2021-04-24
Thích
khách liệt truyện
Tư Mã Thiên
1. Tào Mạt
Tào
Mạt là người nước Lỗ, lấy sức mạnh được thờ Lỗ Trang Công (năm 693 – năm 662
trước Công nguyên). Lỗ Trang Công chuộng sức mạnh, Tào Mạt làm tướng nước Lỗ
đánh nước Tề ba lần đều bị thua. Lỗ Trang Công sợ, bèn hiến đất Toại ấp để cầu
hoà, sau đó lại cho làm tướng như cũ.
Tề
Hoàn Công hứa cùng họp với vua Lỗ ở ấp Kha để ăn thề. Hoàn Công và Trang Công
đã thề ở trên đàn. Tào Mạt cầm chùy thủ đe dọa① thị uy với Tề
Hoàn Công. Các quan hầu cận của Hoàn Công không ai dám động. Hoàn Công hỏi:
-Nhà
ngươi muốn gì?
Tào
Mạt nói:
-Tề
mạnh, Lỗ yếu, nước lớn xâm phạm nước Lỗ đã quá lắm. Nay thành nước Lỗ nếu sụp đổ
thì đè cả đất Tề②,
nhà vua liệu đấy?
Hoàn
Công bèn hứa trả tất cả đất đai đã chiếm đoạt trước cho Lỗ. Nói xong, Tào Mạt
ném chùy thủ xuống đàn, ngoảnh mặt về hướng Bắc đến chỗ đứng của bầy tôi, sắc mặt
không thay đổi, nói năng vẫn ôn hoà như thường.
Hoàn
Công giận, muốn bỏ điều hứa. Quản Trọng nói:
-Không
nên, nếu tham cái lợi nhỏ để cho thỏa thích mình, bỏ tín nghĩa đối với chư hầu,
thì mất sự giúp đỡ của thiên hạ. Chi bằng cứ cho là hơn.
Hoàn
Công bèn trả lại những đất Lỗ đã bị Tề xâm chiếm, các đất đai đã mất sau ba lần
Tào Mạt đánh thua đều được trao lại cho nước Lỗ.
Sau
đó một trăm sáu mươi bảy năm thì nước Ngô xảy ra việc của Chuyên Chư.
2. Chuyên Chư
Chuyên
Chư là người đất Đường ấp, thuộc nước Ngô, Ngũ Tử Tư trốn khỏi nước Sở chạy
sang Ngô, biết tài năng của Chuyên Chư. Sau khi ra mắt Ngô Vương tên là Liêu,
Ngũ Tử Tư bàn việc đánh Sở lợi như thế nào. Công tử Quang nước Ngô nói:
-Gã
Ngũ Viên này cha anh đều bị Sở giết, nay Viên nói việc đánh Sở, là muốn báo thù
riêng của mình, chứ không phải vì nước Ngô.
Vua
Ngô bèn thôi. Ngũ Tử Tư biết công tử Quang muốn giết Ngô Vương Liêu bèn nói:
-Ông
Quang này sắp nghĩ đến việc bên trong cho nên chưa thể nói việc bên ngoài③. Bèn tiến cử
Chuyên Chư cho công tử Quang. Cha của Quang là Chư Phàn làm vua nước Ngô, Chư
Phàn có ba người em. Thứ hai là Dư Thái, đến Di Mạt, rồi đến Quý Tử Trát. Chư
Phàn biết Quý Tử Trát là người hiền nên không lập thái tử làm vua, cứ theo thứ
tự truyền cho ba người em, chủ ý cuối cùng muốn truyền nước cho Quý Tử Trát.
Sau khi Chư Phàn chết, truyền ngôi cho Dư Thái. Dư Thái chết truyền ngôi cho Di
Mạt. Di Mạt chết đáng lý phải truyền ngôi cho Quý Tử Trát, nhưng Quý Tử Trát bỏ
trốn không chịu làm vua. Người nước Ngô bèn lập con của Di Mạt là Liêu làm vua.
Công tử Quang nói:
-Nếu
như cứ truyền theo thứ tự anh em thì Quý Tử đáng được lập làm vua, còn nếu truyền
cho con thì Quang này mới thực là người con cả chân chính đáng lập làm vua. Vì
vậy, Quang thường nuôi ngầm các mưu thần để tìm cách tự lập làm vua.
Sau
khi được Chuyên Chư, Quang đãi Chuyên Chư như bậc thượng khách. Được chín năm
vua Bình Vương nước Sở chết. Mùa xuân, vua Ngô là Liêu muốn nhân lúc nước Sở có
tang phái công tử Cáp Dư, Chúc Dung đem quân vây đất Tiềm của nước Sở, sai Diên
Lăng Quý Tử sang nước Tần để xem chư hầu động tĩnh như thế nào.
Nước
Sở đem binh chặn đường của tướng Ngô là Cáp Dư, Chúc Dung, quân Ngô không về được.
Công
tử Quang bèn nói với Chuyên Chư:
-Cơ
hội này không thể bỏ lỡ, nếu mình không tìm thì làm sao mà gặp được? Vả chăng,
Quang này thực là người nối dõi nhà vua đáng được lập, Quý Tử có về cũng không
phế truất ta đâu.
Chuyên
Chư nói:
-Vương
Liêu đáng chết? Mẹ thì giá, con thì dại, hai em đem binh đánh Sở bị quân Sở cắt
đứt đường về. Ngày nay nước Ngô bên ngoài bị khốn về nước Sở, bên trong không
người tôi chính trực, tức là không làm gì được ta. Công tử Quang cúi đầu nói:
-Thân
của Quang này là thân của ông④.
Tháng
tư, ngày Bính Tý, Quang cho binh sĩ mặc áo giáp nấp ở trong nhà hầm, làm tiệc
rượu để mời Vương Liêu đến. Vương Liêu sai dàn binh từ cung đến nhà của Quang, ở
ngoài cửa và hai bên thềm đều là thân thích của Vương Liêu. Những người đứng
hai bên đường để chầu đều cầm giáo dài. Sau khi uống rượu say, công tử Quang giả
đau chân vào trong nhà hầm, sai Chuyên Chư nhét chủy thủ vào trong bụng con cá
rán rồi đem lên dâng. Khi đến trước mặt vua, Chuyên Chư mổ bụng cá, nhân đó lấy
chủy thủ đâm Vương Liêu. Vương Liêu chết ngay. Tả hữu cũng giết Chuyên Chư, người
của nhà vua rối loạn… Công tử Quang cho quân sĩ đã phục sẵn xông ra đánh bộ hạ
của Vương Liêu, giết chết tất cả, rồi tự lập làm vua, tức là Hạp Lư, Hạp Lư bèn
phong con của Chuyên Chư làm thượng khanh.
Sau
đó hơn bảy mươi năm ở Tấn xảy ra việc của Dự Nhượng⑤.
3. Dự Nhượng
Dự
Nhượng là người nước Tần, trước kia đã thờ họ Phạm và họ Trung Hàng, nhưng
không ai biết đến. Dự Nhượng bỏ sang thờ Trí Bá: Trí Bá rất yêu quý và tôn trọng.
Đến khi Trí Bá đánh Triệu Tương Tử, Triệu Tương Tử cùng mưu với các nước Hàn,
Ngụy, giết Trí Bá. Sau khi đã giết Trí Bá, họ chia đất Trí Bá làm ba phần. Triệu
Tương Tử rất oán Trí Bá, nên sơn đầu lâu của Bá làm đồ đựng rượu.
Dự
Nhượng trốn vào trong núi nói:
-Than
ôi! Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ! Người con gái làm dáng vì kẻ yêu mình. Nay Trí
Bá biết ta, ta phải liều chết báo thù để đền ơn, có thế hồn phách của ta mới khỏi
xấu hổ!
Dự
Nhượng bèn đổi họ tên làm người bị khổ dịch lẻn vào cung dọn nhà xí, trong người
giấu cái chủy thủ muốn để đâm Tương Tử. Tương Tử vào nhà xí thấy chột dạ, bắt hỏi
người khổ dịch đang dọn nhà xí, thì ra đó là Dự Nhượng, khám trong người có
binh khí. Dự Nhượng nói:
-Ta
muốn báo thù cho Trí Bá.
Tả
hữu muốn giết, Tương Tử nói:
-Hắn
là người có nghĩa, ta chỉ cẩn thận trách hắn là đủ. Vả chăng, Trí Bá chết không
có con cái gì, mà người làm tôi của nó lại muốn báo thù, vậy người này là một
người hiền trong thiên hạ.
Cuối
cùng tha cho đi. Ít lâu sau, Dự Nhượng lại sơn mình làm người hủi, nuốt than
làm người câm, khiến không ai nhận ra hình dạng. Nhượng đi hành khất ở ngoài chợ,
người vợ không nhận ra. Đi gặp người bạn, người bạn nhận được nói:
-Anh
có phải Dự Nhượng đấy không?
-Chính
tôi.
Người
bạn khóc và nói:
-Có
tài như anh nếu gửi mình làm tôi thờ Tương Tử, thì Tương Tử thế nào cũng yêu mến
gần gũi anh. Khi Tương Tử đã yêu mến gần gũi anh thì anh làm điều anh muốn, thế
chẳng dễ hơn sao? Bây giờ làm hủy hoại thân thể thế này muốn để báo thù Tương Tử,
chẳng phải khó khăn sao?
Dự
Nhượng nói:
-Mình
đã đi mình làm tôi người ta, rồi lại tìm cách giết họ, như thế là mang hai lòng
để thờ vua. Vả chăng điều tôi muốn làm là hết sức khó nhưng tôi muốn làm thế
này là để cho hạng tôi thờ vua mang hai lòng ở trong thiên hạ sau này phải hổ
thẹn?
Sau
khi đi rồi, được ít lâu Tương Tử sắp ra đi, Dự Nhượng nấp ở chỗ cầu Tương Tử phải
đi qua. Tương Tử đến cầu con ngựa sợ hãi, Tương Tử nói:
-Đây
chắc là Dự Nhượng rồi?
Sai
người hỏi thì quả là Dự Nhượng. Tương Tử bèn trách Dự Nhượng:
-Nhà
ngươi chẳng phải đã từng thờ họ Phạm và họ Trung Hàng đó sao? Trí Bá diệt họ,
thế mà ngươi chẳng báo thù cho họ lại còn gửi mình làm tôi Trí Bá. Nay Trí Bá
đã chết rồi sao nhà ngươi lại một mình vì hắn báo thù sâu sắc như vậy? Dự Nhượng
đáp:
-Tôi
thờ họ Phạm và họ Trung Hàng, họ Phạm và họ Trung Hàng đều xem tôi là hạng người
thường, cho nên tôi báo đáp theo lối hạng người thường. Còn như Trí Bá đối đãi
với tôi xem như người quốc sĩ, cho nên tôi phải báo thù theo lối người quốc sĩ.
Tương
Tử thở dài, ngậm ngùi khóc mà rằng:
-Than
ôi Dự Nhượng! Nhà ngươi vì Trí Bá báo thù, nay danh cũng đã thành rồi. Quả nhân
tha cho nhà ngươi thế cũng đã đủ rồi? Nhà ngươi hãy tự liệu lấy, quả nhân không
tha cho nhà ngươi nữa.
Bèn
sai lính vây bắt. Dự Nhượng nói:
Tôi
nghe “bậc vua sáng không che cái tốt đẹp của người, kẻ trung thần có cái nghĩa
phải chết theo danh”. Trước đây nhà vua đã tha cho tôi, thiên hạ không ai không
khen nhà vua hiền. Việc ngày hôm nay tôi cố nhiên xin chịu chết, nhưng xin nhà
vua cho tôi cái áo của ngài để tôi được thỏa ý định báo thù, tuy chết cũng
không ân hận. Đó không phải là điều tôi dám mong mỏi, nhưng cũng xin bày gan ruột
như vậy.
Tương
Tử bèn khen là người có nghĩa và sai người cầm áo đưa cho Dự Nhượng. Dự Nhượng
tuốt kiếm nhảy lên đâm ba lần và nói:
-Ta
có thể chết để báo ơn Trí Bá được rồi?
Rồi
phục gươm mà tự sát. Hôm Dự Nhượng chết, các chí sĩ nước Triệu nghe tin đều sụt
sùi.
Sau
đó hơn bốn mươi năm ở đất Chỉ có việc của Nhiếp Chính.
4. Nhiếp Chính
Nhiếp
Chính là người làng Thâm Tĩnh, ấp Chỉ. Chính giết người, trốn kẻ thù, cùng mẹ
và chị sang nước Tề làm nghề hàng thịt. Được ít lâu, Nghiêm Trọng Tử người đất
Bộc Dương thờ Ai Hầu nước Hàn, có hiềm khích với tướng quốc nước Hàn là Hiệp
Lũy. Nghiêm Trọng Tử sợ bị giết, bỏ trốn tìm người có thể giết Hiệp Lũy để trả
thù. Ông ta đến nước Tề, có người nước Tề nói Nhiếp Chính là người dũng cảm, vì
trốn kẻ thù nên nương náu ở trong bọn bán thịt.
Nghiêm
Trọng Tử đến cửa mời, đi về mấy lần. Sau đó đem rượu đến dâng cho mẹ của Nhiếp
Chính. Uống rượu say, Nghiêm Trọng Tử bưng ra một trăm dật vàng dâng cho mẹ Nhiếp
Chính để chúc thọ. Nhiếp Chính lấy làm quái lạ vì quá nhiều, cố hết sức từ tạ
Nghiêm Trọng Tử. Nghiêm Trọng Tử cố dâng. Nhiếp Chính từ tạ mà rằng:
-Tôi
may có mẹ già, nhà nghèo đến nơi đất khách làm nghề bán thịt để hôm mai kiếm được
chút ngọt bùi phụng dưỡng mẹ. Việc phụng dưỡng mẹ đã đầy đủ rồi, không dám nhận
của Trọng Tử cho.
Nghiêm
Trọng Tử bảo người xung quanh đi ra, nhân đấy nói với Nhiếp Chính:
-Tôi
có người thù nên đi khắp chư hầu. Đến nước Tề trộm nghe túc hạ nghĩa khí rất
cao, cho nên dâng một trăm dật vàng muốn dùng làm tiền chi dùng qua loa cho bà
cụ, để được cùng vui chơi với túc hạ, chứ nào có dám mong mỏi gì…
Nhiếp
Chính nói:
-Tôi
sở dĩ chịu khuất thân lẩn lút ở nơi chợ búa làm nghề hàng thịt, chỉ là muốn
nuôi mẹ già. Mẹ tôi còn sống. Chính này không dám lấy thân giao cho ai.
Nghiêm
Trọng Tử cố hết sức van nài, rốt cuộc Nhiếp Chính vẫn không chịu nhận. Nhưng
Nghiêm Trọng Tử vẫn làm đủ nghi lễ khách đối với chủ rồi ra đi.
Được
một thời gian lâu, mẹ Nhiếp Chính chết. Sau khi đã chôn cất xong, hết tang ba
năm, Nhiếp Chính nói:
-Than
ôi! Chính này người ở nơi chợ búa, múa dao làm nghề hàng thịt, thế mà Nghiêm Trọng
Tử là bậc khanh tướng của chư hầu, lại không ngại đường xa nghìn dặm, hạ cố đến
kết giao. Ta đãi ông như thế, quả là đạm bạc. Ta chưa có công gì lớn đáng được
tôn kính như thế, nhưng Nghiêm Trọng Tử lại dâng trăm lạng vàng để làm lễ chúc
thọ mẹ ta. Ta tuy không nhận nhưng riêng điều đó cũng đủ chứng tỏ ông đánh giá
Chính cao như thế nào. Người hiền vì muốn báo thù, đến chơi thân với một kẻ khốn
cùng xa lạ, Chính này lẽ nào lại im lặng mãi hay sao? Vả chăng, ngày trước ông
ta cố nài Chính, Chính còn lấy cớ mẹ già, nay mẹ già đã trọn tuổi trời, Chính
này sẽ hy sinh vì người tri kỷ.
Nhiếp
Chính bèn đi sang hướng Tây đến Bộc Dương ra mắt Nghiêm Trọng Tử nói:
-Ngày
trước sở dĩ tôi không dám nhận lời Trọng Tử, chỉ vì mẹ tôi còn sống: nay không
may mẹ tôi đã hưởng trọn tuổi trời, vậy người Trọng Tử muốn báo thù là ai? Xin
cho tôi đi làm việc đó!
Nghiêm
Trọng Tử bên kể rõ đầu đuôi:
-Kẻ
thù của tôi là Hiệp Lũy làm tướng quốc nước Hàn. Hiệp Lũy lại là chú của vua
Hàn, họ hàng đông và thịnh, nơi ở canh phòng rất nghiêm mật. Tôi muốn sai người
đi ám sát nhiều lần, nhưng không ai làm được. Nay túc hạ may mà không bỏ tôi, vậy
xin đem nhiều xe ngựa và tráng sĩ để có thể trợ lực cho túc hạ.
Nhiếp
Chính nói:
-Nước
Hàn và nước Vệ cách nhau không xa lắm. Nay muốn giết tướng quốc của người ta,
tướng quốc lại là thân thích của nhà vua, thì tình thế này không thể dùng nhiều
người được. Nếu dùng nhiều người thì không thể không bàn trước chuyện lợi hại,
bàn chuyện lợi hại thì lời tiết lộ. Lời tiết lộ thì nước Hàn sẽ đem tất cả nước
ra đối phó với Trọng Tử, như thế chẳng hóa nguy sao!
Nhiếp
Chính bèn từ tạ không nhận xe ngựa, người tùy tùng, chống kiếm đi một mình đến
đất Hàn. Tướng quốc nước Hàn là Hiệp Lũy ngồi trong phủ, những người cẩm kích để
bảo vệ rất đông. Nhiếp Chính xông thẳng vào, lên thềm đâm chết Hiệp Lũy. Tả hữu
rối loạn? Nhiếp Chính hô lớn đâm giết mấy chục người rồi tất bóc da mặt, móc mắt,
tự kéo ruột ra mà chết.
Nước
Hàn phơi thây Nhiếp Chính ở ngoài chợ, treo giải thưởng để hỏi, nhưng không người
nào biết. Nước Hàn bèn treo trọng thưởng để tìm hung thủ: “Ai biết được người
giết tướng quốc Hiệp Lũy thì thưởng ngàn vàng”. Mãi về sau cũng không ai biết.
Chị của Nhiếp Chính là Vinh nghe tin có người giết tướng quốc nước Hàn nhưng
không biết hung thủ, trong nước không biết họ tên anh ta là gì, phơi thây treo
giải nghìn vàng bèn nghẹn ngào nói:
-Đó
là em của ta chăng? Than ôi! Nghiêm Trọng Tử giết em ta?
Liền
đứng dậy đi đến nước Hàn, thì người chết quả là Chính. Nàng nằm bên thây khóc rất
thảm thiết nói:
-Đây
là Nhiếp Chính. Người làng Thâm Tỉnh, ấp Chỉ. Những người ở trong chợ đều nói:
-Người
này hành hung giết tướng quốc nước ta, nhà vua treo giải ai biết được tên họ nó
thì thưởng nghìn vàng, bà không nghe hay sao, lại dám đến đây nhận mặt nó?
Vinh
đáp lại rằng:
-Tôi
có nghe. Nhưng sở dĩ Chính chịu ô nhục, mai một ở nơi chợ búa là vì mẹ già còn
khoẻ, thiếp chưa lấy chồng. Nay mẹ già đã hưởng trọn tuổi trời, thiếp đã đi lấy
chồng. Nghiêm Trọng Tử lại biết tìm thấy em tôi trong nơi khốn cùng, hèn hạ, mà
kết bạn, đối đãi rất hậu. Bây giờ làm thế nào? Kẻ sĩ vốn chết vì người tri kỷ,
nay chỉ vì thiếp vẫn còn sống cho nên Nhiếp Chính mới cố tự hủy hoại thân thể để
làm mất tung tích. Lẽ nào thiếp lại sợ thân mình phải chết để cho hủy diệt mất
danh tiếng của người em hiền hay sao?
Điều
đó làm cho người ở chợ nước Hàn cả sợ. Người chị bèn kêu trời ba lần rồi sụt
sùi thảm thiết, chết bên cạnh Nhiếp Chính. Các nước Tấn, Sở, Tề, Vệ nghe vậy đều
nói:
-Không
phải chỉ một mình Nhiếp Chính là giỏi mà cả người chị anh ta cũng là liệt nữ.
Giá trước đấy Nhiếp Chính biết rằng người chị của mình không có tính nhân nhục,
không sợ cái nguy bị phơi thây, quyết vượt qua nghìn dặm để làm nổi bật cái
danh của em, cả chị cùng em đều chết ở chợ nước Hàn, thì vị tất Nhiếp Chính đã
dám trao thân cho Nghiêm Trọng Tử. Nghiêm Trọng Tử cũng có thể gọi là kẻ biết
người vậy.
Sau
đó hơn hai trăm hai mươi năm, ở nước Tần có việc của Kinh Kha.
5. Kinh Kha
Kinh
Kha là người nước Vệ, tổ tiên là người nước Tề. Kinh Kha di cư sang Vệ, người Vệ
gọi là Khánh Khanh⑥.
Sau đó sang nước Yên, người nước Yên gọi là Kinh Khanh. Kinh Khanh thích đọc
sách, đánh gươm, đem kiếm thuật nói với Vệ Nguyên Quân. Vệ Nguyên Quân không
dùng.
Sau
đó Tần đánh Ngụy (năm 242 trước Công nguyên) đặt Đông Quận, dời họ hàng Vệ
Nguyên Quân đến đất Dã Vương. Kinh Kha có lần qua chơi đất Du Thứ, bàn kiếm thuật
với Cáp Nhiếp. Cáp Nhiếp giận, trợn mắt nhìn Kinh Kha đi ra. Có người nói muốn
mời Kinh Kha, Cáp Nhiếp nói:
–
Lúc nãy ta bàn kiếm thuật với hắn. Có chỗ không vừa ý ta trợn mắt nhìn hắn. Thử
đi mà xem, chắc hắn đi rồi không dám ở lại nữa.
Sai
người đến nhà trọ thì Kinh Khanh đã đi xe ngựa rời khỏi đất Du Thứ rồi. Người
này về báo, Cáp Nhiếp nói:
–
Cố nhiên là hắn đi? Lúc nãy ta vừa lấy mắt dọa hắn.
Kinh
Kha đi chơi đến Hàm Đan. Lỗ Câu Tiễn cùng Kinh Kha đánh cờ, tranh nhau nước cờ.
Lỗ Câu Tiễn giận mắng, Kinh Kha im lặng trốn đi, sau đó không gặp nhau nữa. ⑦
Sau
khi Kinh Kha đã đến Yên, làm bạn với người bán thịt chó và người giỏi gẩy đàn
trúc⑧
tên là Cao Tiệm Ly. Kinh Kha thích uống rượu, ngày ngày cùng anh bán thịt chó
và Cao Tiệm Ly uống rượu ở chợ nước Yên. Sau khi chén rượu dở say, Cao Tiệm Ly
gẩy đàn trúc, Kinh Kha họa theo mà hát vui với nhau ở giữa chợ. Sau đó lại cùng
nhau khóc, xem như bên cạnh không có người⑨, Kinh Kha tuy ở trong bọn
bợm rượu, nhưng tính tình thâm trầm, thích đọc sách, khi du lịch các nước chư hầu,
đến đâu cũng kết bạn với tất cả những người hiền, trưởng giả ở đấy. Khi sang nước
Yên, xử sĩ nước Yên là Điền Quang tiên sinh cũng trọng đãi vì biết rằng Kha
không phải là người tầm thường. Được ít lâu gặp lúc thái tử nước Yên là Đan làm
con tin ở Tần trốn về. Thái tử Đan nước Yên đã có lần làm con tin ở Triệu mà
vua Tần tên là Chính lại sinh ở Triệu, lúc nhỏ vẫn chơi thân với Đan. Đến khi
Chính được lập làm vua, Đan làm con tin ở Tần, vì vua Tần đối đãi với thái tử
Đan không tử tế cho nên Đan giận trốn về. Đan về tìm cách báo thù vua Tần, nhưng
nước nhỏ, sức không làm nổi. Sau đó ngày ngày Tần đem binh ra miền Sơn Đông để
đánh các nước Tề, Sở, Tam Tấn, dần dần tiêu diệt chư hầu như tằm ăn lá dâu, sắp
đến nước Yên. Vua tôi nước Yên đều sợ họa sắp đến nơi. Thái tử Đan lo lắng hỏi
thầy học là Cúc Võ. Cúc Võ nói:
-Đất
nước Tần bao khắp thiên hạ, uy hiếp các nước Hàn, Ngụy, Triệu, phía Bắc có Cam
Tuyền, Cốc Khẩu là nơi hiểm trở, phía Nam có đất bên sông Kinh, sông Vị là nơi
mầu mỡ, chiếm nguồn lợi đất Ba, đất Hán, bên phải có dãy núi đất Lũng, đất Thục,
bên trái có nơi hiểm trở như Hàm Cốc quan, Hào Sơn. Dân đã đông, quân lại mạnh,
khí giới có thừa. Nếu họ muốn đem quân ra thì từ Trường Thành xuống phía Nam, từ
Dịch Thủy lên phía Bắc ⑩ chưa biết ra sao! Tại sao chỉ vì cái oán bị khinh rẻ
mà thái tử lại muốn động chạm đến cái vẩy ngược của con rồng⑪ như thế?
Đan
nói:
-Vậy
thì làm sao?
-Việc
ấy xin suy nghĩ cho sâu.
Được
ít lâu tướng Tần là Phàn Ư Kỳ có tội với vua Tần, chạy trốn sang Yên, thái tử
dung nạp cho ở. Cúc Võ can:
-Không
được! Nước Tần đã mạnh lại căm giận nước Yên, như thế cũng đủ đáng sợ lắm rồi.
Huống chi nó lại nghe Phàn tướng quân ở đây. Như thế tức là “Ném thịt ra giữa lối
đi của hùm đói”, cái tai vạ ấy không thể cứu được đâu! Tuy có Quản Trọng, Án
Anh⑫
cũng không thể bày mưu cho ta. Thái tử phải mau mau cho Phàn tướng quân vào đất
Hung Nô để khỏi tai tiếng, xin phía Tây ước hẹn với Tam Tần, phía Nam liên kết
với nước Tề, nước Sở, phía Bắc hòa với Thiền Vu sau đó mới có thể lo toan được. ⑬
Thái
tử nói:
-Kế
của thái phó tốn mất nhiều ngày giờ quá. Lòng tôi lo lắng ưu phiền, sợ không đợi
được giây lát. Vả chăng, không phải như thế mà thôi, Phàn tướng quân là người
cùng khốn, thiên hạ không ai dung, gửi thân ở Đan, dù sao Đan cũng không thể vì
bị nước Tần mạnh bức bách mà bỏ rơi người bạn đáng thương, đưa ông ta sang Hung
Nô, như thế thì Đan chết mất. Xin thái phó nghĩ cho cách khác.
Cúc
Võ nói:
-Làm
việc nguy mà muốn cầu được yên, gây họa mà muốn cầu được phúc, mưu kế thì cạn
mà kết oán thì sâu, liên kết với một người mà không nghĩ đến cái hại lớn của nước
nhà, tức là như người ta nói, thêm oán mà gieo họa vậy. Điều đó cũng như lấy nắm
lông chim hồng mà đốt trên lò than, nhất định chẳng còn gì nữa. Nước Tần đã
hung ác lại muốn làm hả cơn giận dữ thì chưa biết đến thế nào mà nói? Nước Yên
có Điền Quang tiên sinh là người trí sâu mà dũng cảm thâm trầm, có thể bàn với
ông ta được⑭
Thái
tử nói:
-Muốn
xin thái phó cho tôi được làm quen với Điền tiên sinh, có được không?
Cúc
Võ nói:
–
Xin vâng.
Cúc
Võ bèn đi tìm Điền Quang nói:
-Thái
tử muốn mưu việc nước với tiên sinh đấy.
Điền
Quang nói:
-Xin
vâng lời dạy.
Bèn
đến, thái tử ra đón, đi giật lùi để dẫn đường, quỳ xuống để trải chiếu.
Điền
Quang ngồi yên, xung quanh không có ai, thái tử dời khỏi chiếu nói:
-Nước
Yên và nước Tần không cùng sống, xin tiên sinh lưu ý cho. Điền Quang nói:
Tôi
nghe nói ngựa kỳ, ngựa ký lúc đang mạnh thì ngày ruổi ngàn dặm, đến khi già rồi
ngựa hèn vượt lên trước. Nay thái tử chỉ nghe thời Quang còn trai trẻ chứ không
biết rằng tinh lực tôi đã hao mòn hết rồi. Nhưng mặc dù Quang không dám bàn việc
nước, người bạn của tôi là Kinh Khanh có thể dùng được. Thái tử nói:
-Tôi
muốn nhờ tiên sinh cho tôi kết bạn với Kinh Khanh có được không?
-Thưa
vâng.
Điền
Quang liền đứng dậy bước rảo ra ngoài. Thái tử tiễn đến cửa căn dặn:
-Điền
Đan trình bày, tiên sinh chỉ giáo, đều là việc lớn của nước, xin tiên sinh chớ
tiết lộ.
Điền
Quang cúi đầu mỉm cười nói:
-Vâng.
Điền
Quang lom khom đến gặp Kinh Khanh⑮ nói:
-Quang
và ông quen nhau, nước Yên ai cũng biết. Thái tử chỉ nghe Quang lúc còn khỏe mạnh
không biết Quang này đã kém cỏi rồi. Thái tử lại dạy tôi rằng: “Nước Yên và nước
Tần không cùng chung sống, xin tiên sinh lưu ý cho”. Quang trộm nghĩ rằng mình
không nên đứng ra ngoài, nên tiến cử túc hạ với thái tử. Xin túc hạ quá bộ đến
cung thái tử.
Kinh
Kha nói:
-
Xin vâng lời dạy.
Điền
Quang nói:
-Tôi
nghe nói kẻ trưởng giả làm việc không để cho người ta ngờ mình. Nay thái tử nói
với Quang rằng: “Điều nói đó là việc lớn của nước, xin tiên sinh chớ tiết lộ”,
như vậy là thái tử ngờ Quang. Phàm làm người để cho người ta ngờ mình, thì
không phải là người nghĩa hiệp.
Điền
Quang muốn tự sát để khích lệ Kinh Kha, nói:
-Xin
túc hạ đến gặp thái tử ngay, nói rằng Quang đã chết để chứng tỏ quang không nói
với ai.
Bèn
tự đâm cổ mà chết.
Kinh
Kha vào yết kiến thái tử nói việc Điền Quang đã chết và kể lại lời của Quang.
Thái
tử lạy hai lạy, đi bằng đầu gối, nước mắt ròng ròng. Một lúc sau mới nói:
-Đan
này sở dĩ đặn Điền tiên sinh đừng nói là muốn mưu việc lớn thành công. Nay Điền
tiên sinh lại lấy cái chết để chứng tỏ rằng mình không nói, thực có phải là bụng
của Đan này đâu.
Kinh
Kha ngồi yên, thái tử đứng dậy cúi đầu nói:
-Điền
tiên sinh không biết rằng Đan này ngu dại cho Đan được đến trước mặt túc hạ mà
bày tỏ. Đó là trời thương nước Yên mà không vứt bỏ đứa con mồ côi của nó. Nay
nước Tần có bụng tham lợi, lòng tham không vừa, nếu không lấy tất cả đất đai
trong thiên hạ nộp cho nó, bắt tất cả các vua trong thiên hạ làm tôi nó, thì ý
nó chưa thoả mãn. Nay Tần đã bắt vua Hàn, lấy hết đất Hàn, lại đem binh về phía
Nam đánh Sở, phía Bắc đánh Triệu. Vương Tiễn đem quân mấy mươi vạn chặn lấy đất
Chương, đất Nghiệp, Lý Tín lại đem quân ra Thái Nguyên, Vân Trung. Nước Triệu
không thể chống nổi Tần, thế nào cũng phải vào xưng thần, vào xưng thần thì tai
họa đến nước Yên. Nước Yên nhỏ yếu, nhiều lần khổ vì chiến tranh, tính dốc cả sức
trong nước cũng không đủ để chống cự với Tần, chư hầu sợ nước Tần, không ai dám
hợp tung. Theo kế riêng của Đan, thì ngu này cho rằng nếu có một kẻ dũng sĩ
trong thiên hạ đi sứ sang Tần, dùng lợi to để nhử nó. Tần Vương tham lam, thế
nào ta cũng làm được điều mong muốn. Nếu có thể bắt tiếp được vua Tần buộc nó
phải trả cho chư hầu những đất mà nó đã xâm chiếm, như Tào Mạt đã làm đối với Tề
Hoàn Công thì thực là hay lắm, không được thế thì nhân đó đâm chết hắn đi. Đại
tướng của nước Tần cầm quân ở ngoài mà trong nước lại có loạn thì vua tôi ngờ vực
nhau, nhân thời cơ ấy chư hầu có thể hợp tung, thế nào cũng phá được nước Tần.
Đó là điều mong mỏi nhất của Đan nhưng không biết ủy thác cho ai, xin Kinh
Khanh lưu ý cho.
Một
hồi lâu, Kinh Kha đáp:
–
Đó là việc của nước lớn, thần hèn kém sợ không đáng sai khiến.
Thái
tử bước đến trước cúi đầu, khẩn khoản xin đừng từ chối, sau đó Kinh Kha mới nhận
lời.
Thái
tử bèn tôn Kinh Kha làm thượng khanh ở nhà sang nhất. Thái tử ngày ngày đến trước
cửa dâng cỗ thái lao, các vật lạ xe ngựa, gái đẹp tha hồ Kinh Kha muốn gì được
nấy để làm chàng vừa lòng.
Sau
một thời gian, Kinh Kha vẫn chưa có ý đi. Tướng Tần là Vương Tiễn đã phá nước
Triệu, cầm tù vua Triệu, lấy tất cả đất Triệu tiến quân về phía Bắc, cướp đất đến
biên giới phía Nam nước Yên. Thái tử Đan lo sợ, cầu khẩn Kinh Kha:
-Quân
Tần nay mai sẽ vượt qua sông Dịch Thủy thì dù tôi muốn hầu túc hạ mãi cũng chẳng
dễ mà được đâu?
Kinh
Kha nói:
-Thái
tử không nói, thì tôi cũng muốn yết kiến để bàn việc ấy. Nay đi mà không có gì
làm tin thì khó lòng đến gần vua Tần. Vua Tần treo giải nghìn cân vàng, ấp muôn
nhà để bắt Phàn tướng quân. Nếu quả được cái đầu của Phàn tướng quân và địa đồ
đất Đốc Cáng của nước Yên để dâng lên vua Tần, thì vua Tần thế nào cũng vui
lòng cho tôi yết kiến, bấy giờ tôi mới có cách để báo đáp thái tử.
Thái
tử nói:
-Phàn
tướng quân cùng khốn về với Đan, Đan này không nỡ vì việc riêng của mình làm hại
đến người trưởng giả, xin túc hạ nghĩ cho cách khác.
Kinh
Kha biết thái tử không nỡ, bèn thân hành đến gặp Phàn Ư Kỳ nói:
-Nước
Tần đối đãi với tướng quân có thể gọi là quá thâm độc. Cha mẹ họ hàng đều bị giết,
nay nghe nói họ mua cái đầu của tướng quân nghìn cân vàng, ấp vạn nhà, tướng
quân nghĩ sao?
Ư
Kỳ ngửa mặt lên trời thở dài, sa nước mắt mà rằng:
-Ư
Kỳ mỗi khi nghĩ đến điều đó, thường đau đến tận xương tuỷ, nhưng không nghĩ ra
kế gì. Kinh Kha nói:
-Nay
có một lời, có thể cứu nguy cho nước Yên, báo thù cho tướng quân. Tướng quân
nghĩ thế nào?
Ư
Kỳ bèn tiến lên nói:
-Làm
thế nào bây giờ?
-Tôi
muốn xin cái đầu của tướng quân để hiến vua Tần, vua Tần thế nào cũng mừng rỡ
tiếp kiến tôi. Tôi tay trái nắm lấy tay áo nó, tay phải đâm vào bụng nó như thế
thì trả được thù cho tướng quân lại rửa được cái nhục bị khinh rẻ của nước Yên.
Tướng quân có nghĩ như thế không?
Phàn
Ư Kỳ xắn ống tay áo tiến lên nói:
-Đó
là điều ngày đêm tôi nghiến răng nát ruột, đến nay mới được nghe chỉ giáo.
Bèn
tự đâm cổ chết⑯.
Thái
tử biết vậy ruổi ngựa đến, nấp bên thây mà khóc hết sức thảm thương. Nhưng việc
đã không làm sao được, nên bỏ đầu Phàn Ư Kỳ vào hòm và niêm phong lại.
Thái
tử sai tìm trong thiên hạ được cái chuỳ thủ sắc của Từ phu nhân nước Triệu, mua
mất trăm lạng vàng, sai thợ tẩm thuốc độc thử đâm vào người hễ máu chảy ra như
sợi tơ là người chết ngay.
Bèn
chuẩn bị hành lý để cho Kinh Kha đi. Nước Yên có người dũng sĩ là Tần Vũ Dương,
mười ba tuổi, giết người không ai dám trừng mắt nhìn. Bèn sai Tần Vũ Dương làm
phó. Kinh Kha muốn đợi một người để cùng đi. Người ấy ở xa chưa tới, đã sắp sẵn
hành lý cho anh ta. Đợi một thời gian chưa lên đường. Thái tử cho rằng quá chậm,
ngờ Kinh Kha có đổi dạ chăng, bèn lại giục:
-Ngày
đã hết rồi. Kinh Kha có bằng lòng đi không, Đan xin cho Tần Vũ Dương đi trước.
Kinh
Kha giận mắng thái tử:
-Tại
sao thái tử lại làm thế? Đi mà không nên việc đó là phường con trẻ⑰. Cầm một cây chuỳ
thủ, lọt vào nước Tần mạnh bất trắc, tôi sở dĩ ở lại là vì còn đợi người khách
của tôi cùng đi. Nay thái tử cho là trễ, vậy xin chia tay ngay. Bèn ra đi.
Thái
tử và tân khách biết chuyện ấy đều mặc áo mũ trắng để tiễn. Đến trên sông Dịch
Thủy, sau khi làm lễ tiễn hành, lên đường, Cao Tiệm Ly gầy đàn trúc, Kinh Kha
theo nhịp mà hát theo điệu biến chủy⑱, kẻ sĩ đều sụt sùi nức nở. Kinh Kha lại
tiến lên hát:
Gió
hiu hắt, chừ, Dịch Thủy lạnh ghê!
Tráng
sĩ ra đi chừ không bao giờ về!
Lại
hát theo điệu vũ khảng khái, mọi người trợn mắt, tóc đều dựng đứng xiên lên mũ.
Sau
đó Kinh Kha lên xe đi, không hề nhìn ngoái lại⑲.
Kinh
Kha đến Tần, đem lễ vật giá nghìn vàng đút cho viên quan trung thứ sử là Mộng
Gia bầy tôi yêu của vua Tần.
Gia
nói trước với vua Tần:
-Vua
Yên thực sự sợ hãi uy thế của đại vương, không dám đem binh để đón đánh các tướng,
muốn xin đem cả nước làm tôi nước Tần, đứng ở hàng chư hầu, chịu nộp cống, chịu
nhận chức như một quận một huyện để được giữ tôn miếu của tiên vương. Họ sợ hãi
không dám tự bày tỏ, đã chém đầu Phàn Ư Kỳ niêm phong bỏ vào hòm và dâng địa đồ
xứ Đốc Càng. Vua Yên lạy trước sân sai sứ sang tâu với đại vương, xin đại vương
phán cho như thế nào!
Vua
Tần nghe nói cả mừng bèn mặc áo chầu, đặt lễ cửu tân⑳, tiếp kiến sứ giả
nước Yên ở cung Hàm Dương. Kinh Kha bưng đầu Phàn Ư Kỳ, còn Tần Vũ Dương bưng
tráp đựng địa đồ, lần lượt dâng lên. Đến bệ, Tần Vũ Dương run sợ biến sắc mặt,
các quan lấy làm lạ. Kinh Kha quay lại cười. Tần Vũ Dương, tiến lên xin lỗi,
nói:
-Nó
là kẻ mọi rợ ở phương Bắc, chưa hề trông thấy thiên tử, cho nên run sợ. Xin đại
vương tha thứ cho, để cho nó được làm tròn phận sự một sứ thần trước mặt thiên
tử. Vua Tần bảo Kinh Kha:
-Đưa
địa đồ Vũ Dương cầm đó lên đây.
Kinh
Kha liền cầm địa đồ dâng lên. Vua Tần mở địa đồ. Giở hết địa đồ thì cái chuỳ thủ
hiện ra. Kinh Kha liền tay trái nắm lấy tay áo vua Tần, tay phải cầm chuỳ thủ
chĩa vào người. Đao chưa đến người, vua Tần sợ hãi vùng đứng dậy. Ống áo đứt,
Vua Tần tuốt kiếm, kiếm dài, vua nắm lấy bao kiếm. Lúc bấy giờ hoảng hốt, kiếm
lại chặt nên không tuốt được ngay. Kinh Kha đuổi theo vua Tần, vua Tần chạy
quanh cột trụ, các quan luống cuống, gặp lúc hoảng hốt, đều mất cả vẻ mặt lúc
bình thường. Theo phép của nước Tần các quan chầu chực ở trên điện không được cầm
một tấc binh khí. Các lang trung cầm binh khí đều đứng sắp hàng ở dưới điện, nếu
không có chiếu chỉ gọi thì không được lên. Bấy giờ đang lúc gấp, không kịp gọi
những người cầm binh khí ở dưới. Vì vậy Kinh Kha đuổi vua Tần, các quan vẫn cuống
quít không có gì để đánh trả lại chỉ lấy tay mà đánh Kinh Kha. Lúc bấy giờ viên
thầy thuốc đứng hầu tên là Hạ Vô Thư lấy túi thuốc cầm trong tay ném Kinh Kha.
Vua Tần đang chạy quanh cột vẫn cuống quít chưa biết làm thế nào. Tả hữu kêu
lên:
-Nhà
vua mang kiếm sau lưng.
Vua
Tần đưa tay ra sau lưng, tuốt kiếm đánh Kinh Kha, chặt đứt bắp vế bên trái.
Kinh Kha què bèn cầm chuỳ thủ ném vua Tần. Ném không trúng, trúng cái cột đồng.
Vua Tần lại đánh Kinh Kha, Kinh Kha bị tám vết thương tự biết công việc không
xong bèn tựa vào cột mà cười, ngồi xổm mà mắng:
-Việc
này không xong chỉ vì ta muốn để cho nó sống mà uy hiếp nó lấy cho được giấy
cam kết để đưa cho thái tử㉑.
Lúc
bấy giờ tả hữu tiến lên giết Kinh Kha. Vua Tần hoảng hốt một hồi lâu, sau đó
bàn công lao thưởng các quan và trị tội theo thứ bực, cấp cho Hạ Vô Thư hai
trăm cân vàng, nói:
-Vô
Thư yêu ta nên cầm túi thuốc ném Kinh Kha.
Vua
Tần bèn cả giận cho thêm quân sang Triệu, ra lệnh cho Vương Tiễn đem quân đánh
Yên. Tháng mười, lấy được thành Kế, vua Yên là Hỷ, thái tử Đan đều đem tất cả
tinh binh sang phía Đông cầm cự ở Liêu Đông. Tướng Tần là Lý Tín đuổi đánh vua
Yên gấp, vua nước Đại là Gia bèn đưa cho vua Yên là Hỷ bức thư nói:
-“Nước
Tần sở dĩ đuổi đánh nước Yên ráo riết hơn cả là vì thái tử Đan. Nếu nhà vua giết
Đan dâng cho vua Tần thì vua Tần có thể giải hòa, còn có hy vọng nền xã tắc được
cúng tế lâu dài”.
Sau
đó Lý Tín đuổi Đan. Đan nấp ở vùng sông Diễn Thủy. Vua Yên bèn sai người chém
thái tử Đan, dâng đầu cho vua Tần. Tần lại đem binh đánh. Năm năm sau (năm 222
trước Công nguyên) nước Tần diệt nước Yên, bắt vua Yên là Hỷ. Sang năm sau, Tần
lấy tất cả thiên hạ xưng hiệu là hoàng đế.
Tần
bèn lùng bắt bạn bè của thái tử Đan và Kinh Kha. Họ đều bỏ trốn. Cao Tiệm Ly đổi
họ tên làm thuê cho người ta, nương náu ở huyện Tống Tử. Được ít lâu, làm việc
khó nhọc, nghe ở trên thềm có khách chơi đàn trúc, bàng hoàng không sao bỏ đi
được, thường nói: người này gảy khá, người kia gảy kém. Bọn đầy tớ nói với chủ:
-Người
làm thuê kia biết âm nhạc, bàn trộm người hay kẻ dở.
Chủ
nhà gọi đến gảy đàn trúc, mọi người đều khen hay, cho rượu uống. Cao Tiệm Ly
nghĩ mình cứ lén lút rụt rè mãi bao giờ cho cùng, bèn trở lui, lấy cái đàn trúc
và quần áo đẹp trong hòm ra thay đổi dung mạo bước lên. Tất cả khách ngồi ở đấy
đều kinh ngạc bước xuống làm lễ, tôn làm thượng khách bảo gảy đàn trúc và hát.
Mọi người đều sa nước mắt mà bỏ về. Trong vùng Tống Tử, các nhà lần lượt mời
Cao Tiệm Ly đến làm khách. Việc đến tai Tần Thủy Hoàng. Thủy Hoàng gọi vào chầu.
Có người biết, nói:
–
Đó là Cao Tiệm Ly.
Tần
Thủy Hoàng tiếc chàng giỏi gảy đàn trúc, nên đặc cách tha chết, làm cho đui cả
hai con mắt của Ly. Sai gảy đàn trúc: lần nào cũng khen hay. Dần dần vua Tần lại
ngồi gần, Cao Tiệm Ly đổ chì vào ống đàn trúc, vua lại gần hơn, Cao Tiệm Ly giơ
đàn đánh Tần Thủy Hoàng. Đánh không trúng, nhà vua bèn giết Cao Tiệm Ly, suốt đời
không gần gũi người các nước chư hầu nữa.
Lỗ
Câu Tiễn sau khi nghe tin Kinh Kha đâm vua Tần, nói riêng một mình:
-Than
ôi! Tiếc thay hắn không thạo về phép đánh gươm! Ta thật không biết người quá nỗi!
Xưa kia ta quát hắn, chắc hắn không cho ta là người cùng chí㉒.
6. Lời bàn
Thái
sử công nói:
Người
đời nói đến chuyện Kinh Kha, lại khen thái tử Đan có thiên mạng “trời mưa lúa,
ngựa mọc sừng㉓,
như thế là quá đáng! Lại nói Kinh Kha đâm vua Tần bị thương, cũng đều sai. Trước
đây Công Tôn Quý Công, Đổng sinh giao du với Hạ Vô Thư biết kỹ việc đó lại nói
với tôi như thế㉔?
Từ
Tào Mạt đến Kinh Kha, năm người, chí nguyện của họ hoặc thành, hoặc không
thành, nhưng lập ý rõ ràng, không trái với chí mình, danh tiếng để lại đời sau
có phải là vớ vẩn đâu!
-------
Chú
thích:
① Chuỳ thủ: thứ kiếm ngắn
đầu mũi như cái chuỳ (cái thìa).
② Câu này ngụ ý dọa Hoàn
Công, ý nói sẽ liều mình mà hại đến thân thể Hoàn Công.
③ Ý nói: nghĩ đến
việc tranh ngôi vua ở trong nước nên không nghĩ đến việc đánh nước ngoài.
④ Ý nói mình sẽ lo
đến con của Chuyên Chư sau khi Chuyên Chư chết.
⑤ Cuối mỗi đoạn nhắc
lại: “Sau đó… mươi năm…”. Để nêu cao tầm quan trọng của sự kiện nên dùng lối
văn của biên niên sử.
⑥ Khánh có lẽ là họ
của Kinh Kha. Khanh danh từ dùng để gọi những người mình tôn trọng.
⑦ Tác giả dùng phép
ức dương: trước khi nói đến sự dũng cảm của Kinh Kha thì kể một chuyện làm người
đọc tưởng rằng Kinh Kha lần đầu hèn nhát, rồi lần thứ hai cũng lại hèn nhát.
⑧ Đàn trúc cũng giống
đàn cầm, nhưng lấy trúc mà gẩy.
⑨ Chi tiết này chứng
tỏ Kinh Kha và Cao Tiệm Ly có tâm sự u uất không thể thổ lộ cùng ai. Tư Mã
Thiên có một phương pháp tự sự độc đáo làm thành một phong cách riêng: khi kể
chuyện về một nhân vật thường đưa ra những giai thoại rất ngắn chỉ 4, 5 câu có
thể vụn vặt, nhưng những chi tiết ấy lại rất điển hình làm cho nhân vật rất sống.
⑩ Đây chỉ địa phận
nước Yên.
⑪ Hàn Phi nói, dưới
cổ con rồng có cái vẩy ngược ai động đến thì nó giết ngay.
⑫ Những nhà chính
trị giỏi thời Xuân Thu.
⑬ Ý muốn hợp tung
chống Tần.
⑭ Ý Cúc Võ đã muốn
nói đến kế dùng thích khách cho nên nói đến chữ dũng cảm thâm trầm.
⑮ Hai chữ lom khom
đủ để lột tả Điền Quang là ngựa ký về già.
⑯ Phàn Ư Kỳ lại là
một hiệp sĩ. Người thứ hai chết mong giục Kinh Kha báo thù.
⑰ Ý Kinh Kha muốn đợi
người cùng đi cho chắc chắn. Chỉ có bọn trẻ con ngu ngốc mới làm việc xốc nổi
không xem xét trước sau sao cho nên việc.
⑱ Nhạc cổ theo âm
luật cao thấp chia ra cung, thương, giốc, chuỳ, vũ gọi là năm cung.
⑲ Chỉ thêm mấy chữ
“Không hề nhìn ngoái lại” mà khí phách anh hùng của Kinh Kha nổi bật.
⑳ Xem chú thích ở
Liêm Pha, Lạn Tương Như liệt truyện.
㉑ Tất cả đoạn này không nhắc một chữ đến Tần
Vũ Dương càng làm người ta nhớ đến “người bạn Kinh Kha chờ để cùng đi”.
㉒ Kết luận sinh động. Lỗ Câu Tiễn hối tiếc
không dạy cho Kinh Kha cách đánh gươm đến nỗi việc lớn thất bại và tự thẹn về
chỗ Kinh Kha bỏ mình ra đi: Câu này cắt nghĩa Kinh Kha muốn chơi với người cùng
chí hướng, thấy ai không cùng chí nguyện thì bỏ đi chứ không phải hèn nhát.
Nhân vật Kinh Kha lôi cuốn người ta không chỉ vì là hiệp sĩ mà là một người có
tâm sự kín đáo, không mấy người hiểu. Trong những con người không hiểu đó có cả
thái tử Đan.
㉓ Sách Yên Đan tử nói: Thái tử Đan xin về,
vua Tần không cho, hẹn khi nào đẩu quạ trắng, ngựa mọc sừng mới cho về. Đan ngửa
mặt lên trời than vãn, trời làm cho đầu quạ bạc, ngựa mọc sừng ngay. Vua Tần bất
đắc dĩ phải cho Đan về. Sách Phong tục thông nói: Trời vì thái tử Đan mưa lúa
xuống, đẩu quạ bạc, ngựa mọc sừng. Ở đây Thái sử công dẫn những lời trong truyền
ngôn đó.
㉔ Bác lại những truyền ngôn vu vơ và nêu
phương pháp viết sử của mình là căn cứ vào lời nói những người biết rõ sự thực.
➖➖➖