2020-10-17
Chuyện cũ Hà Nội
Tô Hoài
Lời tựa:
Có lẽ, chúng ta không ai là không biết đến nhà văn Tô Hoài
(1920-2014) với tác phẩm nổi tiếng “Dế mèn phiêu lưu ký”. Nhân kỷ niệm
1010 năm Thăng Long – Hà Nội, tôi trân trọng giới thiệu 2 trong số 114 “Chuyện
cũ Hà Nội” của ông. Anh/chị chớ nên ngạc nhiên. Nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận
xét thế này:
“Tô Hoài như một từ điển sống, một pho sách sống. Ông như
cuốn Bách khoa Toàn thư mà không Viện sĩ nào, không Học giả nào có thể sánh
được. Tôi đã có dịp tò mò hỏi ông về Hà Nội và rất ngạc nhiên. Tôi không ngờ
ông hiểu Hà Nội sâu sắc đến thế. Tôi gọi ông là Nhà Hà Nội học, dù ông không
nghiên cứu.”
Chính nhà văn Tô Hoài có quan điểm về Hà Nội như sau:
“Hà Nội do dân tứ phương lập lên. Người Hà Nội gốc có lẽ chỉ
là mấy anh đánh cá ở sông Tô Lịch. Mà Tô Lịch chỉ còn là một phế tích. Chẳng có
ai sống ở Hà Nội được đến mười đời. Vì thế muốn hiểu tính cách người Hà Nội, ta
phải tìm hiểu tính cách chung của người Việt Nam, rồi nghiên cứu cá tính người
thành thị thì mới ra tính cách người Hà Nội. Tất nhiên người Hà Nội có nét hào
hoa phong nhã, nhưng đấy không phải tận gốc mà là tinh hoa của nhiều vùng đất
tạo nên. Dân Hà Nội là dân tứ chiếng. Vì thế, ở Hà Nội tuyệt nhiên không có
chuyện cục bộ địa phương. Bất cứ ai cũng có thể về làm Lãnh đạo Hà Nội. Tôi cho
đó cũng là một nét rất hay của Hà Nội.”
~~~
🏙️ Băm sáu phố phường
Hà Nội xưa kia không có các huyện ngoại thành. Lên đến Bưởi đã
là ngoại ô. Ra Cầu Giấy, nói đầy đủ là ra ô Cầu Giấy đã hết địa phận thành phố.
Người Pháp đưa huyện Hoàn Long - hầu hết quận Đống Đa bây giờ, làm ngoại thành,
gọi là đại lý Hoàn Long. Tri huyện Đặng Vũ Niết về vừa nhận chức quan đại lý
thì đảo chính Nhật 9.3.1945, thế là tong ghế ngồi.
Tỉnh Hà Đông, tỉnh Bắc Ninh bọc quanh, Hà Nội hẹp toen hoẻn ở
giữa. Xuống cuối đường Huế đã hết đất thành phố. Làng Yên Phụ bờ hồ Tây thuộc
Hà Đông. Đằng Kim Liên, sau lưng bệnh viện Bạch Mai đã ra khỏi thành phố. Đường
lên Bưởi, qua cửa trường Bưởi (trường Chu Văn An) đã gặp làng Thụy Khuê ngoại ô
rồi. Bãi Giữa dưới cầu Long Biên giữa sông Hồng đã thuộc đất huyện Gia Lâm tỉnh
Bắc Ninh. Đầu phố Khâm Thiên đằng này, chỗ cái ba- ri- e chắn đường xe lửa, là
hết đất Hà Nội. Xe tay bánh sắt, gọi là xe ngoại, cu li kéo hết phố Khâm Thiên,
phải đổi khách sang xe bánh cao su mới được vào phố. Vùng Khâm Thiên còn là Hà
Đông.
(Bởi vậy, có chuyện kỳ cục: Năm 1972, máy bay B52 ném bom rải
thảm xuống Khâm Thiên. Thế giới lên án Mỹ mưu toan hủy diệt Hà Nội. Hãng tin Mỹ
UPI (United Press International) cải chính: B52 chưa hề ném bom Hà Nội. Có
nghĩa là Mỹ đem bản đồ Hà Nội thế kỷ trước ra làm chứng).
Phố phường thời Tây chia từng khu khác nhau. Không có bảng chỉ
dẫn, không tường chắn, không ai ngăn cấm nhưng người đi đường phải tự hiểu thế,
mà liệu bước.
Các phố Hàng Bài, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Điện
Biên, Lê Hồng Phong, Hùng Vương bây giờ là khu vực phố Tây, phần đông chỉ có
nhà người Pháp hoặc người An Nam nhưng giàu có, sang trọng. Nhà vườn, tường
hoa, cổng sắt riêng cho xe song mã và ôtô ra. Phố Tây vắng, loáng thoáng người
qua lại, phần nhiều chỉ những người đi là bồi bếp, tài xế, các cô khâu đầm, chị
hai giữ trẻ nhà Tây.
Người như tôi lúc ấy, những thanh niên chân xỏ đôi guốc mộc, áo
dài thâm, bước thất thiểu, qua cửa nhà sang trọng hay nhớn nhác nhòm ngó. Thế
nào cũng có đội xếp dõi mắt xem có phải kẻ gian "chú chích" không.
Chẳng ai vạ gì mà lai vãng các phố Tây!
Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào, chợ Đồng Xuân, người
chen chúc đông đúc qua lại bên này hồ Gươm. Khu buôn bán sầm uất, ở đây mới lắm
các tay "chích cược" (trộm cắp) và du côn du kề.
Sinh sôi với đời sống thành phố, Hà Nội còn có hai khu khác, mà
ít người nhận ra và phân biệt được.
Các phố nhỏ yên tĩnh hai bên chợ Hôm và đường Huế. Bây giờ là
Trần Xuân Soạn, Ngô Thời Nhiệm, Phùng Khắc Khoan, Hòa Mã và bên này, Mai Hắc
Đế, Triệu Việt Vương, Bùi Thị Xuân. Mới năm nào, đi từ dốc cây thị Hàng Kèn
xuống Vân Hồ, còn bãi hoang, đầm lầy, tre pheo làng xóm lơ thơ. Trơ trọi cái
trường Hàng Kèn, học trò phải gọi là trường Thân Trọng Huề (trường tiểu học
Quang Trung bây giờ), đằng xa cũng nhìn thấy những cây bàng xanh rì mới trồng.
Rồi nhà cửa, phố xá mọc dần lên. Người làm vô làm việc, người buôn bán, kẻ giàu
người nghèo ở chen nhau. Vùng này, phố của những công chức, các ông ký, ông
thông và nhà buôn phố trên để dành tiền làm nhà, tậu nhà. Thông thường, ngày
nay còn thấy dấu vết ấy, ngôi nhà một hai tầng lợp ngói, nách tường có cửa bên.
Tấm gỗ gác lên bậc thềm. Anh xe dắt cái xe cao su nhà ở sân trong ra. Xe đưa
cậu đến sở. Xe kéo mợ đi chợ. Bây giờ, nhà cửa ở các phố này còn phảng phất vẻ
êm đềm phong lưu bề ngoài thời ấy.
Một vùng khác dưới bãi dọc đê sông Hồng. Các bãi Cơ Xá, Nghĩa
Dũng, Phúc Xá - bãi An Dương còn bỏ hoang, xuống tới bến Phà Đen, toàn nhà lá -
những túp lều lá. Đến mùa hanh hao (nhà nào, mà theo câu tường thuật của các
báo thời ấy, bị "thần hỏa ra oai") thế là cháy luôn cả dãy phố. Đấy
là nhà những người nghèo, cu- li dọn kho, bắt- tê cửa ga, kéo xe, phu phen
khuân vác, đổi thùng, thợ hồ, người các vùng quê đói rách đổ ra kiếm sống ở
thành phố đều chui rúc xuống ở bãi.
Có một hồi, về Hà Nội, Nguyên Hồng cũng ở một gian nhà lá thuê
dưới bãi Nghĩa Dũng. Tôi thường xuống chơi. Khi ấy, vợ chồng anh mới có con đầu
lòng, cháu Hà. Nhà vách đất tối om, vào cửa phải cúi đầu. Cả gian nhà kê vừa
cái giường chõng. Dưới gầm, chiếc hòm gỗ. Tất tật, gạo nước, nồi niêu, quần áo
tống cả vào hòm. Bên chân giường dựng bó củi nứa và cái hỏa lò để chị ấy thổi
cơm.
Lều lán và người nghèo rúc ráy cả dưới bãi. Đấy cũng lại là vùng
tụ tập sòng bạc và các tay chơi có hạng. Bọn trùm gá bạc như Ba Sinh, Cả Vê,
Hai Cua và bao nhiêu đầu trộm đuôi cướp khác. Sở mật thám biết rõ tông tích mà
không đụng chạm đến. Những tù xổng làm quân cướp ngày, những chúa du côn được
chủ xe hàng thuê đứng bến đánh nhau tranh khách đều sinh sống ở các xóm bãi. Ở
trên đê trông xuống chỉ thấy những mái lá lươm nhươm, nhôm nhếch bên bãi đất
cái lẫn lộn với mặt nước đỏ rực. Sáng sớm, người ra bờ sông ỉa, đi tha thẩn,
con chó lũn cũn theo. Các nhà gánh nước ăn về đánh phèn, đôi thùng cũng từ dưới
sông lên, bước lẫn giữa mọi thứ củi mục, phân người, rác rưởi. Buổi chiều, gió
lạnh ngoài kia quạt hun hút.
Vùng công chức ở và vùng bãi càng ngày càng chen chúc, bởi thành
phố mỗi lúc một nhiều người hơn. Dần dần, hầu hết các làng gần xung quanh đều
ra làm các nghề phục dịch. Người ta bảo chỉ có chó chợ Canh mới ngon thịt.
Những hàng thịt chó chợ Đồng Xuân, hàng Đồng đều người trong Canh. Làng Mơ có
nghề nấu rượu, gọi là Mơ Rượu, lại còn Mơ Cơm - các hàng cơm đầu ghế trên phố
đều là người Hoàng Mai. Người Lai Xá làm các nghề chụp ảnh. Ước Lễ làm giò chả,
mở hàng cơm tám và hiệu may quần áo tây. Các cửa hàng này hay có chữ Ước, chữ
Hương, Tân Ước, Tân Việt, Tân Hương... người Thanh Trì bán đậu phụ, đậu nướng
om nghệ và bánh cuốn. Bánh cuốn Thanh Trì lá bánh mỏng soi lên được, bóc từng
cánh, ăn với giò lụa chấm nước mắm cà cuống. Làng ở các cửa cống và lạch nước rãnh,
nước thải, ở Đại Từ, ở quanh Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, cống Đõ làng Hồ cắm rau
muống bè. Nhà sành ăn chỉ chuộng rau muống sông Tô Lịch. Luộc mềm, xanh nước,
ra ống ra lá. Làng Thụy bán quà sáng, quà trưa, bún ốc, bún chả, xôi vò chè
đường... Kẻ Nhót chuyên buôn thuốc lào bán lẻ các chợ, thành tên thuốc lào
Nhót. Đàn ông làng Thanh Nhàn xách hòm đi cắt tóc rong các phố. Trại Thủ Lệ
thầu giặt chăn đệm nhà tây, trại lính, nhà thương. Người Cổ Nhuế Hoàng làm hàng
thầu may cắt quần áo nhà binh.
Đời sống thành phố cò con, có các ông Tây ăn trên ngồi trốc, còn
thì, người ta bới bèo tìm bọ, sinh sống trên lưng nhau, nuôi lẫn nhau. Đi ở, đi
phu, đổi thùng, làm mướn, phụ bồi, phụ bếp, kéo xe, kéo quạt, cu- li
san, làng nào cũng có người. Đêm đêm, bốn phía trong cánh đồng trông lên
thấy trời thành phố hửng sáng trong ánh đèn điện, thế là ban ngày lũ lượt người
kéo vào. Người vô công rồi nghề, người thất nghiệp đâu cũng nhan nhản.
Người ta thất thểu đi tìm việc qua đêm qua ngày.
Việc ở đâu, cái gì Tây cũng làm cả và từ bên Tây đem sang. Tây
moi hết tiền. Cái nắp cống gang, ống nước bằng chì, lọ thủy tinh đựng thuốc,
mảnh sắt xanh xanh đề số nhà, tên phố đều làm ở Pháp, có tàu thủy tải sang. Cột
đèn tròn, cột dây điện vuông ở góc phố, cũng đúc tận bên ấy. Các hãng Tây buôn
càng phát tài bán được nhiều thứ cho thuộc địa. Cả đến hòn gạch, hòn ngói cũng
đóng ở lò bên Mạc- xây. Ngói gạch thời ấy thấy đề "làm tại Mạc- xây".
Mãi sau mới có nhà máy gạch Satic của chủ Tây đường Quan Thánh, rồi mới đến
gạch Hưng Ký chủ ta. Những ngôi nhà được làm từ giữa thế kỷ đổ về trước, cứ xem
hòn gạch, hòn ngói, cái ống cống nước có in hiệu đều rõ tuổi công trình.
Cái nhà, bức tường, vòm cống, bờ hè viền xi măng hay viên đá
xanh đều có thể đọc ở đấy ra cuộc đời và nhìn thấy tang thương Hà Nội. Những bờ
hè đầu tiên bọc vỉa đá xanh, thợ đẽo đá khiêng quảy ở núi Trầm, núi Thầy về.
Nay còn thấy cửa cống vỉa đá và đá lát hè ở đôi chỗ quãng giữa các phố Tràng
Tiền, Hàng Khay, Ngô Quyền - trung tâm thành phố, nơi người Pháp ở đầu tiên.
Muốn biết rõ tuổi thọ ngôi nhà, ta trông dáng kiến trúc, hòn
ngói, cái cửa sổ, hàng hiên với lan can, ở các phố Bà Triệu, Hàng Khay, đôi khi
ngước lên còn nhìn thấy trên đầu tường hàng số ghi năm sinh của dinh cơ ấy:
1896, 1902, 1930...
Đừng ai nhầm những ngôi nhà mái cong tường dày, có dáng cổ kính,
ở đường Nguyễn Du, ở đầu trại Hàng Hoa, nhà "cô Bảo Đại" là những tòa
ngang dãy dọc xưa cũ nhất thành phố. Các nhà này còn quá non tuổi là đằng khác.
Ấy là khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, hải quân Đức phong tỏa đường
biển, Nhật đã đổ bộ lên Đông Dương, sắt thép bên Tây không tải sang được, các
nhà thầu nảy ra sáng kiến làm nhà kiểu cổ. Không tốn mấy xi măng, cốt sắt, vôi
cát, các mái ngói và bờ tường dày bục bịch. Lại hợp với phong trào "phục
cổ" của Nhật!
Cách đây ít năm, lúc chập tối, một tầng trong ngõ Trần Nhân Tông
cạnh hồ Thiền Quang bỗng sập xuống nguyên cả trần nhà. Như cái bẫy chuột. Hình
như chết vùi mấy người. Ngôi nhà ấy đã xây vào thời "phục cổ" này.
Trần nhà, đáng lẽ cốt thép, người ta đã làm bằng xi măng cốt tre.
Chúng tôi lặn lội đi tìm việc kiếm sống giữa đất Hà Nội nhốn
nháo. Có lúc bâng khuâng. Có lúc chạy thục mạng. Có lúc đứng lại cả buổi vẩn vơ
ngắm tủ kính hàng vải vóc hiện Tây Quăng, Tây Cú cuối Hàng Đường và gian hàng
tạp hóa Tây Lùn mở số quay có thưởng ở chợ Hàng Da. Có khi lên Bách Thảo cả
ngày xem chuồng khỉ, chuồng hổ. Không biết ông bà nào vừa hóm vừa vui tính đã
đặt tên cho những người thất nghiệp là người "xỉa răng cọp". Có khi
lang thang suốt đêm nghe tiếng đồng hồ quả lắc các nhà Hàng Đào, Hàng Ngang
đánh chuông chen nối nhau đầu phố cuối phố. Hàng đàn chuột chạy hai bên cống.
Một lúc, thấy hiện ra những bóng người đứng đập cửa chan chát, rồi tiếng gọi:
Đổ thùng, đổ thùng. Thật rõ, đấy là tiếng gọi cửa "đổi thùng, đổi
thùng", phu đổi thùng xia của nhà thầu Năm Diệm đã đi làm. Vừa đúng nửa
đêm.
Trời sắp sáng, rồi trời sáng.
Quanh bờ hồ Gươm, trên chòm lá cây cọ châu Phi, những đàn sếu,
đàn mòng két phương xa về đậu đen ngòm, cứt lướt thướt trắng xóa xuống. Thi sĩ
Thao Thao làm thơ "tám chữ" đã có câu tả "... ven hồ cứt trắng
khô". Trên bờ tường đá nhà pha Hỏa Lò nhô lên cái mặt đen nhoáng của người
lính da đen bên đầu lưỡi lê sáng rợn. Đã đến giờ đổi tan canh. Năm trước, còn
trông thấy cả đôi giày người lính gác bồng súng đi dạo trên mặt tường chăng dây
điện cắm mảnh chai lởm chởm. Bây giờ không thấy nữa. Bức tường quanh nhà Hỏa Lò
mới được xây cao thêm, có đến một thước, nay vẫn còn hằn cái ngấn xi măng và gờ
đá.
Giữa Hà Nội quen thuộc quá mà phường phố thì thật xa lạ.
➖ ➖ ➖
🌃 Tiếng rao đêm
Nhớ lại, những khi buồn bã mưa dầm gió bấc, không hiểu tại sao
chỉ thấy nhớ ban đêm. Tưởng như cả năm, đêm nào thành phố cũng toàn những rét
mướt sâu thẳm. Vẫn biết Hà Nội có bốn mùa, mà cứ ngỡ thế. Ô hay vậy.
Có lẽ vì trong lòng sẵn nông nỗi về những đêm buồn. Cái ông Phạm
Đình Hổ ngày xưa viết tập ký "Vũ trung tùy bút", nhà ông Hổ ở phố
Hàng Buồm. Mỗi khi ông ghi lại những tai nghe mắt thấy và cái nghĩ về đất kinh
kỳ, chắc không phải lúc nào ông cũng viết trong mưa. Chỉ bởi trong lòng ông có
mưa gió khi cầm bút mà thôi. Cũng là một cái nhìn Hà Nội thuở nào.
Trong những tiếng đêm ấy nhiều những tiếng rao hàng của những
người tha hương. Những người Tàu bỏ đất nước đi ra ngoài cõi rải rác cả nghìn
năm tới nay. Không biết các đời trước ra sao, chứ cứ như tôi thấy thì mỗi lần
bên Tàu có biến động, ở đây lại chật ních người Tàu chạy loạn. Tướng Tàu các
tỉnh choảng nhau, người như vỡ chợ sang Hải Phòng, sang Hà Nội. Ông Tôn Dật
Tiên cũng đã đến Hà Nội ẩn ở trường trung học Hoa kiều số nhà 19 phố Hàng Buồm
(Hội Văn nghệ Hà Nội bây giờ). Mấy năm trước còn cái cửa sổ căng lưới thép
chống đạn ở căn gác hai của ngôi nhà đường Phan Bội Châu. Ông Uông Tinh Vệ đã
sang trú ở đấy.
Và những người nghèo khó bỏ quê đến làm ăn đất này đã bao năm,
bao đời. Cứ mỗi hôm, mọi hàng quà bánh ngoài đường, hàng xôi ngô, khoai mật,
sắn ta, người gánh người đội, các hàng quán ban ngày của người các làng vào bán
đã giạt về ngoại ô vãn cả, thì đêm đến lại ời ợi những tiếng rao hàng nghe thật
lạ tai nhưng cũng thật quen thuộc.
Chập tối, gió lạnh phất phơ. Một ông già ngồi lù rù như cái nấm
mọc đầu ngõ Sầm Công, cất tiếng rao buồn buồn: Phàn sôi... phá sa.
Lạc nóng ròn và mặn vị. Uống rượu ăn lạc và ăn chơi như nhá ngô rang. Nhá nhem,
ở quanh chân cái tháp chùa còn sót lại ven Hồ Gươm, những ông già bà già, lúi
húi ngọn đèn cạnh cái hũ ủ nước bát sặc mùi "bát bảo lèng sà" toàn
cam thảo. Ông già đầu nhẵn bóng, to thô lố như quả dưa hấu. Chắc lại những ông
quan thất thế bên Tàu sang ngồi đấy. Rồi các ông các bà "bát bảo lèng
sà" cũng biến vào trong đêm lúc nào. Vẫn văng vẳng phàn sôi phá sa phía
phố Cầu Gỗ.
Chỗ ngã tư kia hắt lại tiếng rè rè chế mà phù... Độ tám giờ tối,
các phố còn đương chen chúc, ngập ngụa người. Bấy giờ là giờ của hàng quà ngọt
chế mà phù... Trẻ con cũng đã thuộc cái chè vừng đen này. Một gánh, bên nồi
chè, bên thùng đựng thìa bát.
Lục tào sa... Lục tào sa... hàng chè đậu xanh,
đậu đãi đủng đỉnh ra. Gió đuổi nhau trên các hốc tường, lạt xạt như chuột chạy.
Tiếng rao lục tào sa vẫn lững thững chen vào. Cái nón mây Hà Cối rộng vành đen
dày cộp che kín nửa mặt người. Rồi lại quảy chui ra đi hút mãi ngoài ngã tư,
hàng lục tào sa đứng lại đấy, hóng khách vội vã qua.
Bỗng gừ lên như tiếng con chim gầm ghì kêu lúc hoàng hôn ở cửa
rừng. Suỵt chế... Suỵt chế... Chỉ là những khẩu mía hấp trong
cái chảo đậy vung kín. Khẩu mía tiện, ướp hoa bưởi, xếp đều từng lượt, nhả mùi
thơm lẫn mật mía. Người Tàu thật khéo gợi những cái lạ miệng. Cũng một quả táo,
quả ổi, quả khế đem khía ra dầm đường, trộn gừng bán được hơn tiền. Khẩu mía
hấp lên nóng hôi hổi. Trời rét ngăn ngắt, được khẩu mía nóng hãm điếu thuốc
phiện vừa ngọt lại vừa ấm bụng.
Phố xá đêm dài buồn như chấu cắn. Cửa chợ Đồng Xuân khóa sắt
đóng im ỉm. Cuộc sống Kẻ Chợ bấy giờ cũng chưa sầm uất đến phải có những chợ
đổi vai cho rau rợ các vùng ngoại thành đổ vào. Cái chợ Bắc Qua ngày nay tấp
nập suốt đêm, lúc ấy còn là khu nhà máy sợi Bắc Qua và cái nền sân bóng rổ Lơpa
(Lepage) và chợ Đức Viên dưới chợ Hôm còn là một bãi cỏ, có một xưởng gỗ.
Tiếng rao tỉm sắm bao... rờn lên cuối Ngõ Gạch.
Thế là biết đã quá mười giờ. Giờ ăn đêm của những rạp hát sắp tan. Hiệp Thành,
Sán Nhiên Đài, Quảng Lạc... Bánh bao! Bánh bao nóng! Tỉm sắm bao à... Gánh
banh bao quảy rong ấy vừa đỗ. Tiếng gọi bánh bao đằng hè phố bên trái cùng với
cánh cửa lạch cạch, hay là chỉ có tiếng động hé cửa. Thạp bánh vừa hở nắp, khói
hơi thơm tuôn trắng cuộn cuộn. Rồi im lặng. Tiếng rao tỉm sắm bao... rời
rã dần vào ngõ Quảng Lạc.
Đương buổi ăn giữa đêm. Nhưng khách các rạp hát ra đã tan vào
làn gió cuốn rào rào hai bên ngách tường bay biến đi đâu. Thỉnh thoảng, một cái
xe tay lượn qua, hai bên cánh gà gió đánh phành phạch. Chiếc xe kiếm khách, như
con cú dòm mồi, rồi lại cập quạng đi.
Lốc bểu... Lốc bểu... xóc xách lần bờ hè
Hàng Gai xuống Hàng Bông Đệm, sang Bông Lờ. Bánh cuốn Lạng Sơn hấp trong thạp.
Đến ngã ba dừng lại. Không biết tiếng người hay tiếng gió. Một người ở ngõ Tạm
Thương bước tới. Có lẽ đi nhà thổ lậu trong săm (chambre) ra.
Nhưng người khách ăn đêm ấy cũng không gọi gánh hàng đỗ được. Chuyến tàu Phòng
lên từ bên kia cầu sang kéo còi qua bên chợ Cửa Nam. Còn phải đi suốt phố Hàng
Lọng nữa gánh hàng mới có chỗ đón khách trên tàu xuống. Lốc bểu! Lốc
bểu! Tiếng lấp lửng xa xa, cao thấp, gập ghềnh. Chẳng hiểu nghĩa thế
nào, nghe trong đêm hai tiếng ngẩn ngơ đã muốn nghĩ ra cuộc đời âm u tha hương
của người rao hàng. Quá nửa đêm rồi. Khuya trong các ngõ phố ụp xụp quanh quẩn
mờ mờ các mái nhà thấp tù mù, nhạt loãng, ánh điện, ánh trăng pha với cái rét
buốt sắc gợn. Đêm sâu, tiếng hàng cháo gà thoi thóp. Cay hạp trúc...
Cay hạp trúc... Tiếng trúc... trúc... đằng cuối như
nấc lên đôi chút lanh lảnh trong gió. Nhưng đã quá canh rồi.
Chiếc đòn gánh cháo gà trên vai. Ngọn đèn lui hui đầu đằng
trước. Tiếng rao đã bặt từ nãy. Gió may thổi qua mặt phố cứ xột xoạt lùa vào
cái áo tơi lá át cả tiếng rao. Người bán cháo với tay rút trong ngăn kéo ra hai
thanh tre. Gánh vẫn lũi lũi đi. Thanh tre đập chéo nhau vang lên hai tiếng gọn
gành, lanh lảnh. Như chợt tỉnh. Sực tắc... Sực tắc... Sực tắc... Ai
đương giở giấc nghe thính tai cũng phân biệt được đấy là hàng cháo gà hay hàng
vằn thắn đương qua ngoài cánh cửa. Tiếng "sực tắc" (thực đắc: ăn
được) thanh tre thanh gỗ khác nhau của gánh hàng đương gọi khách.
Từ bấy giờ đến tan canh, tiếng gõ sực tắc chốc
lại thấp thoáng văng vẳng như tiếng vạc ăn đêm. Không biết con vạc đi ăn về
lửng lơ thơ thẩn phía nào.
Bởi vì, đã lại bắt đầu một giọng khàn khàn như người ta vừa tỉnh
ngủ dậy. Lồ mái phàn... Lồ mái phàn... Xôi lạp xường nóng. Cái
tiếng xôi lạp xường kèn tàu ấy cất lên là lúc trời đã mờ mờ sáng. Tiếng rao
cuối cùng vào lúc đêm khuya ngày rạng, những cái ăn cái uống trong đêm rỉ rả
cũng dần dần đâu mất. Như trời sao thấp thoáng trên đầu hồi đương lặn. Ma biến
cả rồi. Còn lại cái chao đèn đường lắc đôi chút sáng điện rớt xuống quanh quẩn
trên phố Hàng Bạc, Hàng Vải Thâm, Ngõ Huyện.
Hồi ấy chưa có những hàng phở bán đêm. Người Tàu làm ra phở,
nhưng phở của người Tàu không ngon. Cũng tàn như trong đêm vừa qua. Ngưu
nhục phần... nhục phần... nhục phần... Tiếng rao xưa cũ chẳng mấy ai
còn nhớ. Phải đến tay người ta làm lại cái "ngưu nhục phần" thành phở
bò chín, món quà sáng và ăn cả ngày. Những tiếng "phơ, phơ" của bác
phở gánh ở Gầm Cầu bước ra, cất tiếng chào cao cao, ấy là trời đã sáng hẳn.
Những bóng phố nhỏ, những ngõ phố ướt nhợt nhạt loãng ra.
Cái hàng phở Trưởng Ca ở đình Hàng Bạc mà Nguyễn Tuân đã đưa vào
tùy bút, sau này có nhiều người nhắc lại. Coi như một cửa hàng ăn đêm và ăn
ngon của Hà Nội chơi bời. Tôi e nó cứ sai lạc dần cái thực, nên phải ghi thêm
vài chữ. Ông Nguyễn nói đến phở Trưởng Ca chỉ vì cái hàng phở này liên quan đến
giờ giấc của đám chơi đêm. Chứ không phải vì phở ngon Trưởng Ca. Đừng nhầm vốn
sành ăn của ông Nguyễn với cái nước dùng thật đoảng của lão hàng phở kia. Làm
cho người đọc tưởng là ông Nguyễn đã nói vậy, ắt phở Trưởng Ca phải ra cái gì.
Không phải. Phở Trưởng Ca chẳng ra cái gì cả. Đêm hôm khuya
khoắt, cũng có đôi lần tôi vào phở Trưởng Ca ở Hàng Bạc. Quán phở ghé một gian
cửa đình, chống chếnh, huếch hoác, nửa phở gánh, nửa quán hàng. Trên ghế tràng
kỷ tre khách đương ngồi ăn, nhà hàng xóc bánh, thái thịt, lại có người khoanh
tay lên đầu gối ngủ cạnh đấy. Dễ đã ba, bốn giờ sáng. Người chơi đêm đã đói
bụng mà không thể lần đâu ra cái ăn, từ Hàng Lọng ngược lên trên này, chỉ còn
mỗi gánh phở thịt trâu Trưởng Ca nhạt thếch. Thì cũng phải rúc đầu vào mà thôi.
Ông hàng phở khéo đun cái nước dùng nóng phỏng mồm. Tàn đêm rồi mà còn lùa được
một miếng phở nóng, thôi thế cũng là thỏa vong linh.
Các hàng quán bán cho khách ăn khuya quanh năm thường thế nào
cũng bán được, như thế giữa các phố khúc khuỷu. Không bảo nhau mà đâu cũng từa
tựa. Như ở tít ngoại ô, phở Khuyển cầu Dừa xuống làng tôi, đèn le lói quá nửa
đêm. Phở Trương Hàm trên dốc Sài lên hồ Tây. Khoảng ba giờ sáng, vẫn có phở,
ngả vào làm một bát rồi về ngủ. Cũng một thứ phở Trưởng Ca cho người chơi đêm
ngoại ô. Cái thứ phở thịt trâu, mỡ trắng ợt. Phở nóng hẳn hoi mà miệng nhai
miếng thịt cứ lạnh tanh.
➖ ➖ ➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét