2021-11-06
Quê Mẹ (Tình quê hương, Tình trong câu
hát, Bên con đường sắt)
Thanh Tịnh
Nhà xuất bản Bút Việt, năm 1975
~
Tình quê hương
Tình trong câu hát
Bên con đường sắt
~
TÌNH QUÊ HƯƠNG
Thuyên,
Đông là hai người bạn thân cùng ở một làng: làng Mỹ-lý. Sau ba tháng vào tìm việc
ở Nam-kỳ, hai người mới tìm được hai việc làm tạm ở ga Gò-đen. Ga này ở giữa
con đường Sàigòn - Mỹ-tho, một nơi được tiếng giàu nhất về ruộng lúa. Khách qua
lại toàn là những dân quê ở hai vùng Thanh-trưu và Bá-chẩn. Công việc của
Thuyên, Đồng cũng không đến nỗi vất vả lắm. Lúc còn là hai tên thất nghiệp lang
thang đi tìm việc khắp Sài-gòn thì hai người ít khi nhớ đến quê hương. Nhưng
lúc tìm ra việc thì tình quê hương lại dạt dào luôn trong tâm trí.
Những
buổi nghỉ việc, hai người lại lững thững nắm tay nhau, đi trên con đường về
làng Vạn-thọ. Vì con đường này giống với con đường chính của làng Mỹ-lý quá.
Cũng hai hàng cây sầu-đông chạy thẳng giữa quãng đồng lúa chín, cũng cái miễu
thánh xa xa và mấy đống rơm cao chót vót sau bụi tre già cuối xóm.
Đi
trên quãng đường này, Thuyên, Đồng có cái cảm giác là sắp về nhà mình. Nhưng mỗi
lúc qua khỏi cái cầu dài, hai người lại đứng nhìn nhau ngơ ngẩn. Vì trước mặt
hai người, quang cảnh chung quanh đã đổi hẳn. Những cây dừa vươn mình trên dòng
nước đục, hay vài cô gái miền Nam bơi thuyền giữa đám rau già, không cho hai
người tưởng tượng đến làng Mỹ-lý nữa.
Thuyên
vòng tay nhìn mông mênh ra xa rồi lẩm bẩm:
-
Ừ uổng thật, giá đến đây không gặp con sông này thì chúng mình đã tưởng về xóm
Thạch-lũy rồi.
Đồng
đưa tay chỉ một nếp nhà ngói bên vệ đường rồi nói tiếp:
-
Còn cái nhà xinh xắn kia là biệt thự của cô Ái-Thu làng mình.
Thuyên
nhìn Đồng mỉm cười:
-
Nhớ rõ ràng nhỉ, nhưng đất Nam-kỳ bốn mùa nắng gắt, có mùa thu đâu mà bảo có cô
Ái-Thu.
Trên
phiến đá trắng bên vệ đường, hai người lại lẳng lặng quàng vai nhau ngồi xuống.
Trời càng về chiều, gió càng lạnh. Hai người dần dần ngồi khít gần lại để truyền
hơi ấm cho nhau.
Bóng
tối từ từ lan rộng ra trên quãng đồng lúa chín, ở về phía ga vài ngọn đèn dầu
đã bắt đầu lấp lánh sau mấy hàng cây đen sẫm.
Như
muốn tự dối, Thuyền vui vẻ bảo Đồng:
-
Đồng ơi. Chúng ta hãy đi về ga Mỹ-lý nhanh đi chẳng tối rồi.
Không
hề lộ vẻ ngạc nhiên, Đồng cất tiếng đáp:
-
Ừ chúng ta về ga Mỹ-lý.
Rồi
như mọi chiều, Thuyên, Đồng lại vừa đi vừa hát huyên thuyên, đầu bài bát này nối
đuôi bài khác.
° ° °
Một
hôm Thuyên, Đồng rủ nhau đi chơi thật xa, nhưng đến giữa trưa thì lạc mất đường
về. Hai người phải ghé vào cái quán gần đấy để hỏi đường, luôn tiện để ăn cho đỡ
đói. Cùng ăn trong quán ấy, có ba người nhà quê trẻ tuổi đùa bỡn với nhau luôn
miệng. Nụ cười từ môi này lan qua môi khác, bầu không khí trong quán không bao
lâu trở nên vui vẻ lạ thường. Lúc sắp trả tiền, Thuyên mới nhớ mình để quên ví ở
nhà, Thuyên bấm nhẹ Đồng hỏi sẽ:
-
Đồng có đem tiền theo đấy không?
-
Không. Thế Thuyên cũng không có à?
Thuyên
lắc đầu ra vẻ lo ngại:
-Thuyên
bỏ nhầm quyển số con vào túi, còn cái ví thì để quên ở trong ngăn bàn.
Hai
người đang nhìn xuống mặt bàn để tìm kế «tháo thân» thì bên kia bàn, người nhà
quê trẻ tuổi nhất, đứng dậỵ nói với chủ quán:
-
Hai thầy ngồi bên kia bàn là hai bạn thân của chúng tôi; vậy ông cứ tính chung
để tôi trả tiền luôn thể.
Thuyên
nghe nói cảm động quá, đứng dậy nhìn người trẻ tuổi một lát rồi ấp úng nói:
-
Thật chúng tôi không biết nói gì đây để cám ơn mấy ngài....
Không
để cho Thuyên nói dứt lời, người trẻ tuổi nói tiếp:
-
Đáng lẽ tôi phải cám ơn hai thầy trước mới phải. Vì hai thầy đã cho tôi nghe giọng
nói của mẹ tôi xưa....
Rồi
hạ giọng, người ấy thì thầm như hơi thở:
-
... Vì mẹ tôi là người Trung-kỳ, và đã qua đời hơn tám năm rồi.
Nói
đến đây, người trẻ tuổi lẳng lặng nhìn xuống bàn, hai môi mím chặt ra vẻ đau
thương lắm. Còn Thuyên, Đồng thì bùi ngùi nhớ đến quê hương, yên lặng nhìn nhau
với hai cặp mắt rớm lệ.
° ° °
Ngày
ba mươi Tết năm ấy, Thuyên, Đồng nhất định không đi ăn cơm quán như mọi ngày.
Hai người định mời bà Hai, người ở gần đấy, đến nấu cơm trong ga, để cúng luôn
thể. Hai người cũng không biết cúng ai, nhưng thấy người ta đua nhau cúng, cũng
muốn cúng cho vui.
Bàn
bạc xong xuôi, Đồng đáp tàu lên Chợ-lớn mua các thức ăn trong tiệm khách. Còn
Thuyên ở nhà sắp đặt lại ghế bàn để khuya cúng lễ giao thừa.
Lúc
Đồng về thì trời đã gần tối. Thuyên tự thân hành qua bên nhà bà Hai để mời bà ấy
qua, nhưng rủi bà ấy đã về ăn Tết ở Biên-hoà từ sáng sớm. Thuyên lủi thủi đi về
kể lại cho Đồng nghe. Hai người chỉ nhìn nhau cười, nhưng trông có vẻ băn khoăn
lắm. Ngay lúc ấy, bên kia căn ga có mấy người hành khách đang ngồi nói chuyện với
nhau rất vui vẻ.
Thuyên
mở cửa sổ bán vé tàu, chui đầu sang bên kia rồi nói lớn:
-
Hôm nay không có chuyến tàu bảy giờ. Đến hai giờ sáng mới có chuyến tàu bất thường
ra Bắc.
Vài
ba người nghe nói thất vọng quẩy gánh ra về. Thấy trong bóng tối lờ mờ còn vài
người ngồi, Thuyên dịu lời nối tiếp:
-
Các ngài không ở nhà ăn Tết à? Đi đâu mà sớm thế?
Một
tràng tiếng trong trẻo đáp lại:
-
Chúng tôi về ăn Tết.
Nhận
được tiếng nói Trung-kỳ hai người mừng rỡ lắm. Đồng đứng sau Thuyên lên tiếng hỏi
với:
-
Về ăn Tết sao mà chậm thế?
Sau
một dịp cười thẳng thắn, tiếng nói ấy lại ngọt ngào reo lên như trước:
-
Chậm còn hơn không, hai thầy ạ.
Thuyên
thụt đầu vào nhìn Đồng mỉm cười.
Đồng
kề miệng bên tai Thuyên nói khẽ:
-
Chắc cô này biết chúng mình.
Thuyên
láy Đồng xách cây đèn treo rồi hai người cùng qua bên kia căn ga.
Trên
chiếc ghế dài kê khít tường, một thiếu nữ mặc theo kiểu Huế, đang ngồi giữa một
giỏ cam, và hai chai rượu.
Thấy
Thuyên, Đồng đi qua, thiếu nữ nhoẻn miệng cười hỏi sẽ:
-
Thế hai thầy định ăn Tết ở đây à?
Thuyên
xoa tay, đáp:
-
Có lẽ ở đâu chúng tôi cũng không ăn Tết được.
Thiếu
nữ trố mắt nhìn Thuyên ra ý hỏi.
Thuyên
mỉm cười nói tiếp:
-
Vì một lẽ rất giản dị là đồ ăn mua về không có ai nấu.
Thiếu
nữ đưa tay che miệng cười ngặt nghẽo.
Mấy
chai rượu đế trên ghế được dịp chạm với nhau nghe rất vui tai.
Cười
xong thiếu nữ vuốt lại mấy sợi tóc bay loà xoà trước trán hỏi tiếp:
-Thế
người nấu ăn của hai thầy đi đâu?
Đồng
bấm Thuyên đi lui rồi chen tới trước đáp:
-
Người ấy không đi đâu hết. Nhưng chúng tôi cũng không ăn Tết được.
Không
để cho thiếu nữ ngạc nhiên, Đồng nói tiếp:
-
Vì sự thật chúng tôi không có người ấy.
Nghĩ
một lát, Đồng ngập ngừng nói sẽ:
-Vì
vậy, nếu không làm phiền cô, vì chúng tôi biết làm thế này là phiền cô lắm,
nhưng ...
Thuyên
ngắt lời nói thật nhanh:
-
Chúng tôi muốn nhờ cô ...
Nhưng
nói đến đây, Thuyên đã ú ớ tìm không ra chữ. Thiếu nữ Huế tươi cười nói tiếp:
-
Nhờ em nấu hộ cho hai thầy phải không. Nhưng tiếc em chỉ biết nấu thức ăn theo
cách ở Trung-kỳ thôi.
Thuyên
mừng rỡ:
-Có
thức ăn Trung-kỳ để ăn ... Tết, thật chúng tôi không muốn gì hơn nữa.
° ° °
Nói
là cúng chơi, nhưng lúc khói trầm toả lên khắp nhà và mấy ngọn đèn nến chập chờn
trong bóng tối, Thuyên, Đồng cũng cảm thấy sự đầm ấm thiêng liêng của những
ngày cúng kỵ. Thuyên kính cẩn rót thêm một tuần rượu vào ly rồi nói:
-Không
biết lễ vật này mình cúng cho ai nhỉ?
Thiếu
nữ Huế vòng tay nhìn Thuyên đáp:
-
Cho những linh hồn tha hương chứ gì.
Thuyên
cười nói:
-
Ô hay, nếu vậy chúng mình lại tự cúng cho chúng mình rồi à?
Thiếu
nữ ra vẻ sợ sệt nói sẽ:
-
Chỉ nói dại.
Sực
nhớ đến những nén hương không có trên bàn thờ, Thuyên hỏi Đồng:
-
Đồng có mua hương đến không?
Đồng
nhìn lên bàn thờ nói:
-
Ừ nhỉ! Đồng vô tình quên mua mà không nhớ!
Thiếu
nữ vội vàng đến mở va-li, lấy thẻ hương ra rồi hỏi:
-Đã
vô tình quên thì nhớ thế nào được. Nhưng em có sẵn đây, hai thầy lấy mà thắp.
Thuyên
đem cái máy đóng vé tàu để giữa bàn thờ bỏ hương vào trong một cái lạch con rồi
tươi cười nói:
-
Cái lư hương trông thế mà đẹp.
Ba
người nhìn nhau cố che miệng để khỏi bật tiếng cười.
Một
lát sau, Thuyên quay lại nhìn thiếu nữ rồi dịu lời hỏi:
-
Chút nữa tôi quên không hỏi tên cô.
Thiếu
nữ vuốt mái tóc rồi hỏi:
-
Tên em?
Đồng
gật đầu:
-
Vâng, tên cô, vì đã hơn hai năm, lần này chúng tôi mới được gặp một cô gái
Trung-kỳ bước chân đến ga này.
Thiếu
nữ vẫn giữ nụ cười trên môi nói tiếp:
-
Tên em là Bá Xuân.
Thuyên
quên mình đang đứng trước một cô con gái lạ, vỗ tay reo lên:
-
Vậy qua năm mới, anh em chúng tôi đã rước được một trăm mùa Xuân vào nhà … ga.
Như
hưởng ứng với lời Thuyên, một tràng pháo nổ vang lêu gần đấy.
Thiếu
nữ ngây thơ nói tiếp:
-
Hai anh chớ tưởng một trăm mùa Xuân mà thôi đâu. Nhiều lắm cơ, không đếm được!
Vì em là Lê ... «les » Bá Xuân.
Thuyên
thấy thiếu nữ nói chuyện ngây thơ, lại xưng hô thân mật thì sung sướng vô cùng.
-
Nếu vậy thì hôm nay nhà chúng ta đầy nức cả mùa xuân.
Ngay
lúc ấy bên quãng đồng xa, làng Tân-hiệp, một tiếng còi tàu thét lên vang trong
đêm tối. Rồi tiếp đến tiếng máy đều đều của con tàu ra Bắc.
Thuyên
buồn rầu cúi mặt nhìn xuống đất, rồi với một giọng đầy nước mắt, nói sẽ:
-
Nhanh thật, đón được mùa xuân chưa đầy hai phút thì đã phải tiễn mùa xuân đi rồi.
Cô
Xuân đến ngồi trên chiếc ghế dài, hai tay ôm đầu ra dáng cảm động lắm. Một lát
sau, cô ngửng mặt nhìn Thuyên, Đồng rồi với giọng run run, nói thật sẽ:
-
Xuân đi chỉ một, còn xuân ở bên hai anh thì nhiều hai anh ạ!
Rồi
gượng cuời, nhưng hai mắt đã nhoà cả lệ, cô Xuân nói tiếp:
-
Vì em có những Lê... «les» Bá Xuân.
➖➖➖
TÌNH TRONG CÂU HÁT
Một
buổi chiều vàng rộng mông mênh. Trên dòng sông hẹp hai chiếc thuyền như cố theo
nhau ráo riết. Chiếc trước nhỏ, dáng mảnh khảnh mình thon chỉ được một cánh buồm
nâu hình tam giác. Chiếc sau trông mạnh mẽ, gỗ láng và mui cao. Phía trước hai
cánh buồm uốn phồng thật cong như nuốt gió. Hai chiếc thuyền cứ thong thả lướt
nhẹ trên dòng sông cách nhau chừng vài trăm thước.
Nhưng
trước kia hai chiếc ấy đã cùng đi từ một bến.
Chiều
hôm ấy nghe nắng đã bớt màu vàng khe khắt, và gió đông nam bắt đầu nổi sau độn
cát chùa Quang, anh Đạt từ từ cho lui thuyền ra khỏi bến. Anh đã lãnh được một
chuyến khoai khô chở về huyện Quảng. Giữa cảnh hỗn độn ở bến Bao-vinh, thuyền sắp
ngổn ngang và lái xây đủ hướng, anh Đạt chịu khó lắm mới lần được thuyền ra giữa
dòng sông. Ngay lúc ấy anh nhận thấy ở phía xa, gần bến Đá, một chiếc thuyền buồm
nâu cũng từ từ quay lại. Đạt mừng thầm, vì được một chiếc thuyền đi cùng sông
không khác gặp một người bạn đi cùng đường. Giữa cảnh đêm hôm họ sẽ đem câu hát
ra hỏi chuyện nhau cho sông đỡ dài, đêm đỡ vắng. Đó gần như một cái lệ chung của
khách thuyền bè sống trên mặt nước.
Câu
hát của họ thường do sự biện bạch thật nhanh và thật sáng, tả được chuyện nhà
rõ ràng và mạch lạc không kém gì chuyện bông lông. Nhưng đẹp và tươi nhất là
câu chuyện tình. Vì về mặt này họ rất thạo. Họ tả một cảnh hồn nhiên, nỗi cô
đơn của lòng họ. Lắm lúc họ còn mượn cảnh nước mây để câu chuyện tình thêm
thanh thú. Từng ấy chuyện họ thu gọn trong câu hò mái đẩy, văng vẳng kéo dài
như tiếng chuông ngàn quyến gió hay rỉ rền như tiếng nức nở của vọng phu.
Câu
hát trên dòng sông đã là lối giới thiệu thầm của hai tâm hồn xa lạ, hay mẩu
chuyện đời góp nhặt đổi cho nhau nghe. Lệ thường hễ nhiều con thuyền trôi trên
sông vắng hay giữa phá dài, là câu hò trao qua đáp lại đã vọng vang ra theo chiều
gió. Cũng có khi một chiếc thuyền cô độc lướt nhẹ theo bờ sông, khách thuyền chỉ
biết vu vơ thả câu hò ra giữa bầu trời cao rộng. Rồi trên bờ vắng hay giữa sông
sương, vài tiếng hò như tiếng lòng xa vội vàng đáp lại. Người ta cứ thả tiếng
hò ra như để làm quen với tiếng hò khác. Và thỉnh thoảng trong bóng tối của đêm
dày người ta lại được nghe tiếng hò năm trước. Tiếng hát từ đó lại đổ dồn để kể
cho nhau nghe sự đổi thay của mấy năm xa cách. Và lắm lần người ta đã khóc thầm
vì hy vọng của xa xưa đã tắt hẳn, hay câu hẹn hò năm trước đã bị quên lãng ở giữa
cảnh chồng con. Gặp nhau trên dòng sông có khi vài ba canh tiếp, nhưng bỗng đột
ngột người ta rẽ bến xa nhau. Nhưng họ cũng hy vọng chờ và mong gặp nhau trên một
phương sông vô định. Ví dầu không biết mặt nhau nhưng giọng hò và điệu tứ họ đã
quen nhau rất chặt. Rồi đời này qua kiếp khác, khách của mặt nước cũng chỉ biết
tìm tình đời trong câu hát giữa dòng sông.
° ° °
Đạt
goá vợ đã lâu, ngày tháng chỉ biết đưa thuyền để nuôi con dại. Vợ Đạt ngày xưa
là một cô lái thuyền ở làng Vịnh-trị. Hôm ấy trời gió lớn và sắp nổi cơn giông,
thuyền Đạt và thuyền Liên – tên vợ Đạt – phải ghé vào bờ để núp sóng. Đã quen
nhau từ trước trong câu hát vẳng trên sông nên lúc gặp nhau Đạt và Liên không
biết ngượng ngùng gì nữa. Câu chuyện tình liền bắt đầu thủ thỉ, trên hai con
thuyền tình cờ sóng đã thúc lại gần.
Đạt
mê man đưa tay qua thuyền bắt tay Liên và chực vuốt mái tóc tơ đang vờn trong
gió lạnh. Liên say sưa cúi đầu nhìn mặt nước, đành câm lặng mà không nói được
nên lời. Cách hai tháng sau Đạt lấy Liên và lễ cưới đã cử hành trên một nhóm
thuyền kết lại. Vì thuyền đã là gia đình của họ, dòng sông là nơi họ qua về, và
muôn bến chỉ là nơi ở tạm. Lễ cưới của Đạt và Liên, cũng như tất cả người người
sống trên thuyền không ngờ đã đượm một tình thơ tươi sáng.
Liên
với một nhóm thuyền của bạn bè và thân thích đến đậu trước ở bến nứa làng Vân.
Vì chính nơi ấy xưa kia hai người đã gặp gỡ. Ba giờ sau một toán thuyền trên mười
lăm chiếc về, họ hàng Đạt đến vây đậu chung quanh. Toàn thuyền buôn bán hay làm
ăn cả, nhưng hôm ấy họ cũng gắng trang hoàng và dọn dẹp thật sạch sẽ. Giữa đêm
họ đem đèn ra thắp chung qnanh boong và treo một ngọn đèn khá lớn trên cột buồm,
xa trông như một cụm chiến thuyền của thời xa cũ. Họ bày ra ăn uống rất vui vẻ
và có lệ hay hay là đổi thuyền nhau để ngồi. Thường họ thắp đèn thật nhiều chứ
không đốt pháo. Vì họ cho tốn tiền và cũng không thêm gì được cuộc vui. Nói
chuyện đến nửa đêm thì họ nhổ sào giải tán, chỉ để lại hai chiếc thuyền của Đạt
và Liên.
Trong
lúc thấy đám thuyền đèn từ từ xa bến, Đạt tự nhiên vui vẻ cất tiếng hát vọng
lên như tiễn biệt, Liên đứng nép bên cạnh chồng nhìn đám thuyền trôi buồn rầu
tiếp theo mấy tiếng «hò» dài nghe não nuột [1]. Bên đám thuyền kia,
người của hai họ đồng cất tiếng hát vang lên một lần như đáp lại. Tiếng hát của
hai bên cứ nhỏ dần, sau chỉ để nghe mơ màng như tiếng thoảng. Đám đèn xa rồi mờ
mãi để lẩn dần trong cụm sao đỏ phía chân sông. Không biết nghĩ gì Liên tựa đầu
trên vai chồng, nhìn dòng nước mênh mang thổn thức.
Từ
đó trên dải phá Tam-giang, hai chiếc thuyền của Đạt và Liên cứ kèm nhau theo
mãi. Ở với nhau gần ba năm, Liên sinh được một đứa con gái. Nhưng trong kỳ thai
sản ấy, Liên bỏ mạng ở nhà thương. Đạt chôn cất vợ xong liền bồng con về sống lại
cuộc đời cô quạnh. Giọng hát của Đạt từ đó lẻ bầy, nghe não nùng như oán khóc.
Rồi trong khoảng mấy tháng đầu hễ có dịp chèo thuyền đi xa Đạt lại nối dây kéo
thuyền của Liên đi theo. Trong thuyền ấy chỉ để độc một bát hương khói toả ra
nghi ngút. Thuyền của Đạt đi đến đâu, người ta liền đổ dồn ra bờ đứng xem. Đạt
vẫn thản nhiên cất giọng hò lanh lảnh, gương mặt quá đau khổ đến lạnh lùng như
người chờ đám ma. Nhưng sau nghe mẹ phân phải trái, Đạt liền bán chiếc thuyền của
Liên đi và giao con gái cho mẹ nuôi.
Đạt
đã bớt sầu muộn và nghề làm ăn xuôi ngược đã bắt Đạt quên dần Liên. Nhưng chiều
hôm ấy, lúc cho thuyền rời khỏi bến, Đạt tình cờ sống lại một cảnh của thời
xưa. Trước mặt Đạt một chiếc thuyền ai đang rẽ nước giống hệt với thuyền Liên.
Lòng Đạt bồi hồi một cách lạ. Đạt kéo thêm một buồm nữa để đuổi theo và chính Đạt
cũng không biết để làm gì. Nhưng thuyền Đạt, mũi lún và đầy khoai nên không thể
nào lướt nhanh hơn được. Trái lại chiếc thuyền trước chạy như bay, thấp thoáng
trong chiều sương trông như bóng mộng.
Đạt
liệu bề không theo kịp liền cất tiếng hát hỏi thăm:
Thuyền
ai trôi trước
Cho
tôi lướt đến cùng
Chiều
đã về trời đất mung lung,
Phải
duyên thì xích lại
cho
đỡ não nùng tiếng sương.
Giọng
hát cất lên thật cao rồi hạ xuống từ từ như than vãn như kể lể. Trên lái thuyền
đi trước bỗng nổi bật bóng một thiếu nữ mặc áo nối dài quay đầu nhìn phía sau một
lát rồi đáp:
Trời
một vùng đêm dài không hạn,
Mượn
gió chiều hỏi bạn ngàn sông,
Thân
em là gái chưa chồng,
Tơ
duyên có chắc như dòng nước không?
Đạt
giật mình tưởng như tiếng hò của Liên ngày trước. Vì cũng một giọng hò trong trẻo
và hơi dài, câu dứt gọn và đưa xinh như sương tỏa. Đạt nghĩ ngay đến mấy cô lái
thuyền làng Vịnh-trị, người cùng làng với Liên. Vì tuy khác tiếng khác câu
nhưng mỗi làng có một cách hò riêng không sao lẫn lầm được. Và cũng riêng câu
hò ở mặt phá là rộng và lan dài, chứ lối hát ở dòng sông là câu điệu nghe mùi
chớ không thanh thoát. Đạt đã sống nhiều năm ở mặt phá nên phân biệt giọng hò
thạo lắm. Đạt còn biết làng nào ở khúc phá hẹp là giọng hò làng ấy ngắn và
trong. Còn những khoảng phá rộng lại un đúc được giọng hò nghe trầm và mạnh.
Chiều
này Đạt thao thức trước giọng hò Vịnh-trị vì lòng Đạt bàng boàng nhớ đến Liên.
Đồng áng chung quanh tuy đổi màu hay thay nét, nhưng cũng vẫn cảnh cũ đã làm chứng
cho cuộc tình xưa. Chiều đã phai bớt màu lam và dần dần tối sẫm. Nhưng giữa mặt
sông trời còn sáng hơn làng mạc. Vài ba ngọn đèn dầu thấp thoáng trong hàng cây
đen. Thấy bóng thuyền lướt trên sông, một con chó đứng trên bờ nhìn theo sủa lớn.
Hai
giờ sau, hai con thuyền đã ra đến phá. Trăng đã lên cao sau đồi cát trắng. Hơi
nước tỏa ra mằn mặn bốc trong gió mát thổi vi vu. Mặt phá rộng mênh mông lấp
loáng ánh trăng vàng trông rất đẹp.
Hai
con thuyền vẫn đuổi nhau như cũ, xa trông như cặp nhạn lướt trên hồ. Đạt có vẻ
thất vọng nên giọng hát thoang thoảng đưa ra như tiếng thở. Tiếng đáp của cô
lái thuyền phía trước có vẻ quyến luyến và ý vị hơn. Đạt kéo dây lèo cho buồm
thật căng để lướt nhanh hơn trước.
Qua
làng Thế-chi, gà xa xa đã eo óc gáy canh tư. Giữa vùng trời bảng lảng, lòng Đạt
và cô lái không quen đã bắt đầu gặp gỡ. Câu hát đã đổi ra tình tứ, điệu trầm và
cảm nghe như tiếng suối vẳng rừng khuya.
Dòng
phá đến làng Kế-môn dần dần thu hẹp lại để sau cùng chia hẳn khúc ba sông. Đạt
đang hồi hộp lo sợ thì chiếc thuyền trước đã quay mũi về phía Kim-long. Đạt buồn
rầu nhìn cánh buồm nâu nghiêng mình theo chiều sông như cánh én. Đạt lưỡng lự một
chút nhưng bỗng đưa tay đẩy mạnh đòn bánh lái cho thuyền xuôi về Đại-lược. Từ
thuyền trước một câu hò chia biệt vẳng lên không:
Tình
về Đại-lược,
Duyên
ngược Kim-long,
Đến
đây là chỗ rẽ của lòng,
Gặp
nhau còn biết trên sông bến nào.
Đạt
muốn hò đáp lại, nhưng tự nhiên thấy nghẹn ngào trước cảnh biệt ly. Nhớ đến
Liên, đến người bạn mới trong đêm, Đạt gục đầu ôm mặt khóc rưng rức.
Trong
đám sương mờ óng ả trăng, hai chiếc thuyền lẳng lặng cách và xa gần như rẽ quạt.
----------------------
[1]
Lệ trong câu hò mái đẩy thì một người hát, còn mấy người khác chỉ đưa tiếng
«hò».
➖➖➖
BÊN CON ĐƯỜNG SẮT
Đường
từ huyện Sơn-hải về làng Mỹ-lý có hai ba ngả. Ngả tiện và gần nhất là con đường
mòn đi băng qua làng Thanh-ý. Con đường này đi qua một cánh đồng ruộng mênh
mông rồi lẩn lút trong đám tre xanh chừng nửa dặm trước khi vươn mình qua sông
Phù-mỹ. Qua khỏi sông thì gặp ngay con đường sắt chắn ngang nên con đường mòn lại
nhập với con đường lớn đi thẳng về làng Mỹ-lý.
Bên
con đường mòn, dưới bóng một cây bàng cao lớn, một cái quán tranh đã điểm một
chấm đen bên lưng đồi sỏi trắng. Cái quán ấy trở mặt nhìn con đường sắt cách xa
đấy không đầy một trăm thước.
Ba
năm về trước, người ta có dựng lên ở vùng này một cái ga tạm. Nhưng sau nhận thấy
khách lên xuống ở ga ấy ít quá nên lại bỏ đi. Thật ra lúc mới dựng ga thì quang
cảnh chung quanh không đến nổi lạnh lùng quá.
Lúc
nào khách bộ hành cũng qua lại tấp nập, và bao nhiêu đường ở làng Mỹ-lý đều
quay đầu về ga ấy hết.
Dân
trong làng thấy ở địa phận mình có cái ga ấy thì vui thích lắm. Họ thường lên
xuống để xem tàu chạy và để nhìn những dân mấy làng bên cạnh qua lại ở làng
mình. Được thấy những người lạ mặt ấy họ vui mừng và sung sướng vì họ cho là điềm
thịnh vượng của dân cư và sự vẻ vang của làng nước.
Hồi
ấy trong làng có một cô gái bán gạo trông xinh tươi và thùy mị. Cô ta ở một
mình với người em trai vì cha mẹ cô qua đời lúc cô mới mười bốn tuổi, cô ta bán
gạo để nuôi em đi học và để trả những món nợ của cha mẹ để lại. Thấy cách bán gạo
kiếm tiền không được mấy, nên cô ta dọn một cái quán gần bên ga.
Nghỉ
bán gạo ba hôm, cô Duyên – cô ấy tên Duyên – đã dời được cái nhà của cô đem ở
khít bên đồi sỏi trắng. Mấy tháng đầu, cô ta buôn bán thịnh vượng lắm. Cô chỉ
chuyên bán cơm quán cho những khách lên xuống tàu nên quán cô ta lúc nào cũng tấp
nập người ra kẻ vào.
Tiếng
mõ đầu làng mới trở canh ba, cô Duyên đã phải dậy nấu cơm để cho những người đi
chuyến tàu bốn giờ sáng. Ngày đêm cô ta chỉ lấy những chuyến tàu qua lại để làm
chừng.
Cô
ta tiếp đón khách qua đường vui vẻ và chân thật nên ai cũng bằng lòng. Riêng
các cô gái trong làng thì không ai ưa tính tình thẳng thắn của cô Duyên. Họ
quen ra vào trong những nếp nhà nghi lễ gắt gao nên họ cho lối tiếp khách của
cô Duyên trông không được đứng đắn lắm. Gặp nhau trên con đường đi xuống chợ
hay giữa quãng đồng lúa chín, họ thường khúc khích cười rồi bảo thầm với nhau
những câu rất khó chịu:
-
Được duyên số như cô Duyên thì thà chịu phận hẫm duyên hờn còn hơn.
Một
cô khác lấy nón che miệng cười, nói tiếp:
-
Các chị em chớ nói đùa! Trong chị em mình chị nào ế chồng thì lên quán cô Duyên
cô sẽ chia bớt chồng cho. Vì quán cô Duyên thì đa nhân duyên lắm đấy!
Mỗi
lần những tiếng ấy đến tai cô Duyên thì cô chỉ mỉm cười rồi lật đật đi tìm việc
để làm chứ không bao giờ cô chịu bận lòng để ý đến.
Một
hôm trời chưa tảng sáng, ở trước quán cô có người gọi cửa. Cô lật đật ngồi nhỏm
dậy rồi đưa hai chân xuống giường sờ soạng tìm đôi guốc. Tiếng gõ cửa càng nghe
càng manh hơn trước. Cô Duyên vừa lấy diêm thắp đèn vừa tươi cười hỏi bỡn:
–
Quí khách nào đấy?
Ở
bên ngoài có tiếng đáp:
-
Quí khách đến mở hàng cho cô đây.
-
Vâng cháu sắp mở cửa. Ngài cần dùng gì?
Tiếng
ở ngoài nghe the thé và có vẻ gắt gỏng khó chịu:
–
Cần dùng ngủ lại với chủ quán một đêm.
Nhận
được tiếng cô Lân, một người bạn gái xưa kia cùng ở một xóm, cô Duyên mừng lắm:
-
Cô Lân đấy phải không? Đi đâu mà khuya thế?
Tiếng
bên ngoài lần này đổi ra giọng mỉa mai:
-Vâng,
con Lân đây, nhưng làm trò gì ở trong lại để tôi phải gọi rát cả cổ. Hay chị bảo
tôi là khách đàn bà... nên chị không tiếp.
Dứt
tìếng nói thì tiếp đến tiếng guốc kéo thiệt nhanh đi về phía ga rồi im bặt sau
hàng thông cao vút.
Cô
Duyên biết cô Lân nói mỉa mình nhưng cô cũng không buồn cãi lại. Vì cô chán biết
không ai muốn tin đến tấm lòng nhi nữ đã ẩn được thanh bạch trong túp lều tranh
mục nát. Nhưng lúc cô vừa đặt mình xuống giường thì tự nhiên hai mắt cô lại
chan hoà cả nước mắt. Lần này cô tủi vì đời cô không có người che chở.
Người
thường đi lại quán cô ta nhiều bận nhất là thầy xếp ga. Thầy này cứ ngày hai buổi
đến ăn cơm ở quán cô Duyên, còn đêm thì ngủ lại trong ga tạm. Thầy ta tên Trưu,
tính tình lúc nào cũng vui vẻ và hiền từ. Đến mấy bận ở quán cô Duyên, thầy đã
đem lại cho cô quản trẻ tuổi lắm ý kiến hay và sáng suốt. Thày Trưu khuyên cô
Duyên nên cho người em trai đi học chữ Pháp vì Hán-văn đã mất hết vẻ thông dụng
của thời xưa rồi. Cô Duyên lúc nào cũng sẵn sàng nghe lời thầy Trưu vì những ý
kiến tươi sáng của thầy ta lúc nào cũng kèm theo những ý kiến xa xuôi về cuộc
nhân duyên tình ái.
Lửa
ái ân của hai ngựời mới bắt đầu nhóm thì một chuyện không hay bất ngờ xảy ra.
Cách
ga tạm ở làng Mỹ-lý ba cây số, có một cái ga lớn ở chính giữa làng Kỳ-lâm. Dân
vùng quê thường tính lợi hại từng li từng tí nên họ không chịu lên tầu ở ga Mỹ-lý
nữa. Vì chịu khó đi đến ga Kỳ-Lâm thì họ được lợi bốn xu. Vì vậy mà ga tạm ở
làng Mỹ-lý trở nên hẻo lánh và quang cảnh chung quanh cũng mất vẻ sầm uất. Một
vài cái quán nước gần ga đã bắt dầu dời đi nơi khác.
Qua
mùa đông năm ấy, thầy Trưu được giấy bổ vào Nha-trang. Nhà ga tạm Mỹ-lý từ đấy
trở nên chỗ trú ngụ của bọn dân nghèo khổ. Quán cơm cô Duyên cũng vì thế mà trở
nên buồn tẻ.
Nhưng
cô Duyên nhứt định không chịu dỡ quán đem về làng. Cô ta đoán biết trước những
vẻ mặt khinh khỉnh, những lời nói mỉa mai của lắm người không ưa cô ta ngày trước.
Khách
bộ hành càng ngày càng thưa thớt dần, nhưng cũng may những người làm ruộng thường
ghé lại quán mua nước hay khoai nên nghề buôn bán của cô Duyên cũng tạm gọi là
sống được. Rồi ngày hai buổi, lúc nghe tiếng còi tàu văng vẳng bên đồng xa, cô
Duyên lại lững thững đi lên trước sân ga tạm cũ để nhìn tàu chạy. Tiếng máy chạy
đều đều của con tàu từ phương xa đi lại đã hoà nhịp với tiếng đập mạah của quả
tim cô. Lần nào cô ta cũng hy vọng thầy Trưu sẽ trở về với cô, với cái quán
tranh tựa bên đồi sỏi trắng. Nhưng lúc không nhận thấy một mặt nào quen trên
chiếc tàu đang vùn vụt chay, cô ta lại buồn rầu nhìn xuống đất để âm thầm tự hứa
sẽ lên ga đón chiếc tàu sắp đến. Trong lúc ấy thì sau lũy tre già, con tàu ngạo
nghễ phụt vài lớp khói lên không và thét lên một chuỗi tiếng dài để ra oai với
quãng đường muôn dặm.
Qua
mùa đông năm sau, giữa một đêm mưa gió dầm dề, cô Duyên chợt tỉnh nghe bên
ngoài có tiếng gọi. Cô ta đưa hai tay dụi mắt rồi sờ soạng trong bóng tối để
tìm lối đi.
-
Cô Duyên ơi! Cô còn thức hay ngủ?
Nhận
được tiếng thầy Trưu, cô Duyên mừng quá run cả người. Cô ta phải vịn vào cột để
giữ hơi thở mạnh và để lấy giọng điềm nhiên trả lời:
-
Thày Trưu đấy phải không?
Bên
ngoài tiếng thầy Trưu đáp lại hơi run run:
-
Phải tôi đây, cô mở cửa nhanh cho tôi vào với.
Tấm
cửa tranh vừa mới hé mở thì thầy Trưu nhanh nhẹn bước chân vào. Một luồng gió
tràn vào mạnh đã làm tắt cây đèn để trên ngựa. Cô Duyên loay loay đi tìm diêm để
thắp lại. Cây diêm đã kề ngọn lửa bên bấc, nhưng vì tay cô Duyên run quá nên
cây đèn vẫn chưa chịu đỏ.
Lúc
ánh sáng lù mù đã toả ra khắp nhà, thầy Trưu mới đến vắt cái áo tơi trên lưng
ghế, rồi đăm đăm đứng nhìn cô Duyên không chớp mắt. Gương mặt cô Duyên tuy
không tươi bằng trước, nhưng cái duyên xưa, cái duyên mộc mạc trên đôi môi hồng
thắm, trên cặp má núng đồng liền vẫn còn mơn mởn như đoá hoa hồng buổi sáng. Thấy
đồ đạc trong nhà ngổn ngang và đầy bụi bặm, thầy Trưu cũng đủ biết cảnh nhà cô
Duyên ra thế nào rồi. Biết cô Duyên ngượng vì mình đứng nhìn quá lâu, thầy Trưu
đưa tay phủi bụi mưa trên cái mũ dạ để tìm vài câu hỏi.
Sau
một lúc đứng yên, thầy Trưu ngập ngừng lên tiếng trước:
-
Độ này cô làm ăn có khá không?
Được
nhịp ngẫng đầu lên, cô Duyên đưa cặp mắt nhung nhìn thầy Trưu từ đầu xuống
chân, rồi e dè sẽ đáp:
-
Làm gì mà khá bằng trước được.
Thầy
Trưu cũng biết mình đã hỏi một câu thừa nên đứng yên không hỏi nữa. Thấy bút
nghiên chữ Hán để bên cây đèn, thầy Trưu sực nhớ đến người em trai của cô Duyên
nên vội hỏi:
-
Em Nhàn năm nay lên lớp mấy rồi?
-
Em Nhàn đã trở lại học chữ Hán mấy tháng nay.
Ngạc
nhiên thầy Trưu hỏi dằn từng tiếng:
-
Học chữ Hán?
-
Vâng, vì sách học chữ Pháp bán đắt tiền quá, nhà nghèo em mua không nổi.
Nhận
thấy cảnh túng bấn của cô Duyên, thầy Trưu ngậm ngùi thở dài, yên lặng.
Biết
mình vô tình để thầy Trưu đứng lâu quá, cô Duyên xoa tay tươi cười nói:
-
Mời thầy ghé ngồi tạm đã.
Như
người tỉnh mộng, thầy Trưu giật mình đưa trái cánh tay nhìn đồng hồ rồi nhìn cô
Duyên nói khẽ:
-
Cô Duyên ạ, tôi cũng không ngờ đêm hôm nay lại gặp được cô. Vì hôm qua được giấy
đổi ra Vinh, tôi phải đáp chuyến tàu suốt đi liền. Nhưng gần đến trước ga tạm Mỹ-lý,
con tàu lại bị chết máy. Thừa dịp ấy tôi vội vàng xuống thăm cô. Thật tôi không
ngờ quán của cô lại còn ở đây.
Cô
Duyên nghẹn ngào nhìn thầy Trưu. Cô đang thầm cảm ơn Trời Đất đã bắt con tàu chết
máy, thì văng vẳng ở bên đồng xa, tiếng còi tàu lại thét lên trong đêm vắng.
Thầy
Trưu giật mình cúi xuống vớ cái áo tơi rồi tiến đến nắm tay cô Duyên cúi đầu sẽ
nói:
-
Máy tàu họ đã chữa được rồi. Thôi xin chào cô, ngày gặp gỡ trăm năm xin chờ hôm
khác.
Nói
xong thầy Trưu quay lưng đi ra cửa thật nhanh để dấu hai hàng lệ đã tràn trề
trên má, trong lúc cô Duyên đứng chơi vơi nhìn theo với cặp mắt đẫm lệ và với tấm
lòng tan nát.
Ngoài
trời hạt mưa đêm vẫn còn rì rào trong bụi tre gần bên quán.
Từ
đấy về sau, mỗi lần chuyến tầu đêm đi qua trước sân ga Mỹ-lý, cô Duyên lại tưởng
trái tim cô ngừng đập. Vì lúc nào cô ta cũng tưởng tượng đến ở máy tàu ngừng
kêu, và bên ngoài có tiếng người gọi cửa.
Nhưng
sự thật thì con tàu vẫn vùn vụt đi qua giữa những cảnh đồng hoang vắng, giữa những
đêm mưa gió dầm dề, lạnh lùng và mãnh liệt.
➖➖➖