2020-12-19
Số Đỏ (VII, VIII)
Vũ Trọng Phụng
Biên soạn và
chú thích: Lại Nguyên Ân
VII
Cái chúc thư của người còn sống – Cuộc khẩu chiến của mấy nhà
khoa học – Ái tình, mày còn đợi gì?
~
Cụ Hồng lúc ấy đã nhắm nghiền hai mắt lại. Trên cái sập gụ khảm
mà giữa là cái khay đèn, cụ nằm một bên, cụ bà thì ngồi phía dưới chân. Thằng
xe lúc ấy đã rửa sạch hai cái chân ngựa người để gánh vác cái trách nhiệm nặng
nề của người bồi tiêm thuốc phiện.
Cụ Bà nói:
− Ông ạ, tuy vậy tôi cũng cứ cho mời cụ lang...
Cụ Hồng lại nhăn mặt lần thứ mười mà khẽ gắt cũng lần thứ mười
rằng:
− Biết rồi! Biết rồi! Khổ lắm, nói mãi!
Đã hiểu cái tính ấy, cụ bà cứ thản nhiên nói tiếp:
− Ấy thế rồi... ta cứ lo toan trước ma chay đi mà
thôi.
− Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!
− Tôi thì tôi nghĩ nên theo cả lối cổ và lối mới,
nghĩa là cứ minh tinh, nhà táng, kèn tàu, kiệu bát cống, và rõ nhiều câu đối.
Nếu chúng nó muốn thì chúng nó cứ đi thuê kèn bú-rích ⓐ Tây đi, càng hay. Nhưng mà không thể vì cái thích của
chúng mà bãi bỏ cái thích của tôi được!
− Biết rồi! Khổ lắm... nói mãi!
Đến đây thì cụ bà không nói gì nữa, ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi,
làm cho cụ ông phải hỏi ngay:
− Thế sao nữa, hở bà?
Thằng xe đã quen những cái ấy lắm nên cũng không thấy gì là buồn
cười nữa. Cụ bà lải nhải kể lể những mớ lễ nghi phức tạp nó làm cho một gia
đình thành ra muốn pha trò, mỗi khi gia đình ấy sắp được hân hạnh là tang gia.
Cách cái lộ bộ, ⓑ ở
phòng khách bên ngoài, lúc ấy khách khứa đông lắm. Ngoài số những người họ hàng
lại có bạn hữu của vợ chồng Văn Minh. Người nào cũng đã lên gác chỗ có giường
của cụ cố tổ, vén màn nhìn vào rồi rón rén lui ra, chạy ù xuống nhà dưới, cho
thế là xong cái bổn phận đi thăm một người ốm nặng. Họ xúm nhau lại uống nước,
hút thuốc, chuyện trò vui vẻ lắm, vì bệnh nhân mà chết thì thực là đáng mừng
cho họ. Do thế, người ta bàn soạn y như trong nhà đã có người chết rồi, chứ
không phải chỉ mới có người ốm.
Ông TYPN đã được mời ngay đến để nghĩ cách chế tạo một vài kiểu
quần áo tang tối tân. Ông nhà báo đã được sự chủ khẩn khoản yêu cầu viết bài
cáo phó, bài tường thuật, và sửa soạn chụp ảnh đăng báo.
Văn Minh vợ mơ màng một cách sung sướng rằng chỉ nay mai là sẽ
được ăn vận toàn trắng, một điều mà bà vẫn ao ước bấy lâu nay. Văn Minh chồng
ngồi hút thuốc lá Ăng-lê, cũng mơ màng đến phần tài sản mà ông ta
sẽ được hưởng, nếu ông nội ông ta chết.
Đã hơn một năm nay, ông cụ già cay nghiệt đã đến tìm một ông
chưởng lý văn khế để giao hẹn với pháp luật rằng mình có chết thì phần lợi tức
của mấy chục nóc nhà mới được đem ra cho con cháu chia nhau... Ông cụ già không
biết rằng nếu cái chết của mình lại có lợi cho con cháu đến như thế thì con
cháu không khi nào lại muốn cụ cứ sống như thế mãi, dù là một ngày, dù là một
giờ. Xưa kia, cụ đã tay trắng làm nên giàu, âu cũng là sinh ư nghệ, tử ư nghệ,
hoặc là một cách chết vì … nghĩa vụ!
Cậu Tân, mà ai cũng gọi là Tú Tân, không phải vì đã đỗ Tú tài,
nhưng mà vì đã ba lần thi trượt cái phần thứ nhất bằng Tú tài, lúc ấy loay hoay
hai ba cái máy ảnh, cân nhắc xem hôm đưa đám nên dùng đến cái nào thì hơn.
Bà Phó Đoan ngồi ẵm cậu con cầu tự của bà như một vị hiền mẫu.
Ông Joseph Thiết − một bạn thân của Văn Minh − thì ngồi trầm tư
mặc tưởng với cái ý định mở một tờ báo bảo hoàng, không phải làm
việc cho triều đình Huế, nhưng cho dòng họ Orléans ⓒ bên Pháp, và cho ông Léon Daudet.ⓓ
Nhân dịp sắp có đám ma, ông cổ động cho ông:
− Khi ông Bainville ⓔ chết, lúc tôi còn là một đảng viên Thập Tự Lửa mà đi đưa
đám, thì một nửa dân thành phố Paris, gồm các chính đảng ở cực hữu...
Song ông nói không ai nghe, vì người ta còn mải nghe ông TYPN
đương bàn:
− Quần áo nhất định bằng nhiễu Thượng Hải trắng, mà viền đen. Cổ
áo sẽ có hoa thị, cánh trắng, cũng viền đen! Mũ mấn cũng thế! Trắng viền đen
nổi hơn đen viền trắng.
Bà Phó Đoan khen:
− Thế thì nhất! Thế thì ai cũng muốn có trở!
Cậu Phước nguẩy đầu một cái:
− Em chã!
Bà Văn Minh ẻo lả hai bàn tay ngọc khẽ vỗ vào nhau:
− Được lắm! Dernières créations! ⓕ
Duy có ông Phán mọc sừng là ngồi im với hai con mắt đầy những
căm hờn. Ông buồn bực vì không thấy vợ ông có mặt tại đấy. Ông muốn tìm Xuân
cũng không gặp. Ông bèn hỏi ông Văn Minh:
− Này bác, thế ông Xuân đâu?
− Ông ấy đi lấy thuốc, cũng sắp về.
Rồi người ta cãi nhau ỏm tỏi một cách chính đáng về vấn đề chức
nghiệp biên trong cáo phó.
Giữa lúc ấy, cô Tuyết bước vào. Cô này là con gái út cụ Hồng,
mới 18 tuổi đúng, rất có nhan sắc, lại cũng sắp lãng mạn theo cái lối phụ nữ
tân tiến rởm.
Cô nói:
− Tôi đến nhà cả hai cụ lang, tôi chẳng gặp cụ nào cả, tôi bèn
dặn cả hai cụ cùng đến.
Cụ bà ở trong nhà thét lên:
− Chết! Sao mày lại dại thế, hở con? Thế thì hai cụ lại giận nhà
này đến chết mất thôi!
Văn Minh đứng lên sừng sộ:
− Cái gì? Việc gì mà phải mời đến những hai ông lang? Người ta
đã bảo để chờ ông Xuân xin thuốc thánh ở đền Bia ⓖ về...
Bạn ông là Joseph Thiết cắt nghĩa ngay:
− Ồ! Toa mà lại chịu được thuốc đền
Bia! Thế thì toa điên thật!
− Không! Chữa bệnh cốt ở lòng tin thuốc, toa phải
hiểu thế nào là tự kỷ ám thị mới được! Hễ tin là khỏi, mà ông cụ nhà moa tin
thuốc thánh đền Bia lắm.
− Sao bảo đã có một ông Xuân nào là sinh viên trường
thuốc chữa chạy cho cụ kia mà?
Ông Văn Minh cắt nghĩa ngay:
− Chính thế! Ông Xuân đã ngồi trò chuyện với ông cụ
và được kính phục lắm. Thế là một mối tin nhé? Rồi ông Xuân cũng lại công nhận
thuốc đền Bia thì làm gì toa bảo ông cụ nhà moa lại
không khỏi? Hai mối tín ngưỡng đủ khiến cho một ông lang băm cũng trở nên có
tài!
Ông Joseph Thiết vì không hiểu cái ẩn tình, cái ý riêng của bạn,
liền biểu đồng tình:
− Nói thế kể cũng có lý.
Được thể, Văn Minh lại mắng cô em:
− Thế thì ai bảo cô mời những hai ông lang? Hở cô ả?
Tuyết cãi:
− Đẻ bảo tôi thế thì tôi cứ thế, chứ tôi biết đâu
đấy?
Văn Minh chạy vào phía trong tìm mẹ.
− Ồ! Phiền quá đi mất! Phiền quá đi mất! Rồi thì chết vì thuốc
mất! Nhiều thầy thối ma, đẻ lại không biết câu phương ngôn ấy hay sao?
Cụ bà chép miệng rồi nói chữa:
− Thôi thì để hai cụ cắt vài thang thuốc bổ thôi vậy.
Cụ ông lại nhắm nghiền mắt lại, gắt:
− Biết rồi! Khổ lắm! Khổ lắm! Nói mãi!...
− Thế người ta giận thì rồi nhà này có người ốm thì
ai đến chữa cho nữa?
Giữa lúc cuống quýt lúng túng ấy, Xuân Tóc Ðỏ bước vào, một chai
nước rất bẩn thỉu cắp ở nách, một gói lá kỳ dị ở tay. Nó trông thấy ông Phán
dây thép, chợt nhớ đến bộ Âu phục mới may của nó, thì hiểu ngay ra cái nghĩa
chữ tín ở đời. Nó bèn dõng dạc khoan thai:
− Thưa ngài, ngài là một người...
Nhưng ông Phán mọc sừng vội nháy mắt xua tay ra hiệu kín thì nó
lại thôi. Người ta xúm quanh Xuân hỏi han nó về cuộc hành trình, về
tin tức đền Bia, ai cũng có vẻ vồ vập nó như nó là một vị hoàng tử. Nhất là
Tuyết, sau khi thấy anh ruột tiến cử vắng mặt Xuân là sinh viên trường thuốc,
thì cứ đứng đờ ra mà nhìn Xuân bằng cặp mắt rất ngây thơ. Văn Minh trợn hai con
mắt ốc nhồi, ưỡn cái cổ lộ hầu, vuốt mảng tóc uốn quăn một cách trịnh trọng,
rồi nói:
− Mời các ngài lên xem chữa thuốc thánh!
Cả bọn đứng lên toan theo Văn Minh lên gác là chỗ có người bệnh.
Song le cụ lang Tỳ và cụ lang Phế đã cùng bước vào nhà một lúc
và để cho phu xe phải đòi tiền xe nhặng lên theo cái lối các bậc danh y đi xe.
Cô Tuyết ra trả tiền. Trong lúc bối rối, không biết xử trí ra sao, cụ Hồng đã
bất đắc dĩ ngồi nhỏm lên và mời tất cả mọi người lên gác vậy.
Lúc ấy trên gác chỉ có ông Hai và cô Nga là con gái ông ta săn
sóc đến người bệnh mà thôi. Ông Hai tuy là em ruột cụ Hồng, song vì an cư lạc
nghiệp nơi thôn quê nên bị coi rẻ. Mỗi một cử chỉ của anh ông, cháu giai cháu
dâu ông, đều làm ông kinh ngạc như người ở tiên giới bị rơi xuống trần gian...
Yên trí mình quê mùa hủ lậu, ông không hề dám có một dư luận gì về những điều
mà ông thấy hình như kỳ quặc. Ngay đến con gái ông, ông cũng không dám dạy bảo
gì, mỗi khi cô Nga ra tỉnh mà tải về làng một ít ngôn ngữ hoặc cử chỉ của cuộc
văn minh tiến bộ ở xứ ta.
Khi thấy tin cụ tổ mệt nặng, ông Hai vội vã ra tỉnh ngay và đã
ngồi suốt đêm ngày ở đầu giường bố để nâng bố dậy, để đỡ bố nằm xuống, để đưa
ra cái ống nhổ... để xúc một thìa chào... Ông không ghen tị vì cụ Hồng cứ an vị
mà hút thuốc phiện, vì các cháu không săn sóc đến ông cụ già. Ông thấy chỉ một
mình ông vất vả thì lòng hiếu đễ càng tăng.
Ngưòi ta rón rén lên, người nào cũng tự kiếm cho mình một chỗ,
không ai phải mời mọc ai cả. Văn Minh để cụ lang Tỳ, cụ lang Phế ngồi cạnh bệnh
nhân, rồi giơ gói lá và lọ thuốc thánh ra.
− Ðây, thuốc thánh chúng tôi xin ở đền Bia cho cụ
chúng tôi đây. Thưa hai cụ, khoa học của người trần dù tiến bộ đến bậc nào thì
cũng chẳng mầu nhiệm bằng sự cứu vớt chúng sinh của đức Thánh được.
Cụ lang Tỳ giở gói lá, xem xét một lúc rồi nói:
− Ồ! Rau thài lài! Rau sam! Chỉ có thế này thôi ư?
Cụ lang Phế cầm lọ nước soi lên bóng đèn mà rằng:
− Ơ kìa! Nước quỷ gì thế này? Nước ao à?
Văn Minh đưa mắt cho Xuân Tóc Ðỏ. Anh chàng này nói ngay:
− Vâng, chỉ có thế, nhưng mà chữa khỏi, vì là thuốc thánh. Tôi
đã xin âm dương, tôi đã được Thánh ban lộc cho, tôi đã thấy hàng nghìn người
khỏi bằng những thứ này rồi.
Cụ lang Tỳ ra vẻ giận dỗi mà rằng:
− Thuốc men mà thế này thì công tôi bao lâu nay cũng toi! Ðã cắt
ba thang, đã đỡ, ấy thế mà...
Cụ lang Phế cũng nói ra ý bóng gió:
− Thưa cụ, không phải tôi đến tranh công của cụ. Nếu
thuốc của cụ mà hay thì hẳn người ta không phải đi xin thuốc thánh đền Bia!
Cụ lang Tỳ giật phắt lấy lọ nước trong tay cụ lang Phế, nói:
− Ðể tôi xem! Nước này mà là nước ao! Nước này chính
là nước ruộng! Uống nước này thì khỏi hết bệnh, không còn bệnh mà chữa nữa!
Cụ lang Phế cự lại:
− Cụ vặc ra với ai thế? Cụ giật lấy để làm gì thế?
Ðơn tôi kê đấy à?
Nhưng cụ lang Tỳ đã không chịu nhận lỗi lại còn phát bẳn:
− Phải! Không là đơn của cụ nhưng mà nó là nước ở
ruộng chứ không phải là nước ao! Làm thuốc thì phải biết phân biệt nước ao,
nước ruộng!
Cụ Phế đứng phắt dậy:
− Thôi, chịu ông rồi! Cả nước này chỉ có ông là biết
nghề thuốc!
− Biết hay không mặc xác tôi!
Hai vị danh sư lúc ấy cùng đứng trước mặt nhau, sấn sổ nhìn
nhau. Sự nóng nảy của hai vị cùng như nhau, không thể ai can mà được nữa.
− Này đừng khoe mẽ! Ðám ma cụ tuần Vi mới ngày hôm
kia chứ đâu!
− A! A! Nhưng cụ tuần Vi cũng thọ hơn sáu chục tuổi
rồi! Anh muốn đổ cho tôi phỏng? Thôi đi, sao anh không nhắc đến chuyện con bé
Chắt nhà ông tham Vĩnh mà anh bốc có hai thang nó đã lăn đùng ra chết?
Cụ Phế giơ hai tay phân vua mọi người:
− Ai bảo? Ai bảo là hai thang? Sao nó sốt nó lại ăn
mận? Không thì việc gì! Hai thang à? Thế anh có nhớ đứa nào chỉ bán có hai xu
thuốc đau bụng mà cậu ký Ðại suýt nữa mất mạng đấy. Thế mà đòi là lang? Lang
thế, mấy lúc mà tù mọt gông? Lang băm ấy à?
Nhung cụ Tỳ thản nhiên ngồi xuống ghế, đủng đỉnh nói:
− Lang băm? Có lẽ!... Nhưng không làm đọa thai người
nào thì thôi.
Cụ Phế ngẫu nhiên có hai mắt to như ốc nhồi:
− A! Anh to gan nhỉ? Nói nữa! Nói nữa đi xem nào?
− Chứ lại sợ à? Nói tại sở Liêm phóng cho mà xem!
− Này không phải doạ! Chưa chắc đâu! Hỏi cái đứa nào
đánh mộng mà đến nỗi lòi con ngươi người ta ra, nó đây kia! Nó đây kia!
− Số nó mù thì anh bảo sao? Anh muốn tôi lục đến cái
thằng bé sài suyễn mà anh chữa bằng lá ổ nhĩ mãi không?
− Sao không nói đến bệnh trẩn kinh của bà Phó Ðoan mà
anh cứ kêu là có chửa?
Bà Phó Ðoan đương cười khúc khích, bỗng phải hỗ thẹn, vội chạy
tọt ra gác sân.
− Anh là thằng khốn nạn nhé! Thế cô Nga đây kia, hôi
nách mà anh chữa bằng dầu bạc hà trong sáu tháng giời không khỏi thì sao?
− Sáu tháng? Thế trong ba năm trời sao anh không cho
sạch mấy nốt ghẻ ruồi ở mình cô Tuyết kia đi?
Cô Nga và cô Tuyết cùng đương bưng miệng cười bỗng đỏ mặt, ngẩn
người ra như gỗ, rồi lôi nhau cắm cổ chạy mất!
Văn Minh lôi cụ Tỳ xuống thang, ông Hai lôi cụ Phế ra một
nơi. ⓗ Cụ
Hồng thì cứ: “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!” Những người khác hoặc rũ rượi ra
cười, hoặc xúm quanh cụ Phán bà mà khuyên giải, vì cụ bà đã mếu máo khi người
ta nói rõ mấy nốt ghẻ ruồi của con gái út cụ ra cho ai cũng hay. Trận đấu khẩu
của hai vị danh sư làm cho ông lão 80 tuổi đương nằm rên mà tỉnh hẳn người ra
như không ốm đau gì cả. Cụ ngơ ngác hỏi:
− Ô hay? Cái gì mà cười nói vui vẻ thế này? Tôi thức
hay tôi ngủ mê thế này?
Văn Minh lúc ấy đã tống khứ hai vị danh sư khỏi nhà rồi, liền
ngồi xuống bên giường mà rằng:
− Thưa ông, ấy là con cháu vui mừng vì ông khỏi bệnh
đấy ạ!
− Tôi khỏi rồi ư? Tôi chưa chết ư? Lạy giời!
− Thưa ông, nhờ có ông đốc-tờ Xuân
đây mà ông khỏi đấy ạ.
− Ðâu? Thế thuốc thánh đền Bia đâu?
− Bẩm ông đã uống một nửa rồi nên mới tỉnh táo thế.
− Thế à!
− Vâng.
Nói xong Văn Minh nháy mắt ra hiệu cho Xuân nói:
− Thưa cụ con đã xin âm dương... Thánh troàn rằng một
ông đốc-tờ mà chịu ơn thánh thì thánh sẵn lòng giúp lắm. Chứ mà ông lang ta thì
không đời nào thánh giúp.
Ông cụ già vui mừng hỏi:
− Ðâu, còn thuốc thì cho tôi uống nốt.
Xuân Tóc Ðỏ đưa lọ nước ruộng và mấy cái lá thài lài ra. Ông cụ
già lại nói:
− Nghe người ta nói thì thuốc thánh ban cho là phải nước ao,
thật bẩn thỉu, thật hôi tanh, ô uế, thì mới khỏi được bệnh kia đấy. Ðừng ai
đánh lừa già đấy nhé!
Người ta cho bệnh nhân ăn mấy lá rau xam, rau thài lài, và uống
mấy chén nước ruộng ấy. Thật là thuốc thánh! Bệnh nhân độ nửa giờ đã tỉnh táo
khác thường, ngồi dậy một mình được, đã ăn được nửa bát cháo.
Ðêm ấy, khi mọi người đi ngủ thì trong phòng người ốm chỉ có
Xuân Tóc Ðỏ và cô Tuyết săn sóc mọi việc mà thôi. Ðến chính ông Hai cũng ngủ mê
ngủ mệt ở một cái trường kỳ gần đấy, vì ông đã hơi yên tâm là cụ tổ sẽ mạnh
khoẻ đến nơi rồi. Tuyết đã lấy chữ hiếu ra làm cớ để cùng thức với Xuân. Hai
bên tuy không nói chuyện với nhau song bốn con mắt đã đủ nói giỏi hơn hai cái
mồm.
Bệnh nhân ngủ yên, hết ho khạc, hết cả rên, cựa cậy cũng ít.
Mặt trăng soi qua cửa kính...
Hồi lâu, Tuyết đánh bạo nói:
− Thưa ngài, cụ lang vu oan, chứ tôi... tôi ... khỏi
mấy nốt ghẻ đã từ lâu rồi.
Xuân Tóc Ðỏ lúng túng ngồi câm làm cho Tuyết phải nghĩ thầm: “À,
dễ người ta làm bộ vì người ta là sinh viên trường thuốc”. Rồi Tuyết ôm mối hận
mà về phòng riêng.
--------------------------------
CHÚ THÍCH:
ⓐ minh
tinh: dải lụa hoặc giấy có ghi tên tuổi, chức tước người chết, được trương
cao lên khi đưa đám ma theo tục lệ cổ truyền; nhà táng: nhà làm bằng giấy hoặc
vải, có trang trí, úp lên quan tài khi đưa ra huyệt mộ; bú-rích (phỏng
âm chữ Pháp musique): âm nhạc.
ⓑ lộ
bộ: chưa rõ là gì; trong ngữ cảnh câu văn, có thể đoán đây là tên một vật
dụng trong nhà.
ⓒ dòng
họ Orléans: một dòng họ từng làm vua ở nước Pháp.
ⓓ Léon
Daudet (1867-1942) nhà văn, nhà báo, chính khách Pháp.
ⓔ Jacques
Bainville (1879-1936) nhà ngoại giao, sử gia Pháp.
ⓕ Dernières
créations (chữ Pháp): sáng tạo mới nhất, sáng tạo tối tân.
ⓖ Thuốc
thánh đền Bia: thuốc xin ở đền Bia, tại làng Văn Thai, tổng Nghĩa Phú, huyện
Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. Đền này thờ Tuệ Tĩnh thiền sư tức Nguyễn Bá Tĩnh
(1330-?), quê làng Văn Thai. Theo lời tục truyền, Tĩnh mồ côi cha mẹ từ 6 tuổi,
được một hào phú trong làng nuôi, sau theo học một thiền sư ở Giao Thủy (Nam
Định), vừa học nho vừa học thuốc, đỗ Hoàng giáp /hay đỗ Thái học sinh?/ dưới
triều Trần Dụ Tông (1341-69) nhưng không ra làm quan mà chuyên làm thuốc chữa
bệnh, đặc biệt chú ý tìm cây thuốc ở Việt Nam, soạn ra và truyền lại sách “Nam
dược thần hiệu”; ngoài ra còn hưng công xây dựng được vài chục ngôi chùa. Về
sau ông được triều cống sang Trung Quốc để chữa bệnh hậu sản cho vợ vua nhà
Minh /hay Nguyên?/, được vua Minh phong sắc “Nam Việt Y Tử”, nhưng không được
về nước mà bị giữ lại ở đó cho đến chết. Cũng theo tục truyền, đến thời Lê Cảnh
Hưng (1740-86) có tiến sĩ Nguyễn Danh Nho (1638-99) là người cùng làng Văn Thai
đi sứ sang nhà Thanh, tình cờ nhìn thấy tấm bia mộ Tuệ Tĩnh, trong đó có lời nhắn
“mai sau ai có về Nam Việt thì cho di cốt tôi về với”, bèn sao lục lời văn bia
ấy rồi thuê thợ khắc đá thành tấm bia đem về nước; qua vạn thủy thiên sơn, khi
đến một nơi gần làng Văn Thai thì tấm bia tụt xuống và không sao chuyển đi
được. Người ta cho là thánh đã hiển linh, bèn xây đền thờ ngay tại vị trí đó,
đặt tên là đền Bia. Tục truyền, thuốc thánh xin ở đền Bia rất công hiệu, dân
đến lễ đền Bia xin thuốc rất đông. Đến thời Minh Mệnh (1820-40), vua thấy dân
tụ về đông như thế, cho là việc phạm, bèn bắt khiêng bia về tỉnh đường giam
phạt 100 năm, từ đó người đến cúng bái xin thuốc bớt dần. Về sau, có người làng
Văn Thai làm việc trên tỉnh đường xin được mang lại tấm bia về đặt lại ở đền
cũ; người trong vùng lại về đây cúng lễ xin thuốc, nhưng ban đầu chỉ có dân 3
làng Văn Thai, Nghĩa Phú, Phú Lộc xin thuốc là hiệu nghiệm. Người ta cho rằng
từ đầu tháng giêng năm 1936, lời quở phạt của vua Minh Mệnh đã hết hạn, tức là
thánh y Tuệ Tĩnh lại vui lòng cứu chữa chúng sinh, nên người ta kéo về làm lễ
mỗi ngày có đến hàng nghìn người. Ai đã thành tâm đến xin thuốc của ngài thì dù
bệnh nặng đến đâu cũng thuyên giảm. Hầu hết các bệnh đều chữa bằng các thứ lá
và nước lã, ai xin về uống cũng đều khỏi. (Theo sách “Lịch sử chùa Bia”, Hồng
Mai soạn, nhà in Hồng Tuyết, Hà Nội, 1936, tr. 3-8). Tại thư viện Quốc gia ở Hà
Nội hiện có ít nhất 5 tập sách mỏng về sự tích đền Bia, hầu hết đều in cuối
1935 đầu 1936, hầu hết đều dùng để bán tại lễ hội đền Bia. Hẳn đây là sự việc
đáng chú ý trong đời sống dân gian đương thời. Có lẽ nhà văn Vũ Trọng Phụng đã
chú ý đến điều này, và đã đưa sự kiện đó vào tiểu thuyết Số
Đỏ.
ⓗ Đoạn
đối đáp cãi vã giữa hai nhân vật lang Tỳ và lang Phế này, tác giả Vũ Trọng
Phụng đã từng viết thành truyện ngắn Cuộc vui ít có, đăng tuần báo Nhật tân s.
18 (29.11.1933) dưới bút danh Thiên Hư.
➖➖➖
VIII
Mấy nguyên nhân đắc thắng của Bình dân trong xưởng Âu Hóa – Một
cuộc âm mưu về tài chính – Một cuộc âm mưu về tình
~
Ðã hai tuần lễ nay, phong trào Bình dân toàn thắng!
Là vì sự tình cờ đã đẩy xô Xuân Tóc Ðỏ, đã hai tuần lễ, vào cái
gia đình trưởng giả của Văn Minh. Thanh thế nó mỗi ngày một to tướng mãi ra.
Ảnh hưởng của nó cũng vậy. Nó cứ tự nhiên tham dự vào những việc rất can hệ cho
xã hội mà nó không biết. Sự ngu độn của nó được người ta cho là nhũn nhặn, là
sự khiêm tốn, nên nó lại càng được yêu mến hơn. Nó chỉ còn chờ... Nó biết rõ
điều ấy lắm. Nó chờ số phận lôi nó lên cao chót vót.
Ông thầy số, những khi lai vãng nhà bà Phó Ðoan để khen bà là
trinh tiết, và cậu con cầu tự (Em chã!) thật là con Giời con Phật, không bao
giờ quên cổ động cho Xuân Tóc Ðỏ là có một tương lai rực rỡ, lừng lẫy tiếng tăm
có phen... Bà Phó Ðoan lại cổ động cho Xuân là có học thức với ông phán mọc
sừng. Ông này lại luôn luôn khen ngợi trước mặt cụ Hồng (Biết rồi! Khổ lắm!...)
rằng Xuân là một người đứng đắn, mặc lòng hãy còn trẻ trung. Cụ cố Hồng đã
côông kênh Xuân Tóc Ðỏ là sinh viên trường thuốc trước mặt cụ cố tổ và cụ bà...
Những người này vô tình nhắc lại những lời ấy cho nhiều người khác cùng biết.
Ðối lại kết quả bất ngờ ấy, Xuân Tóc Ðỏ chỉ việc cổ động cho ông thầy số là Quỷ
Cốc Tử tái thế, ấy chỉ có vậy thôi!
Chỉ có cặp vợ chồng Văn Minh là biết rõ sự thực, nhưng lại ở vào
trường hợp há miệng mắc quai. Tuyên bố rằng Xuân vốn con nhà hạ lưu, làm nghề
nhặt ban sân quần, vì một trò dâm dục bỉ ổi mà phải đuổi? Chao ôi! Thế thì còn
gì là tiệm may Âu Hoá nữa! Thế thì còn đâu là những cái thích của bọn khách
hàng phụ nữ vốn ưa cái nhanh mồm nhẹ miệng và những cử chỉ ngộ nghĩnh của Xuân
Tóc Ðỏ nữa?
Vợ nghĩ thế, còn chồng thì, vì lẽ đã bịp cả ông bố hiếu danh
rằng Xuân vốn là sinh viên trường thuốc, “ông đốc” cẩn thận, bây giờ biết ăn
làm sao, nói làm sao! Cho nên dù Văn Minh rất oán hận Xuân ở chỗ nó đã chẳng
may cứu sống được ông nội mình bằng thuốc thánh đền Bia − một sự ông ta không
thể tha thứ được − ông ta cũng khoanh tay chịu nhịn vậy.
Riêng về phần cụ Hồng (Biết rồi! Khổ lắm!) thì tuy cũng có cụt
hứng vì bố mình lại không chết vì chai nước ruộng và mấy cái lá thài lài, cụ
cũng không dám tỏ lòng bất bình ra với Xuân. Con giai cụ đã kêu đó là sinh viên
trường thuốc và con rể cụ − ông Phán mọc sừng − vẫn luôn nhắc cho cụ khỏi quên
rằng đó là một người đáng kính trọng, vì có học thức lắm, và đứng đắn hết mực.
Thành thử Xuân cứ nghiễm nhiên tọa hưởng kỳ thành, im lặng mà
mỉm cười những khi cụ phán bà, ông Hai, cô Nga, cô Tuyết, ông Joseph Thiết, gọi
nó là quan đốc, và làm cái bộ mặt thờ ơ lãnh đạm mỗi khi bà Phó Ðoan nhìn trộm
nó mà mỉm cười toe toét một cách rất đa dâm.
Sau khi cụ cố tổ đã mời Xuân Tóc Ðỏ dự một bữa tiệc rất trọng
thể linh đình. Việc ấy mở đầu cho một kỷ nguyên mới để thành ra một thói quen.
Từ đấy mà đi, Xuân luôn luôn dự tiệc với bà Phó Ðoan, với vợ chồng Văn Minh,
bằng các lý tưởng tự do, bình đẳng. Sau cùng thì, mỗi khi ai mời được Xuân một
bữa cơm, là được một cái hân hạnh đặc biệt nữa rồi! Ðã có người mến nó, kính sợ
nó. Ðã có người ghen ghét nó nữa, nhưng cái đó không hề gì. Lại có người phải
lòng mặt nó nữa, điều ấy là đáng quan tâm.
Lâu lâu, sống mãi trong bầu không khí hỗn loạn những sự kính
trọng, sợ sệt, mơn trớn của kẻ chung quanh, Xuân Tóc Ðỏ đâm ra khinh người. Vì
lẽ theo thói thường, những kẻ nhũn nhặn hay bị coi khinh, nên Xuân Tóc Ðỏ càng
kiêu ngạo, làm bộ làm tịch bao nhiêu, lại được thiên hạ càng kính trọng. Một
cái lặng im của nó cũng có giá trị của một sự khinh bỉ đáng sợ. Một cái gật đầu
ngây ngô của nó cũng có giá trị của một cái đặc ân. Bọn thợ may và thợ khâu cho
nó là có thế lực đối với ông chủ, bà chủ. Cô Tuyết kính thờ nó vì Xuân được cụ
bà... kính thờ. Ông TYPN, ông Joseph Thiết, cả ông đốc Trực Ngôn nữa, cả cậu Tú
Tân là em ruột ông Văn Minh nữa, cũng ra vẻ nịnh hót nó để lấy lòng nó, vì ai
cũng tưởng cụ cố Hồng (Biết rồi! Khổ lắm!) đương chủ trương những tư tưởng cổ
điển bí mật là gả cô Tuyết, cô con gái rượu, gái út, gái yêu quý, cho Me-sừ ⓐ Xuân! Hoặc tự mình lừa dối mình, hoặc bị vô số kẻ khác lừa
dối, ai cũng ở cảnh bó buộc không sợ hãi hoặc không kính trọng Xuân thì không
được.
Như vậy thật là sự đắc thắng của Bình dân vậy thay!
Hai giờ chiều hôm ấy, bà Phó Ðoan đánh xe hơi lại mời Xuân lên
xem một cái hội ghê gớm là Ngày hội của các gái nhảy ở Hà Nội (La Journée
des cavalières Hanoїennes) có cả các vị tai to mặt lớn trong chính giới chủ
tọa. Khi thấy chỉ có Xuân Tóc Ðỏ thôi, bà Phó ngơ ngác mà rằng:
− Ông Xuân nhỉ? Sao lại không nghỉ hẳn một buổi?
Xuân thản nhiên đáp trống không:
− Việc gì phải nghỉ hẳn? Họ đi thì đã có tôi ở nhà
thay quyền!
Bà Phó Ðoan nghĩ ngợi hồi lâu rồi khoe:
− Ông Xuân đã biết chưa? Hở ông?
− Cái gì?
Trước lời hỏi sỗ gọn như một câu gắt, bà Phó Ðoan vội:
− Bẩm... bẩm cái sân quần... sắp xong.
Xuân lại làm một câu gọn thon lỏn:
− Ðược lắm!
Bà Phó tuy cũng hơi kinh ngạc về những ngôn ngữ khác thường ấy,
nhưng mà chưa chi bà đã vội đem cái ngu dốt của bà ra tra khảo
đã. Ắt hẳn nếu không có cái “vì một lẽ gì” mà bà chưa hiểu được, thì
Xuân Tóc Ðỏ hẳn không dám có giọng nói sỗ sàng với bà dường kia. Nghĩ rằng như
thế mà ra đi ngay thì trơ, bà lại hỏi:
− Thưa ông, thế ông không đi xem hội?
− Việc Âu Hoá không có tôi một ngày cũng không được!
− Bẩm thế thợ khâu... thợ may đâu cả ạ?
− Có mấy cô khâu thì đã phải vận cả mấy bộ y phục đại
tang và tiểu cớ ⓒ do
ông TYPN vừa chế tạo ra, mà người nhà này chưa ai mặc đến, vì cụ tổ
đã được tôi cứu cho khỏi chết... Mấy cô khâu mặc những quần áo ấy và ăn tiền
công của ma-nơ-canh, bà đã hiểu ra chưa? Quần áo trót may thì
phải lăng-xê ⓑ để
quảng cáo chứ? Mấy ông thợ cũng được đi xem hội để phát giấy chiêu hàng.
− Tôi có ý muốn lại cùng đi với vợ chồng Văn Minh và
rủ ông nữa…
− Ấy họ đã đi cả.
Xuân Tóc Ðỏ cứ đáp lửng khửng đủng đỉnh như thế, tay vẫn mân mê
mấy bộ vú bằng cao su mà Tây phương mới gửi sang cho công cuộc Âu hoá ở bên Ðại
Cồ Việt này. Những khí cụ của nhan sắc ấy được để trong những cái hộp rất đẹp,
lót năm bảy lần giấy thủy tinh lóng lánh. Bà Phó Ðoan nhìn những của quái ấy
bằng hai con mắt thèm thuồng, lại nhân thấy Xuân lúc ấy chỉ có một mình trong
gian hàng rộng − sự ấy thật hãn hữu – nên bà không muốn bỏ một cơ hội tốt. Bà
còn trù trừ đứng tìm một câu gì để đả động đến những cái vú cao su ấy thì chẳng
may cậu Phước ngồi ở xe hơi đỗ bên ngoài cứ “Em chã, em chã” mãi, và khóc thét
lên. Bà đau lòng phải bắt tay Xuân và ra thẳng.
Xuân đứng cười thầm một mình. Bà Phó Ðoan tuy già nhưng còn hư
hơn các thiếu nữ ngây thơ nhiều, điều ấy nó biết lắm. Nó chỉ gật đầu một cái là
ăn thua ngay! “Nhưng mà già như thế thì còn... nước mẹ gì! Họa chăng
có các tiền!” Nó nghĩ thế rồi càng phục ông thầy số là tài, khi ông bảo năm nay
gặp vận đào hoa. Rồi nó mơ màng những cách làm tiền, nếu bà Phó Ðoan biết cho
tâm sự của nó. Thành thử vô tình, Xuân Tóc Ðỏ đã thực hành một phương châm mà
những nhà triết học sống đến bạc đầu mới tìm ra được: ấy là phải lên mặt với ái
tình thì cuộc chinh phục mới dễ dàng hơn và bền chặt.
Nó đương sung sướng bỗng phải cụt hứng vì ông Phán mọc sừng. Ông
này tập tễnh bước vào, mặt lầm lầm, không nói gì cả, giơ tay ra bắt. Xuân Tóc
Ðỏ bắt tay xong, ưỡn ngực lên cất giọng lanh lảnh nói thật to:
− Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng!
− Hay lắm! Xin đa tạ... cảm ơn vạn bội.
Ông Phán mọc sừng cảm ơn tha thiết như ông ta, lần này là lần
đầu, được có người đến mách cái tin sét đánh là vợ ông ngủ với giai. Nhưng đó
là tại ông quen mồm đi mà thôi, chứ không phải là ông cảm động, vì ông đã kéo
ghế ngồi trước mặt Xuân, và nói:
− Ấy lần sau quan bác cứ dõng dạc thế cho. Tôi nói
lần sau, nghĩa là lần nào bác thấy cả mặt tôi lẫn vợ tôi, nhất là trước mặt cụ
Hồng hay cụ tổ thì càng hay lắm!
Xuân ngẫm nghĩ rồi nói:
− Ai lại nói thế trước mặt bác gái hay cụ Hồng, hay
cụ tổ!
− Phải thế chứ! Không thì tôi thuê quan bác chục bạc
làm gì?
Xuân lo lắng hồi lâu lại hỏi:
− Hay là rồi tôi trả lại quan bác số tiền ấy vậy nhé!
Ông Phán đứng phắt dậy như bị một cái lò xo đẩy lên, kêu thất
thanh:
− Giời ơi! Thế thì chết tôi mất! Thế thì tôi đến phải
tự tử...
Xuân cũng cảm động mà rằng:
− Chết nỗi! Nhưng sao quan bác lại cần tôi phải...
công kích quan bác về tội mọc sừng?
Nhưng ông Phán không những không cắt nghĩa rõ mà lại nói rằng:
− Không! Không thế được! Quan bác đã hứa rồi. Chỉ có
những người giữ lời hứa là đáng quý. Hai nữa, quan bác có biết rằng địa vị quan
bác trong cái nhà này đã lung lay lắm rồi không?
− Lung lay? − Xuân Tóc Ðỏ hỏi thế một cách lo sợ.
− Phải! Tôi xin làm phúc mà mách quan bác rằng ông
TYPN hiện đương ghen tức bác vì bác đã làm vợ ông ta hư hỏng là một, tiếp khách
khéo hơn ông ta là hai, lại đã biết đo các phụ nữ may áo là ba, làm giảm thế
lực của ông ấy là bốn. Bà Phó Ðoan cũng có vẻ hằn học với bác lắm, vì lẽ gì tôi
chưa rõ. Còn chính vợ chồng ông chủ thì không những ghét ngầm hờn mát bác mà
thôi, mà còn coi bác là kẻ tử thù. Tại sao? Bác có biết không? Tại bác đã làm
cho cụ tổ khỏi hẳn bệnh là một, và làm cho cô Tuyết nó hối hôn với một đám
đã sêu tết ⓓ là
hai. Vậy quan bác phải coi chừng đó! Tôi xin lấy tình thân mà bảo rõ cho bác
biết để bác liệu... Thế thì, tôi đối với bác đã như vậy, mà bác lại không chịu
giúp tôi cái việc ấy hay sao?
Xuân nghe xong rất lo sợ. Chết chửa, thì ra nó chẳng để ý gì cả
nên chẳng hiểu gì cả. Nếu thế, tất lại thất nghiệp, và không hy vọng gì có công
danh. Nó cần phải được yêu, được ai cũng yêu, thì mới mong từ một anh nhặt quần
mà lên một nhà quần vợt tài tử được. Nó run run hỏi:
− Thế bây giờ phải làm thế nào?
− Phải làm như tôi đã dặn. Làm như thế là nhất cử
lưỡng tiện.
− Làm sao?
− Làm như thế bác chuộc lại cái lỗi xưa, những người
thù bác sẽ trở lại yêu bác.
− Tôi mà bị thù à? Bị thù vì chữa khỏi bệnh cho cụ cố
à?
− Chính thế. Chỉ có cụ phán bà là hâm mộ bác vì việc
ấy. Nhưng cụ bà có thế lực gì đâu? Bác phải trông ở cụ Hồng, ở vợ chồng Văn
Minh...
− Thế nghĩa là phải bảo bác mọc sừng trước mặt cả vợ
bác lẫn cụ tổ?
− Bẩm chính thế ạ! Nếu vậy tất cụ tổ phải chết tức khắc... Mà do
thế, ai cũng có tiền tiêu. Cả tôi nữa, tôi sẽ cũng có tiền tiêu...
− Thật không?
− Rồi bác sẽ biết, vì nếu tôi có tiền thì rồi bác
cũng... được tiêu.
Nhưng Xuân lưỡng lự rồi nguẩy đầu:
− Tôi chả thế. Thế là giết người! Tôi không muốn làm một kẻ sát
nhân! Một tội ác! Không thể thế được!
− Ồ! Nếu bác giết có một người thì trái lại, bác cũng
làm cho số đông người khác được sung sướng. Nên lắm, bác ạ. Nếu không thì,
chẳng chóng thì chầy, bác sẽ... mất việc.
Xuân Tóc Ðỏ giơ tay ra cho ông Phán mọc sừng:
− Vậy thì tôi xin hứa một lần nữa... danh dự... cam
đoan.
Ông Phán sung sướng bắt tay Xuân rất chặt, nói rối rít:
− Thôi, tôi vào sở, cảm ơn bác trước nhé!
Ông Phán vừa đi khỏi thì một mỹ nhân chạy tọt vào. Xuân tưởng
lại là một phụ nữ tân tiến muốn may mặc gì, lòng đã mừng thầm, nhưng đó chỉ là
Tuyết. Cô này hổn hển hỏi:
− Anh Phán liệu anh ấy có trông thấy tôi không, hở
ông?
Xuân đáp liều:
− Không, ông ấy có quay lại nhìn sau lưng đâu?
− Thế thì tốt lắm. Nhà đi vắng cả?
− Vâng. Sao cô không lên Hồ Tây xem hội?
− Không thích chứ sao! Trên ấy... trên ấy đầy những
cô đầu với gái nhảy, họ ăn mặc lại tân thời hơn mình hoặc y như mình! Tôi, tôi
là con nhà danh giá, tôi không muốn bị thiên hạ nhầm là gái nhảy.
− Cô nói phải lắm.
− Nhưng mà đừng tưởng là tôi không biết khiêu vũ đấy
nhé?
− À... vâng.
− Ông có biết nhảy không? Ta làm thử bài tango xem
nào?
Xuân sợ hãi, lắc đầu:
− Ðể khi khác... vả lại, phải có âm nhạc chứ? Nếu quý
nương muốn thì hôm nào ta đi bar chơi hơn.
− Thật không? Y hẹn rồi đấy nhé? Ông sinh viên trường
thuốc làm bộ nhé?
Xuân chối cãi:
− Chết nỗi! Quý nương cứ nói thế chứ... Tôi ít nói,
ai cũng tưởng nhầm tôi là khinh người. Vả lại khinh ai chứ khinh sao được quý
nương mà dám khinh! Cô không khinh tôi là phúc!
Lần này là lần đầu Xuân dám tán tỉnh – và cũng có cơ hội – nên
Tuyết rất lấy làm cảm động. Muốn giấu sự xúc động, cô chỉ đống vú cao su, hỏi:
− Những cái gì thế ông?
− À, những vú cao su đấy... Ðể cho phụ nữ tân tiến văn minh Âu
hoá.
− Thế à! Ðể tôi mách chị em bạn tôi mới được. Tôi có nhiều bạn
gái mới lắm. Như thế là dắt khách cho hiệu Âu Hoá của ông đấy nhé?
Xuân nói nửa nạc nửa mở:
− Chứ còn cô thì không cần dùng?
Tuyết bĩu môi và ưỡn ngực ra:
− Cần gì nữa? Vú tôi thế này lại không nở nang chán
ra hay sao? Mấy cô gái mới đã có cái ngực như tôi được! Mà thật đấy chứ không
bằng cao su đâu nhé?
Chừng như sợ mình chỉ nói thế chưa đủ là văn minh tân tiến,
Tuyết lại bảo:
− Tôi cho phép ông khám mà xem!
Tinh quái, Xuân Tóc Ðỏ còn khoanh tay sau lưng.
− Thời buổi này, biết sao được! Giả dối hết thảy! Yêu cũng yêu
giả dối, tân thời cũng tân thời giả dối, hủ lậu cũng hủ lậu giả dối!
Tuyết phải cáu một cách rất chính đáng mà rằng:
− Thì ông cứ thử khám xem tôi có... giả dối không
nào!
Xuân nhìn ra phía ngoài thấy không có ai, liền phóng tay lên
ngực Tuyết, nắn tay xem của thật hay của giả. Sau khi không còn ngờ gì nữa, nó
cảm ơn bằng cách tiện thể hôn luôn tay của Tuyết mà rằng:
− Chỉ có một mình quý nương là không giả dối như đời
mà thôi.
Tuyết thở dài, cảm động. Sau cùng khẽ nói:
− Ông... anh, tôi muốn anh giúp tôi một việc, em rất
cảm tạ.
− Chúng tôi rất hân hạnh.
− Tôi không muốn lấy cái người ấy, vì nếu tôi lấy
hắn, chắc hắn sẽ mọc sừng. Thí dụ một người như ông mà hỏi tôi thì còn nói gì!
Ðằng này hắn lại nhà quê, không biết yêu vợ như những người văn minh. Buồn lắm
anh ạ.
− Tôi phải làm gì?
− Phải giả vờ chim tôi..., chúng ta giả vờ chim nhau,
mê nhau. Cho hắn bỏ tôi, mình hiểu chưa? Ta giả vờ với nhau thôi mà! Tôi cần
mang tiếng hư hỏng lắm mới được.
− Thế sao nữa ạ?
− Anh thì anh cũng phải mang tiếng là làm hại một đời
tôi mới xong!
− Nếu em hứa là sau này đừng làm anh mọc sừng thì anh
xin làm hại một đời em thật sự chứ không còn “mang tiếng” gì nữa.
− Anh đốc, anh nói thật đấy chứ?
− Xin lấy danh dự ra mà hại một đời em!
− Cảm ơn! Yêu lắm! Quý lắm! À, thế nhưng mà anh cần
xin nghỉ việc mới được. Thế muốn làm hại một đời người con gái tử tế đứng đắn
thì mất mấy ngày? Hở mình?
Từ đấy trở đi, Tuyết và Xuân còn nói nhiều, một bên thì lấy tư
cách bình dân, bên kia thì lấy tư cách phụ nữ tân tiến.
--------------------------------
CHÚ THÍCH:
ⓐ Me-sừ (phỏng
âm chữ Pháp monsieur): ngài, ông.
ⓑ lăng-xê (phỏng
âm chữ Pháp lancer): tung ra, đưa ra, quảng cáo.
ⓒ đại tang, tiểu
cớ: hai hình thức để trở (để tang), theo phong tục: đại tang là để tang tứ
thân phụ mẫu (bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ hoặc chồng), thời hạn 3 năm; tiểu cớ là để
tang ông, bà, chú, bác, cô, dì, thời hạn một năm; thân chủ (= người để tang)
phải biểu thị việc mình đang để tang bằng một số dấu hiệu trên trang phục (áo
xô gai, mão trắng, khăn trắng, băng đen, v.v…), trong thời gian để tang, thân
chủ không được ra chốn đình trung, không được dự các đám hỷ (cuộc vui), trong
nhà không được làm đám cưới đám hỏi.
ⓓ hối
hôn: thoái hôn, rút bỏ sự đính ước hôn nhân; sêu tết: việc nhà
trai đưa lễ vật đến biếu nhà gái vào dịp lễ tết, khi đã đính hôn nhưng chưa
cưới.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét