2021-04-17
Nam Việt
Úy Đà Liệt Truyện
Tư Mã Thiên
Vua
Nam Việt họ Triệu tên là Đà người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Bấy giờ
nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm,
Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như
thế đã mười ba năm. Thời Tần, Đà được làm lệnh ở huyện Long Xuyên, thuộc quận
Nam Hải. Đến đời Nhị Thế, quan úy ở Nam Hải là Nhâm Ngao, ốm sắp chết, mời huyện
lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến nói:
-Tôi
nghe bọn Trần Thắng làm loạn. Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng
Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng đều dấy binh tụ tập quân sĩ, tranh giành
thiên hạ. Trung Quốc loạn lạc chưa biết lúc nào yên. Những người hào kiệt phản
Tần đều đứng lên cả. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây,
nên định dấy binh chặn đứt con đường mới [Đường Tần làm để đi thông đến Việt.]
để tự phòng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi. Nay gặp lúc ốm nặng. Đất Phiên
Ngung nhân thế núi hiểm trở, đất Nam Hải Đông Tây rộng vài ngàn dặm, lại có người
Trung Quốc giúp, cũng là nơi chủ chốt của một châu có thể lập thành nước được. Các
trưởng lại trong quận không ai có thể cùng bàn việc ấy nên tôi mời ông đến để
nói.
Ngao
liền làm chiếu giả cho Đà làm công việc của quan úy quận Nam Hải. Ngao chết, Đà
lập tức truyền hịch bảo các cửa quan Hoành Phố, Dương Sơn, Hoàn Khê rằng:
-Quân
giặc sắp đến, phải chặn ngay đường, tụ tập quân sĩ để tự bảo vệ.
Rồi
dần dần ông dùng hình pháp giết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra, dùng những
người đồng đảng để thay thế. Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm
lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt VũVương.
Sau
khi Hán Cao Đế bình định được thiên hạ, thấy Trung Quốc mới khổ nhục, cực nhọc,
nên tha Đà không trị tội. Năm thứ 11 (năm 196 trước Công nguyên), Hán sai Lục
Giả sang, nhân tiện phong cho Đà làm Nam Việt Vương, chặt phù để làm tin, cho
phép phái sứ giả đi lại với Trung Quốc, bảo phải hòa hợp với Bách Việt, không
được gây việc lo ngại ở biên giới phía Nam.
Nam
Việt giáp giới với quận Trường Sa. Thời Cao Hậu, quan đương sự xin cấm không
cho người Nam Việt vào mua đồ sắt.
Đà
nói:
-Cao
Đế lập ta làm vương, cho sứ giả cùng hàng hóa được đi lại. Nay Cao Hậu nghe lời
bọn bầy tôi gièm pha, cách biệt man di, cấm đứt khí vật. Đó chắc là mưu kế của
Trường Sa Vương. Ông ta muốn tìm cách dựa vào Trung Quốc, tiêu diệt Nam Việt để
làm vua cả đất của ta.
Đà
bèn tự tôn là "Nam Việt Vũ Đế", đem quân đánh các ấp ở biên giới quận
Trường Sa, đánh bại mấy huyện rồi đi. Cao Hậu sai tướng quân Lâm Hi Hầu tên là
Táo đến đánh. Gặp lúc trời nắng khí ẩm, quân lính bị bệnh dịch rất nhiều, nên
quân Hán không qua được núi Dương Sơn. Được hơn một năm, Cao Hậu mất, liền bãi
binh.
Đà
nhân đó dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước
Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình. Đất đai của Đà chiều ngang
có hơn vạn dặm. Đà bèn đi xe mui lụa mầu vàng cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là
"chế"⍟
[Xem Tần Thủy Hoàng bản kỷ chú thích.], chẳng kém gì Trung Quốc.
Năm
đầu thời Hiệu Văn Đế, thiên hạ mới yên. Nhà vua sai sứ đi bá cáo chư hầu, tứ di
biết rằng nhà vua ở đất Đại [Văn Đế trước đây là vua ở đất Đại.] về lên
ngôi, ý muốn nêu cao đạo đức của nhà vua. Nhân Đà có mồ mả cha mẹ ở huyện Chân
Định, nhà vua bèn đặt người giữ ấp để hàng năm đến ngày giỗ thờ cúng. Đối với
anh em họ của Đà, nhà vua ban ơn cho họ làm quan to và thưởng cho nhiều của.
Nhà vua xuống chiếu cho bọn thừa tướng là Trần Bình cử người có thể đi sứ sang
Nam Việt. Bình nói:
-Có
Lục Giản người huyện Hảo Chỉ, thời tiên đế đã quen đi sứ Nam Việt.
Vua
Hán bèn triệu Giả phong làm thái trung đại phu để đi sứ, nhân đấy trách Đà đã tự
lập làm "đế"⍟
mà không hề phái sứ giả sang báo tin.
Lục
Giả đến nơi, Nam Việt Vương sợ hãi, làm giấy tạ tội rằng: "Thần tên là Đà,
là một kẻ già ở man di. Ngày trước Cao Hậu gạt bỏ Nam Việt, thần trộm ngờ Trường
Sa Vương đã gièm pha thần. Lại nghe đồn Cao Hậu giết hết họ hàng Đà, đào mồ mả,
đốt hài cốt cha ông Đà. Vì thế nên liều mạng xâm phạm biên cảnh quận Trường Sa.
Vả lại phương Nam đất thấp, ẩm, dân man di ở vào giữa. Ở phía Đông đất Mân Việt
chỉ vẻn vẹn nghìn người, cũng xưng hiệu là "vương", ở phía Tây, nước
Âu Lạc là nước trần truồng, cũng xưng là "vương". Lão thần trộm dùng
bậy danh hiệu "đế"⍟
chỉ để tự vui [Lời nói rất xược.], chứ đâu dám để nói đến tai bệ hạ?".
Đà
bèn dập đầu xuống tạ tội, xin mãi mãi làm phiên thần dâng lễ cống. Rồi ra lệnh
trong nước:
-Ta
nghe nói "hai anh hùng không cùng sống, hai người hiền không cùng ở một đời",
Đức hoàng đế là bậc thiên tử hiền tài. Từ nay về sau mệnh lệnh không gọi là
"chế", bỏ xe mui lụa vàng và cờ tả đạo.
Lục
Giả về báo tin, Hiếu Văn Đế bằng lòng lắm. Đến thời Hiếu Cảnh, Đà vẫn xưng thần,
sai người vào chầu. Nhưng ở trong nước Nam Việt thì vẫn trộm dùng danh hiệu
"đế" như cũ, còn khi sai sứ sang thiên tử, thì xưng
"vương", triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu.
Đến
năm thứ tư niên hiệu Kiến Nguyên (năm 137 trước Công nguyên), Đà mất, cháu Đà
là Hồ làm Nam Việt Vương. Lúc bấy giờ vua Mân Việt là Dĩnh đem binh đánh các ấp
ngoài biên của nước Nam Việt. Hồ sai người dâng thư lên vua Hán, nói:
-Hai
nước Việt đều là phiên thần, không được đem binh đánh nhau. Nay nước Mân Việt
đem binh xâm lấn đất của thần, thần không dám đánh lại, xin đợi thiên tử chiếu
truyền cho việc ấy.
Thiên
tử bèn khen Nam Việt biết giữ chức phận mình, hứa sẽ đưa quân đến giúp, bèn sai
hai tướng quân đi đánh Mân Việt [Vương Khôi và Hàn An Quốc.]. Quân của
Hán chưa vượt núi Ngũ Lĩnh thì em của Mân Việt Vương là Dư Thiện đã giết Dĩnh để
hàng. Vì thế bãi binh.
Thiên
tử sai Trang Trợ sang Nam Việt hiểu dụ ý của nhà vua. Nam Việt Vương là Hồ dập
đầu xuống, nói:
-Thiên
tử vì thần mà đem quân đánh Mân Việt, thần chết không đủ để báo ơn đức ấy.
Bèn
sai thái tử là Anh Tề vào túc trực ở nơi cung cấm. Hồ bảo Trợ rằng: -Nước mới bị
cướp, sứ giả đi thôi.
Hồ
đang ngày đêm sắm sửa hành trang để vào triều kiến thiên tử. Sau khi Trợ đi rồi,
đại thần can Hồ rằng:
-Nhà
Hán dấy quân đánh Dĩnh cũng là làm cho Nam Việt hoảng sợ. Vả lại tiên vương trước
có nói: "Phụng sự thiên tử cốt không thất lễ, không nên nghe lời dỗ ngon dỗ
ngọt mà vào chầu". Nếu vào chầu thì không được về, đó là cái thế mất nước
đấy.
Vì
vậy Hồ mượn cớ bị bệnh nặng, thái tử Anh Tề xin về nước. Hồ mất, thụy là Văn
Vương, Anh Tề lên ngôi thay, lập tức giấu ngay ấn Vũ Đế của Triệu Đà.
Khi
Anh Tề vào làm túc vệ ở Trường An, có lấy người con gái họ Cù, người huyện Hàm
Đan, sinh người con là Hưng. Đến lúc Anh Tề lên làm vua, bèn dâng thư lên vua
Hán, xin lập Cù thị làm hậu, Hưng làm con nối nghiệp. Hán luôn luôn sai sứ giả
sang dỗ dành Anh Tề. Anh Tề thích hưởng lạc, tự ý giết người, sợ vào chầu phải
theo pháp luật của nhà Hán cũng như chư hầu ở Trung Quốc. Anh Tề bèn cố ý xưng
có bệnh, không vào triều, sai con là Thứ Công vào làm túc vệ.
Anh
Tề mất, thụy là Minh Vương. Thái tử là Hưng lên thay, mẹ làm thái hậu.
Thái
hậu từ khi chưa làm vợ của Anh Tề, đã dan díu với người huyện Bá Lăng là An Quốc
Thiếu Quý. Sau khi Anh Tề mất, năm thứ tư niên hiệu Nguyễn Đỉnh (năm 113 trước
Công nguyên), vua Hán sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ vương và vương thái hậu vào
chầu như các nước chư hầu. Vua Hán lại sai bọn biện sĩ là Chung Quân làm giám đại
phu đi theo để trình bầy, bọn dũng sĩ là Ngụy Thần đi theo để giúp khi cần thiết,
vệ úy là Lộ Bác Đức đem quân đóng đồn ở quận Quế Dương để đợi sứ giả.
Vương
tuổi còn nhỏ, thái hậu trước đã dan díu với An Quốc Thiếu Quý. Thiếu Quý sang sứ,
lại tư thông với thái hậu. Người trong nước biết, phần nhiều không theo thái hậu.
Thái hậu sợ có loạn, cũng muốn dựa vào uy thế nhà Hán mấy lần khuyên vua cùng
các quan xin nội thuộc. Nhân có sứ giả nhà vua dâng thư, xin được làm chư hầu ở
Trung Quốc, cứ ba năm một lần vào chầu, hủy bỏ các cửa ải nơi biên giới. Thiên
tử ưng thuận. Thiên tử cấp cho thừa tướng của vương là Lữ Gia ấn bằng bạc cùng
các ấn nội sử, trung úy thái phó. Còn các chức khác thì tự đặt lấy. Bỏ hình phạt
cũ chạm vào trán, cắt mũi, dùng pháp luật của nhà Hán, coi như chư hầu ở Trung
Quốc. Các sứ giả đều ở lại để vỗ về nước Nam Việt. Vương và vương thái hậu sắm
sửa hành lý, quà biếu, mang đồ vào triều cống.
Thừa
tướng của vương là Lữ Gia tuổi đã nhiều, làm thừa tướng ba đời vua. Họ hàng làm
quan trưởng lại đến hơn bảy mươi người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy
con giai, anh em, tông thất của vua, lại thông gia với Tần Vương ở quận Thương
Ngô. Ông ở trong nước rất được tôn trọng, người Việt tin ông, nhiều người làm
tai mắt cho ông. Ông được lòng dân hơn vương. Khi vương dâng thư, Lữ Gia mấy lần
can ngăn, nhưng vương không nghe. Ông có ý lảm phản, luôn luôn nói là bị bệnh,
không tiếp kiến sứ giả nhà Hán. Các sứ giả đều để ý đến Gia, nhưng chưa thể giết
được. Vương và vương thái hậu cũng sợ Lữ Gia gây việc trước, bèn đặt tiệc rượu,
nhờ uy quyền các sứ giả để mưu giết bọn Gia. Các sứ giả đều ngồi quay mặt về hướng
Đông, thái hậu ngồi quay mặt về hướng Nam, vương ngồi quay mặt về hướng Bắc, thừa
tướng Gia và các đại thần đều ngồi quay mặt về hướng Tây hầu, uống rượu. Em của
Gia làm tướng võ, cai quản quân lính ở ngoài cung. Khi mời rượu, thái hậu bảo
Gia: -Nước Nam Việt nội thuộc là lợi cho nước, tại sao tướng quân lại cho là bất
tiện?
Thái
hậu muốn khích các sứ giả giận, nhưng các sứ giả do dự nhìn nhau, không ai dám
ra oai. Gia thấy dáng mặt có khác, lập tức đứng dậy ra đi. Thái hậu giận muốn lấy
giáo đâm Gia, vương ngăn thái hậu lại. Gia bèn đi ra, chia quân của em, đem
quân về nhà. Đoạn Gia nói là có bệnh không chịu yết kiến vương và các sứ giả,
ngầm bàn mưu cùng các quan đại thần nổi loạn.
Vương
vẫn không có ý giết Gia. Gia biết thế nên mấy tháng việc không xảy ra. Thái hậu
dâm ô, người trong nước không theo. Thái hậu muốn giết bọn Gia nhưng sức lại
không làm nổi. Thiên tử nghe tin, biết Gia không chịu, vương và thái hậu thì cô
đơn, nhu nhược không chế ngự được, các sứ giả lại nhút nhát không quả quyết.
Thiên tử lại cho là vương và thái hậu đã theo Hán rồi, một mình Lữ Gia làm loạn,
không đáng đem binh đánh, muốn sai Trang Sâm đem hai nghìn người đi sang sứ.
Sâm nói:
-Nếu
dùng hòa hoãn mà đi, thì vài người cũng đủ, muốn dùng vũ lực mà đi thì hai
nghìn người không đủ để làm gì.
Trang
Sâm từ chối là không thể được. Thiên tử bãi chức quan của Sâm. Hàn Thiên Thu,
tráng sĩ ở huyện Giáp, nguyên là tướng quốc ở Tế Bắc, hăng hái nói:
-Lấy
nước Việt cỏn con, lại có vương thái hậu làm nội ứng, chỉ có một mình thừa tướng
Lữ Gia cản trở thì khó gì! Nhà vua cho tôi hai trăm người dũng sĩ, thế nào tôi
cũng chém được Gia về báo.
Thiên
tử bèn sai Thiên Thu cùng em của vương thái hậu là Cù Lại đem hai nghìn người
đi vào nước Việt. Bọn Lữ Gia bèn làm phản, ra lệnh trong nước: "Vương tuổi
còn trẻ, thái hậu là người Trung Quốc, lại dan díu với sứ giả, chỉ muốn nội thuộc,
đem hết đồ quý báu của tiên vương vào dâng thiên tử để được yên. Đem nhiều người
đi theo, đến Trường An, bán cho người ta làm đồng bộc. Thái hậu chỉ nghĩ đến
cái lợi thoát thân một thời, không nghĩ gì đến mưu kế lâu dài cho xã tắc họ Triệu
cả".
Lữ
Gia bèn cùng em đem quân đánh giết vương, thái hậu, cùng các sứ gia của nhà
Hán. Lữ gia sai người báo với Tần Vương ở quận Thương Ngô và các quận huyện, lập
Vệ Dương Hầu Kiến Đức người con trai đầu của Minh Vương, vợ là người Việt, làm
vua.
Sau
đó, quân của Hàn Thiên Thu vào phá mấy ấp nhỏ. Sau quân Việt mở thẳng đường,
mang lương thực người Việt đem quân đánh bọn Thiên Thu, diệt được họ cách Phiên
Ngung bốn mươi dặm, Gia sai người phong gói cờ tiết của sứ giả nhà Hán đem để ở
cửa ải, khéo nói dối để tạ tội, rồi đem quân đóng giữ những nơi hiểm yếu. Thiên
tử bèn nói:
-Hàn
Thiên Thu tuy không thành công, cũng là người tiên phong giỏi nhất. Phong cho
con là Diên Niên làm An Thành Hầu. Cù Lạc có chị là vương Thái hậu xin phụ thuộc
nhà Hán, phong cho con là Quảng Đức làm Long Cung Hầu.
Bèn
hạ lệnh tha tội cho các tội nhân, nói:
-Thiên
tử suy yếu, chư hầu đánh nhau, là chê nhân thần không đánh giặc. Nay bọn Lữ
Gia, Kiến Đức, lại tự lập một cách yên ổn, trẫm hạ lệnh đem các tội nhân cùng
mười vạn quân lâu thuyền ở miền Giang, Hoài trở về Nam để đi đánh.
Năm
thứ năm niên hiệu Nguyễn Đỉnh (năm 112 trước Công nguyên), mùa thu, vệ úy là Lộ
Bác Đức làm Phục Ba tướng quân đem quân từ quận Quế Dương xuống đường sông Hối
Thủy, chủ tước đô úy là Dương Bộc làm Lâu thuyền tướng quân đem quân từ quận Dự
Chương xuống đường Hoành Phố, Quy Nghĩa. Kiệt Hầu là người Việt trước đã hàng
làm qua thuyền, Hạ Lê tướng quân, đem quân từ huyện Linh Lăng xuống đường sông
Ly Thủy, hoặc đế quân Thương Ngô, sai Trì Nghĩa Hầu, đem thêm tội nhân nước Ba Thục,
đưa quân từ đất Dạ Lang xuống đường sông Tường Kha. Các quân ấy đều gặp nhau ở
Phiên Ngung.
Năm
thứ sáu niên hiệu Nguyễn Đỉnh (năm 111 trước Công nguyên), mùa đông, Lâu thuyền
tướng quân đem quân tinh nhuệ đến trước đánh hãm Tâm Hiệp, phá được Thạch Môn,
lấy được thuyền thóc của người Việt. Nhân đấy, ông ta tiến lên, đánh gãy quân
tiên phong của Việt, và đem vài vạn người đợi Phục Ba. Phục Ba tướng quân đem
theo tội nhân, đi đường xa đến sau kỳ hội. Phục Ba cùng quân của Lâu thuyền họp
lại mới có được hơn nghìn người, bèn cùng tiến. Quân của Lâu thuyền đi trước đến
Phiên Ngung, Kiến Đức cùng Gia đều giữ thành. Lâu thuyền tự chọn nơi tiện lợi
đóng ở mặt Đông Nam, Phục Ba đóng ở mặt Tây Bắc. Gặp lúc chiều tối, Lâu thuyền đánh
bại người Việt, tung lửa đốt thành. Người Việt vẫn nghe biết tiếng Phục Ba,
nhưng trời tối quân không biết số quân nhiều ít thế nào. Phục Ba bèn lập doanh
trại, sai sứ chiêu hàng, cho họ lấy ấn quan, lại thả cho về để chiêu dụ nhau.
Lâu thuyền ra sức đánh và đốt, quân địch lại chạy vào trong trại của Phục Ba. Đến
mờ sáng, người trong thành đều hàng Phục Ba. Lữ Gia và Kiến Đức từ đêm đã cùng
gia thuộc vài trăm người, chạy trốn ra biển, lấy thuyền đi về phía Tây.
Phục
Ba nhân tiện hỏi những người chức vị cao đã hàng để biết lối Lữ Gia chạy và cho
người đuổi theo. Hiệu úy Tư Mã Tô Hoàng là người Việt hàng Hán bắt được Kiến Đức,
được phong làm Hải Thường Hầu, quan lang người Việt là Đô Kê bắt được Gia, được
phong làm Lâm Thái Hầu. Thương Ngô Vương là Triệu Quang là người cùng họ với Việt
Vương, nghe quân nhà Hán đến, cùng quan huyện lệnh Kê Dương của Việt tên là Định
tự quyết định đi theo nhà Hán, quan giám quận Quế Lâm của Việt tên là Cư Ông dụ
dân Âu Lạc đi theo nhà Hán. Những người này đều được phong tước hầu.
Quân
của qua thuyền, Hạ Lệ tướng quân cùng quân Dạ Lang mà Tri Nghĩa Hầu đem đi,
chưa xuống đến nơi, thì Nam Việt đã dẹp yên rồi. Bèn lấy đất đặt làm chín quận.
Phục Ba tướng quân phong thêm cho Lâu thuyền tướng quân làm Tương Lương Hầu vì
đã hạ được nơi kiên cố.
Từ
lúc úy Đà mới làm vương đến sau là năm đời, cộng chín mươi ba năm rồi mất nước.
-----
Thái
sử công nói: Úy Đà làm vương vốn do ở Ngâm Ngao, gặp
lúc nhà Hán mới bình định thiên hạ, ông được liệt vào hàng chư hầu. Lâm Lư Hầu
ngại khí thấp, bệnh dịch, không đi đánh, Đà càng được thể kiêu căng. Âu Lạc
đánh nhau làm rung động nước Nam Việt. Quân nhà Hán tới cõi. Anh Tề vào chầu,
sau đó mất nước, nguồn gốc đều do Cù thị. Lữ Gia giữ lòng trung nhỏ mọn, khiến
cho Đà không có người nối dõi. Lâu thuyền tướng quân làm theo ý muốn không biết
tiết chế, lười biếng, kiêu ngạo, thành bị nhầm nhỡ. Phục Ba tướng quân gặp khốn
cùng, càng nảy trí mưu, nhân họa thành ra phúc. Sự việc xoay vần thành và bại,
ví như cái thừng, cái sợi, xoắn xuýt lấy nhau.
-----
⍟ Tần Thủy Hoàng bản kỷ chú
thích:
Thừa
tướng là Vương Quán, ngự sử đại phu Phùng Kiếp, đình úy Lý Tư đều tâu: - Ngũ Đế
ngày xưa đất chỉ vuông ngàn dặm, ngoài ra là đất đai của chư hầu và của man di,
họ vào chầu hay không thiên tử cũng không cai quản được. Nay bệ hạ dấy nghĩa
binh, giết bọn tàn ác và nghịch tặc, bình định được thiên hạ, bốn biển thành quận
và huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất ở một nơi, từ thượng cổ đến nay
chưa hề có, Ngũ đế đều không bằng. Bọn thần sau khi bàn bạc kỹ lưỡng với các bậc
sĩ thấy rằng: Ngày xưa có Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Thái Hoàng, nhưng Thái Hoàng
là cao quý nhất. Bọn thần liều chết xin dâng tôn hiệu của nhà vua là "Thái
Hoàng", mệnh ban ra gọi là "chế", lệnh ban ra gọi là "chiếu",
thiên tử tự xưng gọi là "trẫm".
Các
đời trước không dùng danh từ "chế" và "chiếu". "Chế"
quan trọng hơn "chiếu", chỉ nhà vua mới được dùng chữ ấy, còn Thái Hậu
thì có khi dùng chữ "chiếu" khi thay thế nhà vua trị dân, nếu gọi là
"chế" tức là có ý muốn làm vua. "Trẫm" trước là một đại từ
chỉ ngôi thứ nhất dành cho mọi người. Sách đạo giáo dùng chữ trẫm để chỉ một lực
lượng siêu tự nhiên, một đấng không ai trông thấy.
Nhà
vua nói:
-
Ta bỏ chữ "Thái", lấy chữ "Hoàng", thêm chữ "Đế",
của những vị đế thời thượng cổ hiệu gọi là Hoàng Đế còn những điều khác
thì như lời các khanh tâu.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét