú rận có thể rời sơ-mi tôi để du lịch ra cái chăn
bông thoang thoảng nước hoa. Mọi hôm tôi vẫn đắp chăn chung với anh em thợ nhà
in, cái giống ký sinh trùng hay phản chủ ấy, ở người tôi, không dám cam đoan là
tuyệt nhiên không có. Chị Hoàng thu dọn đồ đạc, đóng cửa, rồi đem một cây đèn
to lại chỗ cây giường chúng tôi, lấy ra một cái chai. Anh Hoàng trông thấy,
hỏi:
-
Mình thắp đèn to đấy à?
-
Vâng, tôi đổ thêm dầu đã.
Anh
Hoàng hỏi tôi:
-
Anh có thích đọc Tam Quốc không?
Tôi
thú thật là chưa bao giờ được xem trọn bộ.
-
Thế thì thật là đáng tiếc. Trong tất cả các tiểu thuyết Ðông Tây, có hai quyển
tôi mê nhất là Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Về cái môn tiểu thuyết thì thằng
Tàu nhất. Nhưng cũng chỉ có hai bộ ấy thôi. Thuỷ Hử cũng hay, chẳng kém Tam
Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Những tiểu thuyết khác hay đến đâu, anh cũng chỉ
đọc một lần. Ðọc đến lần thứ hai là giảm thú rồi. Nhưng Tam Quốc với Ðông Chu
thì đọc đi đọc lại mãi vẫn thấy thú như mới đọc.
-
Anh có hai bộ ấy ở đây không?
-
Bộ Ðông Chu mất ở Hà Nội, không đem đi được. Thế mới sầu đời chứ! Hận quá, may
mà bộ Tam Quốc lại để ở ngoại thành, đem đi được. Nếu không thì buồn đến chết.
Anh
gạt tàn thuốc lá rồi bảo tiếp:
-
Sở dĩ lúc này tôi hỏi anh là có thích đọc Tam Quốc không là vì mỗi tối trước
khi đi ngủ, chúng tôi có cái thú đọc một vài hồi Tam Quốc rồi mới ngủ. Nhưng
hôm nay anh không biết có nên bỏ cái lệ ấy đi không? Nếu anh thích nói chuyện
thì nghỉ một tối để chúng mình nói chuyện cũng chẳng sao.
Cố
nhiên là tôi mời vợ chồng anh cứ giữ lệ thường. Anh có vẻ mừng rỡ lắm:
-
Vâng, nếu anh cho phép thì ta cứ đọc. Chúng mình cùng nghe rồi lúc nào buồn ngủ
thì ta ngủ. Tôi trông anh hơi mệt có lẽ cần ngủ sớm. Không biết đèn sáng lại
đọc thế có phiền anh không?
Tôi
cho anh biết là tôi vẫn ngủ ngay trong nhà in, đèn sáng và máy chạy ầm ầm, ở
đây chăn ấm thế này thì dẫu súng có nổ ngay ở liền bên tôi vẫn ngủ ngon lành
lắm... Anh cười cùng cục trong cổ như một con gà trống:
-
Vâng, thế thì ta cứ đọc. Mình lấy ra đi.
Chị
Hoàng chạy lại bíp lấy một quyển sách bìa dày, gáy da, đem lại.
-
Mình đọc hay tôi đọc?
-
Mình đọc đi.
Chị
để cây đèn lên trên cái đôn thấp ở đầu giường, cởi áo dài lên giường nằm cạnh
thằng con đã chui vào chăn trước.
-
Hôm qua đọc đến đâu rồi nhỉ. Hình như...
-
Không cần, mình đọc lại cái đoạn thằng Tào Tháo nó tán Quan Công ấy. Thế nào?
Theo ý anh thì Tào Tháo có giỏi không?
Tôi
trả lời qua loa cho xong chuyện:
-
Tôi thấy nói là nó giỏi.
-
Giỏi lắm anh ạ! Giỏi nhất Tam Quốc. Sao nó tài đến thế.
Chị
Hoàng đã tìm thấy, bắt đầu cất tiếng thanh thanh đọc. Anh Hoàng vừa hút thuốc
lá vừa nghe. Mỗi khi đọc đến đoạn hay anh lại vỗ đùi kêu:
-
Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo.
➖ ➖ ➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét