2020-08-01
Một đám vào ngôi
Ngô Tất Tố
Nhà bác Cả Mão mọi ngày thường im phăng phắc,
hôm nay bỗng nhiên linh đình như đám giỗ nhỏ. Dưới cầu ao, hai người đàn ông
lực lưỡng đang châu đầu trên chiếc rổ thưa, tỉ mỉ nhổ từng sợi lông tơ cho một
con gà trong rổ. Trên bờ ao, một con chó xồm bị trói bốn chân, nhe răng nằm
trên vũng máu lênh láng. Cạnh nó, một nồi nước sôi khói bốc nghi ngút và bốn
năm người, cũng hạng đàn ông lực lưỡng, kẻ cầm gáo múc nước, người cầm dao sắp
sửa cạo lông. Từ cổng đến thềm, tấp nập những người đi lại. Tôi mới nhô vào đến
sân, bác Cả lật đật chạy ra đón lên nhà trên với một bộ điệu vui vẻ. Ở gian bên
kia, độ bảy tám ông ngổn ngang nằm vây một chiếc khay đèn thuốc phiện. Với
những cặp môi thâm xịt và dài vều, và những chiếc quần cháo lòng, áo ba-đờ-xuá
rách lòi khố tải, các ông ấy như muốn bảo cho tôi biết đây toàn là hạng kỳ dịch
kiêm tín đồ của đức chúa Phù dung. Dãy phản bên này, hai bàn tổ tôm kế nhau.
Bàn trong vang những tiếng ăn, tiếng phỗng, bàn ngoài đương ỏm tỏi cãi nhau về
sự đánh thấp đánh cao. Chủ nhân lễ phép mời tôi vào ngồi trong chiếc tràng kỷ
kê ở gian giữa, đối mặt với tòa bàn thờ hương khói vắng tanh. Mấy ông trong bàn
tổ tôm thi nhau nhìn tôi bằng nửa con mắt trông nghiêng, giữa khi vài ông ở bàn
thuốc phiện lần lượt ngóc cổ như đàn rắn lửa. Rồi thì ai nấy lại cùng theo đuổi
công việc của họ, người hút cứ hút, người đánh bài cứ đánh bài.
- Ông có lòng đến đây mừng cho nhà cháu, thật
là quý hóa! Xin mời ông xơi tạm chén nước.
Bác Cả Mão đương một tay gãi tai, một tay bưng
chén chè nụ đặt trước mặt tôi, bên bàn tổ tôm bỗng có tiếng gọi:
- Anh Cả đâu! Cho mượn hai đồng đánh thêm hội
nữa. Đen quá, cả hội chẳng ù ván nào!
Bằng một tiếng vâng đầy giọng thành tâm, bác
Cả Mão nhanh nhẩu chạy xuống nhà dưới, để tôi ngồi đó với bác Hai Thìn, một
người em ruột bác ấy. Thơ thẩn chưa biết nên nói chuyện gì, tôi có dịp nghĩ đến
cái câu của bác Cả Mão mới nói. Với bác, tôi chỉ là người trọ học ở nhà láng
giềng. Vì năng gặp bác, thành ra quen biết. Hôm nay là ngày "vào
ngôi" cho thằng con bác mới đẻ được ba tháng nay, bác vẫn mến tôi nên cố
mời tôi sang chơi. Ở làng khác, vào ngôi chỉ là một lệ rất thường, người ta phí
tổn độ vài ba chục, hay vài ba trăm quả cau là xong. Sao trong đám này lại có
cỗ bàn linh đình, và sao ở trước mặt khách, ông chủ lại nói đến câu "mừng
cho nhà cháu"? Hay là riêng với làng này, vào ngôi là một việc hỷ? Nếu
vậy, có lẽ mình phải mất một món tiền mừng. Óc tôi còn đương vẩn vơ, bác Cả Mão
đã ở nhà dưới chạy lên. Cung kính trao hai đồng bạc cho một ông trong bàn tổ
tôm, bác ấy tung tăng ra sân, khiến tôi không kịp nói chuyện. Dưới bếp, có
tiếng dao thớt ký cốc, mùi xôi ngào ngạt đưa lên nhà trên. Một ông trong đám
thuốc phiện dõng dạc cất cái giọng khàn khàn:
- Anh Cả đâu! Lên đây tôi bảo!
Một tiếng dạ lớn, bác Cả Mão từ sân vào thềm,
rồi khoanh tay đứng tựa vào cột:
- Bẩm cụ dạy gì con ạ? - Trưa lắm rồi đấy!
Liệu mà giục bảo chúng nó sắp đồ lễ mau lên! Rồi anh phải thân hành đến mời cụ
Điền lại chơi, kẻo cụ lại ăn cơm nhà.
Lại một tiếng dạ rất lễ phép, bác Cả rón rén
lui ra. Tiện dịp, tôi bảo bác ngồi xuống chỗ tôi ngồi và móc ví lấy một đồng
bạc mừng bác. Nhưng bác khăng khăng từ chối, nói rằng việc này không có lệ
mừng. Ngoài thềm có tiếng lẻng kẻng. Một người xách chiếc mâm đồng sáng choang
đặt lên cái bàn ở trước mặt tôi. Rồi một người khác để luôn thúng xôi vào đó.
Bác Cả Mão núc hai bàn tay như thầy phù thủy bắt quyết và nói với tôi:
- Bên này chật quá, mời ông sang nhà chú cháu.
Ông nhạc tôi cũng ở bên ấy. May quá, tôi đang muốn tránh cái bầu không khí khó
chịu. Nghe lời chủ nhân, tôi liền theo bác Hai Thìn đi luôn. Nhà này cũng thấy
lố nhố những người, nhưng toàn là người tôi quen. Qua một tuần trà, bác Hai
Thìn nhìn tôi và nói bằng giọng sung sướng:
- Anh tôi lo công việc này cho cháu tất cả
cũng hết đến trăm rưỡi bạc. Ấy là chúng tôi khôn khéo, xoay xở thì việc mới
xong, người khác ở vào địa vị chúng tôi, dù có mấy trăm, vị tất đã lo nổi! Câu
nói của bác khiến tôi hết sức ngạc nhiên:
- Sao nhà các ông hoang quá như vậy? Tôi thấy
người ta "vào ngôi" cho con chỉ tốn độ vài đồng bạc là cùng!
Bác Hai xua tay và nói bằng giọng thì thầm:
- Nào có phải hoang! Ông tính ở đời ai muốn
mất tiền! Đó là sự bất đắc dĩ. Nói giấu gì ông, nhà tôi không phải gốc gác ở
làng này. Ông thân chúng tôi ở vùng Nam lên đây sinh cơ lập nghiệp, rồi mới đẻ
ra anh tôi và tôi. Thế là tới ở làng này, nhà tôi mới ở có hai đời. Theo lệ nhà
quê, những người ngụ cư ba đời mới được "thành tổ". Nghĩa là được
ngang hàng với mọi người khác. "Làng này lại ngặt hơn nữa, từ xưa đến giờ
họ không cho một người ngoài nào nhập bạ. Vì thế, anh tôi và tôi cũng như ông
thân chúng tôi, đều không có ngôi ở đình. "Chắc ông cũng biết ở làng mà
không có ngôi, thật là một sự nhục nhã. Những lúc tứ quý kỳ phúc, người ta thì
phần ăn, phần gói, mình thì chẳng có miếng gì. Những lúc hội hè, đình đám,
người ta rước cờ, rước quạt, mình chỉ đóng vai khiêng chiêng. Như thế cũng đã
khổ rồi. Hơn nữa, lỡ có cha già mẹ héo, làng giáp có chôn cho đâu! Chính lúc
ông thân bà thân chúng tôi qua đời, anh em tôi đều phải nhờ cậy hàng xóm khiêng
giúp. Rồi khi xong việc, chúng tôi muốn theo mọi người nộp lệ cho làng con
trâu, họ cũng không thèm nhận cho. Cái đó mới cực cho chứ!
- Người ta không nhận thì càng khỏi mất. Việc
gì mà cực! Tôi mỉm cười và đáp một câu khôi hài như vậy. Bác Hai vẫn nói một
cách thật thà:
- Thế được còn nói gì nữa! Anh em chúng tôi,
trời cho trong nhà cũng đủ bát ăn, mỗi người cũng có được con trâu cày và dăm
mẫu ruộng. Thế mà không thể nộp được lệ làng cho cha và mẹ, tức là tiếng xấu để
đời... Mỗi khi nghĩ lại những nông nỗi ấy, anh tôi và tôi tức chết người đi
được. Trước đây, chúng tôi đã cố luồn lọt mấy ông đàn anh, để xin nhập bạ,
nhưng mà bấy giờ hãy còn cụ Bá, cụ ấy nghiệt lắm, nhất định bảo nhà tôi đến ở
làng này chưa được ba đời, không thể nhận lời. Chúng tôi đành phải cắn răng mà
chịu. Bởi vậy lần này anh tôi sinh được mụn cháu, lại may gặp lúc cụ Bá đã mất,
chúng tôi phải cố vào ngôi cho nó.
- Nhưng mà các ông tiêu những món gì mà hết
đến hơn trăm bạc?
Bác Hai càng hạ giọng xuống, sau khi liếc mắt
ngó qua những người chung quanh:
- Ông bảo những công việc ấy, nói bằng miệng
không được ư? Phải mất tiền cả đấy! Cụ chưởng lễ ba chục, ông chánh hội hai
chục, cụ lý trưởng mười lăm đồng, ông phó lý và ông phó hội mỗi người mười hai
đồng, thư ký, trưởng bạ, mỗi người mười đồng, hương trưởng, lý cựu, tộc biểu,
trương tuần mỗi người năm đồng. Những số tiền ấy hết ngoài trăm đồng rồi. Lại
còn ăn uống từ chiều hôm qua đến giờ...
- Nếu đã mất tiền cho họ thì thôi cái bữa ăn
uống có được không? Bày vẽ làm gì cho tốn?
Bác Hai lắc đầu: - Không được ông ạ! Ở chốn
thôn quê, ăn uống là sự đầu tiên. Muốn gì thì gì, hễ không có ăn thì việc không
thành. Lúc trước, anh tôi cũng nghĩ như ông, đã định chước sự ăn uống vì đã rắc
tiền khắp mặt chức dịch. Nhưng ông chánh hội không nghe. Ông ấy nói rằng thế
nào cũng phải đấm miệng cho các bô lão, và bọn trai đinh bò bướu một bữa. Nếu
không họ sẽ phá ngang, tất nhiên sẽ có cản trở.
Trước mặt có người đi qua, bác Hai ngừng lại
một lát chờ cho người ấy đi khỏi, rồi tiếp:
- Một bữa ăn này, ít ra anh tôi cũng phải tiêu
đến năm, sáu chục đồng. Vì kiêng tiếng làm thịt lợn, sợ rằng làng nước cho là
hứng mỡ, nên mới đi chợ mua thịt. Sự thực, mua thịt lại quá giết lợn. Sáng ngày
đi lấy vừa lòng lợn vừa thịt lợn tất cả mười một đồng bạc, đáng lẽ cũng đủ chàn
chát, nhưng cụ chưởng lễ thích ăn thịt cầy, nên ông lý trưởng bắt phải giết
thêm con cầy. Chẳng nhẽ mời dân mời làng ăn uống trong nhà, ngoài đình lại
không có gì. Bởi thế chúng tôi phải sửa cỗ xôi, con gà để ra lễ thờ. Bấy nhiêu
món hết ngót hai chục rồi. Còn tiền rượu, tiền thuốc phiện, còn tiền cung đốn
họ đánh tổ tôm. Ông đã biết rõ, mọi khi làng tôi có ai dám đánh "góp
một"? Lớn lắm chỉ "góp năm hào". Hôm nay vì tiền nhà chủ bỏ ra,
được thì ăn, thua không phải trả, nên họ hò nhau đánh góp hai đồng. Rồi đấy ông
xem, đến lúc đứng dậy, ai cũng thu hết, anh tôi đưa ra bao nhiêu mất hút bấy
nhiêu, chẳng lấy lại được đồng nào hết... Lúc nãy tôi nói trăm rưỡi, còn là hà
tiện, xong việc có lẽ hết hơn, chứ bấy nhiêu tiền không thể nào đủ.
Bác Hai còn muốn nói nữa. Bên nhà bác Cả chợt
nghe có tiếng ầm ầm, bác ấy lật đật xin lỗi đứng dậy:
- Mời ông ngồi chơi với các cụ tôi. Tôi phải
chạy sang bên kia. Làng đã vào rồi!
Tiếng ầm ầm bên nhà bác Cả mỗi lúc một to,
trước còn cười nói, sau đến quát tháo, cuối cùng thì đến những tiếng mách tục
mách qué. Lâu lâu cuộc xô xát lại dữ dội thêm, bác Hai Thìn hốt hoảng chạy về,
vừa thở vừa nói:
- Khổ quá, mấy ông bô lão lại còn bẻ vành bẻ
vẻ, nhất định nói rằng: hương ước không có chỗ nào nói cho người ngoài vào
ngôi. Cụ Điền hết sức giàn xếp không được. Ông chánh hội và ông lý trưởng bảo
anh tôi phải chồng hai chục đồng bạc -tiền ngay cốc cộc - để cúng vào nóc các
lão, thì việc mới yên. Thôi thế cũng còn là may.
Cuộc ăn uống kéo dài mãi đến gần tối, nhưng
không xảy ra sự gì nữa. Cách ba bữa sau, bác Cả Mão sang nhà tôi trọ, dạm bán
cho ông chủ nhà một mẫu hai ruộng, lấy trăm đồng bạc để trang công nợ. Vui vẻ
bác khoe với tôi:
- Tất cả, tôi lo hết gần hai trăm. Của nhà có
non một trăm, còn thì đều phải đi vay. Nhưng tôi cũng lấy làm hả. Từ nay trở
đi, cháu đã có ngôi đình, chúng tôi sẽ được ăn miếng thịt phần việc làng của
nó!...
➖ ➖ ➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét