2021-02-20
Giai thoại về Hồ Xuân Hương và những câu đối
Chân dung hư cấu nữ sỹ Hồ Xuân Hương
🎨
Hồ
Xuân Hương là con ông Hồ Phi Diễn, làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu Nghệ An. Lúc
Hồ Xuân Hương đã lớn, gia đình về thôn Tiên Thị, Tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương
(nay là phố Lý Quốc Sư - Hà Nội). Nữ sĩ có một ngôi nhà riêng dựng gần hồ Tây,
lấy tên là Cổ Nguyệt đường, chiết tự họ Hồ của mình ra thành 2 chữ Cổ và Nguyệt.
Hồ Xuân Hương ở với mẹ, có đi học, sáng dạ, thông minh, nhưng không được học
nhiều, thích làm thơ. Khi Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Yên gặp Tổng Cóc Nguyễn
Công Hòa (1802-1804), bắt đầu cuộc đời mười năm lận đận, vợ cả ghen tuông, thân
phận như nàng Tiểu Thanh. Dứt tình với Tổng Cóc, quan Tham Hiệp Yên Quảng Trần
Phúc Hiển cầu hôn, đám hỏi chẳng bao lâu thì mẹ mất, phải cư tang mẹ, đến đầu
năm 1816 Hồ Xuân Hương mới về Yên Quảng được hai năm thì chồng bị bắt và kết án
tử hình. Xuân Hương đi tu rồi trở về làng Nghi Tàm chết trong cô đơn, không một
bài thơ phúng điếu.
Tự
thuật và ứng khẩu
⍟ Câu đối vịnh cái Âm Hộ:
Khi
khép tối om om, quân tử tò mò nhìn chăng thấy
Lúc
mở ra toang hoác, anh hùng tấp tỉnh đứng coi
~
⍟ Ứng khẩu khi bị trượt
ngã:
Hôm
ấy, Hồ Xuân Hương cùng bạn bè ra phố dạo chơi, không may bà dẫm phải chỗ trơn
trượt té sõng soài xuống đất. Người đi đường và bạn bè thấy vậy cười lăn cười
bò, bà liền giơ tay trỏ lên trời đọc luôn đôi câu đối:
Giơ
tay với thử, Trời cao thấp
Xoạc
cẳng đo xem, Đất vắn dài
~
⍟ Hồ Xuân Hương khi du ngoạn
qua cửa Gió ở Đèo Ngang, đã viết:
Khéo
khen ai đẽo đá chênh vênh, tra hom ngược để đơm người đế bá
Gớm
con tạo lừa cơ tem hẻm, rút nút nuôi cho lọt khách cổ kim
~
⍟ Câu đối Tết:
Đêm
ba mươi tống cựu, khép cánh càn khôn, một then đưa đẩy khìn khin khít khịt
Sáng
mồng một nghinh tân, mở lò tạo hóa, hai cánh banh ra toác toạc toàng toang
~
⍟ Câu đối nhận xét về tình
duyên của mình:
Muôn
kiếp biết là duyên trọn vẹn
Một
đời riêng mấy tiếng chua cay
~
⍟ Hồ Xuân Hương và quan lớn:
Hôm
ấy, một viên quan lớn trong triều đi vãn cảnh hồ Tây. Trời trong, nước xanh, cảnh
vật đẹp đến nao lòng vì bao nhiêu tinh tú của đất trời dường như tụ hội cả ở
nơi đây. Nơi mà tâm hồn nhạy cảm của bà nhìn ra và quyết định dừng lại an cư lập
nghiệp chứ không tiến vào kinh thành Thăng Long - nơi bao văn võ bá quan, dân
kinh kỳ kẻ chợ có máu mặt đều tìm vào - vì vị trí khuất nẻo so với kinh
thành...Tiếng quân lính hô hét dẹp đường, cảnh võng lộng nghêng ngang, tiền hô
hậu ủng, phá tan cảnh đẹp của bầu trời nơi đây. Xuân Hương đang giặt ở ven hồ
thấy chướng tai gai mắt, liền buông rải quần áo ven bờ, điềm nhiên nhìn thẳng
vào kiệu của quan đang đi tới, ngẫm nghĩ trong đầu, tìm tứ thơ, rồi đọc to:
Võng
đào quan lớn đi trên ấy
Váy
rách bà con giặt dưới này
Ví
cái võng điều của quan lớn với váy rách của bà con quả là chua cay. Xem ra,
quan thời xưa chả khác quan thời nay là mấy. Trong khi bà con khổ sở, cùng cực
thì quan vơ vét hết cho bản thân. Nhà cao cửa rộng, vợ nọ con kia, còn ô dù
võng lọng, nghêng ngang, quát lác, chỉ ăn tàn phá hại, có lợi gì cho dân đâu?
Nghe câu đối, cả thầy, cả tớ trợn mắt nhìn Xuân Hương, thấy phong thái ung
dung, ngôn từ sóc lỏi, độc địa, biết không thể là đối thủ để nạt nộ, đành lẳng
lặng đi qua như không hề nghe thấy...Chuyện này mà để lan truyền ra khắp kinh
thành Thăng Long thì mặt quan thành mặt mo, còn nhục hơn bị bà con dùng váy
rách che lên mặt. Từ đó, như quả pháo xịt ngòi, quan mất hẳn thói nghêng ngang,
hống hách, đi đâu bỏ hết lính dẹp đường ở nhà, Hồ Tây trở lại với khung trời
cao rộng, cây xanh, nước biếc, đẹp mê hồn.
~
⍟ Hồ Xuân Hương có bài thơ
Đường Luật dùng từ láy như sau:
Vế
ra:
Tiếng
gà bên gối tẻ tè te,
Bóng
ác trông lên hé hẻ hè,
Cây
một chồi cao von vót vót,
Hoa
năm sắc nở lóe lòe loe,
Chim
tình bè lứa kia kìa kịa,
Ong
nghĩa vui tôi nhé nhẻ nhè,
Danh
lợi mặc người ti tí tị,
Ngủ
trưa chưa dậy khỏe khòe khoe
Vế
đối của Trường Văn Nguyễn Phước Thắng:
Mây
rồng trên núi tủa tùa tua,
Chốn
Phật nom xa chúa chũa chùa,
Trăng
mỗi miệng cười tinh tĩnh tịnh,
Cổng
ba gian mở thủa thùa thua,
Kệ
non tiếng trúc vèo veo vẻo,
Kinh
nước hương sen lúa lũa lùa,
Phúc
đức dù duyên mon mỏn mọn,
Làm
lành hơn thỉnh bủa bùa bua
Vế
đối của Thiền Long:
Ngáy
chiều lăn chiếu khỏ khò kho,
Nắng
dọi mái hiên tó tỏ tò,
Gió
mấy đợt len vù vú vú,
Cành
dăm lần chạm rỏ ro rò,
Tách
trà sắp sẵn cách cành cạch,
Khói
bếp tỏa quanh mó mỏ mò,
Người,
việc kệ đời đo đó đọ,
Nghỉ
ngơi say tít nó nò no
Với
các nhân vật đương thời
Phạm
Đình Hổ
Phạm
Đình Hổ tên chữ là Tùng Niên hoặc Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Tiều, tục gọi là
Chiêu Hổ. Chiêu Hổ người làng Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải
Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ngay từ nhỏ, Phạm Đình Hổ
đã tỏ chí rằng: "Làm người con trai phải lập thân hành đạo...Lấy văn thơ nổi
tiếng ở đời..." Tuy đọc nhiều sách, nhưng ông chỉ đỗ đến sinh đồ. Khi Gia
Long lên ngôi, ông đang dạy học ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương trong thành
Thăng Long, hằng ngày rèn luyện học trò và biên soạn sách. Tại đây, ông kết bạn
thơ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương, dưới đây là những giai thoại đối đáp giữa hai người:
⍟ Những câu đối chào hỏi
khi gặp gỡ:
Hồ
Xuân Hương ra: Khấp như thiếu nữ vu quy nhật (Khóc như thiếu nữ vui ngày
cưới)
Chiêu
Hổ đối: Tiếu tự thư sinh lạc đệ thi (Cười như anh khóa lúc hỏng thi)
Chiêu
Hổ hứng khởi lại ra: Người Cổ lại còn theo thói Nguyệt (Chữ cổ ghép với
chữ nguyệt là chữ hồ, ý nói Hồ Xuân Hương đã lớn tuổi mà vẫn đa tình)
Hồ
Xuân Hương đối: Buồng Xuân đâu đã nhạt mùi Hương (Chữ Xuân với ghép chữ
Hương là tên, ý nói Hồ Xuân Hương này đâu đã phải là người “nhạt phấn phai
hương”, đâu đã chịu già hom!)
⚠ Có thuyết nói cả 2 vế đều
của Chiêu Hổ viết tặng Hồ Xuân Hương, vế sau thay chữ "đâu đã" bằng
chữ "chi để". Câu đối ghép lại đủ cả tên họ bà, còn tách ra lại là sự
trách khéo: "Đã tự coi là người cổ hủ, trọng nề nếp, gia phong lại còn
thích thói hưởng nguyệt, xem hoa, lả lơi, thi phú? Đang tuổi xuân thì còn hương
sắc, mà không gìn giữ nền nếp, gia phong thì buồng xuân còn để lạnh đến bao giờ?”
~
⍟ Lúc mới quen nhau, Chiêu
Hổ còn ngại ngùng, Xuân Hương đùa:
Những
bấy lâu nay luống nhắn nhe,
Nhắn
nhe toan những sự gùn ghè,
Gùn
ghè nhưng vẫn còn chưa dám,
Chưa
dám cho nên phải rụt rè.
Chiêu
Hổ cả thẹn nổi máu nóng anh hùng phản công liều lĩnh:
Hỡi
hỡi cô bay tớ bảo nhe,
Bảo
nhe không được gậy ông ghè!
Ông
ghè không được ông ghè mãi,
Ghè
mãi rồi lâu cũng phải rè!
Ta
thấy Chiêu Hổ mất bình tỉnh, lời thơ hồ đồ, nóng nảy. Tuy nhiên chúng ta thấy
hai người đùa bỡn rất thân tình.
Một
hôm, Chiêu Hổ đến chơi nhà Hồ Xuân Hương, khi đi qua sân, đụng phải quần áo của
nàng đang phơi. Hồ Xuân Hương xuất thần đọc:
Tán
vàng, lọng tía, che đầu nhau mỗi khi nắng cực
Chiêu
Hổ đối lại:
Thuyền
rồng, mui vẽ, vém buồm lên rồi sẽ lộn lèo
Bữa
nọ, Chiêu Hổ hơi men chếnh choáng ghé sang nhà Hồ Xuân Hương chơi, mượn cớ say
rượu ông vừa nói chuyện vừa đưa tay quờ quạng lung tung, Hồ Xuân Hương biết
Chiêu Hổ giả đò liền tức cảnh thành thơ:
Vẫn
giả tỉnh vẫn giả say,
Sao
anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Này
này chị bảo cho mà biết,
Chốn
ấy hang hùm chớ mó tay.
Chiêu
Hổ đáp:
Nào
ai tỉnh nào ai say,
Nào
ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Hang
hùm ví bẳng không ai mó,
Ao
có hùm con bỗng trốc tay?
⚠ Văn bản cổ nhất chép giai
thoại này không gọi là thơ Chiêu Hổ mà ghi là thơ "Mắng người say rượu",
các văn bản về sau dựa vào chữ hùm, hùm con nên cho rằng đó là của Chiêu Hổ đối
đáp với Hồ Xuân Hương.
⍟ Năm 1804 sau khi thôi Tổng
Cóc, Hồ Xuân Hương vay tiền Chiêu Hổ để mở hiệu sách ở Phố Nam gần đền Lý Quốc
Sư, Xuân Hương vay năm quan tiền. Chiêu Hổ cho mượn có ba, Xuân Hương trách:
Sao
nói rằng năm lại có ba?
Trách
người quân tử hẹn sai ra,
Bao
giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhờ
hái cho xin nắm lá đa.
Chiêu
Hổ đáp:
Rằng
gián thì năm quí có ba,
Bởi
người thục nữ tính không ra,
Ừ
rồi thong thả lên chơi nguyệt,
Cho
cả cành đa lẫn củ đa.
Xuân
Hương trách Chiêu Hổ là Cuội, nói dối như Cuội ngồi gốc cây đa trên mặt trăng,
có lẽ Chiêu Hổ cũng không giàu có lắm, nên mượn chuyện tiền quí với tiền gián
mà trả lời. Ngày xưa một quan có mười tiền, tiền gián có 36 đồng, một quan bằng
360 đồng, do đó 5 quan bằng 1800 đồng. Tiền quí có 60 đồng; do đó 3 quan tiền
quí bằng 60 X 3 = 1800 đồng. Xuân Hương tưởng mượn Chiêu Hổ tiền quí, nhưng
Chiêu Hổ cho mượn tiền gián, trách Xuân Hương sao tính không ra.
⍟ Năm 1821, Phạm Đình Hổ
dâng sách được vua Minh Mạng vời ra: Ông được bổ làm Hành Tẩu Viện Hàn Lâm.
Xuân Hương năm ấy chồng Tham Hiệp Trần Phúc Hiển bị tử hình, trở về Cổ Nguyệt
Đường, hay tin đã làm câu đối mừng Chiêu Hổ với lời đùa nhẹ nhàng:
Mặc
áo Giáp, dãi cài chữ Đinh, Mậu Kỷ Canh khoe mình rằng Quý
Hồ
Xuân Hương lấy những chữ trong thập can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh,
Tân, Nhâm, Quý ý muốn chế diễu Chiêu Hổ chỉ đỗ Tú Tài, nhờ dâng sách mà được
làm quan nay mặc áo đẹp ra vẻ ta đây.
Chiêu
Hổ nổi nóng, đối đáp bằng lời mắng nặng nề:
Làm
đĩ Càn, tai đeo hạt Khảm, Tốn Ly Đoài khéo nói rằng Khôn
Vế
đối lấy những chữ trong bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài mắng
Xuân Hương là 'con đĩ càn rỡ lại còn tự phụ, cho mình khôn'. Những lời mắng
nặng nề ấy đã chấm dứt mối liên hệ giữa Xuân Hương và Chiêu Hổ. Trong thư hồi
âm, đoạn cuối ông viết hai câu kết để cắt tình đoạn nghĩa với "bà chúa thơ
nôm":
Nay
đã mần cha thằng xích tử
Rầy
thì đù mẹ cái hồng nhan
Xích
tử là con đỏ, trỏ dân chúng. Theo Lê Thước, thì hai câu này là của Nguyễn Công
Trứ - bản thân hai câu này là vô nghĩa lý: tại sao đã được mần cha thằng xích tử,
thì lại đù mẹ cái hồng nhan! Không thèm đù nữa, hay lại đù hơn bao giờ hết? Chẳng
qua đây là đối chọi chữ chan chát cho thích. Những chuyện tục truyền như thế
này, rất có thể không phải là sự có thật (có ý kiến cho Chiêu Hổ chỉ là nhân vật
trong giai thoại, không phải là Phạm Đình Hổ), nếu mà có thì như vậy thật đáng
buồn biết chừng nào, Chiêu Hổ thì có vợ con, yên nhà yên cửa, tốt thân tốt thế,
quan lớn sống lâu! Còn Xuân Hương thì lận đận, long đong, chưa bề nào! Hạ những
lời đùa như thế giữa hai người tài tử ai đáng hơn ai?
~
Nhân
vật khác
⍟ Đối đáp với học trò
Một
hôm sau ngày mưa, Hồ Xuân Hương đến trường, giẫm phải hòn gạch dưới có bùn bắn
lên tận cẳng chân (hồi đó con gái còn mặc váy) Hồ Xuân Hương phải ra cầu ao cúi
xuống vén váy rửa cẳng chân. Một cậu học trò tinh nghịch trông thấy liền đọc một
vế:
Nê
nếnh do chi tầm hà xứ? (Đại ý: Bùn bắn lên cẳng chân để tìm
cái gì trên ấy nhỉ?)
Hồ
Xuân Hương liền đáp: Mạc tương thoá thủ tiếu anh hùng (Đại ý: Khi cúi xuống
rửa tay thấy nó cười người anh hùng như cậu).
~
⍟ Đối đáp với nhà sư
Tương
truyền khi Xuân Hương qua chùa chơi, vốn biết Xuân Hương nổi tiếng thơ phú, nhà
sư liền cho chú tiểu mang ra vế thách đối.
Vế
ra như sau: Thông ba sáu bộ chân kinh, dẫu chẳng La Hán Kim Cương, cũng cao
tăng đạt đạo
Hồ
Xuân Hương liền bảo chú tiểu đưa bút và viết ngay vế đối lại bên cạnh: Dù
hay ba vạn chín nghìn, không biết méo tròn ngang dọc, thì cũng đếch ra người
~
⍟ Đối đáp với Tổng Cóc (có
thuyết khác nói cả 2 vế đều của Hồ Xuân Hương)
Trong
thời gian theo cha về Sơn Dương dạy học, Hồ Xuân Hương được nhiều cậu Tú, anh
Nho ngấp nghé chuyện riêng tư, trong những người đó có Tổng Cóc. Ông Tổng Cóc
có tên thường gọi là Kình, quê ở làng Gáp, xã Tứ Xã (Lâm Thao, Phú Thọ). Khi đi
lính lên chức Đội, gọi là Đội Kình. Khi làm Phó tổng được gọi là Tổng Kình. Tên
chữ của Tổng Kình là Nguyễn Công Hòa. Cóc là tên gọi lúc còn bé. Gọi tên xấu xí
thế cho tà ma bớt quấy. Sau này Hồ Xuân Hương có bài thơ Khóc Tổng Cóc nên dân
làng mới gọi ông là Tổng Cóc. Tổng Cóc là con cháu quan nghè làng Gáp Nguyễn
Quang Thành. Tương truyền Tổng Cóc kết thân với Tú Điếc làng Xuân Lũng và Nho
Trâm người làng Kinh Kệ. Ba người quen biết Hồ Xuân Hương trong dịp họ đi thi
Hương. Nhờ sự mối manh của họ, mà cụ Đồ Xứ người Nghệ An (đỗ đầu xứ nên khi dạy
học họi là Đồ Xứ) đã dẫn con gái Hồ Xuân Hương về làng Sơn Dương cạnh làng Gáp
để dạy học. Một hôm, nhân ngày Tết Nguyên đán, cậu Tú Kình cùng một số thư sinh
đem biếu quà Tết cho cụ đồ Hồ Sĩ Danh, thân sinh Hồ Xuân Hương, bị Hồ Xuân
Hương ra câu đối:
Tối
ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới
Tú
Kình đối lại:
Sáng
mồng một mở then tạo hoá để cho thiếu nữ rước xuân vào
Nhờ
câu đối này, Tổng Cóc cưới Hồ Xuân Hương về làm vợ kế, đương nhiên bị vợ cả và
con cái bất bình, nhưng vì “trai làm nên lấy năm bảy vợ”, nên họ phải ngậm đắng
nuốt cay. Một lần vợ chồng có va chạm, Tổng Cóc giận dỗi viết thư trách móc để
dưới gối rồi bỏ đi xa một thời gian, khi Tổng Cóc về thì Hồ Xuân Hương đã không
từ mà biệt. Mãi lâu sau Tổng Cóc mới dò la biết Hồ Xuân Hương đang sống trong
phủ Vĩnh Tường, tính đếm ngày tháng, Tổng Cóc biết Hồ Xuân Hương đã sinh đẻ.
Ông đến phủ Vĩnh Tường chỉ dám lân la ngoài phố, chờ con sen trong phủ ra hỏi mới
biết được con gái Hồ Xuân Hương đã chết khi sinh ra. Tổng Cóc đành tay không ra
về, ông viết mấy câu đối tỏ vẻ nuối tiếc như sau:
Thảo
lai băng ngọc kính (Nói đến tấm gương bằng ngọc)
Xuân
tận hóa công hương (Hóa công cũng chịu lúc tàn xuân)
Hai
câu này hiểu theo nghĩa đen là: “Tấm gương trong trắng ví với người con gái
trong trắng, nhưng khi hết xuân thì thợ trời cũng chịu”.
Độc
bằng đan quế thượng (Chi bằng lúc ta vin cành quế đỏ)
Hỏa
phóng bích hoa hương (Tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm)
Hai
câu này hiểu theo nghĩa đen là: “Chỉ biết dựa vào phúc đức, con cháu khi ấy
hương thơm sẽ tỏa khắp muôn nơi”.
~
⍟ Hồ Xuân Hương với anh
người Tàu:
Vì
tò mò, mến mộ, có một chú Khách mò đến Cổ Nguyệt Đường định thưởng nguyệt xem
hoa...Nếu dễ dãi thì hái lấy chơi, mà lắm gai quá thì...ngó nghiêng, nghiêng
ngó rồi về (mất gì của ngộ?). Không ngờ bị Xuân Hương chặn cửa bằng câu đối:
Chân
đi hài Hán, tay bán bánh Đường, miệng hát líu Lường, ngây Ngô ngấy ngố
Trong
câu trên có tên 4 triều đại Trung Quốc là: Hán, Đường, Lường (còn có âm khác đọc
là Lương), Ngô khiến chú khách kia tẽn tò chuồn thẳng.
Vế
đối: Trường Văn Nguyễn Phước Thắng đối, trong đó sử dụng tên 4 triều đại của Việt
Nam là: Đinh, Triệu, Lý, Mạc:
Tóc
cắt đầu Đinh, vai nghinh lá Triệu, bụng liệu lẽ Lý, mộc Mạc mộc mà
Vế
ra có gieo vần: Hán - bán, Đường - Lương; vế đối tương ứng: Đinh - nghinh, Triệu
- liệu. Riêng ở cặp Triệu - liệu, thay vì gieo vần lưng xa chuyển sang gieo vần
lưng gần. Như trong lục bát biến thể, trong câu tám, thay vì gieo vần chữ thứ
sáu thì chuyển gieo ở chữ thứ tư. Chẳng hạn trong ca dao: Tiếc thay hoa nở làm
CHI, Hoa nở lỡ THÌ lại phải mùa đông.
Vế
đối khác 1:
Đầu
để da Trần, đuôi đeo cành Lý, miệng hí hố Hồ, bò Lê bò la
(Đồng
Văn - câu này tả một con Khỉ sử dụng tên 4 triều đại Việt Nam là: Trần, Lý, Hồ,
Lê)
Vế
đối khác 2:
Đầu
đội nón Âu, cổ đeo chuyền Mỹ, bụng tròn ung Úc, phương Phi phỏng phì
(khuyết
danh - sử dụng tên 4 châu lục: Âu, Mĩ, Úc, Phi)
Vế
đối khác 3:
Miệng
nói lời Càn, sự sinh địa Chấn, lấn ca lấn Cấn, từ Tốn từ ly
(Bùi
Tiến - sử dụng 4 phương vị trong bát quái gồm: Càn, Chấn, Cấn, Tốn)
Vế
đối khác 4:
Lưỡi
nếm táo TÀU, thân vào nhà THỔ, da phình thô LỖ, lễ MỄ lê mê
(khuyết
danh - sử dụng tên 4 quốc gia theo nhiều cách gọi: Tàu là Trung Quốc, Thổ là Thổ
Nhĩ Kỳ, Lỗ là tên của nước Rumania gọi tắt chữ đầu theo phiên âm Hán-Việt là Lỗ
Mã Ni, Mễ tức Mễ Tây Ca là phiên âm cũ của nước Mĩ)
Vế
đối khác 5:
Mình
mặc áo Hồng, nhà trống thân Mạc, lời khoát muôn Triệu, ngồi Lê ngồi lệch
(Huỳnh
Hữu Đức: dùng 4 triều đại của Việt Nam để đối lại: Hồng Bàng, Mạc, Triệu và Lê
để đối)
⚠ Vế ra này được xướng theo
lối Vè, vế ra ngoài chữ Hán gieo vần với chữ Bán, còn có chữ Đường gieo vần với
chữ Lương, nhưng vì lý do khách quan nên Vế Đối trên không thực sự chỉnh mà chỉ
tương đối chỉnh mà thôi.
~
⍟ Đối đáp với ông đồ Bút
Khi
tiếp chuyện một ông đồ tên là Bút ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh, Hồ Xuân Hương (có một thời cùng gia đình sống ở phường Khán Xuân, huyện
Vĩnh Thuận, nay là vùng vườn Bách Thảo, Hà Nội), ra vế đối:
Gái
Khán Xuân, xuân xanh tuổi mười ba, khép cửa phòng xuân còn đợi nguyệt.
Ông
đồ Bút đối lại:
Trai
Đình Bảng, bảng vàng treo đệ nhất, chờ khi chiếm bảng trúng khôi khoa
“Bảng”
(trong “bảng vàng”) cùng âm với “bảng” (trong “Đình Bảng”); tương ứng với
“xuân” (trong “xuân xanh”) cùng âm với “xuân” (trong “Khán Xuân”) của vế ra.
~
⍟ Đối đáp với Dương Trí Tản
① Một lần về quê nội Quỳnh
Đôi, Hồ Xuân Hương cũng đối đầu ngang ngửa với các sĩ tử, ông đồ- những người
ngưỡng mộ bà lũ lượt kéo tới nhà để xem mặt, bắt...hồn thơ, xem có đúng
"danh bất hư truyền" như người đời tán tụng không? Trước mặt họ là một
người đàn bà nhan sắc chưa phải chim sa cá lặn, dung mạo cũng chẳng phô bày
nhung lụa, phấn son, nhưng phong thái đoan trang, ngôn từ lịch thiệp, lại nổi
tiếng về trình độ học vấn, giỏi thơ nôm, khiến ai cũng cảm thấy hài lòng, mến mộ.
Cuộc thi tài diễn ra ngay tối đầu tiên, tất cả các sĩ tử, văn nhân đều bị đánh
bại, riêng ông đồ Dương Trí Tản - tính tình ngang ngạnh, tự phụ, là ra vẻ bất cần.
Chờ cho đám bạn bè thất trận đi vãn ông mới thủng thẳng tìm đến ra mắt người đẹp.
Rít xong điếu thuốc lào, nhả khói mù mịt gian phòng, Trí Tản cố tình ứng khẩu lại
bài thơ đã chuẩn bị sẵn:
Eo
lưng thắt đáy thật là xinh,
điếu
ai hơn được điếu cô mình,
thoắt
châm thoắt bén duyên hương lửa,
càng
núc càng say tính với tình
Hồ
Xuân Hương đối:
Giương
oai giễu võ thật là kinh,
danh
tiếng bao năm đã Tản mình,
thoáng
ngửi thoáng ghê hơi hương lửa,
tài
Trí ra sao hỏi tính tình?
Bài
thơ tỏ rõ bản lĩnh nhanh nhạy, sắc sảo và cũng không kém phần thẳng thắn, quyết
liệt của Hồ Xuân Hương, dùng chính cái tên của ông đồ rởm, gõ đầu trẻ không
xong, còn đòi gõ đầu Hồ Xuân Hương? Mượn điếu bát để tỏ tình thân...gái, chưa
được gái già này cho phép đã tính chuyện ái ân (hương lửa) trong khi Xuân Hương
có cả đống người chạy theo tán tỉnh nơi kinh kỳ, đô hội còn không được nữa là
người nghiện thuốc lào, suốt ngày hun khói mù trời, ăn nói ngạo mạn, xấc xược
như ông ta. Xuân Hương là con người bằng xương, bằng thịt, thích cảm xúc êm dịu,
tao nhã, chứ đâu phải cái điếu bát trơ khấc, để ông muốn bén duyên hương lửa,
ân ái vợ chồng lúc nào là có thể đè ra như đè điếu được? Bên cạnh đó còn có cả
họ tên của ông Dương cũng được lồng ghép vào. Vừa song phi đã ngã ngựa, ông Trí
không dám giữ bộ mặt dương dương tự đắc nữa mà nhân lúc mọi người tản đi vì trời
khuya, bèn bấm bụng rút lui, thua tài trí Xuân Hương và trở thành bằng hữu. Từ
đó ông ta thôi ti toe, không còn giở thói đàn anh, bắt nạt, lấn lướt, lớp nho
sinh, văn sĩ trong làng nữa.
~
② Năm 1788, sau khi treo
ba chữ “Cổ Nguyệt Đường” lên, khiến khách văn chương thành Thăng Long tò mò kéo
đến tấp nập. Hồ Xuân Hương đã nổi hứng ra vế đối hiểm hóc:
Gái
Cổ Nguyệt chơi Hồ cổ Nguyệt, Nguyệt Nguyệt bằng quân tử trượng phu.
Trong
vế đối hai chữ ‘nguyệt” ghép lại thì thành chữ “bằng” (朋), chữ “bằng” ở đây có nghĩa là bằng hữu. Vế đối ngầm
khoe bạn bè bằng hữu của Cổ Nguyệt Đường đều là bậc quân tử trượng phu.
Phải
mấy năm sau, Dương Trí Tản mới đối lại được như sau:
Trai
Kỳ Sơn chơi núi Kỳ Sơn, Sơn Sơn xuất anh hùng hào kiệt.
Tuy
nhiên, những người am tường Hán học bình luận rằng vế đáp của Dương Trí Tản
chưa chỉnh so với vế đối của Hồ Xuân Hương, vì tuy vế sau hai chữ “sơn” ghép với
nhau thì thành chữ “xuất”, nhưng vế trước chữ “Kỳ” không ghép được với chữ
“sơn” để nên nghĩa như chữ “cổ” ghép với chữ “nguyệt”.
Cũng
giai thoại này nhưng có thuyết khác lại chép vế ra rằng:
Gái
Vọng Nguyệt chơi giăng vọng nguyệt, (Nguyệt 月) (nguyệt 月) (bằng 朋) tể tướng công khanh.
Ở
đây có tên làng Vọng Nguyệt (làng Vọng), huyện Yên Phong, tỉnh bắc Ninh là làng
nhiều người đậu tiến sĩ. Ý nói, gái làng Vọng Nguyệt chỉ chơi "giăng vọng
nguyệt" là trăng rằm, và kết bạn (bằng 朋)
với ai có tài làm tể tướng.
Vế
đối như sau:
Trai
Tam Sơn đứng núi Tam Sơn, (Sơn 山)
(sơn 山)
(xuất 出)
anh hùng hào kiệt.
Làng
Tam Sơn, huyện Đông Ngàn; nay là thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh
Bắc Ninh. Làng có 2 Trạng nguyên là Nguyễn Quang Quan và Ngô Miễn Thiệu.
Vọng
nguyệt (xã Tam Giang, huyện Yên Phong) xưa có tên là làng Ngột Nhì. Người họ
Chu đến đây khai cơ lập nghiệp đầu tiên. Sau khi ông tổ họ Chu mất, mộ ông được
đặt ở đồng Đống Tranh, nhìn xuống một cái ao bán nguyệt. Do vậy, làng được đặt
tên tự là Vọng Nguyệt. Vọng Nguyệt nghĩa là trông trăng, đẹp và thơ mộng đến kỳ
ảo. Đây là một làng cổ mang đầy đủ bản tính của quê hương Bắc Ninh trong truyền
thống: anh hùng và trữ tình. Tính anh hùng được biểu hiện rõ trong câu chuyện
dân gian và mối tình sử giữa chàng trai làng Vọng Nguyệt Chu Đình Dự và công
chúa Lý Nguyệt Sinh. Họ gặp nhau trong ngày hội xuân và trai tài, gái sắc đã
nên nghĩa trăm năm. Gặp khi giặc Tống xâm lấn nước ta, họ đã lập đội dân binh,
góp phần vào chiến thắng hào hùng trên sông Như Nguyệt mùa xuân 1077. Nay, Vọng
Nguyệt vẫn còn đền thờ Nguyệt Sinh công chúa, mối duyên tình kỳ ngộ giữa người
con gái Vọng Nguyệt Chu Thị Bột và chàng thư sinh Tam Sơn Ngô Sử Toàn đã để lại
cho người đời một đôi câu đối như trên mà sự kết hợp giữa chữ tình và chữ tài
thật quả tùng lai ít thấy.
Gần
đây, có người là Hồ Bá Quỳnh xin đổi lại câu của Dương Trí Tản như sau:
“Trai Nhân Sơn gặp
tiên Nhân Sơn, sơn sơn xuất công hầu khanh tướng”
Về
phía Tây Nam cách làng Quỳnh Đôi khoảng 3 km có làng Nhân Sơn. Nay thuộc xã Quỳnh
Hồng, huyện Quỳnh Lưu gần thị trấn Cầu Giát. Ngay trong làng ấy có hòn núi gọi
là Lèn Nhân Sơn rất đẹp. Núi Nhân Sơn nay đã bị phá đá nung vôi gần hết. Nhưng
truyền thuyết vẫn còn vì đã đi vào lòng dân. Truyền thuyết kể rằng: Nhiều đêm
trăng thanh gió mát người ta tưởng thấy các cô tiên thưởng nguyệt cạnh các ông
tiên đánh cờ. Dưới chân núi có ngôi đền cổ nhân dân thường hương khói lễ vật phụng
thờ. Câu đối này đảm bảo được chữ Nhân là người ghép với chữ Sơn là núi thì
thành chữ Tiên (ông Tiên, cô tiên) và hai chữ sơn ghép lại thành chữ xuất như
ông Dương Trí Tản đối.
Hồ
Bá Quỳnh biệt danh là ông “vua hiến kế” (nguyên cán bộ Ủy ban vật giá tỉnh Nghệ
An, ngụ xã Quỳnh Bảng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) vị Tiến sĩ được coi là một
trong những cha đẻ của ý tưởng “Hưu nông dân”, có hàng trăm tờ trình ở tầm kinh
bang tế thế, quốc kế dân sinh... làm lợi cho cộng đồng nhiều tỉ đồng, nhưng lại
không nuôi nổi vợ con.
~
⍟ Hồ Xuân Hương và Khâm
sai đại thần
Khi
Gia Long diệt được nhà Tây Sơn, tiến ra Bắc Hà, viên khâm sai lúc bấy giờ được
lệnh đi kinh lý các tỉnh có gặp Hồ Xuân Hương để xin câu đối. Bà liền viết:
Thiên
tử tinh kỳ đương bán diện (Che nửa mảnh rực cờ thiên tử)
Tướng
quân thanh thế áp tam thuỳ (Trấn ba góc, rõ tài tướng quân)
Câu
đối trên có nghĩa đen là: Cờ xí của nhà vua treo khắp mọi nơi, che nửa mặt người.
Uy danh của vị khâm sai rất to lớn, bao trùm cả ba cõi. Câu đối được treo lên,
vua Gia Long nắc nỏm khen, bàn dân thiên hạ cười mủm mỉm, còn quan bé, quan to
giật điếng người...vì phong cách nghịch ngợm của Hồ Xuân Hương chẳng giấu vào
đâu được, khen vua mà lại xỏ ngầm chết vua đấy. Bán diện nghĩa là khuôn mặt
chia ra làm hai nửa theo chiều dọc, còn áp tam thuỳ...chỉ khác gì áp vào cái chỗ
ba góc da còn thiếu ấy? Đến nỗi chúa dấu vua yêu một cái này thì tướng quân dại
gì buông tha? Câu đối được hiểu theo nghĩa ngầm rằng:
Che
nửa mặt, rực cờ Thiên tử
Trấn
ba góc, rõ tài tướng quân
~
⍟ Một vế ra tương truyền của
Hồ Xuân Hương:
Cửa
hang hun hút, con chim cúc ì ạch chẳng tới nơi
Vế
đối của Phú Đa Nguyễn Phước An:
Trái
chuối don don, ả bướm non ỡm ờ chưa đến đậu
Vế
đối của Hoài Anh Võ Quang Thạch:
Nọc
ong tí ti, cánh hoa ly uột èo không nở trọn
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét