2021-06-12
ALÁTĐANH
HAY CÂY ĐÈN KỲ DIỆU (I)
Vô danh
-
Tiếng Việt: Phan Quang dịch từ bản dịch tiếng Pháp của
Antoine Galland;
Tiếng Anh: được lấy từ “The Harvard Classics”, do Charles
W. Eliot sưu tầm và tuyển chọn.
Chuyện
nàng Sêhêrazát kể:
-
Tâu bệ hạ, tại kinh đô một nước thuộc Trung Quốc, rất giàu và rất rộng, giờ đây
tôi quên mất tên, có một người thợ mang tên là Mutxtapha. Ông ta không có danh
vị nào khác ngoài cái mà nghề nghiệp ông ta đưa lại. Mutxtapha là một người thợ
may rất nghèo. Công việc làm ăn giật gấu vá vai vẫn không đủ nuôi sống vợ và một
đứa con trai tên là Alátđanh.
Được
nuôi dạy theo lối gặp chăng hay chớ, chú mắc nhiều nếp xấu. Chú nghịch ngợm, bướng
bỉnh, không vâng lời bố mẹ. Chú vừa mới lớn lên một chút, bố mẹ chú đã không giữ
được chú ở nhà. Từ sáng sớm, chú đã bỏ nhà ra đi, chơi bời lêu lổng suốt ngày ở
ngoài đường phố và các nơi công cộng với những đứa bé con du thủ du thực có khi
còn ít tuổi hơn chú.
Khi
chú đến tuổi học việc, bố chú chẳng có điều kiện cho chú theo học một nghề nào
khác ngoài nghề nghiệp của mình, liền giữ chú ở quán may và bắt đầu bày cho chú
cách cầm cây kim sợi chỉ. Nhưng lời lẽ dịu dàng không được, đe dọa roi vọt cũng
không xong, ông bố chẳng còn cách gì giữ chân con được. Chú không chịu ngồi yên
cần cù chăm chỉ với nghề, như ông ta mong muốn. Mutxtapha vừa quay lưng đi,
Alátđanh đã lảng mất, và suốt cả ngày hôm ấy, chú không đặt chân trở về tiệm
may nữa. Ông bố lại sửa cho một trận; nhưng Alátđanh vẫn tính nào tật ấy. Ông
ta buộc phải để mặc cho chú tự do, muốn làm gì thì làm. Điều đó làm ông ta rất
phiền lòng, và nỗi buồn không dạy bảo được con nên người khiến cho ông lâm bệnh
nặng mấy tháng thì qua đời.
Bà
mẹ Alátđanh thấy con không chịu theo nghiệp bố, liền đóng cửa quán may và bán hết
đồ nghề để góp thêm vào số tiền ít ỏi bà kiếm được bằng nghề kéo sợi, cho hai mẹ
con sống lần lữa qua ngày.
Chú
bé Alátđanh, trước đây đến bố còn không bảo được thì giờ đây còn coi mẹ ra gì.
Chú to gan đến mức dám đe dọa cả mẹ mỗi lần bị bà trách mắng, thành ra chú tha
hồ chơi bời lêu lổng. Chú đàn đúm với lũ trẻ con cùng lứa tuổi và càng ham mê
chơi bời với chúng hơn cả trước kia. Chú sống theo cách ấy mãi đến năm mười lăm
tuổi, đầu óc chẳng mở mang về bất cứ một thứ gì, chẳng bao giờ suy nghĩ sau này
mình sẽ ra sao.
Chú
đang ở trong tình cảnh ấy, thì một hôm, trong khi chú đang cùng một lũ trẻ du
thủ du thực nô đùa trên một đám đất rất rộng, có một người lạ mặt đi qua dừng
chân lại và chăm chú nhìn chú.
Người
lạ mặt ấy là một lão phù thủy cao tay, mà những tác giả chép câu chuyện này chỉ
gọi là lão phù thủy người Phi. Chúng ta cũng sẽ gọi hắn như vậy. Mà gọi như vậy
cũng phải thôi bởi vì quả thật hắn là người tận bên châu Phi, vừa đặt chân đến
đây mới có hai ngày trời.
Hoặc
giả lão phù thủy người Phi vốn giỏi nghề xem tướng mặt, đã nhận ra khuôn mặt
Alátđanh những nét gì tuyệt đối cần thiết cho sự thực hiện cái ý đồ đã khiến
lão cất công đến tận đây chăng. Cũng có thể là lão đã khôn khéo tìm hiểu trước
về gia đình chú, để biết rõ chú là ai, người ngợm tính nết thế nào. Khi đã rõ
điều muốn biết rồi, lão đến gần chú, kéo riêng chú ra cách bạn bè mấy bước rồi
hỏi:
-
Cháu ơi có phải bố cháu tên là Mutxtapha, thợ may không?
-
Thưa ông vâng, nhưng bố cháu mất đã lâu rồi. -Alátđanh đáp.
Nghe
câu đáp, lão phù thủy người Phi ôm chầm lấy Alátđanh, hôn chú nhiều lần, nước mắt
rưng rưng và thở dài thườn thượt. Alátđanh thấy thế, liền hỏi tại sao lão khóc.
Lão phù thủy người Phi kêu lên: “Ôi cháu ơi! Làm sao chú có thể cầm được nước mắt?
chú là chú ruột cháu đây, bố cháu là anh của chú. Đã nhiều năm nay chú đi xa.
Đúng vào lúc chú về đến đây hy vọng gặp lại bố cháu, để cho bố cháu vui lòng là
chú đã trở về, thế mà cháu lại cho chú hay tin bố cháu đã qua đời! Thật đau xót
làm sao, chú đã không đạt được niềm an ủi mà chú mong chờ. Nhưng có điều làm
chú khuây khỏa được phần nào, ấy là khi nhìn cháu, chú nhận ra ngay nét mặt của
bố cháu mà chú còn nhớ rõ. Chú thấy chú đã không nhầm khi đến hỏi chuyện cháu.”
Lão
vừa thọc tay vào túi tiền vừa hỏi Alátđanh mẹ chú ở đâu. Alátđanh đáp, lão đặt
vào tay chú một nắm tiền và bảo:
-
Cháu ơi, cháu hãy về tìm mẹ cháu, nhớ nói là chú gửi lời chào. Cháu thưa với mẹ
cháu là nếu thì giờ cho phép, sáng mai chú sẽ đến thăm để được nhìn lại nơi ông
anh của chú đã sống một thời gian khá lâu và cũng là nơi ông vĩnh biệt cõi đời.
Lão
phù thủy người Phi từ biệt đứa cháu hờ, và Alátđanh chạy vội về nhà, rất vui mừng
với số tiền ông chú vừa cho. Vừa về tới nhà, chú hỏi mẹ:
-
Mẹ ơi, xin mẹ cho biết, con có ai là chú không?
-
Không con ạ, con chẳng có chú bên nội cũng như bên ngoại.
-
Ấy thế mà con vừa gặp một người bảo là chú ruột bên nội của con cơ đấy, bởi vì
cha con là anh cả của ông ta theo như lời ông ta quả quyết. Ông ta còn khóc và
ôm hôn con nữa khi nghe con nói bố đã qua đời. Đây nhé, bằng chứng con nói thật
– chú đưa ra khoe số tiền vừa nhận được – đây là món tiền chú ấy cho. Chú còn
nhờ con chuyển lời chào mẹ, và nói với mẹ rằng nếu có thì giờ chú sẽ đến thăm mẹ
và cũng để viếng ngôi nhà, nơi bố con đã sống và đã qua đời.
-
Con ạ, – bà mẹ nói – đúng là cha con có một người em trai, nhưng chú ấy mất đã
lâu, và mẹ không bao giờ nghe bố con nói có một chú em nào khác.
Đến
đấy hai mẹ con không nhắc gì đến lão phù thủy người Phi nữa.
Ngày
hôm sau, khi Alátđanh đang chơi với một lũ trẻ con khác ở một nơi khác trong
thành phố, thì lão phù thủy lại tìm đến một lần nữa. Lão lại ôm hôn chú như
ngày hôm trước, rồi đặt vào tay chú hai đồng tiền vàng và bảo:
-
Cháu hãy mang tiền này về đưa cho mẹ cháu, nói rằng tối nay chú sẽ đến chơi. Mẹ
cháu hãy đi mua thứ gì để chú cháu ta cùng ăn với nhau. Nhưng trước hết, cháu
hãy nói cho chú biết nhà cháu ở đâu.
Alátđanh
chỉ cho lão rõ nhà của mình, lão liền để chú đi.
Alátđanh
mang hai đồng tiền vàng về đưa cho mẹ và nói cho bà rõ ý định của ông chú. Bà
đi mua nhiều thức ăn ngon. Nhà không có đủ bát đĩa, bà phải sang hàng xóm mượn.
Suốt ngày hôm ấy, bà lụi cụi sửa soạn bữa cơm chiều, và khi đã sắp xong đâu vào
đấy, bà bảo Alátđanh:
-
Con ạ, có thể chú con không biết nhà ta ở đâu, con hãy đi đón, hễ trông thấy
thì đưa chú về.
Mặc
dù Alátđanh đã chỉ cho lão phù thủy biết rõ nhà ở chỗ nào, chú vẫn sửa soạn đi
đón. Vừa lúc ấy, có tiếng gõ cửa. Chú ra mở và thấy lão phù thủy. Lão bước vào,
tay cắp nhiều chai rượu và trái cây để dùng trong bữa cơm chiều.
Lão
trao tất cả những thứ ấy cho Alátđanh, rồi chào bà mẹ và yêu cầu bà chỉ cho biết
ông anh Mutxtapha của lão trước đây ngồi ở chỗ nào trên ghế. Bà trỏ, lão lập tức
quỳ xuống hôn chỗ ấy nhiều lần, nước mắt rưng rưng, miệng thì than thở: “Ôi! Hỡi
anh tội nghiệp của em ơi, khổ thân cho em biết bao đã không về kịp để được ôm
hôn anh một lần cuối cùng trước khi anh mất!”
Mặc
cho bà mẹ Alátđanh mời mọc, lão nhất định chẳng chịu ngồi vào chỗ ấy. Lão nói:
“Không, tôi không bao giờ dám thế đâu. Chị hãy vui lòng cho tôi ngồi ở chỗ đối
diện này, để nếu không được cái sung sướng nhìn thấy mặt anh tôi còn sống, ông
anh quyền huynh thế phụ cho cả một gia đình thân yêu của tôi, thì ít ra tôi
cũng có thể nhìn vào đấy như thể anh tôi còn có mặt vậy.” Bà mẹ Alátđanh không
nài thêm, để mặc cho lão muốn ngồi đâu tùy ý.
Khi
đã yên vị vào cái chỗ lão tự chọn lấy rồi, lão phù thủy người Phi bắt đầu chuyện
trò với bà mẹ Alátđanh. Lão nói:
-
Thưa chị, xin chị chớ lấy làm lạ sao không hề trông thấy tôi kể từ ngày chị về
làm bạn với ông anh đáng thương tiếc của tôi. Đã bốn mươi năm nay tôi ra đi khỏi
mảnh đất quê hương tôi cũng như của ông anh đã quá cố của tôi. Từ dạo ấy, sau
khi đã chu du khắp các nước Ấn Độ, Ba Tư, A Rập, Xyri, Ai Cập, và cư trú tại
nhiều thành phố đẹp nhất của những nước đó, tôi sang châu Phi và sống lâu nhất ở
bên ấy. Cuối cùng – và đây cũng là điều tự nhiên cho tất cả mọi người, dù cách
xa quê hương đến đâu cũng không thể không nhớ tới nơi chôn rau cắt rốn, không
thể không nghĩ đến họ hàng thân thuộc và anh em cùng được nuôi dạy với mình,
tôi nảy ra lòng mong muốn thiết tha được nhìn thấy lại quê hương, được ôm hôn
ông anh thân yêu. Phải trở về lúc mình chưa quá già yếu và còn đủ dũng cảm để
làm một chuyến đi xa xôi. Bởi vậy, tôi lao vào việc chuẩn bị rồi lên đường
ngay.
Tôi
sẽ không kể cho chị hay đã phải đi mất biết bao thời giờ, vượt qua biết bao trở
ngại trên đường, chịu đựng biết bao gian lao khổ ải để tới được chốn này. Tôi
chỉ xin nói rằng không có gì làm cho tôi tủi phận hơn, buồn bã hơn, so với tất
cả các chuyến đi khác, bằng lúc được tin ông anh trai mà tôi luôn luôn yêu mến,
với những tình cảm thật sự là anh em ruột thịt, đã qua đời.
Tôi
nhận ra ngay những nét mặt của anh tôi trên khuôn mặt cháu. Nhờ đó tôi phân biệt
được cháu ở giữa đám trẻ đang chơi đùa. Cháu có thể cho chị nghe tôi đã đón nhận
tin buồn ông anh tôi mất như thế nào. Nhưng thôi, chúng ta hãy tạ ơn trời đất về
điều này hơn hết thảy. Ấy là niềm an ủi tôi vẫn được thấy lại ông anh tôi qua
những nét đặc sắc còn lưu lại trên khuôn mặt của cháu đây.
Nhận
thấy bà mẹ Alátđanh xúc động khi nghe gợi đến vong linh chồng, lão phù thủy người
Phi liền chuyển sang nói chuyện khác. Lão quay lại phía Alátđanh và hỏi chú tên
gì. Chú đáp:
-
Tên cháu là Alátđanh.
-
Thế nào, Alátđanh? – Lão phù thủy nói tiếp. – Cháu hiện nay đang làm gì? cháu
có biết nghề gì không?
Nghe
hỏi, Alátđanh cúi gầm mặt và tỏ ra bối rối.
Nhưng
bà mẹ đã đỡ lời:
-
Alátđanh là một đứa vô tích sự. Khi bố cháu còn sống, bố cháu đã cố gắng hết sức
mình để dạy nghề cho nó, thế mà không sao làm được. Từ khi bố cháu mất đi, mặc
cho tôi nói gì thì nói, mặc cho tôi ngày nào cũng nhắc đi nhắc lại có bấy nhiêu
điều, nó chẳng chịu làm nghề ngỗng gì ngoài cái việc đi lang thang đàn đúm suốt
ngày với lũ trẻ con, mà như chú thấy đấy, có phải nó còn bé bỏng gì cho cam! Nếu
chú không giúp chỉ ra được cho nó thấy điều đó để lấy làm xấu hổ mà tỉnh dần,
thì tôi cho là chẳng bao giờ nó có thể nên người. Nó biết bố nó chẳng để lại một
chút của cải nào, và tôi lụi hụi kéo sợi từ sáng sớm tới đêm khuya vẫn không
sao kiếm ra đủ ngày hai bữa. Nó cũng thấy đấy, chứ phải không đâu. Tôi đã định
bụng hôm nào tống khứ nó ra khỏi nhà, cho nó muốn tìm đâu ra cái ăn thì đi mà tự
tìm lấy.
Bà
mẹ nói xong tủi thân khóc nức nở. Lão phù thủy người Phi liền bảo Alátđanh:
-
Như thế không tốt đâu, cháu ạ. Cháu phải nghĩ tới chuyện cố gắng lên và tự mình
kiếm sống chứ. Nhân sinh bách nghệ, cháu hãy thử xem có nghề nào cháu thích hơn
cả hay không? Có thể cháu không thú nghề của bố cháu và hợp với một nghề gì
khác cũng nên. Cháu cứ nói thật với chú, chú chỉ muốn giúp đỡ cháu mà thôi.
Thấy
Alátđanh chẳng nói chẳng rằng, lão tiếp:
-
Nếu cháu ngại không muốn đi học nghề nhưng lại muốn có một cửa hiệu bán vải
vóc, lụa là đắt tiền, thì cháu phải đứng ra quản lý lấy, rồi đến khi bán hết
hàng, cháu lấy tiền ấy cất hàng khác về. Bằng cách đó cháu sẽ sống rất đàng
hoàng, cháu hãy suy nghĩ cho kỹ, rồi thẳng thắn cho chú biết ý kiến cháu thế
nào. Cháu sẽ thấy chú lúc nào cũng sẵn sàng giữ lời hứa với cháu.
Lời
gợi ý ấy làm cho Alátđanh rất thú vị. Chú vốn không thích lao động chân tay,
hơn nữa chú cũng đã có đủ trí khôn mà nhận thấy rằng những hiệu buôn loại ấy đều
sạch sẽ và đông khách, còn các ông chủ hiệu thì ăn mặc sang trọng và rất được nể
vì. Chú nói với lão phù thủy, mà chú tin là chú ruột của mình, rằng chú rất
thích làm nghề buôn bán ấy hơn là nghề nào khác. Nếu được lão gây dựng cho thì
chú sẽ nhớ ơn đến trọn đời.
Lão
phù thủy nói:
-
Cháu đã thích nghề buôn bán, vậy thì sáng sớm mai chú sẽ dẫn cháu đi may mặc
cho nó chỉnh tề và sang trọng, giống hệt như một người chủ hiệu buôn lớn ở
thành phố ta ấy. Rồi đến ngày kia, chúng ta sẽ tính tới chuyện mở một cửa hiệu
đúng như cung cách mà chú hằng suy tính.
Bà
mẹ Alátđanh, cho đến lúc bấy giờ vẫn chưa thật tin lão phù thủy là em chồng
mình. Nhưng sau khi nghe bấy nhiêu điều mà lão hứa làm cho con trai mình, bà
không còn nghi ngờ gì nữa. Bà cảm ơn lão về những ý định tốt lành. Sau khi khuyến
khích Alátđanh hãy tỏ ra xứng đáng những điều hay ho như ông chú định gây dựng
cho, bà soạn bữa cơm chiều. Suốt bữa ăn, câu chuyện vẫn chỉ xoay quanh mỗi một
việc ấy, cho đến khi lão phù thủy thấy đêm đã khuya, liền cáo từ hai mẹ con ra
về.
Sáng
sớm hôm sau, lão phù thủy người Phi không quên trở lại nhà bà vợ góa của
Mutxtapha thợ may, như lão đã hứa. Lão dẫn Alátđanh đi và đưa chú vào một hiệu
buôn lớn chuyên bán quần áo may sẵn bằng đủ loại vải cho đủ mọi lứa tuổi, người
sang cũng như người hèn. Lão gọi mang ra những áo quần hợp với khổ người
Alátđanh, rồi sau khi để riêng ra những bộ lão thích nhất và trả lại những bộ
lão cho là không đẹp, lão nói với chú: “Cháu hãy chọn trong số này bộ áo quần
nào cháu thích hơn cả.” Thú vị về sự hào phóng của ông chú, Alátđanh chọn một bộ.
Lão phù thủy liền mua cùng với mọi thứ kèm, và trả tiền toàn bộ không hề cò kè
mặc cả.
Thắng
bộ cánh sang trọng từ đầu đến chân, Alátđanh hết lời cảm ơn ông chú. Lão phù thủy
lại hứa hẹn sẽ không rời bỏ chú, sẽ luôn luôn kèm chú bên mình. Đúng như vậy,
lão dẫn chú đến những nơi đông đúc nhất trong kinh thành, đặc biệt là đến khu
phố những hiệu buôn giàu có. Khi đi vào phố có những cửa hiệu bán các loại vải
lụa đẹp đắt tiền nhất, mượt mà nhất, lão nói với Alátđanh:
-
Chẳng bao lâu nữa cháu sẽ trở thành chủ hiệu như những người cháu thấy kia. Vậy
cho nên cháu hãy đến chỗ họ buôn bán để cho họ biết cháu, đó cũng là việc nên
làm.
Lão
cho chú đi xem những nhà thờ đẹp nhất, lớn nhất. Lão dẫn chú vào những nhà trọ
mà các nhà buôn nước ngoài thường nghỉ lại và đến những nơi trong hoàng thành
mà dân chúng được phép tự do ra vào. Sau khi cùng nhau đi xem những cảnh đẹp nhất
ở kinh đô, lão phù thủy đưa Alátđanh đến quán trọ mà lão thuê phòng, ở đấy lão
đã mời sẵn mấy nhà buôn lão mới làm quen từ hôm đến đây để thết đãi và đồng thời
để giới thiệu đứa cháu hờ luôn thể.
Mãi
đến tối bữa tiệc mới tàn. Alátđanh muốn cáo từ ông chú để trở về nhưng lão phù
thủy không cho chú bé về một mình, lão thân hành đưa về tận nhà. Bà mẹ trông thấy
con ăn mặc đẹp quá, hết sức mừng rỡ. Bà không tiếc lời ca ngợi lão phù thủy đã
chi tiêu một món tiền lớn đến thế để sắm sanh cho con trai bà. Bà nói:
-
Chú tốt bụng quá, tôi không biết làm sao cảm ơn hết tấm lòng hào hiệp của chú.
Tôi biết rằng cháu chẳng xứng đáng với những việc tốt lành chú làm cho nó đâu.
Nếu nó không biết tỏ ra hàm ơn và ăn ở sao cho xứng với ý đồ đẹp đẽ của chú, là
gây dựng cho nó một cơ ngơi làm ăn quý báu thì nó thật không đáng làm người, về
phần tôi, một lần nữa, tôi xin cảm ơn chú tự đáy lòng. Tôi xin chúc chú sống
lâu để chứng kiến sự biết ơn của cháu, nó không có cách nào tỏ rõ lòng biết ơn
hơn là cố ăn ở sao cho đúng các lời chú dạy bảo.
-
Alátđanh là một thằng bé lành. – Lão phù thủy tiếp. – Cháu chịu nghe lời tôi,
và tôi tin rằng chúng ta có thể dạy dỗ nó nên người. Duy chỉ có một điều tôi
chưa bằng lòng ấy là ngày mai chưa thể thực hiện điều tôi đã hứa với cháu. Mai
là thứ sáu, các hiệu buôn đều đóng cửa. Không thể nào tính đến chuyện thuê một
gian hàng và sắm sanh hàng họ trong khi các nhà buôn người ta còn mải lo việc
vui chơi. Bởi vậy, công việc đó đành phải lùi sang thứ bảy vậy. Nhưng sáng mai
tôi sẽ đến đón cháu, cho cháu đi dạo trong các công viên mà giới thượng lưu thường
lui tới. Chắc cháu chưa bao giờ được xem những trò giải trí trong đó. Mãi đến
bây giờ cháu chỉ toàn chơi với trẻ con, cần để cho cháu giao du với người lớn.
Cuối
cùng lão phù thủy người Phi cáo từ hai mẹ con ra về.
Alátđanh
đang hết sức vui mừng vì ăn mặc đẹp, càng sung sướng hơn về chuyện sắp được đi
dạo ra những vùng xa ngoài thành phố. Quả vậy, chưa bao giờ chú được đi xa ra
bên ngoài các cổng thành, chưa bao giờ chú được đi đến những vùng phụ cận,
phong cảnh vốn rất tươi đẹp và hữu tình.
Sáng
hôm sau, Alátđanh thức dậy và mặc áo quần thật sớm, để sẵn sàng lên đường khi
ông chú đến gọi. Sau khi chờ đợi một thời gian mà chú cho là rất lâu, sốt ruột
quá, chú mở cửa và đứng ở bậc thềm ngóng xem có thấy lão đến không. Vừa trông
thấy lão đằng xa, chú đã báo cho mẹ biết, rồi vừa xin phép mẹ vừa đóng cửa lại
và chạy ra với lão.
Lão
phù thủy xoa đầu chú rất thân mến và tươi cười bảo:
-
Cháu thân yêu ơi, chúng ta hãy đi thôi, hôm nay chú muốn cho cháu xem nhiều cảnh
vật rất ngoạn mục.
Lão
dẫn chú đi qua một cái cổng lớn đến nhiều ngôi nhà to và lộng lẫy, hay đúng hơn
là những lâu đài tráng lệ, nhà nào cũng có nhiều vườn tược rất đẹp có thể ra
vào tự do. Cứ đến mỗi tòa lâu đài, lão lại hỏi Alátđanh có thấy đẹp không, và
Alátđanh mỗi lần đến một lâu đài mới, lại vội nói: “Chú ơi, tòa nhà này còn đẹp
hơn cả những tòa chúng ta vừa xem cơ đấy.”
Hai
chú cháu cứ thế đi xa mãi về thôn quê. Lão phù thủy tinh ranh vốn muốn đi thật
xa để thực hiện ý đồ lão đang nghiền ngẫm trong đầu, lão tìm dịp để đi sâu vào
bên trong những khu vườn tươi tốt. Lão ngồi xuống cạnh một bể nước lớn hứng một
dòng nước rất đẹp tuôn xuống từ mõm một con sư tử bằng đồng, và vờ làm ra vẻ mệt
để ép Alátđanh ngồi nghỉ:
-
Cháu ơi, – lão nói – chắc cháu cũng mệt như chú, chúng ta hãy nghỉ ở đây một chốc
để lấy hơi, thế thì mới có thêm sức lực để tiếp tục cuộc du ngoạn của chúng ta
chứ.
Hai
người ngồi xuống, lão phù thủy người Phi mở chiếc khăn buộc ở thắt lưng lấy ra
bánh ngọt và nhiều trái cây mang theo, đặt lên thành bể. Lão bẻ đôi một chiếc
bánh cho Alátđanh một nửa, còn về trái cây thì lão để cho chú tha hồ chọn lấy
quả nào thích nhất. Trong bữa ăn, lão dạy bảo đứa cháu hờ nhiều điều, khuyên
cháu chớ nên chơi bời với lũ trẻ con nữa mà nên gần gũi những người khôn ngoan,
thận trọng, nên lắng nghe ý kiến họ và học hỏi những điều họ trao đổi với nhau.
Lão nói:
-
Chẳng bao lâu nữa, cháu cũng sẽ là một người như bọn họ, và cháu không thể
không sớm noi gương họ mà nói năng cho chững chạc.
Sau
khi dùng xong bữa ăn nhẹ, hai chú cháu đứng dậy và tiếp tục đi băng qua các khu
vườn không có hàng rào mà chỉ có những hào nhỏ ngăn cách. Nhân dân thành phố
này vốn tin cậy lẫn nhau cho nên không cần rào giậu gì hơn để đề phòng chuyện mất
mát có thể xảy ra làm thiệt hại lẫn nhau. Dần dà, lão phù thủy người Phi dẫn
Alátđanh đi cách khu vườn một quãng khá xa, băng qua nhiều cánh đồng đến gần
sát chân núi.
Alátđanh,
từ thuở bé chưa bao giờ đi nhiều đường đất như vậy, bắt đầu thấy thấm mệt. Chú
hỏi lão phù thủy:
-
Chú ơi, chúng ta đi đâu thế này? Bao nhiêu vườn tược đều ở đằng sau ta cả rồi,
trước mặt cháu chỉ thấy toàn là núi. Nếu chúng ta đi xa hơn nữa, cháu không biết
rồi có đủ sức quay trở về được thành phố hay không.
-
Hãy dũng cảm lên, cháu của chú ạ! – Lão chú hờ nói. – Chú muốn cho cháu xem một
khu vườn đẹp hơn tất những khu vườn chúng ta vừa thấy. Chẳng còn xa nữa đâu, chỉ
mấy bước nữa thôi. Khi đến nơi rồi, tự cháu sẽ nói cho chú biết, có phải đã tới
gần như thế này rồi mà bỏ về không xem thì thật đáng tiếc hay không.
Alátđanh
nghe cũng bùi tai. Thế là lão phù thủy dẫn chú đi càng xa hơn nữa, vừa đi vừa kể
chuyện vui cho chú nghe để chú thấy đường đi bớt chán và đỡ mệt được phần nào.
Cuối
cùng hai người đi đến quãng đất giữa hai quả núi không lấy gì làm cao và xấp xỉ
như nhau, cách nhau bởi một thung lũng rất hẹp. Đây chính là nơi hệ trọng mà
lão phù thủy người Phi muốn đưa Alátđanh đến để thực hiện một mưu đồ to lớn đã
khiến lão phải cất công đi từ nơi tận cùng châu Phi đến đất Trung Hoa này.
Lão
nói với Alátđanh:
-
Thôi, ta không đi xa hơn nữa. Chú muốn cho cháu xem ở đây những điều kỳ lạ chưa
một ai từng biết. Khi đã nhìn thấy rồi, cháu khắc cảm ơn chú đã cho cháu chứng
kiến biết bao điều kỳ diệu mà trừ cháu ra, không có một ai trên đời này được
trông thấy. Trong khi chú đánh lửa, cháu hãy đi nhặt lại đây mọi thứ củi khô nhỏ
nhất mà cháu trông thấy để nhóm lửa.
Ở
chỗ ấy có rất nhiều bụi bờ, chỉ một loáng Alátđanh đã thu nhặt được một đống thừa
đủ dùng, trong khi lão phù thủy đánh lửa. Lão châm lửa, khi củi cháy, lão ném
vào đấy một loại hương trầm cầm sẵn ở tay. Một ngọn khói rất dày bốc lên cao.
Lão niệm những câu thần chú Alátđanh nghe mà chẳng hiểu tí gì, làm cho ngọn
khói chao đảo bên này bên kia.
Cùng
lúc ấy, mặt đất khẽ rung và mở ra ngay chỗ trước mặt lão phù thủy và Alátđanh
đang đứng, để lộ một phiến đá nằm ngang, rộng mỗi bề khoảng một bộ rưỡi và dày
chừng một bộ, chính giữa có gắn một cái vòng bằng đồng để nắm và nhấc lên. Khiếp
đảm về những điều trông thấy, Alátđanh hoảng hốt muốn bỏ chạy.
Nhưng
sự có mặt của chú cần thiết cho phép ma. Lão phù thủy giữ chú lại, mắng rát và
cho chú một cái tát nên thân đến nỗi chú ngã lăn ra đất, hộc máu mồm, thiếu tí
nữa thì gãy hết răng cửa. Chú bé Alátđanh đáng thương run lẩy bẩy, nước mắt chảy
ròng ròng, vừa khóc vừa kêu:
-
Chú ơi, cháu có tội gì mà chú nỡ đánh cháu đau như vậy?
-
Tao có lý do để đánh mày. – Lão phù thủy đáp. – Tao là chú mày, lúc này đây
cũng như bố mày, mày không được phép cãi lại bố. Nhưng thôi con ạ, – lão dịu giọng
nói tiếp – con đừng sợ gì cả, chú chẳng đòi hỏi gì ở con, ngoài việc con phải
làm theo lời chú thật đúng đắn, nếu con muốn được hưởng thụ xứng đáng tất cả những
lợi ích to lớn mà chú muốn gây dựng cho con đây!
Những
lời hứa hẹn tốt đẹp ấy làm giảm bót phần nào nỗi sợ hãi và lòng giận hờn của
Alátđanh. Khi thấy chú đã hoàn toàn trấn tĩnh, lão phù thủy nói tiếp:
-
Cháu đã thấy rõ rồi đấy những việc chú vừa làm bằng hương trầm và các câu thần
chú. Bây giờ cháu nên biết rằng ở dưới phiến đá cháu nhìn thấy kia có giấu kho
tàng để dành cho cháu. Nó sẽ làm cho cháu một ngày kia trở nên giàu có hơn tất
cả những nhà vua vĩ đại nhất trên trần gian. Thật đúng vậy, vì trên đời này chỉ
có cháu là được phép chạm vào phiến đá này và nhấc nó lên để đi vào mà thôi.
Ngay cả chú đây cũng không được phép động vào phiến đá và bước chân vào kho
tàng đã mở. Bởi vậy, cháu cần phải thực hiện đúng từng điểm một những điều chú
sắp dặn đây, không được bỏ sót một chi tiết nào. Việc này hết sức hệ trọng đối
với cháu cũng như đối với chú.
Vẫn
chưa hết ngạc nhiên trước những điều mắt thấy tai nghe về các kho tàng mà lão
phù thủy nói sẽ làm cho chú suốt đời sung sướng. Alátđanh quên ngay tất cả những
chuyện bực mình vừa xảy ra:
-
Thế thì cần phải làm những gì, hở chú? chú hãy truyền, cháu sẵn sàng vâng lệnh.
– Chú vừa nói vừa lóp ngóp đứng lên.
Lão
phù thủy liền ôm hôn Alátđanh và nói:
-
Cháu ơi, chú rất hài lòng là cháu đã nhất quyết như vậy. Cháu hãy đến đây, hãy
tới gần hơn nữa, hãy cầm lấy cái vòng này và nhấc phiến đá lên.
-
Nhưng, thưa chú, cháu làm sao đủ sức nhấc nổi lên, chú phải giúp cháu một tay.
-
Không, cháu không cần có chú giúp sức. Nếu chú phụ giúp vào thì chú cháu ta sẽ
chẳng làm được gì sất. Cháu phải tự mình nhấc nó lên. Khi nắm cái vòng, cháu chỉ
cần đọc tên bố cháu và tên ông nội cháu rồi kéo lên, cháu sẽ thấy chẳng nặng nhọc
gì.
Alátđanh
làm theo lời lão phù thủy, chú nhấc phiến đá lên một cách dễ dàng và đặt sang
bên cạnh.
Phiến
đá được nhấc lên, để lộ ra một cái hầm con sâu chừng ba bốn bộ, có một cái cửa
nhỏ và các bậc thang để xuống sâu hơn nữa. Lão phù thủy liền bảo Alátđanh:
-
Cháu ơi, cháu hãy thực hiện đúng đắn tất cả những điều chú dặn đây. Cháu hãy đi
xuống cái hầm này. Khi xuống đến bậc thang cuối cùng, cháu sẽ trông thấy một
cái cửa mở sẵn dẫn tới một chỗ có xây vòm bên trên và chia làm ba căn phòng lớn
kế tiếp nhau. Ở phòng nào, cháu cũng sẽ thấy ở bên phải và bên trái có bốn chiếc
vại bằng đồng to như những cái lẫm, chứa đầy vàng bạc, nhưng cháu chớ có động
vào. Trước khi bước vào căn phòng thứ nhất, cháu hãy vén áo lên và buộc thật gọn
vào quanh người. Khi đã vào được căn phòng thứ nhất thì hãy sang ngay phòng thứ
hai không dừng lại, từ phòng thứ hai, hãy đi tiếp ngay sang phòng thứ ba, chớ
có dùng dằng. Điều quan trọng hơn hết thảy là cháu hãy chú ý, chớ đi quá sát để
khỏi chạm người vào vách cũng đừng để cho tà áo của cháu quệt vào, bởi vì nếu
nhỡ chạm vào vách cháu sẽ chết ngay tức khắc. Chính vì vậy mà chú dặn cháu hãy
quấn gọn áo quanh người.
Cuối
căn phòng thứ ba, có một cửa dẫn sang một khu vườn trồng những cây đẹp, cây nào
cũng trĩu quả. Cháu cứ thẳng trước mặt mà đi và băng qua khu vườn ấy theo một
con đường dẫn đến một cầu thang có năm mươi bậc đưa lên sân thượng. Lên đến sân
thượng rồi, cháu sẽ trông thấy trước mặt cháu có một cái khám, trong khám có một
cây đèn thắp sáng. Cháu hãy cầm lấy cây đèn thổi tắt đi, sau khi đã ngắt chiếc
bấc và đổ hết nước, cháu hãy ôm nó vào lòng và mang lên đây cho chú. Cháu đừng
sợ làm bẩn áo, thứ nước trong đèn ấy không phải dầu đâu, khi đã đổ hết nước rồi
thì cây đèn sẽ khô ngay. Nếu cháu thấy thích các quả ở trong vườn, cháu có thể
hái bao nhiêu thì hái, mặc sức, điều này không cấm.
Nói
xong, lão phù thủy người Phi rút ở ngón tay lão ra một chiếc nhẫn, đeo vào cho
Alátđanh và bảo rằng đấy là một thứ bùa hộ mệnh phòng những điều không may có
thể xảy ra, miễn là cháu phải tuân theo đầy đủ những điều chú dặn. Căn dặn xong
đâu đấy, hắn nói tiếp:
-
Nào, cháu hãy mạnh dạn lên mà bước xuống, hai chú cháu ta đều sắp giàu có suốt
đời rồi.
Alátđanh
nhẹ nhàng nhảy vào chiếc hầm con và tụt xuống tận bậc thang cuối cùng. Chú
trông ba căn phòng mà lão phù thủy đã tả. Chú đi qua hết sức thận trọng vì luôn
luôn tâm niệm là sẽ chết nếu không chú ý nhất nhất làm theo những lời dặn dò.
Chú đi băng qua khu vườn không dừng lại, trèo lên sân thượng, cầm lấy cây đèn
đang cháy sáng trong cái khám, ngắt chiếc bấc, đổ nước đi, và thấy cây đèn khô
ráo đúng như lời lão phù thủy đã nói chú cho luôn vào lòng. Chú bước xuống khỏi
sân thượng và dừng lại trong khu vườn để ngắm nghía các trái cây mà chú chỉ
thoáng trông thấy khi đi qua.
Tất
cả cây cối trong vườn này đều trĩu những quả kỳ lạ. Mỗi cây có những quả màu sắc
khác nhau. Có những quả màu trắng, có những quả lấp lánh và trong suốt như pha
lê; có những quả màu đỏ đậm nhạt không đều; có những quả màu lục, màu xanh, màu
tím, màu ngà và nhiều màu sắc khác nữa. Những quả trắng ấy chính là ngọc trai,
những quả sáng và trong suốt là kim cương, những quả màu đỏ thắm là xích ngọc,
những quả đỏ nhạt hơn là hồng ngọc, những quả màu lục là bích ngọc, những quả
màu xanh là lam ngọc, những quả màu tím là tử ngọc, những quả màu ngà là thạch
ngọc, những quả khác cũng đại loại như vậy. Mỗi quả đều to và hoàn hảo chưa từng
ai trông thấy trên đời này.
Alátđanh
không hề biết tên gọi và giá trị của chúng, cho nên nhìn các quả ấy chẳng chút
xúc động, vì không hợp với sở thích của chú như vải, nho và các loại quả khác rất
ngon lành mà ở nước Trung Hoa đâu đâu cũng có. Hơn nữa, chú cũng chưa đến tuổi
biết được giá cả các thứ đó. Chú nghĩ rằng đây chẳng qua là đồ thủy tinh pha
màu và cũng chẳng có giá trị gì hơn thế. Tuy nhiên, màu sắc rực rỡ, vẻ đẹp và cỡ
lớn kỳ lạ của mỗi quả gây cho chú lòng ham thích muốn hái đủ các thứ để chơi.
Thế là cứ mỗi loại cùng màu chú lại hái nhiều quả, bỏ đầy hai túi áo và hai cái
túi dùng để đựng tiền mới toanh mà lão phù thủy đã mua cho cùng với áo quần hắn
cho chú, để cho toàn bộ cánh đều là của mới. Và vì các túi áo đều đầy ắp, chú
đeo luôn hai cái túi đựng tiền vào thắt lưng, mỗi bên một cái. Chú còn nhét cả
vào trong thắt lưng, nó là một tấm lụa rộng quấn nhiều vòng quanh bụng, và chú
ý nhét cẩn thận sao cho các quả khỏi rơi. Chú cũng không quên tuồn chặt quanh
mình, vào giữa lần áo ngoài và áo lót nữa.
Mang
theo bấy nhiêu của báu mà không hay biết, Alátđanh vội vàng trở lại con đường
băng qua ba gian phòng để lão phù thủy người Phi khỏi phải chờ đợi lâu và sau
khi đi ngang qua để trở về cũng thận trọng như lúc bước vào, chú trèo lên các bậc
thang tới cửa miệng cái hầm con, ở đây lão phù thủy đang nóng lòng chờ đợi. Vừa
trông thấy lão, Alátđanh nói:
Chú
ơi, xin chú hãy đưa tay đỡ cháu trèo lên! Lão phù thủy bảo:
-
Cháu hãy đưa trước cây đèn cho chú, nó có thể làm cháu vướng đấy.
-
Xin chú miễn thứ, nó chẳng làm cháu vướng đâu, -Alátđanh đáp – lên được rồi
cháu sẽ đưa ngay cho chú.
Lão
phù thủy khăng khăng đòi Alátđanh phải giao chiếc đèn vào tay lão trước khi lão
kéo chú lên khỏi hầm, còn Alátđanh thì vì lỉnh kỉnh với bấy nhiêu thứ quả chú
nhét cùng với cây đèn, cứ một mực đòi ra khỏi hầm rồi mới chịu giao đèn cho
lão. Thế là lão phù thủy thất vọng vì bị chú bé cự tuyệt, điên tiết lên, lão
ném một ít hương thơm vào ngọn lửa mà lão chú ý giữ cho cháy suốt từ nãy đến giờ.
Lão đọc xong hai câu thần chú, thì phiến đá dùng để lấp lối vào hầm tự động chạy
về đúng chỗ cũ, đất lại phủ kín bên trên, giống y như khi lão phù thủy và
Alátđanh vừa mới tới đây vậy.
Rõ
ràng là lão phù thủy không phải là em trai của Mutxtapha thợ may như lão vẫn
rêu rao, và do đó không phải là chú ruột Alátđanh. Lão đúng là người châu Phi,
ra đời ở bên ấy, và bởi vì châu Phi là nơi người ta say mê ma thuật hơn bất cứ
nơi nào khác, ngay từ khi còn trẻ lão học phù phép, và sau khoảng bốn mươi năm
khổ công tu luyện và đọc hết sách vở dạy ma thuật, cuối cùng lão phát hiện ra
được trên thế giới có một ngọn đèn kỳ diệu, nếu lão chiếm đoạt và trở thành chủ
nhân của nó thì lão có quyền lực hơn bất kỳ bậc đế vương nào trong vũ trụ.
Nhờ
một quẻ bấm dẫn mới nhất, lão biết được cây đèn ấy ở vào một nơi nào đó dưới đất
chính giữa nước Trung Hoa, vào đúng địa điểm và trong bối cảnh như chúng ta vừa
thấy. Tin chắc điều phát hiện của mình là đúng, lão bắt đầu đi từ chốn tận cùng
của châu Phi, như chúng ta đã biết. Sau một chuyến đi lâu dài và gian khổ, lão
đến được cái thành phố ở gần nơi cất giấu bảo vật. Nhưng, mặc dù cây đèn chắc
chắn ở nơi lão đã biết, lão vẫn không được phép tự mình cầm lấy cũng như không
được bước vào cái hầm ngầm giấu nó. Cần phải có một người khác đi xuống đấy, lấy
cây đèn và đưa tận tay cho lão. Chính vì vậy lão phải tìm đến Alátđanh, một chú
bé mà lão biết là cầu bơ cầu bất và rất thích hợp để làm cái việc lão đang cần.
Lão nhất quyết là khi đã nắm được cây đèn trong tay, sẽ làm phép xông hương và
đọc mấy câu thần chú để làm hại chú, cho không còn một ai biết được hành tung của
lão nữa. Cái bạt tai lão đánh Alátđanh, cũng như cái quyền uy mà lão tạo nên,
chỉ nhằm mục đích là làm cho chú sợ hãi, chú sẽ giao ngay cho lão cây đèn thần
trứ danh. Nhưng sự tình xảy ra trái với điều lão dự liệu. Cuối cùng lão phải
hành động độc ác một cách vội vàng để giết hại chú bé Alátđanh đáng thương, bởi
vì lão sợ nếu có tranh cãi với chú lâu hơn nữa, nhỡ có kẻ nào đi tới, nghe được
và sẽ làm lộ việc mà lão đang muốn giữ cho thật kín nhẹm.
Khi
ấy mọi ước mơ to lớn và tốt đẹp của mình vĩnh viễn tan thành mây khói, lão phù
thủy biết không có cách nào khác hơn là tìm đường trở về châu Phi. Và lão đi
ngay trong ngày hôm ấy. Lão tìm đường vòng để khỏi phải trở về thành phố mà ban
sáng lão đã cùng Alátđanh ra đi. Quả vậy, lão sợ có người trông thấy lão đi
chơi cùng chú bé rồi trở về một mình, mà hỏi nguyên cớ chăng.
Cứ
sự tình này thì rồi sẽ chẳng bao giờ có ai nghe nói đến Alátđanh nữa. Nhưng,
con người tưởng vĩnh viễn tiêu diệt được chú đã không chú ý là chính mình đã
đeo vào ngón tay chú một chiếc nhẫn có thể dùng cứu nguy cho chú. Đúng như vậy,
chiếc nhẫn ấy mà chú không mảy may biết rõ quyền lực lại là nguyên nhân cứu sống
Alátđanh. Và cũng đáng ngạc nhiên là lão phù thủy cùng một lúc mất luôn hai thứ:
chiếc nhẫn cùng với cây đèn thần, mà không tuyệt vọng đến nỗi phải quyên sinh.
Nhưng bọn phù thủy vẫn quá quen với những việc không may và những sự kiện trái
với những ước mong của chúng, cho nên chừng nào còn sống là chúng còn lao vào
những chuyện hão huyền, những hy vọng viển vông.
Alátđanh
không ngờ ông chú hờ, sau bấy nhiêu lời đường mật và những việc làm tốt đẹp, lại
có thể độc ác đến thế, cho nên rất đỗi ngạc nhiên. Nỗi kinh ngạc của chú kể
cũng dễ hiểu thôi song thật khó mà diễn tả nên lời. Khi thấy mình bị chôn sống,
chú gọi ông chú hờ đến một nghìn lần, vừa gọi vừa kêu to lên rằng chú sẵn sàng
đưa cây đèn cho lão. Nhưng mọi tiếng kêu của chú đều vô ích, không còn ai có thể
nghe được. Thế là chú lâm vào cảnh tăm tối mịt mù.
Cuối
cùng tạm ngừng than khóc, chú mò mẫm tụt xuống đến bậc cuối cùng của chiếc cầu
thang trong hầm ngầm, để may ra thấy được ánh sáng ở khu vườn mà chú vừa đi qua
chăng. Nhưng bức tường lúc nãy được ma thuật mở ra thì bây giờ đã bị ma thuật
đóng vào cho liền lại. Chú sờ soạng trước mặt, bên phải và bên trái nhiều lần,
nhưng không sao tìm thấy cửa nữa. Chú kêu khóc, rồi ngồi xuống bậc thang trong
hầm, chẳng chút hy vọng gì nhìn thấy ánh sáng nữa. Chú chắc chắn mình sắp chết
đến nơi.
Alátđanh
sống hai ngày trong tình cảnh ấy chẳng có lấy một miếng cơm hay một giọt nước.
Cuối cùng đến ngày thứ ba, thấy không còn cách nào thoát chết, chú chắp hai tay
lại đưa lên cao và hoàn toàn khuất phục trước ý trời, chú thốt lên: “Sức mạnh
và quyền uy chỉ có ở Thượng đế tối cao vĩ đại.” Trong khi chắp tay vào nhau,
chú vô tình miết vào chiếc nhẫn mà lão phù thủy người Phi đã đeo vào ngón tay,
chú vẫn chưa hiểu rõ quyền lực. Lập tức một ông thần có bộ mặt to tướng và đôi
mắt khủng khiếp như từ dưới đất chui lên sừng sững trước mặt chú, đầu chạm mái
vòm cao. Thần nói với Alátđanh những lời sau đây:
-
Ngài cần gì? Tôi xin sẵn sàng tuân lệnh. Tôi và tất cả nô lệ của chiếc nhẫn này
đều là nô lệ của ngài cũng như của tất cả những ai đeo nó ở ngón tay.
Vào
một lúc khác và trong một trường hợp khác, Alátđanh vốn chưa từng quen với những
hiện hình kiểu ấy có thể đã khiếp đảm, không thốt được nên lời. Nhưng mải lo âu
cho số phận đang lâm nguy của mình, chú trả lời không chút do dự:
-
Cho dù ông là ai đi nữa, hãy đưa ta ra khỏi chốn này, nếu ông có đủ quyền lực
làm điều ấy.
Chú
chưa dứt lời, đất đã mở ra và chú thấy mình ở bên ngoài hầm ngầm, đúng vào nơi
lão phù thủy đưa chú đến hôm trước.
Thoạt
tiên, mắt Alátđanh không chịu nổi ánh sáng ban ngày. Lát sau, mắt chú mới quen
dần. Nhìn ra chung quanh, chú rất ngạc nhiên thấy mặt đất không có chỗ hở, chú
không hiểu được mình từ lòng đất chui ra được bằng lối nào. Chỉ có nhờ vào dấu
cái bếp lửa đất từ hai hôm trước, chú mới mang máng nhận ra được cái hầm đại
khái ở vào chỗ nào. Sau đấy, quay đầu nhìn lại, chú trông thấy thành phố nằm giữa
các khu vườn bao bọc, và nhận ra con đường hôm nọ lão phù thủy đã dẫn chú đến.
Chú
theo con đường đó đi ngược trở lại, vừa đi vừa cảm tạ Thượng đế đã cho mình sống
lại mặc dù đã chắc mẩm chết mười mươi. Chú lần vào thành phố, và vất vả lắm mới
lê về được đến nhà. Vào được nhà mẹ đẻ, quá vui mừng vì gặp lại mẹ, cộng thêm nỗi
gần ba ngày trời không được ăn, chú ngã lăn ngất đi một lát.
Bà
mẹ tưởng chú bị lạc hay là đã chết, trông thấy con trong tình trạng ấy, vội tìm
đủ mọi cách chạy chữa cho chú hồi tỉnh. Cuối cùng, chú tỉnh lại, và lời đầu
tiên chú thốt lên là câu nói:
-
Mẹ ơi, trước hết xin mẹ hãy cho con ăn, ba ngày nay con chẳng có một miếng gì
vào bụng.
Bà
mẹ mang những thứ có sẵn trong nhà ra để trước mặt con và nói: - Con ơi, chớ có
vội vàng, sẽ nguy hiểm đấy, con hãy ăn từng chút một và ăn thong thả. Trong lúc
con đang đói như thế này, hãy giữ lấy hơi. Mẹ cũng không muốn con nói chuyện
ngay với mẹ nữa. Bao giờ lại sức, con sẽ tha hồ kể cho mẹ nghe những gì đã xảy
ra cho con. Trông thấy con là mẹ thỏa rồi, sau bấy nhiêu lo âu và chạy vạy ngược
xuôi để tìm con; mẹ lo lắng kể từ hôm con ra đi khi thấy trời tối mà con vẫn
không trở về.
Alátđanh
nghe lời mẹ, ăn từ tốn từng ít một và uống có mức độ, ăn xong, chú nói:
-
Mẹ ạ, con rất phàn nàn sao mẹ lại nhẹ dạ giao phó con vào một tay kẻ mang dã
tâm hãm hại con, một kẻ mà, trong giờ phút con đang nói chuyện với mẹ đây, đang
cầm chắc con không còn sống nữa, hắn nhất quyết con đã chết rồi, thậm chí đã chết
ngay trong ngày đầu. Ấy thế mà mẹ lại tin hắn là chú con, và con cũng tin như mẹ
mới khổ chứ. Làm sao chúng ta có thể nghĩ khác về một con người đã âu yếm, vỗ về
con, cho con biết bao tiền của, lại còn hứa hẹn với con đủ điều lợi lộc? Thật
ra, hắn chỉ là một gã phản trắc, một tên độc ác, một thằng bịp bợm. Hắn làm cho
con bao nhiêu việc tốt và hứa hẹn với con bấy nhiêu điều là chỉ nhằm đi đến mục
đích hãm hại con như con vừa nói mà mẹ cũng như con đều không thể nào đoán ra
được tại sao. Về phần mình, con có thể quả quyết đã không hề gây nên cho lão bất
cứ một điều gì đáng để cho lão đối xử như vậy. Qua câu chuyện con sẽ kể lại trung
thực cho mẹ nghe, từ khi con từ giã mẹ cho đến lúc lão thực hiện cái mưu đồ độc
địa của lão, rồi mẹ khắc hiểu.
Alátđanh
bắt đầu thuật lại tất cả những việc xảy ra cho chú cùng với lão phù thủy từ cái
ngày thứ sáu lão đến tìm để đưa chú đi xem các tòa lâu đài và vườn tược ở ngoài
thành phố, những gì đã xảy ra trên quãng đường cho đến các địa điểm nằm giữa
hai quả núi, nơi lão phù thủy thực hành phép lạ kỳ của lão, bằng cách ném vào bếp
lửa hương và đọc vài câu thần chú, mặt đất đã mở ra ngay tức khắc và để lộ lối
đi xuống cái hầm con dẫn tới một kho tàng vô giá như thế nào. Chú không quên nhắc
đến cái bạt tai của lão, rồi sau đó giảm bớt cơn giận dữ, lão đeo cho chú chiếc
nhẫn, hứa hẹn rất nhiều điều khuyến khích chú đi xuống hầm ngầm. Chú không bỏ
qua một tình tiết nào về những gì chú nhìn thấy khi đi ngang qua và quay trở lại
ba gian phòng, trong khu vườn và trên sân thượng, nơi chú lấy được cây đèn kỳ
diệu. Chú rút từ trong người ra khoe với mẹ cây đèn cùng các thứ quả trong suốt
và nhiều màu sắc chú đã hái trong khu vườn khi quay trở ra với cùng hai túi đầy.
Chú
đưa cho mẹ xem, nhưng bà chẳng chút lưu tâm. Ấy thế mà các quả ấy lại là những
viên ngọc quý đang ánh lên rực rỡ như mặt trời dưới ánh sáng của ngọn đèn soi tỏ
căn buồng. Nhưng bà mẹ Alátđanh vốn cũng chẳng hiểu biết gì về ngọc ngà hơn con
trai. Bà được nuôi dạy trong hoàn cảnh rất nghèo hèn. Chồng bà chẳng giàu có gì
để có thể cho bà những của quý ấy. Hơn nữa bà cũng chưa bao giờ trông thấy bất
kỳ một người bà con hay hàng xóm nào đeo ngọc. Bởi vậy không có gì đáng ngạc
nhiên khi bà coi những thứ ấy như những đồ vật chẳng có mấy chút giá trị, họa
chăng chỉ làm vui mắt người ta nhờ những màu sắc khác nhau của chúng mà thôi.
Thế là Alátđanh đành nhét tất cả vào đằng sau một chiếc gối đặt trên bộ phản
chú đang ngồi.
Để
kết thúc câu chuyện, chú kể tiếp cho mẹ nghe, sau khi trở ra lên đến miệng hầm
và sắp sửa bước ra ngoài thì, vì chú không chịu đưa cây đèn cho lão phù thủy,
lão ném một ít hương thơm vào đống lửa mà lão vẫn giữ không cho tắt cho đến lúc
bấy giờ và đọc mấy câu thần chú, thế là miệng hầm tự động đóng lại ngay tức khắc.
Chú nghẹn ngào không thể nói thêm mà không rơi nước mắt lúc thuật lại cho mẹ
nghe tình cảnh khốn đốn từ khi bỗng nhiên thấy mình bị chôn sống trong căn hầm
ác hại cho đến lúc thoát ra được, hay cũng có thể nói là sống lại được nhờ chạm
vào chiếc nhẫn thần. Kể đến đây, chú nói với mẹ.
-
Chẳng cần nói thêm nhiều hơn nữa những việc gì xảy ra sau đó, mẹ đã biết cả rồi.
Tóm lại, đầu đuôi câu chuyện xảy ra với con và những nỗi hiểm nghèo mà con phải
trải qua từ hôm con xa mẹ đến nay là như vậy đấy.
Bà
mẹ Alátđanh kiên nhẫn lắng nghe mà không ngắt lời câu chuyện kỳ diệu và lạ lùng
đồng thời cũng đáng lo âu nữa cho một người mẹ vẫn thương yêu con tha thiết bất
chấp tính xấu của nó. Tuy vậy, đến những đoạn xúc động nhất, làm nổi bật sự đểu
cáng của lão phù thủy người Phi, bà không thể không để lộ ra mặt bà oán ghét
lão ta đến chừng nào. Alátđanh vừa nói xong, bà đã không tiếc lời nguyền rủa
tên bất lương ấy. Bà gọi lão nào là phản trắc, là xảo trá, là dã man, tên giết
người, lừa dối, phù thủy, thù địch và là kẻ hủy diệt loài người.
-
Đúng như vậy con ạ, – bà nói tiếp – đó là một tên phù thủy mà bọn phù thủy hết
thảy đều là dòi bọ. Bằng những bùa ma phép quỷ, chúng toàn giao du với loài yêu
quái. Tạ ơn Thượng đế đã không để cho sự độc ác của lão làm hại đến con! Con tạ
ơn trời đất về cái phúc lành con vừa được hưởng. Nếu con không nhớ đến Thượng đế
và cầu xin sự cứu vót của Người, thì chắc chắn con đã không thể nào thoát nạn.
Bà
còn nhiều điều nữa nguyền rủa lão phù thủy đã phản bội con trai bà, thì chợt nhớ
ra Alátđanh, đã ba ngày rồi không chạp mắt, đang cần được nghỉ ngơi. Bà sửa soạn
nơi cho chú nằm và một lát sau bà cũng đi ngủ luôn.
~
Alátđanh
không hề được nghỉ ngơi suốt thời gian bị chôn sống trong cái hầm ngầm, cho nên
đêm hôm ấy ngủ say như chết. Sáng hôm sau dậy thật muộn, vừa thức dậy câu đầu
tiên chú nói với mẹ là chú đói lắm, và chú sẽ sướng tuyệt nếu bà có thức gì ăn.
Bà mẹ đáp:
-
Than ôi, con ơi, mẹ chẳng còn lấy một mẩu bánh cho con, tối hôm qua con đã ăn hết
mọi thức ăn còn lại trong nhà rồi. Nhưng con hãy nén lòng chờ một tí, mẹ khắc
có thứ mang về cho con. Nhà còn một ít sợi mẹ kéo được, mẹ sẽ mang bán đi mua
bánh mì và một chút gì cho mẹ con ta ăn sáng.
-
Mẹ ơi, mẹ hãy để dành số sợi ấy cho một bữa khác, – Alátđanh nói – và hãy đưa
cây đèn con mang về hôm qua ra đây. Con sẽ đưa đi bán, với số tiền bán được chắc
đủ cho mẹ con ta ăn lót lòng và ăn bữa sáng, may ra còn có thể đủ ăn buổi chiều
nữa cũng nên.
Bà
mẹ liền vào chỗ con nằm, lấy cây đèn đưa ra cho con và bảo:
-
Đấy, đèn của con đấy, nhưng mà nó bẩn lắm, hãy đánh qua đi một chút, mẹ tin là
sẽ bán được tiền hơn. Bà đi tìm nước và một ít cát để đánh bóng cây đèn. Nhưng
bà vừa cọ sát cây đèn ấy, thì lập tức một ông thần gớm ghiếc cao lớn như hộ
pháp, hiện ra trước mắt hai mẹ con và cất giọng ồm ồm như sấm:
-
Bà cần gì? Cùng với tất cả những nô lệ khác của cây đèn, tôi sẵn sàng tuân lệnh
bà cũng như tuân lệnh bất cứ ai cầm cây đèn trong tay.
Bà
mẹ Alátđanh không còn miệng lưỡi nào để trả lời. Trông thấy bộ mặt gớm ghiếc và
đằng đằng sát khí của ông thần, bà khiếp đảm đến nỗi vừa nghe thần nói mấy tiếng
đầu, bà đã ngã vật ra bất tỉnh nhân sự.
Alátđanh
đã từng gặp một sự hiện hình tương tự trong hầm ngầm. Không cần suy nghĩ cho mất
thời giờ, chú cầm vội cây đèn, và thay lời mẹ, chú đáp giọng kiên quyết:
-
Ta đang đói, hãy mang thứ gì lại đây cho ta ăn!
Thần
đèn biến mất, và một lát sau trở lại, đội một chiếc mâm bạc lớn trên đầu, trên
mâm có mười hai chiếc đĩa cũng bằng bạc đựng đầy những thức ăn tuyệt diệu, kèm
sáu chiếc bánh mì trắng đặt trên đĩa, hai chai rượu ngon và hai chiếc ly bằng bạc
cắp ở tay. Thần đặt tất cả xuống tấm phản, rồi biến ngay tức khắc.
Tất
cả những việc đó xảy ra trong chốc lát, nhanh đến nỗi khi thần biến mất lần thứ
hai, bà mẹ Alátđanh vẫn chưa hồi tỉnh. Alátđanh dấp một ít nước lạnh vào mặt bà
nhưng chưa có kết quả, đang định làm thêm để cho bà tỉnh lại thì, hoặc là do
tâm thần bà đang hồi trở lại dần dần hoặc là mùi thơm của các món ăn do thần
đèn mang lại góp sức vào đấy phần nào, vì chính bà cũng đang đói, bà tỉnh dậy
ngay. Alátđanh nói:
-
Mẹ ơi, không hề gì đâu, mẹ hãy dậy và đến cùng ăn với con. Những món ăn này đủ
làm cho mẹ an thần cũng như thỏa mãn cơn đói như bào của con. Chúng ta hãy ăn
đi, chớ để nguội lạnh những thức ăn ngon thế này.
Bà
mẹ Alátđanh cực kỳ ngạc nhiên khi trước mắt nhìn thấy chiếc mâm to, mười hai
chiếc đĩa, sáu chiếc bánh, hai chai rượu và hai cái ly, và mũi ngửi thấy mùi
thơm quyến rũ tỏa lên từ những thức ăn ấy. Bà hỏi:
-
Con ơi, ở đâu ra nhiều thế này, và chúng ta chịu ơn ai hào phóng như vậy? Hay
là hoàng đế biết nỗi nghèo khổ của gia đình ta nên đoái thương chúng ta chăng?
-
Mẹ ơi, chúng ta hãy ngồi vào mâm và ăn thôi! Alátđanh đáp. – Mẹ cũng đang đói
như con; ăn xong rồi con sẽ xin thưa để mẹ rõ.
Hai
mẹ con ngồi vào, càng ăn càng thấy ngon vì suốt đời họ chưa bao giờ có một mâm
cỗ thịnh soạn như vậy. Vừa ăn, bà mẹ Alátđanh vừa ngắm nghía và xuýt xoa ca ngợi
chiếc mâm và các đĩa, mặc dù bà cũng không phân biệt được những thứ ấy làm bằng
bạc hay làm bằng một chất gì khác, bởi vì chẳng mấy khi được nhìn thấy những đồ
giống như vậy. Thật ra bà cũng chẳng biết giá trị là bao nhiêu. Điều bà ca ngợi
nhất là nó mới toanh. Cậu con trai Alátđanh thì cũng chẳng hay biết gì hơn bà.
Hai
mẹ con lúc đầu tưởng chỉ ăn lót dạ bình thường, nhưng mãi đến giờ ăn trưa vẫn
chưa đứng dậy. Chả là những món ăn tuyệt diệu làm cho họ cảm thấy rất ngon miệng.
Thức ăn còn nóng, họ nghĩ ra rằng thà chén luôn một mạch cả bữa sáng và bữa
trưa còn hơn là chia làm hai bận. Ấy thế mà ăn xong luôn cả hai bữa, phần còn lại
cũng không những đủ để ăn tối mà còn có thể dành cho ngày hôm sau ăn hai bữa
như vậy nữa.
Sau
khi đã dọn mâm đĩa và cất số thức ăn chưa động đến, bà mẹ Alátđanh đến ngồi xuống
tấm phản bên cạnh con trai và nói:
-
Mẹ sốt ruột chờ con kể cho mẹ nghe câu chuyện con vừa hứa với mẹ.
Alátđanh
thuật lại đầy đủ những việc đã xảy ra giữa thần đèn và chú trong khoảng thời
gian bà ngất đi cho đến khi bà tỉnh lại. Bà mẹ Alátđanh rất đỗi ngạc nhiên về
câu chuyện con vừa kể và về sự xuất hiện của thần đèn. Bà nói tiếp:
-
Nhưng, con này, những chuyện về thần và thánh của con là thế nào nhỉ? Từ khi mẹ
lọt lòng đến nay, chưa bao giờ mẹ nghe một người quen biết nào nói có trông thấy
thần thánh cả. Tại làm sao cái lão hung thần gớm ghiếc ấy lại đến với mẹ? Tại
sao lão nói với mẹ mà không nói với con, lão đã hiện lên với con một lần trong
cái hầm ngầm giấu kho tàng rồi kia mà?
-
Mẹ ơi, ông thần vừa hiện lên trước mặt mẹ không phải là ông thần đã hiện lên với
con. Hai vị thần có giống nhau chừng nào về dáng vóc khổng lồ nhưng họ hoàn
toàn khác nhau về vẻ mặt và cách ăn mặc. Bởi vậy họ thuộc về những chủ nhân
khác nhau. Mẹ còn nhớ không, ông thần hiện lên với con xưng là nô lệ của chiếc
nhẫn con đeo ở ngón tay, còn ông thần hiện lên với mẹ lại xưng là nô lệ của cây
đèn mẹ đang cầm. Nhưng con nghĩ là mẹ đã không nghe được hết vì, hình như ông
ta vừa mở miệng nói, mẹ đã ngất xỉu đi rồi.
-
Sao? Thế ra tại cây đèn của con cho mà lão hung thần chết tiệt ấy nói với mẹ chớ
không nói với con à? Ôi! Con ơi, con hãy cất nó đi khuất mắt cho mẹ nhờ, con muốn
để nó ở đâu tùy ý, mẹ chẳng muốn động vào nó nữa. Theo mẹ tốt hơn là nên quăng
hay bán đi còn hơn để có ngày chết khiếp vì chạm phải nó. Nếu con nghe lời mẹ
thì con nên vất luôn cả chiếc nhẫn nữa. Không nên giao du với quỷ thần, chúng
nó đều là yêu quái cả. Đấng tiên tri của chúng ta đã dạy như vậy sao?
-
Mẹ ơi, xin mẹ cho phép, bây giờ con sẽ không bán nữa như con đã dự định làm lúc
nãy, cây đèn này sẽ có ích cho mẹ con ta. Mẹ không thấy những thức ăn nó vừa
mang lại cho chúng ta đó ư? Phải để cho nó tiếp tục cung đốn cho mẹ con ta sống
chứ. Mẹ hẳn phải thấy như con rằng, chẳng phải không có lý do mà cái lão chú hờ
độc địa của con lại chịu làm bao nhiêu việc khó khăn và chịu cất công đi xa vất
vả như vậy, chỉ nhằm mục đích là chiếm bằng được cây đèn thần diệu này. Lão còn
chuộng cây đèn này hơn tất cả vàng bạc lão biết rõ là giấu trong các gian
phòng, như lão đã nói trước với con và chính mắt con cũng trông thấy. Lão biết
rõ tác dụng và giá trị của cây đèn này lắm, cho nên mới không đòi hỏi một thứ
gì khác trong cả một kho tàng quý báu như vậy.
Nhờ
sự tình cờ mà mẹ con ta nhận ra được công dụng của nó, thì chúng ta hãy sử dụng
sao cho có lợi cho nhà ta mà không ồn ào để khỏi làm cho hàng xóm sinh lòng ham
muốn và ghen tị. Mẹ sợ các thần thánh đến thế, thì con sẵn sàng mang cây đèn đi
cho khuất mắt mẹ và cất ở một nơi để có thể tìm lại khi cần. Còn về chiếc nhẫn,
con không thể đang tâm vất nó đi, không có chiếc nhẫn ấy, mẹ đã không thể gặp lại
con. Vậy mẹ cho phép con giữ lấy và luôn luôn trang trọng đeo ở ngón tay. Ai có
thể nói trước một tai nạn hiểm nghèo nào xảy đến với con, mẹ lẫn con đều không
thấy trước được, và biết đâu chiếc nhẫn này sẽ chẳng giải thoát cho con?
Lý
lẽ Alátđanh nghe cũng xuôi tai, bà mẹ chẳng biết cãi lại thế nào. Bà nói:
-
Con ơi, con muốn làm gì tùy ý. về phần mẹ, mẹ chẳng muốn dính dáng gì đến quỷ
thần. Mẹ nói rõ với con là mẹ không chịu trách nhiệm, và từ nay mẹ chẳng bao giờ
nói thêm với con về chuyện ấy nữa.
Ngày
hôm sau, ăn xong bữa tối thì chẳng còn sót tí gì số thức ăn thần đèn mang về.
Hôm sau nữa, Alátđanh không chờ đến cơn đói bụng thúc bách, chú lấy một chiếc
đĩa bạc giấu dưới vạt áo rồi mang đi bán rất sớm.
Dọc
đường gặp một lão Do Thái, chú kéo riêng lão ta ra một nơi, đưa cho xem cái đĩa
và hỏi lão có muốn mua không.
Lão
Do Thái tinh ranh và khôn khéo, cầm lấy chiếc đĩa xem xét và vừa thấy nó bằng bạc
tốt, liền xăm xăm hỏi ngay Alátđanh định giá bao nhiêu, chú không hiểu rõ giá
trị của nó và chưa bao giờ buôn bán loại hàng này, đành phải đáp rằng lão hẳn
biết rõ chiếc đĩa này đáng giá bao nhiêu, và chú tin vào sự ngay thật của lão.
Lão Do Thái bối rối trước sự khôn ngoan của Alátđanh. Phân vân không rõ chú có
biết chiếc đĩa làm bằng gì và có rõ giá trị của nó hay không, lão móc ở túi tiền
ra đưa cho chú một đồng tiền vàng – có giỏi lắm thì đồng tiền này cũng mới bằng
một phần bảy mươi giá trị của cái đĩa.
Alátđanh
vội vã đón lấy đồng tiền vàng, và khi đã nắm được ở trong tay rồi, chú bỏ đi hấp
tấp đến nỗi lão Do Thái không bằng lòng với món lời quá mức vừa thu được qua
chuyện mua bán ấy, tự lấy làm bực mình sao đã không nắm chắc Alátđanh không hay
biết giá cả thứ hàng vừa bán, thành ra lão đã không mặc cả giá thấp hơn nữa.
Suýt nữa lão đuổi theo chàng trai, hy vọng có thể bớt lại được chút ít nào
trong đồng tiền vàng của lão. Nhưng Alátđanh chạy đã khá xa, lão có vất vả lắm
cũng chưa chắc đã đuổi kịp.
Trên
đường về, Alátđanh ghé vào một hiệu bánh mỹ, mua phần bánh cho cả hai mẹ con,
chú đưa đồng tiền vàng ra và lấy lại tiền lẻ. Về đến nhà, chú đưa số tiền còn lại
cho mẹ, bà ra chợ mua thêm những thức ăn cần thiết khác đủ cho hai mẹ con sống
qua mấy ngày. Hai mẹ con tiếp tục sống theo lối ấy, nghĩa là Alátđanh lần lượt
bán hết tất cả các đĩa cho đến cái thứ mười hai, vẫn theo cách thức chú bán chiếc
đầu, mỗi khi trong nhà hết tiền tiêu. Lão Do Thái đã bỏ ra một đồng tiền vàng để
mua chiếc đầu, không dám bớt giá, sợ mất món bở, lão đành mua tất cả cùng một
giá ấy. Khi đã tiêu hết số tiền bán chiếc đĩa cuối cùng rồi, Alátđanh tìm đến
cái mâm, nặng bằng mười cái đĩa cộng lại. Chú muốn mang đến bán cho bạn hàng
quen thuộc của chú nhưng nặng quá không mang nổi. Chú buộc phải tìm lão Do
Thái, sau khi xem xét trọng lượng của cái mâm, lập tức đếm trả mười đồng tiền
vàng, và Alátđanh lấy thế làm mãn nguyện.
Chừng
nào các đồng tiền vàng ấy hãy còn, thì nó được dùng trang trải các khoản tiêu
pha hằng ngày trong gia đình. Trong thời gian ấy, Alátđanh quen với lối sống an
nhàn. Từ hôm xảy ra cái chuyện rắc rối với lão phù thủy người Phi, chú thôi
không chơi đùa với bọn trẻ con cùng lứa tuổi nữa. Suốt ngày chú đi dạo chơi hoặc
trò chuyện với những người chú làm quen, một đôi khi chú dừng lại ở các hiệu
buôn lớn, lắng nghe những người quyền quý ghé qua hay hẹn hò ở đấy trao đổi với
nhau; và những câu chuyện ấy dần dần cũng giúp chú có ít nhiều hiểu biết về cuộc
đời.
Khi
đã tiêu sạch hết mười đồng vàng, Alátđanh phải nhờ đến cây đèn. Chú cầm đèn ở
tay, tìm cái chỗ mẹ chú trước đây đã chạm vào, và nhận ra cái vết xây xát do
cát gây nên, chú miết vào đấy và lập tức thần đèn đã hiện ra như lần trước xuất
hiện trước mặt chú. Nhưng, vì Alátđanh miết nhẹ tay hơn mẹ, thần đèn nói với
chú giọng dịu dàng hơn, vẫn những lời lẽ như lần trước:
-
Ngài cần gì? Cùng với tất cả nô lệ khác của cây đèn, tôi sẵn sàng tuân lệnh
ngài cũng như tuân lệnh những ai cầm cây đèn trên tay.
Alátđanh
bảo:
-
Ta đang đói, hãy mang lại cho ta thức ăn!
Thần
đèn biến mất và chỉ lát sau lại xuất hiện, mang theo một mâm cỗ giống y như lần
trước. Thần đặt mâm thức ăn xuống phản rồi biến ngay lập tức.
Bà
mẹ Alátđanh biết trước ý định của con, liền bỏ ra ngoài làm một việc gì đấy, để
khỏi có mặt trong nhà khi thần đèn xuất hiện. Lát sau bà trở vào, trông thấy
bàn và chạn đầy ắp thức ăn, bà cũng ngạc nhiên về những tác dụng kỳ lạ của cây
đèn không kém gì lần trước. Hai mẹ con ngồi vào bàn, và sau bữa ăn, vẫn còn lại
đủ cho hai người sống thoải mái hai ngày sau đó.
Khi
trông thấy trong nhà không có bánh mì hoặc thức ăn gì khác và cũng chẳng có tiền
để mua, Alátđanh cầm một chiếc đĩa bạc đi tìm lão Do Thái quen biết để bán. Đường
chú đi ngang qua trước cửa hiệu một nhà buôn vàng bạc, một cụ già đáng kính,
lương thiện và rất ngay thẳng. Trông thấy chú cụ già gọi lại bảo chú vào nhà và
nói:
-
Con ơi, lão từng nhìn thấy con nhiều lần đi qua, mang theo vật gì như hôm nay đến
gặp lão Do Thái nọ, rồi sau đó trở về không thấy vật ấy nữa, lão nghĩ rằng chắc
con mang đến bán cho lão ta. Nhưng con chưa biết lão ta là một tên bịp và còn bịp
bợm hơn mọi tên Do Thái khác. Không một ai đã một lần buôn bán với lão còn muốn
quan hệ gì thêm với lão. Hơn nữa, điều lão nói với con đây là chỉ vì lợi ích của
con. Nếu con vui lòng đưa cho lão xem cái vật con hiện đang mang theo trong người,
và nếu con có ý định bán thì lão sẽ trả cho con thật đúng giá của nó, nếu vật
đó hợp ý lão. Bằng không lão sẽ giới thiệu con với những nhà buôn khác, họ sẽ
không lừa bịp con.
Hy
vọng có thể bán được nhiều tiền hơn, Alátđanh lấy chiếc đĩa giấu trong vạt áo
ra đưa cho cụ xem. Cụ nhìn biết ngay chiếc đĩa bằng bạc tốt, liền hỏi chú có phải
đã từng bán những chiếc giống thế này cho lão Do Thái không, và được lão trả
bao nhiêu tiền. Alátđanh ngây thơ đáp chú đã bán mười hai chiếc, mỗi chiếc chỉ
được lão trả cho mỗi một đồng tiền vàng.
-
Chao ôi! Tên kẻ cắp! – Cụ già thốt lên. – Con ạ, việc gì đã qua rồi thì thôi,
chẳng cần phải nghĩ đến làm gì nữa, nhưng lão nói cho con rõ cái đĩa của con bằng
thứ bạc tốt hơn cả những thứ bán trong cửa hiệu của lão đây, tên Do Thái đã bịp
mất của con không biết bao nhiêu là tiền.
Cụ
già buôn đồ bạc lấy chiếc cân ra cân cái đĩa. Sau khi giảng giải cho Alátđanh
biết thế nào là một nén bạc, một nén có bao nhiêu lạng và giá trị bao nhiêu tiền,
cụ căn cứ vào trọng lượng của nó, nói cái đĩa đáng giá bảy mươi hai đồng vàng.
Nói xong, cụ đếm ngay tiền mặt và bảo:
-
Đấy, cái đĩa của con giá trị đúng chừng này. Nếu con không tin, con có thể đi hỏi
bất kỳ hàng bạc nào con muốn, nếu có ai bảo rằng nó đáng giá cao hơn thì lão hứa
sẽ trả gấp đôi. Những người làm nghề bạc như lão đây mua bạc chỉ lấy công làm
lãi, việc đó thì đến những người Do Thái ngay thật nhất cũng không chịu làm.
Alátđanh
hết lời cảm ơn cụ hàng bạc đã có lời khuyên bảo giúp chú thu được một món hời rất
lớn. Từ đấy trở đi, chú chỉ bán cho cụ tất cả những đĩa bạc, cũng như chiếc
mâm, cái này cũng vẫn được trả đúng giá tương xứng với trọng lượng của nó.
Mặc
dù hai mẹ con Alátđanh có một nguồn tiền vô tận ở cây đèn, tiêu hết cần có bao
nhiêu thì được bấy nhiêu, họ vẫn tiếp tục sống thanh đạm như trước, trừ những
khi Alátđanh cần chi tiêu riêng để ăn mặc cho chững chạc hoặc mua sắm những thứ
cần thiết cho gia đình. Bà mẹ, về phần mình, cũng chỉ dám may mặc bằng món tiền
bán số sợi bà kéo được. Với lối sống sinh hoạt phải chăng như vậy, cũng dễ tính
ra được khoảng thời gian mà số tiền bán mười hai cái đĩa và chiếc mâm theo giá
bán cho cụ già hàng bạc – nuôi họ được bao lâu. Họ sống như vậy trong mấy năm,
chỉ thỉnh thoảng Alátđanh mới phải nhờ đến cây đèn.
Trong
thời gian ấy, Alátđanh lớn lên vẫn không quên lui tới gặp gỡ thường xuyên những
người giàu có ở các hiệu buôn dạ vàng, dạ bạc, lụa là, gấm vóc và kim hoàn lớn
nhất, thỉnh thoảng bắt chuyện với họ. Dần dần cậu trở nên khôn ngoan và vô tình
bắt chước kiểu cách của hạng người sang trọng. Đặc biệt chính tại các hiệu buôn
đồ ngọc mà cậu vỡ lẽ ra mình đã hiểu sai về các thứ trái cây trong suốt hái
trong khu vườn khi đi lấy cây đèn, đấy không phải là thủy tinh màu mà chính là
châu báu rất đắt tiền. Nhìn mãi người ta mua đi bán lại những thứ ấy trong các
hiệu buôn, cậu biết được tên gọi và giá cả. Vì không hề thấy có những viên ngọc
nào đẹp và to bằng những viên của mình, cậu hiểu rằng cậu sở hữu cả một kho
tàng vô giá, chứ không phải là những cục thủy tinh mà cậu từng coi như những thứ
vớ vẩn. Cậu cẩn thận không nói cho ai biết, kể cả mẹ đẻ, và rõ ràng sự kín tiếng
của cậu đã giúp cho cậu vươn lên địa vị cao sang mà chúng ta sẽ thấy sau này.
~
Một
hôm, đang đi dạo trong khu phố, Alátđanh nghe có lời rao to lệnh của hoàng đế
truyền cho mọi nhà cửa quán xá đều phải đóng cửa, ai nấy đều phải ở trong nhà.
Chờ cho đến sau khi công chúa Bađrunbuđua, con gái của vua, đi ngang qua phố để
đến nơi tắm và tắm xong trở về.
Lời
rao ấy làm Alátđanh nảy ra sự tò mò muốn nhìn công chúa tận mặt. Nhưng cậu chỉ
có thể làm được việc đó bằng cách nấp vào một nhà quen rồi nhìn qua khe cửa. Mà
cậu lại không bằng lòng như vậy, bởi vì công chúa theo phong tục sẽ phải mang mạng
che mặt khi đến nhà tắm. Để thỏa mãn tính tò mò, cậu nghĩ ra một cách rất hay.
Cậu đến nấp sau cửa nhà tắm, và tìm lối đứng thế nào có thể nhìn thẳng mặt công
chúa khi nàng đi tới. Alátđanh không phải chờ lâu. Công chúa xuất hiện.
Cậu
có thể nhìn rõ qua một khe cửa khá rộng mà không bị lộ. Một đám đông nàng hầu
và hoạn nô quây quần hai bên và theo sau công chúa. Đến cách cửa nhà tắm chừng
ba, bốn bước, nàng bỏ tấm mạng che mặt cho khỏi vướng, thành thử tạo điều kiện
cho Alátđanh tha hồ nhìn ngắm cho thỏa thuê vì nàng đi thẳng về phía cậu đang nấp.
Cho
đến lúc ấy, Alátđanh chưa bao giờ trông thấy mặt một người đàn bà nào không đeo
mạng ngoài mẹ đẻ, bà đã già và nét mặt hồi trẻ cũng không xinh đẹp gì để cho cậu
nghĩ rằng những người phụ nữ khác có thể đẹp hơn. Hẳn cậu cũng đã từng có lần
được nghe nói có người nọ người kia xinh đẹp tuyệt trần, song cho dù có dùng lời
lẽ đến thế nào chăng nữa để ca ngợi sắc đẹp thì vẫn không bao giờ gây được ấn
tượng mạnh mẽ như chính mắt nhìn thấy người đẹp.
Trông
thấy công chúa Bađrunbuđua, Alátđanh mất ngay ý nghĩ vẫn cho rằng tất cả phụ nữ
đều na ná giống như mẹ cậu. Cảm xúc của cậu khác hẳn, và tim cậu không thể
không rung động trước sắc đẹp đang làm cậu say đắm. Quả vậy, công chúa là một
người con gái có mái tóc đen đẹp nhất trần thế. Đôi mắt nàng to, không sâu,
tinh nhanh và trong sáng. Cái nhìn dịu dàng và khiêm tốn. Mũi nàng cân xứng tuyệt
vời. Miệng nàng nhỏ, môi đỏ như son và đều đặn trông thật đáng yêu. Tóm lại, mọi
đường nét trên khuôn mặt nàng đều hết sức cân đối. Thêm vào nhan sắc ấy, thân
hình nàng nở nang, dáng đi và điệu bộ oai vệ làm cho bất cứ ai thoạt nhìn cũng
đều phải đem lòng kính trọng.
Công
chúa đã vào trong nhà tắm rồi, Alátđanh vẫn còn đứng ngẩn hồi lâu như mê mẩn, cố
hình dung lại và khắc sâu vào tâm trí hình dáng một con người làm cậu đắm đuối
và yêu dấu đến tận đáy lòng. Cuối cùng cậu chợt tỉnh, và hiểu rằng công chúa đã
đi qua rồi, dù cho cậu cố đứng đây chờ nàng tắm xong trở ra cũng vô ích thôi, bởi
lẽ nàng quay lưng lại phía cậu và sẽ đeo mạng che mặt, vì vậy cậu quyết định ra
về.
Về
nhà, Alátđanh không thể giấu không để lộ cho mẹ thấy nỗi băn khoăn tư lự của
mình. Bà ngạc nhiên thấy con trai buồn bã và mơ màng trái với thói quen. Bà hỏi
có việc gì xảy ra, hay là cậu khó ở chăng. Nhưng Alátđanh không đáp lại một tiếng,
cậu hờ hững buông mình xuống phản, và ngồi yên một chỗ, mê mải hình dung bóng
dáng yêu kiều của công chúa Bađrunbuđua. Bà mẹ mải bận thổi cơm chiều cũng
không gặng hỏi thêm. Cơm chín, bà dọn ra cạnh Alátđanh rồi cùng ngồi xuống cạnh
phản. Thấy con không mảy may chú ý, bà nhắc con đi ăn, và cậu có vẻ như vất vả
lắm mới quay lại được. Cậu ăn ít hơn hẳn so với lúc bình thường, mắt vẫn luôn luôn
nhìn xuống và miệng vẫn câm như thóc, đến nỗi bà không thể nào cạy ra được một
lời nào, mặc cho bà hỏi dồn để cố tìm hiểu vì sao có sự thay đổi khác thường
như vậy.
Sau
bữa cơm, bà mẹ lại muốn hỏi cho rõ vì đâu có nỗi buồn da diết đến thế nhưng
cũng chẳng biết gì thêm. Alátđanh quyết định đi ngủ chứ không chịu hé răng ra
cho mẹ hay biết một tí gì.
Chẳng
cần biết rõ anh chàng Alátđanh cảm sắc đẹp và si vẻ yêu kiều của công chúa
Bađrunbuđua đêm hôm ấy đã ngủ nghê như thế nào, chúng ta chỉ cần chú ý là ngày
hôm sau lúc ngồi trên bức phản đối diện với mẹ đang kéo sợi như thường lệ, cậu
nói với bà:
-
Mẹ ơi, con nói cho mẹ rõ, chứ không thể im lặng như từ hôm qua đến bây giờ. Sự
im lặng của con chắc làm mẹ phiền lòng, con biết lắm. Hôm qua, con không ốm như
mẹ tưởng đâu, và bây giờ cũng vậy. Nhưng con có thể nói với mẹ rằng điều con cảm
thấy hôm qua và bây giờ cũng vẫn đang cảm thấy là một cái gì còn tệ hơn cả ốm
đau. Con không rõ cái bệnh ấy là gì, song con tin rằng những điều mẹ sắp nghe
đây sẽ làm cho mẹ rõ.
-
Ở khu phố ta, – Alátđanh nói tiếp – không ai được biết, và bởi vậy mẹ không sao
biết được là hôm qua công chúa Bađrunbuđua, con gái của hoàng đế, đi tắm sau bữa
ăn trưa. Con biết được tin ấy khi đi dạo ngoài phố. Lệnh truyền cho dân chúng
đóng các cửa hiệu và ai trở về nhà nấy để tỏ lòng kính trọng công chúa và để
cho quang vắng các phố nàng sẽ đi tới nhà tắm. Lúc ấy con ở không xa nhà tắm, sự
tò mò muốn nhìn tận mặt công chúa đã khiến con nảy ra cái ý đến nấp sau cửa ra
vào, con nghĩ rằng chắc nàng sẽ cất tấm mạng che mặt khi sắp bước vào nhà tắm.
Mẹ đã biết vị trí của cái cửa ra vào đấy, mẹ có thể hình dung là con sẽ tha hồ
mà ngắm nàng nếu như sự việc xảy ra đúng như con dự tính. Quả nhiên, khi bước
vào, nàng cất tấm mạng che mặt và con có được niềm hạnh phúc ngắm nghía thỏa
thuê nàng công chúa yêu kiều ấy. Thưa mẹ, đấy là nguyên nhân khiến cho con bần
thần và im lặng cho đến bây giờ. Con yêu công chúa mãnh liệt lắm, không thể nào
nói hết lời, mối tình nồng cháy và thiết tha, từng giờ từng phút càng thêm nồng
cháy, con nghĩ rằng nó chỉ được thỏa mãn chừng nào con lấy được nàng công chúa
Bađrunbuđua đáng yêu, vì vậy con quyết định nhờ người hỏi xin hoàng đế gả nàng
cho con.
Bà
mẹ Alátđanh lắng nghe con trai khá chăm chú cho đến hết. Khi nghe con ngỏ ý muốn
hỏi công chúa làm vợ, bà không nén khỏi phá lên cười làm cậu phải ngừng lại.
Alátđanh muốn nói tiếp, nhưng bà lại ngắt lời:
-
Này, con ơi, con mơ màng gì thế? Con hẳn mất trí đi rồi, cho nên mới nói với mẹ
những điều như vậy.
-
Mẹ ạ, con có thể quả quyết với mẹ rằng con không mất trí, – Alátđanh đáp – con
hoàn toàn minh mẫn. Con đã biết trước rằng mẹ trách mắng con là điên cuồng và lập
dị. Mặc dù vậy nó vẫn không ngăn con nói với mẹ một lần nữa rằng con quyết tâm
xin hoàng đế gả công chúa Bađrunbuđua cho con.
-
Thật ra, mẹ không thể không nói rằng con đã hoàn toàn mất trí, con ạ. – Bà mẹ
nói rất nghiêm trang. – Và cho dù con có muốn thực hiện quyết định ấy đi nữa, mẹ
không rõ ai sẽ là người có gan đến gặp hoàng đế để thay con ngỏ lời cầu hôn
công chúa.
-
Mẹ chứ còn ai nữa? – Cậu con trai đáp không chút chần chừ.
-
Mẹ ư? – Bà mẹ thốt lên vừa bất ngờ vừa kinh ngạc. -Mẹ đến gặp hoàng đế? chao
ôi, mẹ chẳng bao giờ dám dấn thân vào một việc như vậy. Con ơi, con là ai, mà
dám cả gan tơ tưởng đến con gái hoàng đế? Phải chăng con đã quên mất bố con là
một người thợ may, loại hèn mọn nhất trong kinh đô của Người, và dòng dõi ông
cha của mẹ con đây cũng chẳng chút cao sang hơn? Con có biết không, rằng các bậc
hoàng đế không thèm gả con gái của mình cho ngay cả những hoàng tử mà không có
hy vọng một ngày kia sẽ lên ngôi báu trị vì như họ.
-
Mẹ ơi, con đã thưa với mẹ là con đã đoán trước tất cả những điều mẹ vừa nói.
Cho dù mẹ có bảo gì đi nữa, con cũng chỉ đáp lại một lời ấy mà thôi. Mọi lời
trách mắng của mẹ không làm con đổi ý. Con đã thưa với mẹ là con sẽ nhờ mẹ ra
đi hỏi công chúa Bađrunbuđua cho con. Vì quý mẹ cho nên con mới nhờ mẹ giúp cho
việc đó. Con van mẹ chớ có khước từ, trừ phi là mẹ muốn cho con chết chứ không
muốn đẻ ra con một lần nữa.
Bà
mẹ Alátđanh rất bối rối khi thấy con khăng khăng giữ mãi ý nghĩ chẳng biết điều
chút nào.
-
Con ơi, – bà lại nói – mẹ là mẹ con, mẹ đã đứt ruột đẻ ra con, nếu mẹ sẵn sàng
làm việc đó thì cũng là điều hợp tình hợp lý đối với mẹ cũng như đối với con
thôi. Giá như đây là chuyện đi hỏi con gái một gia đình nào hàng xóm với nhà
ta, mà gia cảnh cũng giống nhà ta hoặc hơn kém chút ít, thì mẹ đã chẳng nề hà
khó nhọc, mẹ sẽ hết lòng cố gắng và tìm đủ mọi cách lo liệu cho con.
Đấy
là chưa nói, muốn đạt được kết quả, con phải có ít nhiều tài sản hay lợi tức,
hoặc là biết một nghề nghiệp nào đó. Khi những kẻ nghèo khó như chúng ta muốn lập
gia đình, điều đầu tiên phải nghĩ tới là lấy gì mà sống sau này. Ấy thế mà con
chẳng suy nghĩ gì sất đến dòng dõi hèn hạ của mình, đến việc mình chẳng hề có
tiếng tăm hoặc của cải, mà lại đi mơ ước tận đỉnh cao danh vọng, lại tính đến
chuyện đi hỏi lấy con gái vua về làm vợ. Con gái của Người, mà chỉ cần phán một
lời là đủ tống con xuống vực hay xéo nát thân con. Mẹ để riêng những việc có
liên quan đến con, mặc cho con suy nghĩ lo liệu lấy, nếu con còn có chút trí
khôn. Mẹ chỉ nói đến điều có liên quan đến mẹ. Làm sao con có thể nảy ra cái ý
kỳ quặc là muốn cho mẹ đến gặp hoàng đế xin Người gả công chúa cho con? Nói giả
dụ mẹ dám láo xược – chứ đừng nói là bạo gan – đến gặp hoàng đế để tâu xin một
việc kỳ dị như vậy đi nữa, thì thử hỏi mẹ biết nhờ ai dẫn mẹ vào? Con có ý nghĩ
là người đầu tiên mẹ ngỏ ý nhờ việc ấy sẽ cho mẹ là một con điên và đánh đuổi mẹ
đi, mà như thế cũng chẳng phải oan ức gì! Lại giả dụ nữa, rằng mẹ không gặp khó
khăn gì và vào được đến nơi hoàng đế thiết triều. Mẹ biết là người ta vẫn có thể
vào được đến nơi để kêu van hoàng đế xét cho một nỗi oan ức nào đó và Người sẵn
sàng minh xét. Mẹ cũng biết nữa rằng, khi có ai đến xin vua một ân huệ nào đó,
Người vui lòng ban cho nếu xét thấy kẻ đó đã và đáng được hưởng. Nhưng con có
thuộc vào trường hợp ấy không? Có phải con tin là con đáng được hưởng đặc ân mà
con muốn mẹ tâu xin cho? Con có xứng đáng không? Con đã làm được việc gì cho
hoàng đế hay cho nước nhà? Con đã có công lao về những mặt nào? Nếu con chưa hề
làm gì để đáng hưởng đặc ân đó và hiện bây giờ con cũng không xứng đáng, vậy
thì làm sao mẹ dám cả gan đi tâu xin cho con? Làm sao mẹ có thể mở miệng tâu với
hoàng đế chuyện đó? Chỉ cần trông thấy hoàng thượng uy nghiêm với tất cả triều đình
lộng lẫy là mẹ đã câm như hến. Ngay đối với bố con xưa kia, mỗi lần muốn hỏi
xin bố con một điều gì, mẹ cũng run cầm cập nữa là.
Còn
một điều khác nữa mà con chưa nghĩ tới, là không bao giờ người ta đến gặp các bậc
vua chúa để cầu xin một việc gì đó mà không có lễ vật cầm tay. Có lễ vật ít ra
cũng có cái lợi là, dù hoàng đế có từ chối không ban ân vì những lý do gì đó,
Người cũng sẽ lắng nghe trình bày mà chẳng lấy làm khó chịu. Nhưng con thì có lễ
vật gì dâng lên hoàng đế nào? Mà cho dù con có biện được một lễ gì đáng cho
hoàng thượng hạ cố chút nào, thì thử hỏi cái lễ vật ấy có xứng với lời cầu xin
con định tâu lên hoàng đế hay không? Con ơi, hãy tỉnh trí lại. Con hãy hiểu rằng
ước mơ của con không thể nào thực hiện được.
Alátđanh
rất bình tĩnh lắng nghe tất cả những lời mẹ cố thuyết phục cậu từ bỏ ý đồ của
mình. Sau khi suy nghĩ về những nhận xét của bà, cuối cùng cậu đáp:
-
Mẹ ạ, con nhận ra thật quá bạo gan cho nên mới dám có những ước mong cao xa như
vậy. Và con cũng đã thiếu suy nghĩ khi quá nôn nóng và thiết tha nhờ mẹ đi gặp
hoàng đế để hỏi công chúa cho con mà không lo trước những thứ cần thiết để mẹ
được phép vào triều yết và được hoàng đế vui vẻ tiếp. Xin mẹ tha lỗi cho. Nhưng
xin mẹ chớ ngạc nhiên sao con chưa tính toán hết tất cả những gì có thể giúp
cho con toại nguyện. Mẹ không thể tưởng tượng được con yêu công chúa
Bađrunbuđua đến mức nào, hay đúng hơn là con sủng ái nàng. Con vẫn nhất quyết
giữ ý định là sẽ kết hôn cùng nàng cho bằng được. Đó là một điều con đã dứt
khoát và quyết tâm. Con cảm ơn mẹ về những điều mẹ vừa chỉ bảo cho, con coi đó
là bước cố gắng đầu tiên để đạt kết quả mà con quyết giành cho bằng được.
Mẹ
bảo không có lệ vào triều yết vua mà không có lễ vật cầm tay, và con chẳng có
gì xứng đáng để dâng lên hoàng đế ư? Con đồng ý với mẹ về cái chuyện lễ vật,
thú thật là con đã không nghĩ tới. Còn về cái điểm mẹ nói con chẳng có gì đáng
dâng lên vua, vậy thì những thứ con mang về hôm con thoát được một cái chết đã
cầm chắc mười mươi, như mẹ đã biết đấy, liệu mẹ có cho là đủ làm thành một lễ vật
sẽ khiến cho hoàng đế bằng lòng không? Con muốn nói đến những thứ con mang về
trong hai cái túi và giắt trong người, mà cả hai mẹ con ta đều tưởng là những cục
thủy tinh xanh đỏ. Bây giờ con đã hiểu ra và xin nói để mẹ rõ, mẹ ạ, đấy là những
châu ngọc vô giá chỉ đáng cho những bậc đế vương lớn nhất dùng mà thôi. Con biết
rõ giá trị của nó nhờ hay lui tới các hiệu buôn vàng bạc, mẹ có thể tin lời
con. Tất cả những châu ngọc mà con trông thấy ở các hiệu buôn vàng ngọc ở ta không
thể so sánh với những viên ngọc của nhà ta cả về cỡ lớn cũng như về vẻ đẹp. Ấy
thế mà họ lại đặt những giá cao quá sức tưởng tượng.
Thật
ra, mẹ cũng như con chúng ta làm sao biết được những viên ngọc của chúng ta
đáng giá bao nhiêu. Nhưng dù thế nào chăng nữa, dựa vào chút kinh nghiệm ít ỏi
của con, con tin tưởng chắc chắn rằng lễ vật này chỉ có thể làm hoàng đế vui
lòng. Mẹ có một chiếc bình sứ khá to và hình dáng thích họp để đựng ngọc. Mẹ
hãy lấy ra đây, chúng ta hãy xem sau khi xếp loại các viên ngọc theo màu sắc,
trông sẽ đẹp như thế nào.
Bà
mẹ Alátđanh đi tìm chiếc bình sứ, và Alátđanh lấy các viên ngọc đựng trong hai
cái túi ra xếp vào bình. Dưới ánh sáng ban ngày, các viên ngọc khác màu sắc, ngời
lên lấp lánh rực rỡ đến nỗi làm cho hai mẹ con gần như lóa mắt. Họ đều rất ngạc
nhiên bởi vì trước đây chỉ nhìn từng viên dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu. Đúng
là Alátđanh đã từng nhìn thấy các viên ngọc ấy mắc lên cây như quả và cảnh tượng
đó thật mê ly, song dạo ấy cậu còn là một đứa trẻ con, cậu chỉ nhìn những viên
ngọc như là những đồ trang trí chỉ có thể dùng làm đồ chơi, và cậu hái về cũng
chỉ nhằm thế thôi chứ chẳng hay biết gì hơn nữa.
Sau
khi ngắm nghía một lát vẻ đẹp của tặng phẩm ấy, Alátđanh nói với mẹ:
-
Mẹ ơi, mẹ không còn có thể thoái thác không đi gặp hoàng đế với cái cớ là không
kiếm được lễ vật để dâng lên Người nữa nhé. Cái lễ vật này, theo ý con, sẽ làm
cho mẹ được đón tiếp một cách tử tế nhất.
Bà
mẹ Alátđanh tuy có nhận thấy lễ vật đẹp và rực rỡ thật, song vẫn không tin rằng
nó đắt tiền đến mức con bà nói. Tuy nhiên, bà vẫn nghĩ là nó sẽ được chấp nhận,
và biết là không thể cãi lại con ở điểm này.
Nhưng
bà vẫn trở lại chuyện Alátđanh muốn bà nhận việc dâng lễ vật này mà tâu xin
hoàng đế. Bà vẫn rất ngại ngùng về chuyện ấy:
-
Con ơi, mẹ cũng đồng ý là lễ vật này sẽ có tác dụng, hoàng đế chắc sẽ nhìn mẹ với
con mắt thiện cảm, nhưng con hãy miễn cho mẹ cái việc con đòi mẹ phải tâu xin
Người, mẹ e rằng mẹ sẽ không đủ sức nói, mẹ sẽ im thin thít mất thôi. Như vậy,
không những mẹ sẽ lúng túng mà còn mất không cả lễ vật, mà con cho là cực kỳ
quý báu, và rồi mẹ trở về bối rối nói với con rằng con chẳng còn mảy may hy vọng
nữa đâu. Mẹ đã nói với con, con phải tin chắc cơ sự sẽ diễn ra như vậy cho mà
xem.
Nhưng,
– bà nói tiếp – mẹ muốn cố ép mình phải chiều ý con, và cứ cho là mẹ có gan tâu
xin việc con muốn mẹ làm đi nữa, thì chắc chắn mười mươi hoặc là hoàng đế sẽ chế
giễu mẹ và đuổi mẹ như đuổi một con điên, hoặc là Người sẽ nổi cơn thịnh nộ thật
sự, làm cho mẹ con ta đến phải tội mất thôi.
Bà
mẹ Alátđanh còn nói với con thêm nhiều lý lẽ khác hòng làm cậu thay đổi ý kiến,
song vẻ kiều diễm của công chúa Bađrunbuđua đã khắc vào lòng cậu một ấn tượng
quá ư mãnh liệt đến nỗi không có cách gì lay chuyển cậu. Alátđanh vẫn khăng
khăng đòi mẹ làm việc cậu đã quyết. Và phần vì thương con, phần thì e con phẫn
chí mà dại dột liều thân chăng, bà đành cố vượt qua mọi ngại ngần để chiều ý
con trai.
Lúc
ấy đã quá muộn, hết giờ vua thiết triều rồi, công việc đó đành gác sang hôm
sau. Từ bấy cho đến hết ngày, hai mẹ con chẳng nói gì khác ngoài chuyện ấy.
Alátđanh tìm đủ mọi cách làm cho mẹ giữ quyết tâm sẽ đi đến gặp hoàng đế. Mặc
cho con trai trình bày đủ lý lẽ, bà vẫn không thể nào tin tưởng là mình có thể
thành công trong việc này. Thật ra, phải nhận rằng bà có lý để nghi ngờ như vậy.
Bà hỏi Alátđanh:
-
Con ơi, nếu hoàng đế tiếp mẹ tử tế được như mẹ mong muốn, nếu Người bình tĩnh
nghe hết lời mẹ trình bày đúng theo ý của con, sau buổi tiếp đón tốt đẹp ấy, nếu
Người muốn hỏi xem của cải, tài sản và vương quốc của con ở đâu – bởi vì trước
hết Người sẽ hỏi về những điều đó chứ không phải hỏi con là người tốt xấu ra thế
nào – mẹ nhắc lại, nếu hoàng đế hỏi mẹ như vậy, thì con bảo mẹ nên trả lời ra
sao?
-
Mẹ ơi, – Alátđanh đáp – xin mẹ chớ nên vội lo về một điều chưa chắc đã xảy ra.
Trước hết, chúng ta hãy chờ xem hoàng đế sẽ tiếp mẹ như thế nào và sẽ trả lời
điều mẹ cầu xin ra làm sao. Nếu đúng là Người muốn biết về những gì mẹ vừa nói
với con đấy, lúc ấy con sẽ tính đến câu trả lời. Và con tin tưởng là cây đèn,
nhờ có nó mà mẹ con ta sống được mấy năm nay, sẽ không để cho con thiếu thốn thứ
gì.
Bà
mẹ Alátđanh chẳng còn biết đáp lại con thế nào. Bà nghĩ chắc là cây đèn cậu nói
đến ấy còn có thể giúp cho mẹ con bà những điều kỳ diệu lớn lao hơn là mỗi một
việc kiếm cho hai người đủ sống. Ý nghĩ đó khiến bà vui lòng, làm tiêu tan mọi
khó khăn có thể khiến cho bà nản, không muốn đến tâu xin hoàng đế cho con trai
cái việc đã hứa. Alátđanh hiểu thấu ý nghĩ của mẹ, liền bảo bà:
-
Mẹ ơi, ít ra mẹ cũng cần nhớ là phải kín tiếng. Đó là điều quyết định sự thành
công mà mẹ con ta trông chờ đấy.
Hai
mẹ con chia tay nhau đi nghỉ. Nhưng mối tình say đắm và những dự định to tát về
một cuộc đời phú quý vinh hoa cứ quay cuồng trong đầu óc cậu con trai, không
cho cậu ngủ bình yên như mong muốn. Tảng sáng cậu đã trở dậy và đánh thức mẹ,
giục bà mặc áo quần thật nhanh vào và đến chực sẵn ở cổng hoàng cung để khi cổng
mở là vào ngay cùng một lúc với tể tướng, các quan thượng thư, và tất cả các vị
đại thần đến chầu ở điện thiết triều, nơi hoàng đế bao giờ cũng đích thân tham
dự.
Bà
mẹ Alátđanh làm tất cả những gì con trai muốn. Bà mang theo cái bình sứ đựng ngọc
làm lễ vật, bọc trong hai lần vải, một lần vải mịn màng, sạch sẽ, lần vải kia
thô hơn, rồi buộc chéo bốn góc lại cho dễ xách.
Cuối
cùng, bà ra đi, theo đường dẫn đến hoàng cung. Alátđanh rất lấy làm bằng lòng.
Khi
bà tới cổng hoàng cung, thì quan tể tướng, có các quan thượng thư và các vị đại
thần xuất sắc nhất trong triều đi theo, đã vào rồi. Rất đông dân chúng có việc
muốn vào tới điện thiết triều, cổng mở, bà theo đám đông đi vào.
Đó
là một đại sảnh rất đẹp vừa sâu vừa rộng, lối vào thênh thang và đẹp đẽ. Bà dừng
lại và tìm chỗ đứng sao cho có thể nhìn thẳng vào hoàng đế cùng tể tướng và các
đại thần chầu hai bên tả hữu. Quan hầu lần lượt gọi tên những người đến kêu với
vua, theo thứ tự các đơn họ đưa lên, và những công việc đó được tâu trình, bào
chữa và phán xét cho đến giờ bãi triều theo như thường lệ.
Thế
là hoàng đế đứng lên, truyền cho các quan ra về rồi đi vào tư cung, chỉ có tể
tướng được theo vào. Các quan thượng thư và đại thần lui về. Tất cả dân chúng đến
chầu chực vì việc riêng cũng đã về, người thì vui mừng vì được kiện, người thì
không bằng lòng về lời phán xét đối với mình, và người khác nữa thì hy vọng
phiên sau sẽ được vua xét đến.
Bà
mẹ Alátđanh trông thấy hoàng đế đứng lên lui về tư cung và mọi người đều ra về,
bà hiểu rằng ngày hôm nay vua sẽ không trở ra nữa. Bởi vậy bà cũng quyết định
trở về nhà. Alátđanh trông thấy mẹ về mà vẫn mang theo lễ vật định dâng lên
hoàng đế, không biết chuyến đi đạt kết quả thế nào. Lo rằng mẹ mang tin buồn về
chăng, cậu không đủ sức mở miệng ra hỏi mẹ sự tình ra làm sao. Bà mẹ hiền từ
chưa bao giờ đặt chân vào cung điện và cũng không hề hay biết tí gì về những
công việc ở đấy, nói một cách rất thật thà, làm cho cậu con trai hết lo âu:
-
Con ạ, mẹ đã nhìn thấy đức vua và mẹ chắc chắn là Người cũng nhìn thấy mẹ.
Nhưng hình như Người quá bận với những kẻ ở hai bên tả hữu, ai cũng tranh nhau
nói với Người, đến nỗi mẹ đâm thương hại không hiểu tại sao đức vua lại chịu vất
vả và kiên nhẫn lắng nghe như vậy. Công việc cứ thế diễn ra rất lâu. Cuối cùng
mẹ nghĩ chắc là đức vua mệt lắm bởi vì bất thần Người đứng lên và bỏ đi khá đột
ngột, không muốn nghe những người sắp đến lượt trình bày. Việc đó làm cho mẹ
khá thú vị. Quả vậy, mẹ cũng đã bắt đầu sốt ruột và hết sức mệt vì phải đứng
lâu. Nhưng không hề gì, sáng mai mẹ nhất định trở lại. Có lẽ đức vua ngày mai sẽ
không quá bận rộn như hôm nay.
Dù
si tình đến bao nhiêu, Alátđanh cũng đành bằng lòng với lời phân trần của mẹ và
đành phải kiên nhẫn thôi. Ít ra cậu cũng hài lòng thấy mẹ đã chịu được bước khó
khăn nhất là dám đến trước mặt đức vua. Cậu hy vọng là theo gương những người
đã tâu với vua trước mặt bà, bà cũng sẽ không do dự mà làm công việc được cậu ủy
thác khi nào có cơ hội thuận tiện.
Ngày
hôm sau, bà mẹ Alátđanh lại trở dậy rất sớm như hôm trước và lại mang cái lễ vật
toàn châu báu đến hoàng cung. Nhưng việc làm của bà không được ích lợi gì. Cổng
điện đóng kín. Người ta cho bà biết cứ hai ngày hoàng đế mới thiết triều một lần,
như thế là ngày hôm sau bà lại phải đến nữa. Bà trở về nói cho con biết như vậy,
và cậu con trai cũng đành phải cố kiên nhẫn thôi. Bà đi đến hoàng cung nhiều lần
nữa, vào những ngày có thiết triều, chẳng có kết quả gì hơn. Có lẽ bà sẽ đến một
trăm lần cũng đều vô ích như vậy nếu như hoàng đế không để ý thấy phiên triều
nào bà cũng đứng đối diện với mình. Điều đáng lạ nữa là chỉ thấy những người có
việc đến kêu với vua lần lượt theo thứ tự xếp hàng tiến lên trình bày, còn bà mẹ
Alátđanh lại không làm như vậy.
Ngày
hôm ấy, sau khi bãi triều và trở về hậu cung, hoàng đế bảo tể tướng:
-
Ít lâu nay ta để ý thấy một người đàn bà phiên triều nào cũng đến rất đều đặn,
mang theo một vật gì buộc trong tấm vải. Bà ta đứng suốt từ đầu cho đến lúc bãi
triều và bao giờ cũng cố ý đứng trước mặt ta. Khanh có biết bà ta kêu xin việc
gì không?
Tể
tướng cũng chẳng rõ gì hơn hoàng đế, tuy vậy không muốn tỏ ra không biết.
-
Tâu bệ hạ, – ông đáp – bệ hạ lạ gì bọn đàn bà thường hay kêu ca về những việc
chẳng đâu vào đâu. Có lẽ thị này kêu lên hoàng thượng về việc bị người ta bán bột
mì xấu cho hoặc là một việc nhỏ nhặt nào đại loại như vậy.
Hoàng
đế không bằng lòng với câu trả lời ấy. Vua phán:
-
Ngày thiết triều đầu tiên sắp tới đây, nếu người đàn bà ấy lại đến, khanh nhớ gọi
lên để ta nghe thị nói.
Tể
tướng không đáp mà chỉ hôn bàn tay và đặt lên đầu để tỏ ý rằng mình sẽ chịu mất
đầu nếu dám quên lệnh đó.
Bà
mẹ Alátđanh đã quá quen đến chầu chực các buổi vua thiết triều, bà chẳng nề hà
vất vả miễn là tỏ cho con trai thấy bà không từ nan một việc gì có thể làm được,
để cho cậu vui lòng. Bởi vậy, bà lại vào cung vua ngày vua thiết triều, và lại
đứng ở trước điện đối diện với hoàng đế như thói quen của bà. Tể tướng chưa kịp
bắt đầu một việc gì thì vua đã nhìn thấy bà mẹ Alátđanh. Xúc động về sự kiên nhẫn
của bà, vua truyền cho tể tướng:
-
Trước hết mọi sự, để khanh khỏi quên mất, ta nhắc lại. Kia người đàn bà ta nói
với khanh hôm nọ. Hãy gọi thị đến, chúng ta hãy bắt đầu nghe và giải quyết công
việc của thị trước!
Lập
tức tể tướng trỏ bà cho viên thị vệ trưởng đang đứng chờ lệnh, và sai gã xuống
dẫn bà lên.
Viên
thị vệ trưởng đến gần bà mẹ Alátđanh. Theo hiệu của gã, bà đi theo đến tận chân
ngai vàng. Gã để bà lại đấy và lui về chỗ cũ bên cạnh tể tướng. Bà mẹ Alátđanh
đã học được cách thức của bao nhiêu người có việc tâu với vua mà bà trông thấy.
Bà quỳ lạy dập đầu xuống tấm thảm phủ các bậc cấp dưới chân ngai và cứ phủ phục
như vậy cho tới khi hoàng đế truyền bảo đứng lên. Bà đứng lên, hoàng đế liền
phán:
-
Bà già kia, đã lâu ta trông thấy bà cứ đến buổi triều là đến đứng ở lối đi lên
điện từ đầu cho đến hết buổi. Bà đến đây có việc gì vậy?
Nghe
lời phán hỏi, bà mẹ Alátđanh lại phủ phục một lần nữa rồi ngẩng lên đáp:
-
Tâu lạy cửu trùng, trước khi trình bày với hoàng thượng nguyên do kỳ lạ và hầu
như khó tin nữa đã khiến con đến trước ngai vàng tôn kính, cúi xin tha thứ cho
con cái tội đã dám cả gan, nếu không nói là hỗn xược, đến cầu xin bệ hạ việc
này. Nó đặc biệt quá, nên con run sợ và xấu hổ không dám tâu lên hoàng đế.
Để
cho bà được tự do giãi bày, vua ra lệnh cho tất cả mọi người hãy lui ra ngoài
điện, chỉ để lại một mình vua cùng tể tướng, sau đó bảo bà cứ việc tâu bày,
không phải sợ hãi.
Bà
mẹ Alátđanh chưa vừa lòng về thái độ của hoàng đế đã vui lòng miễn cho bà nỗi
ngại ngùng phải nói ra trước đông người; bà còn lo nhà vua có thể nổi cơn thịnh
nộ khi nghe lời cầu hôn bất ngờ. Bà nói tiếp:
-
Tâu bệ hạ, con muốn cầu xin bệ hạ để được yên tâm trước, là Người sẽ tha thứ và
xá tội cho, nếu như lời yêu cầu của con có chút nào xúc phạm đến oai danh của
Người.
-
Dù việc đó là thế nào chăng nữa, – hoàng đế đáp -ngay từ giờ ta tha tội cho bà,
bà sẽ không phải chịu bất cứ một tội vạ nào. Bà cứ bạo dạn nói đi.
Sau
khi đã cẩn thận rào đón trước sau, đúng như mọi người đàn bà sợ nhà vua nổi cơn
thịnh nộ khi phải tâu trình một việc tế nhị như vậy, bà kể lại trung thành chuyện
Alátđanh nhìn trộm công chúa Bađrunbuđua trong trường hợp như thế nào, mối tình
nồng nhiệt nảy ra do cái nhìn vụng trộm ấy, những lời cậu nói với bà về mối
tình si và tất cả những điều bà giảng giải cho con trai để hy vọng cậu từ bỏ mối
tình đắm đuối xúc phạm đến hoàng thượng cũng như xúc phạm đến công chúa.
-
Nhưng, – bà nói tiếp – không những cháu đã không nghe ra và thừa nhận mình quá
to gan mà lại còn cứng đầu cứng cổ, khăng khăng đến mức dọa sẽ liều thân nếu
con không chịu đến tâu xin bệ hạ gả công chúa cho cháu. Thật đúng là sau khi dằn
vặt mình hết sức, con mới đành chiều theo ý cháu. Bởi vậy, một lần nữa xin dập
đầu kêu bệ hạ mong Người tha tội không những cho con mà cả cho cháu đã dám có ý
nghĩ táo tợn là tơ tưởng đến một bậc cao sang như công chúa.
Hoàng
đế rất dịu dàng và nhân hậu lắng nghe bà, không chút tỏ vẻ giận dữ hay phẫn nộ,
cũng chẳng chế giễu lời cầu hôn của bà. Nhưng, trước khi đáp lời bà già hiền hậu
vua hỏi bà mang theo vật gì bọc trong vải. Lập tức bà lấy cái bình sứ bà đã đặt
xuống chân ngai vàng trước khi quỳ lạy, mở ra và dâng lên hoàng đế.
Không
thể nào diễn tả được sự ngạc nhiên và kinh lạ của nhà vua khi nhìn thấy để dồn
trong chiếc bình ấy bấy nhiêu châu ngọc, quá nhiều, quá quý báu, quá hoàn hảo,
quá rực rỡ, viên nào cũng quá to mà vua chưa từng trông thấy bao giờ. Người
khâm phục đến nỗi ngồi im sững sờ một lúc lâu. Cuối cùng chợt tỉnh, vua nhận lễ
vật từ tay bà mẹ Alátđanh trao, và vui sướng thốt lên:
-
Chao! Thật đẹp làm sao! Thật đẹp làm sao!
Sau
khi ngắm nghía và mân mê từng viên một gần như hết lượt cả số ngọc ấy, vua quay
sang tể tướng, chỉ cho ông xem chiếc bình và nói:
-
Hãy xem đây, khanh có đồng ý là trên thế giới không ở đâu có vật quý báu hơn,
hoàn hảo hơn thế này không?
Tể
tướng cũng rất lấy làm thú vị. Hoàng đế nói tiếp:
-
Nào, khanh nghĩ sao về món tặng phẩm này? Có phải nó xứng đáng với công chúa
con gái ta; và có phải với cái giá này ta có thể gả nó cho người đến cầu hôn?
Những
lời của vua làm cho tể tướng hết sức xúc động. Cách đây ít lâu, hoàng đế có để
lộ cho ông biết ý định sẽ gả công chúa cho một người con trai của ông. Ông e rằng
– và nỗi lo sợ này không phải là vô căn cứ – hoàng đế bị lóa mắt trước món lễ vật
quá quý báu và quá kỳ lạ thế này, sẽ thay đổi ý kiến chăng. Ông tiến đến gần rỉ
tai vua:
-
Tâu bệ hạ, không ai có thể nói là lễ vật này không xứng đáng với công chúa.
Nhưng cúi xin bệ hạ thư cho thần ba tháng trước khi Người quyết định. Thần hy vọng
rằng, trước khi hết hạn ấy thì con trai thần, mà bệ hạ đã có lần tỏ ý là có thể
hạ cố, chắc sẽ dâng được lên Người một tặng vật có giá trị hơn tặng vật của
Alátđanh, một kẻ bệ hạ chưa hề biết.
Mặc
dù tin chắc tể tướng sẽ không thể nào tìm được cho con trai một tặng phẩm có
giá trị như thế này để dạm hỏi công chúa, hoàng đế vẫn lắng nghe và chuẩn y lời
thỉnh cầu đó. Bởi vậy, quay sang bà mẹ Alátđanh, Người nói:
-
Bà già kia, bà hãy trở về nhà, và nói cho con trai bà biết là ta chấp nhận lời
bà vừa xin cho nó, nhưng ta không thể cho công chúa thành gia thất trước khi sắm
sanh đồ đạc trong nhà cho cháu, công việc này phải mất ba tháng mới xong. Vậy
ba tháng nữa, bà hãy trở lại.
Bà
mẹ Alátđanh trở về rất vui mừng vì nghĩ rằng với địa vị của mình, từ đầu vẫn tưởng
như không thể nào gặp được hoàng đế, ấy thế mà lại nhận được một câu trả lời tốt
đẹp, chứ không phải là một lời ruồng rẫy, nó sẽ làm cho bà vô cùng bối rối. Thấy
mẹ trở về, Alátđanh chú ý hai điều làm cho cậu tin là bà mang về tin vui: một
là, bà trở về sớm hơn thường lệ và hai là, nét mặt bà rạng rỡ.
-
Thế nào, thưa mẹ? Con có nên hy vọng chăng hay là phải chết vì tuyệt vọng?
Cất
tấm mạng che mặt và ngồi xuống phản bên cạnh con trai, bà từ tốn đáp:
-
Con ơi! Để cho con đỡ phải sốt ruột, mẹ nói ngay rằng con không phải nghĩ đến
chuyện chết. Ngược lại con có lý do để mà hài lòng.
~
Tiếp
đó, bà kể cho Alátđanh nghe bằng cách nào bà được vua tiếp trước tất cả mọi người,
do đâu bà được về sớm đến thế, những lời rào đón để khỏi làm phật ý hoàng đế
trước khi cất lời cầu hôn công chúa Bađrunbuđua, và câu trả lời tốt đẹp từ miệng
đức vua thốt ra. Bà nói thêm, theo như nhận xét của bà, qua những biểu hiện bên
ngoài của hoàng đế, thì chính món lễ vật hơn tất cả mọi sự, đã có tác động mạnh
mẽ khiến Người đi đến quyết định bà vừa nói tới:
-
Mẹ đã ít hy vọng khi thấy tể tướng rỉ tai đức vua trước khi Người trả lời, mẹ
chỉ lo ông ấy làm cho vua thay đổi ý định tốt lành đối với con.
Nghe
tin, Alátđanh tự cho mình là con người hạnh phúc nhất thế gian. Cậu cảm ơn mẹ
đã chịu đựng biết bao vất vả để đeo đuổi công việc này, mà kết cục tốt đẹp hết
sức quan trọng cho sự thanh thản của tâm hồn cậu. Và mặc dù nôn nóng muốn được
hưởng thụ ngay kết quả mối tình tha thiết, ba tháng đối với cậu thật là một thời
gian vô cùng vô tận, song cậu vẫn sẵn sàng kiên nhẫn chờ đợi, tin vào lời hứa của
nhà vua mà cậu nghĩ là như dao chém đá.
Trong
khi cậu đếm không những từng giờ, từng ngày, từng tuần, mà cả từng khắc nữa,
trông cho cái thời hạn ấy trôi qua, thì khoảng hai tháng sau, một tối bà mẹ muốn
thắp đèn, chợt nhận ra trong nhà hết dầu. Bà đi mua, và khi ra tới phố, bà nhận
thấy đâu đâu cũng đang như ngày hội. Quả vậy, các hiệu buôn mở chứ không đóng cửa.
Người ta tết lá, treo đèn, nhà nào cũng cố gắng trang hoàng thật đẹp, để tỏ rõ
sự sốt sắng của mình. Hơn nữa, mọi người đều biểu lộ sự vui mừng hoan hỉ. Đường
phố chật ních những quan hầu mặc lễ phục, cưỡi trên mình ngựa thắng yên cương lộng
lẫy và có một đám đông lính bộ theo hầu, đi đi lại lại. Bà hỏi người chủ hiệu
bán dầu có việc gì thế.
-
Bà từ đâu đến vậy, hở bà già? – Ông ta đáp – Bà không biết là đêm nay cậu ấm
con trai tể tướng kết hôn cùng công chúa Bađrunbuđua, ái nữ của hoàng đế ư?
Công chúa đi nhà tắm sắp về, và các quan mà bà trông thấy kia đang tập trung chờ
rước công chúa đến hoàng cung để làm lễ đấy.
Bà
mẹ Alátđanh không muốn hỏi gì thêm nữa. Bà vội vã trở về nhà thở không ra hơi.
Bà tìm con trai và thốt lên:
-
Con ơi, việc của con hỏng mất rồi. Con cứ tin vào lời hứa tốt đẹp của đức vua,
nhưng chẳng được gì đâu, con ạ.
Nghe
nói, Alátđanh hoảng hốt:
-
Mẹ ơi, đức vua không giữ lời hứa ở chỗ nào? Làm sao mẹ biết được?
-
Tối nay, con trai tể tướng kết hôn cùng công chúa Bađrunbuđua ngay ở hoàng cung
đấy.
Rồi
bà kể cho con nghe do đâu bà biết được qua bao nhiêu sự việc không còn gì có thể
nghi ngờ.
Alátđanh
ngẩn người như vừa bị sét đánh. Bất cứ ai ở vào địa vị cậu cũng đều rầu rĩ.
Nhưng một cơn ghen ngấm ngầm ngăn không để cho cậu ngồi lâu. Lập tức cậu nhớ tới
cây đèn đã có ích xiết bao cho đến lúc này, và không cần nổi xung thốt ra những
lời vô bổ đối với nhà vua, tể tướng hay là con trai ông ta, cậu chỉ nói:
-
Mẹ ạ, con trai tể tướng đêm nay sẽ không sung sướng như hắn ta chờ đợi đâu. Mẹ
hãy đi sửa soạn bữa cơm tối, để con lui vào buồng riêng một lúc.
Bà
mẹ biết con muốn sử dụng cây đèn để nếu có thể ngăn cản không cho đám cưới con
trai tể tướng lấy công chúa đi đến kết cục hoàn toàn, và bà đã không nhầm.
Đúng
như vậy, sau khi vào buồng riêng, Alátđanh cầm lấy cây đèn cậu mang vào đấy cho
khuất mắt mẹ sau lần bà quá khiếp đảm trước sự xuất hiện của thần đèn. Cậu cầm
lấy cây đèn và miết đúng vào chỗ mọi lần. Ngay tức khắc thần đèn hiện ra:
-
Ngài cần gì? Tôi cùng với mọi nô lệ khác của cây đèn, xin sẵn sàng tuân lệnh
ngài cũng như của tất cả những ai cầm đèn ở tay.
-
Hãy nghe đây, – Alátđanh nói – cho đến hôm nay ngươi đã mang đến cho ta thức ăn
mỗi khi ta cần, song bây giờ là một công việc có tầm quan trọng khác hẳn kia.
Ta đã xin hoàng đế gả công chúa Bađrunbuđua cho ta. Vua đã hứa, và hẹn một thời
hạn tối đa là ba tháng. Đáng lẽ phải giữ lời hứa, thì tối nay trước khi hết hạn,
vua lại gả cho con trai tể tướng. Ta vừa được biết tin chắc chắn. Điều ta yêu cầu
ngươi là, chừng nào chú rể và cô dâu đi nằm, ngươi hãy nhấc bổng cả cái giường
ngủ của chúng lên và mang đến đây cho ta.
-
Thưa chủ nhân, – thần đèn đáp – tôi xin tuân lệnh. Ngài có gì truyền bảo nữa
không?
-
Lúc này thì chẳng có gì thêm. – Alátđanh đáp. Lập tức thần đèn biến mất.
Alátđanh
ra tìm mẹ và ăn cơm tối với bà, vẫn bình thản như mọi ngày. Ăn xong, cậu nói
chuyện một lúc với mẹ về cái đám cưới của công chúa như nói về một chuyện không
làm cho cậu quan tâm. Cậu trở về buồng riêng và để cho mẹ nghỉ ngơi thoải mái.
Về phần mình, Alátđanh không ngủ mà chờ thần đèn thực hiện xong mệnh lệnh của cậu
trở lại.
Trong
thời gian đó, ở hoàng cung, mọi việc đều được chuẩn bị rất huy hoàng để làm lễ
cưới cho công chúa.
Trời
chưa tối hẳn, đêm hội đã bắt đầu. Khi mọi lễ tiết đều xong xuôi đâu vào đấy, cậu
ấm con trai tể tướng, theo hiệu tên trưởng các hoạn nô của công chúa, khéo léo
lánh đi. Cậu được gã dẫn vào cung của công chúa, đến tận căn buồng đặt chiếc
giường cưới. Chú rể leo lên nằm trước. Một lát sau, hoàng hậu cùng các người hầu
dẫn cô dâu đến. Nàng chống cự rất dữ, theo thói thường của cô dâu mới cưới.
Hoàng hậu giúp nàng cởi áo và gần như dùng vũ lực đặt nàng lên giường, rồi sau
khi hôn và chúc nàng ngủ ngon, cùng với tất cả người hầu, bà đi ra cuối cùng và
khép cửa buồng lại.
Cánh
cửa buồng vừa khép thì thần nô lệ trung thành của cây đèn, sẵn sàng thi hành mệnh
lệnh của những ai cầm cây đèn ở tay, không để cho chú rể kịp đưa tay vuốt ve vợ,
đã nhấc bổng chiếc giường với cả chú rể và cô dâu nằm ở trên trước sự kinh ngạc
của hai người, rồi ngay tức khắc mang đến buồng của Alátđanh và đặt xuống.
Alátđanh
đang nóng lòng chờ đợi giây phút ấy, cậu không chịu nổi cảnh chàng rể cứ nằm
chung với cô dâu.
Cậu
bảo thần đèn:
-
Ngươi hãy túm thằng chồng mới cưới này nhốt nó vào nhà tiêu. Sáng sớm mai, trước
khi trời sáng một lúc, thì trở lại đây.
Thần
đèn nhắc cậu ấm con quan tể tướng đang mặc áo cộc ra khỏi giường, đưa vào nơi
Alátđanh dặn, để lại đấy sau khi phả vào người cậu một luồng hơi chạy suốt từ đầu
đến chân, làm cậu tê dại và đứng yên không thể nào nhúc nhích.
Dù
say mê công chúa tha thiết, khi còn lại một mình với nàng, Alátđanh vẫn không
dông dài. Cậu chỉ nói:
-
Xin chớ sợ hãi, hỡi công chúa kính yêu, nàng rất an toàn ở đây. Cho dù tình yêu
của tôi đối với sắc đẹp và dáng điệu yêu kiều của nàng có mãnh liệt đến đâu,
tôi vẫn không bao giờ đi quá giới hạn của lòng kính trọng sâu sắc. Nếu tôi buộc
phải hành động thế này, là không nhằm xúc phạm đến nàng mà chỉ để ngăn cản một
kẻ tình địch bất công kết hôn với nàng, trái với lời hoàng đế phụ vương nàng đã
hứa với tôi.
Không
hề hay biết chút gì về những tình tiết ấy, công chúa chẳng chú ý nhiều những điều
Alátđanh vừa nói. Hơn nữa, nàng cũng không còn hơi sức mở miệng đáp lời. Khiếp
sợ và ngạc nhiên vì phải trải qua một việc quá ư kỳ lạ và bất thường, nàng ngẩn
người đến nỗi Alátđanh gạn hỏi đến đâu nàng cũng không sao nói lên được một lời.
Thế là cậu quyết định cởi áo, leo lên giường và vào nằm chỗ cậu ấm con trai tể
tướng, sau khi cẩn thận đặt một thanh gươm vào chỗ giữa công chúa và mình, để tỏ
ý là cậu thà chịu trừng phạt còn hơn là phạm đến danh tiết của nàng.
Hài
lòng vì ngăn cản được tên tình địch không cho nó được hưởng hạnh phúc chờ đợi,
Alátđanh đêm hôm đó ngủ khá thanh thản. Công chúa Bađrunbuđua lại khác. Từ bé
nàng chưa bao giờ phải trải qua một đêm đáng bực mình và khó chịu như đêm đó.
Còn về phần cậu ấm con quan tể tướng: nếu ta suy nghĩ một chút về cái nơi và
cách thức cậu bị thần đèn nhốt, ta sẽ hiểu ngay là chàng rể mới đêm hôm ấy còn
rầu rĩ hơn nhiều.
Sáng
hôm sau, Alátđanh không cần miết vào cây đèn để gọi thần đèn. Thần đến đúng giờ
hẹn, vừa vặn vào lúc cậu mặc áo xong.
-
Tôi đây, ngài có điều gì cần truyền bảo? – Thần hỏi Alátđanh.
-
Ngươi hãy mang con trai tể tướng từ chỗ nó bị nhốt, đem về để lại trên chiếc
giường này, rồi đưa trả cái giường về chỗ cũ của nó trong hoàng cung.
Thần
đèn nhấc cậu ấm đang đứng yên như phỗng trở lại khi Alátđanh vừa cất thanh
gươm. Thần đặt chàng rể mới bên cạnh công chúa và ngay lập tức mang chiếc giường
cưới trả về căn buồng cũ trong cung vua. Công chúa và cậu ấm không trông thấy
thần đèn khi thần làm những công việc đó, nếu không hình dạng gớm ghiếc của thần
có lẽ đã làm cho hai người chết khiếp. Họ cũng chẳng nghe thấy gì về những lời
qua lại giữa Alátđanh và thần. Họ chỉ cảm thấy chiếc giường tự nhiên chuyển động
và bay bổng từ chỗ này đến chỗ kia, và như vậy cũng đủ gây nên cho họ một nỗi
khủng khiếp mà ta cũng dễ hình dung thôi.
Thần
đèn đặt cái giường về chỗ cũ vừa đúng lúc hoàng đế muốn biết con gái mình đã trải
qua đêm tân hôn như thế nào, bước vào buồng chào hỏi con. Cậu ấm con quan tể tướng
đang còn tê cóng vì cái rét suốt đêm và chưa đủ thời giờ nằm cho người ấm lên một
chút, vừa nghe tiếng mở cửa đã vội dậy và lảng sang phòng để áo, nơi cậu thay
áo quần tối hôm qua.
Hoàng
đế đến gần giường con gái, hôn lên trán chính giữa hai con mắt con như tục lệ,
chào con rồi vừa mỉm cười vừa hỏi con thấy đêm vừa qua như thế nào. Nhưng ngẩng
đầu lên nhìn con chăm chú hơn, vua cực kỳ ngạc nhiên thấy công chúa u buồn chứ
không hề đỏ mặt lên xấu hổ hay là tỏ một dấu hiệu gì khác. Nàng chỉ nhìn cha một
cái nhìn phiền muộn nhất, biểu lộ một mối sầu não vô biên hay một nỗi bất bình
ghê gớm. Vua hỏi mấy câu nữa, nhưng không thể làm cho con gái mở miệng. Tưởng
là vì ngượng ngùng cho nên nàng im lặng, vua liền bỏ đi ra.
Tuy
nhiên vua vẫn không khỏi ngờ ngợ có một chuyện gì bất thường trong sự im lặng của
con gái, vì vậy vua vội vã sang ngay cung hoàng hậu, thuật lại cho hoàng hậu
nghe thái độ của công chúa khi tiếp đón cha.
Hoàng
hậu đáp:
-
Tâu bệ hạ, xin bệ hạ chớ ngạc nhiên, sau đêm tân hôn chẳng có cô dâu nào không
có thái độ như vậy. Hai ba hôm sau sẽ khác; đến lúc đó con nó sẽ tiếp đón phụ
vương theo đúng lễ.
Hậu
nói thêm:
-
Tôi sẽ đến xem, nếu con cũng tiếp đón tôi như thế thì tôi nhầm.
Hoàng
hậu mặc áo đi sang buồng công chúa, nàng vẫn chưa dậy. Hậu đến gần giường, hôn
và chào hỏi con. Nhưng hậu ngạc nhiên làm sao: nàng không đáp. Chỉ thoáng nhìn
con, hậu cũng có thể thấy nàng đang hết sức rầu rĩ, khiến hậu nghĩ rằng chắc có
một việc gì xảy ra đây mà bà chưa rõ.
-
Con ơi, – hậu nói – do đâu con không đáp những lời chào hỏi của mẹ? Con cư xử với
mẹ như vậy hay sao? Và con tưởng là mẹ không biết điều gì có thể xảy ra trong
trường họp con hôm nay sao? Mẹ muốn tin là con không nghĩ như vậy. Vậy thì có
chuyện gì đã xảy ra nào? Con hãy nói thật với mẹ, chớ để mẹ lo lắng lâu hơn.
Công
chúa Bađrunbuđua phá tan sự im lặng bằng một cái thở dài não nuột:
-
Ôi mẹ rất kính yêu của con ơi, xin mẹ tha lỗi cho con đã không giữ được lễ đối
với mẹ. Đầu óc con đang bị ám ảnh về những chuyện dị kỳ vừa xảy ra cho con đêm
hôm qua. Con chưa định thần, chưa hết ngạc nhiên, kinh hãi, và con thật ra cũng
không biết mình đang tỉnh hay đang mơ.
Thế
rồi công chúa thuật lại cho hoàng hậu nghe một cách rành mạch: sau khi hai vợ
chồng nằm xuống, lập tức chiếc giường bị nhấc bổng và chuyển đến một căn buồng
tối tăm bẩn thỉu. Ở đây chồng bị đưa đi nơi khác để lại một mình nàng, không biết
chồng ra làm sao. Rồi có một chàng trai trẻ đến nói với nàng mấy câu gì đấy mà
vì khiếp đảm quá nàng không nghe rõ. Chàng nằm xuống bên cạnh, vào chỗ chồng
nàng, sau khi đặt một thanh gươm vào chỗ giữa hai người. Rồi sáng hôm sau chồng
nàng được trả lại, chiếc giường lại được đưa trở về chỗ cũ trong thời gian cũng
ngắn như khi bị chuyển đi.
-
Tất cả việc đó vừa mới diễn ra xong, – công chúa nói tiếp – thì phụ vương bước
vào buồng con. Con đang sầu não đến nỗi không thể hè răng đáp lại cha con một
câu nào. Bởi vậy, con chắc phụ vương bất bình về thái độ của con đối với Người.
Nhưng con hy vọng sẽ được tha thứ khi cha con biết rõ câu chuyện đáng buồn đã xảy
ra và tình cảnh thảm thương của con ngay cả trong lúc này.
Hoàng
hậu bình tĩnh lắng nghe tất cả những lời công chúa nói, nhưng bà chẳng muốn tin
một chút nào.
-
Con ạ, – bà nói – con không nói gì với phụ vương về những chuyện đó là phải.
Con cũng chớ nên nói với ai. Nghe những lời con vừa kể người ta sẽ bảo con hóa
điên mất rồi.
-
Thưa mẹ, – công chúa đáp – con có thể quả quyết là con nói chuyện với mẹ rất tỉnh
táo. Mẹ có thể hỏi chồng con, anh ta cũng sẽ nói y như vậy cho mà xem.
-
Mẹ sẽ hỏi. Nhưng cho dù nó có nói như con, mẹ cũng sẽ không tin hơn. Thôi con
hãy dậy đi, con đừng suy nghĩ về chuyện huyễn hoặc ấy nữa. Thật đẹp chưa, nếu
con cứ đem những chuyện mê sảng ấy mà làm rối các lễ tiết của đám cưới con đã
được xếp đặt đâu vào đấy và sẽ còn kéo dài nhiều ngày ở nội phủ cũng như trong
cả nước! Con không nghe thấy tiếng kèn đồng hòa cùng tiếng trống, tiếng chiêng
đó sao? Tất cả những cái đó phải làm cho con vui mừng và thích thú lên chứ, phải
làm cho con quên đi tất cả những chuyện vớ vẩn con vừa nói với mẹ.
Hoàng
hậu cất tiếng gọi những người hầu của công chúa, và sau khi thấy con gái dậy và
bắt đầu trang điểm, bà đi sang cung của hoàng đế. Bà nói với vua quả là có một
chuyện vớ vẩn nào đấy đã ám ảnh đầu óc cô con gái, song chẳng hề gì. Bà cho gọi
cậu ấm con trai tể tướng đến hỏi cho rõ về những điều công chúa vừa nói. Nhưng
cậu ta hiểu, được kết hôn cùng công chúa thật là một vinh hạnh lớn lao cho nên
giấu biệt chuyện vừa xảy ra. Hoàng hậu nói:
-
Con rể của ta ơi, con hãy cho ta biết, có phải con cũng dở hơi như vợ của con
không?
-
Thưa mẫu hậu, – cậu ấm đáp – con xin được phép thưa lại: mẫu hậu muốn hỏi con về
chuyện gì?
-
Thế là đủ, – hoàng hậu nói – ta không biết thêm nữa. Con khôn ngoan hơn nó.
Các
cuộc vui chơi tiếp tục suốt ngày trong hoàng cung. Hoàng hậu không rời công
chúa một bước, cố tìm mọi cách làm cho nàng vui và tham gia các cuộc vui chơi
hát xướng. Nhưng công chúa quá xúc động về những điều đã xảy ra đêm hôm qua,
lúc nào cũng có vẻ đăm chiêu. Con trai quan tể tướng cũng băn khoăn không kém.
Nhưng vì hiếu danh, cu cậu phải che giấu nỗi băn khoăn của mình cho nên nhìn cậu,
ai cũng nghĩ đúng là một người chồng hạnh phúc.
Alátđanh
biết rõ những việc xảy ra trong cung, chắc là đôi vợ chồng mới cưới thế nào rồi
cũng ăn nằm với nhau, cho dù có cái chuyện bực mình xảy ra đêm hôm trước. Cậu
không muốn để cho họ được yên tĩnh. Bởi vậy, khi đêm mới về khuya, cậu đã lại
nhờ đến cây đèn. Lập tức thần đèn lại xuất hiện và lại chào Alátđanh bằng câu
nói như mọi lần, sẵn sàng chờ lệnh.
Alátđanh
bảo:
-
Con trai tể tướng và công chúa Bađrunbuđua đêm nay chắc sẽ lại ngủ với nhau.
Ngươi hãy đi đi, hễ lúc nào chúng nó đi nằm, ngươi hãy mang chiếc giường lại
đây cho ta y như đêm hôm qua!
Thần
đèn làm theo lời Alátđanh cũng trung thành và đúng đắn như đêm hôm trước. Cậu ấm
con trai tể tướng lại trải qua một đêm cũng lạnh lẽo và cũng khó chịu trong nhà
tiêu; và công chúa cũng ngượng ngùng vì có Alátđanh nằm chung bên cạnh, giữa
hai người đặt thanh gươm. Theo lệnh của Alátđanh, sáng hôm sau thần đèn lại xuất
hiện; lại đưa trả ông chồng về bên cạnh cô vợ lại mang chiếc giường đôi có đôi
vợ chồng mới cưới về đặt lại căn phòng cũ của hoàng cung. Hoàng đế, sau lần bị
con gái đón tiếp lạnh nhạt, lo âu muốn biết con trải qua đêm thứ hai như thế
nào và xem thử con sẽ đón tiếp mình có giống như lần vừa rồi không. Vua đến buồng
con cũng sớm như hôm trước để tìm cho ra nhẽ. Con quan tể tướng xấu hổ và tủi
nhục về cái đêm thứ hai này hơn cả đêm tân hôn, vừa nghe tiếng bước chân hoàng
đế đến đã lật đật chồm dậy chui vào buồng để áo.
Hoàng
đế vừa chào con gái vừa đến gần giường, và sau khi hôn con như hôm trước, vua hỏi:
-
Thế nào con gái của ta, sáng nay con có còn bực mình như sáng hôm qua không?
Con có thể nói cho cha biết đêm hôm qua con ngủ thế nào?
Công
chúa vẫn lặng im, và hoàng đế nhận thấy nàng còn có vẻ băn khoăn và sầu não hơn
cả hôm đầu. Vua chắc là có chuyện gì bất thường đã xảy ra cho công chúa. Thế là
thốt nhiên nổi giận vì con gái dám giấu mình, hoàng đế rút gươm ra và giận dữ
nói:
-
Con này, hoặc là con nói cho ta biết điều con giấu ta, hoặc là ta sẽ chặt đầu
con ngay tức khắc.
Hốt
hoảng vì giọng nói và lời đe dọa của vua cha đang nổi cơn thịnh nộ hơn cả nhìn
thấy thanh gươm tuốt trần, công chúa đành phải cất lời:
-
Lạy cha thân yêu, muôn tâu bệ hạ – nàng nói, nước mắt rưng rưng – xin cha thứ tội
cho nếu con lỡ lại làm cha bực mình. Con hy vọng rằng sau khi nghe thuật lại đầy
đủ câu chuyện đã làm cho con lâm vào cảnh thảm thương đêm hôm qua và đêm hôm
kia, cha sẽ cám cảnh mà đổi giận làm thương.
Sau
lời dạo đầu làm cho hoàng đế bót giận và dịu lại phần nào, nàng kể cho cha nghe
trung thực tất cả những gì đã xảy ra trong hai đêm đáng bực bội. Vẻ mặt đau xót
của nàng khiến cho hoàng đế vốn yêu thương con rất mực, càng thêm xúc động.
Công chúa kết thúc bằng những lời sau đây:
-
Nếu bệ hạ còn có điểm nào nghi ngờ về những điều con vừa kể, xin người hãy hỏi
chồng con, con tin chắc chàng sẽ chứng thực những gì con vừa tâu bệ hạ.
Hoàng
đế hết sức buồn phiền, sao một chuyện kỳ lạ như vậy lại xảy ra cho công chúa.
Vua bảo nàng:
-
Con ơi, con đã sai, sao hôm qua con không nói ngay cho cha rõ cái việc dị kỳ
con vừa cho cha biết, nó cũng quan hệ đến cha không kém gì con. Cha tác thành
con đâu để cho con chịu đau khổ, mà chính là để được nhìn thấy con sung sướng
ung dung, để cho con tận hưởng hạnh phúc xứng đáng khi con thành thân với một
người chồng mà cha cho là xứng đôi vừa lứa. Con hãy quên đi những điều bực dọc
vừa kể với cha. Cha sẽ thu xếp để không còn xảy ra cho con những đêm đáng bực
mình khó chịu đựng như những đêm vừa qua.
Trở
về cung, vua cho triệu ngay tể tướng đến và hỏi:
-
Khanh đã gặp con trai chưa, và cậu ta chẳng nói gì sao?
Tể
tướng đáp là chưa gặp con trai mình, vua liền thuật lại những điều công chúa
Bađrunbuđua vừa cho biết rồi nói thêm:
-
Ta không chút nghi ngờ công chúa dám nói sai. Tuy nhiên, ta cũng muốn biết con
trai khanh xác nhận chuyện đó thế nào. Vậy khanh hãy đi đi, hãy hỏi xem cớ sự
ra sao?
Tể
tướng vội vã đi tìm con trai, thuật lại với con những điều vua vừa cho biết, và
dặn thêm là không được giấu giếm chút gì mà phải nói cho ông rõ có thật đúng
như vậy hay không. Cậu đáp:
-
Con đâu dám giấu cha điều gì. Thưa cha, tất cả những điều công chúa tâu với
hoàng đế là đúng. Nhưng nàng không thể nói cho Người rõ những sự ngược đãi
riêng phần con phải chịu. Cơ sự thế này đây, thưa cha: từ buổi kết hôn, con đã
phải trải qua hai đêm khổ cực không thể tưởng tượng, và thật không có đủ lời lẽ
để thuật lại đúng đắn và chi tiết cho cha nghe những nỗi khổ con đã phải chịu đựng.
Con xin không nói đến nỗi khủng khiếp khi đang nằm trên giường tự dưng không hiểu
làm sao bị nhấc bổng và đưa đi chuyển lại đến bốn lần. Xin cha hãy hình dung
tình cảnh của con qua hai đêm ròng, mặc áo lót và đứng im như phỗng suốt đêm
trong một thứ hố xí chật hẹp, không thể nào nhấc chân ra khỏi hoặc làm một cử động
nào, mặc dù nhìn chẳng nom thấy có vật gì ngăn trở.
Sau
chuyện ấy rồi, con thiết nghĩ không phải trình bày dài dòng với cha về những nỗi
đau khổ của con. Đúng là những chuyện xảy ra không hề làm cho con mất đi những
tình cảm thương yêu, kính nể và hàm ơn đối với vợ con mà nàng xứng đáng. Tuy
nhiên xin thành khẩn thú thực với cha rằng dù cái việc được làm phò mã lấy con
gái vua có làm cho con thêm vinh dự và có tăm tiếng đến bao nhiêu, con vẫn muốn
thà chết còn hơn là sống lâu hơn nữa với người vợ cao sang ấy; vì cô ta mà con
phải chịu đựng những cách đối xử tàn tệ như thế. Con tin rằng công chúa có những
ý nghĩ giống con, chắc nàng cũng sẽ thừa nhận phải chia lìa nhau thì may ra
nàng cũng như con mới có thể yên thân được. Bởi vậy, thưa cha, như cha đã
thương con mà đưa lại cho con một vinh dự lớn lao dường ấy, xin cha hãy thương
con mà tâu với hoàng đế cho hủy bỏ việc thành hôn của chúng con.
Dù
tham vọng của tể tướng muốn cho con trai được làm phò mã có to lớn đến đâu, trước
quyết tâm của cậu muốn ly hôn công chúa, ông biết rằng lúc này không nên khuyên
cậu hãy nhẫn nhục thêm mấy ngày nữa để thử xem cái chuyện ngang trái kia có chấm
dứt không. Ông trở lại cung hoàng đế, thật thà tâu với vua là ông đã gặp con
trai, đúng là câu chuyện đã xảy như vậy. Không chờ vua phán bảo nên hủy bỏ việc
thành hôn, mà xem ra vua đã quá sẵn sàng, ông xin phép cho con trai được rời
hoàng cung trở về nhà, viện cớ rằng thật là không phải nếu chỉ vì cậu mà dám để
cho công chúa phải chịu đựng thêm một sự hành hạ kinh khủng như vậy.
Tể
tướng chẳng phải khó khăn gì mà không được chấp thuận. Vốn đã định bụng, hoàng
đế lập tức hạ lệnh bãi bỏ mọi cuộc vui chơi ở hoàng cung và trong cả kinh
thành. Hơn nữa vua còn sai phát lệnh đi khắp nước ngược hẳn với những lệnh vừa
mới phát đi hôm trước. Thế là chỉ lát sau mọi cuộc vui chơi ở kinh đô và trong
toàn vương quốc đều chấm dứt.
Sự
thay đổi đột ngột không mấy ai chờ đợi ấy gây nên nhiều điều bàn tán khác nhau.
Ai nấy hỏi nhau do đâu mà có chuyện trái khoáy ấy, và cũng chẳng có ai trả lời
được, trừ mỗi việc là có trông thấy tể tướng từ giã hoàng cung trở về nhà
riêng, chàng công tử theo sau, hai cha con dáng điệu đều rất âu sầu.
Chỉ
có mỗi một mình Alátđanh biết rõ điều bí ẩn, và trong thâm tâm chàng rất thích
thú về kết quả tốt đẹp mà cây đèn thần mang lại. Khi biết chắc kẻ tình địch của
mình đã phải rời bỏ hoàng cung, và việc kết hôn giữa cậu ấm và công chúa hoàn
toàn bị hủy bỏ rồi. Alátđanh thấy không cần phải miết vào cây đèn và gọi thần
đèn xuất hiện nữa, để tránh làm phiền đến thần. Điều kỳ cục là cả hoàng đế cũng
như tể tướng đều đã quên khuấy mất Alátđanh cùng với việc cầu hôn của chàng,
nên không một ai thoáng có ý nghĩ là có bàn tay chàng dính líu vào chuyện phù
phép dẫn tới sự phá ngang việc của công chúa lấy chồng.
Alátđanh
chờ cho hết hạn ba tháng mà nhà vua đã định để cho phép chàng kết hôn với công
chúa. Chàng cẩn thận tính từng ngày. Vừa hết hạn định, ngay sáng hôm sau chàng
đã nhờ mẹ đến cung vua nhắc hoàng đế nhớ lại lời đã hứa.
Nghe
lời con, bà mẹ Alátđanh lại đến hoàng cung, chực trước cửa điện thiết triều, vẫn
đứng vào nơi đã đứng y như những lần trước. Hoàng đế thoáng thấy bà đã nhận ra
ngay, đồng thời cũng nhớ lại việc bà cầu hôn và thời hạn vua đã định. Lúc ấy tể
tướng tâu về một việc khác. Vua ngắt lời:
-
Tể tướng à, ta trông thấy bà già đã dâng ta một món lễ vật rất quý cách đây mấy
tháng. Khanh hãy gọi bà đến đây, ta sẽ lại xét đến việc khanh đang trình bày
sau khi đã hỏi chuyện bà.
Tể
tướng đưa mắt nhìn ra cửa điện và cũng trông thấy bà mẹ Alátđanh, ông liền gọi
viên thị vệ trưởng và trỏ bà, truyền cho y dẫn bà đến gần ngai vua. Bà mẹ
Alátđanh bước đến chân ngai và phủ phục xuống như thường lệ. Chờ bà ngẩng lên,
hoàng đế hỏi bà muốn gì. Bà đáp:
-
Tâu bệ hạ, tôi đến thay mặt Alátđanh con trai tôi, xin phép được tâu rằng thời
hạn ba tháng mà hoàng thượng định hôm tôi mạo muội đến cầu hôn công chúa nay đã
hết, cầu mong bệ hạ vui lòng nhớ cho.
Khi
nêu ra thời hạn ba tháng cho bà mẹ Alátđanh hôm tiếp bà lần đầu, vua những tưởng
là sẽ không bao giờ còn nghe nói đến chuyện gả bán con gái cho một người mà chỉ
riêng địa vị thấp hèn và sự nghèo khó của bà – bà mẹ Alátđanh đến gặp vua ăn mặc
rất xoàng xĩnh – cũng đã đủ thấy là không môn đăng hộ đối rồi. Tuy nhiên, lời hứa
bà nhắc lại làm cho vua bối rối. Vua không biết trả lời như thế nào. Vua hỏi ý
kiến tể tướng và để lộ cho ông thấy nỗi bực mình nếu phải gả con gái cho một kẻ
vô danh tiểu tốt, mà chắc là gia sản hẳn còn ít ỏi hơn gia sản người tầm thường
nhất. Không chút do dự, tể tướng trình bày ý kiến của mình:
-
Tâu bệ hạ, thần nghĩ là có một cách khôn khéo để tránh một cuộc hôn nhân quả
không cân xứng mà Alátđanh cho dù có được bệ hạ biết đến, cũng chẳng dám phàn
nàn. Ấy là thách cưới công chúa bằng một giá thật cao vào, đến nỗi hắn ta có
giàu đến đâu cũng không thể nào với tới. Đó sẽ là cách cho hắn phải từ bỏ sự
đeo đẳng to gan, nếu không gọi là táo tợn, mà có lẽ hắn ta đã không suy nghĩ
chín chắn trước khi lao vào.
~
Hoàng
đế chấp thuận lời khuyên của tể tướng. Vua quay lại, và sau một lúc suy nghĩ,
nói với bà mẹ Alátđanh:
-
Bà già ạ, các đấng đế vương cần phải giữ đúng lời hứa của mình. Ta sẵn sàng giữ
lời ta đã hứa và cho phép con trai bà được sánh đôi cùng công chúa. Nhưng ta
không thể nhận lời nếu ta chưa biết rõ gả con ta cho bà thì nó sẽ được lợi lộc
gì. Bà hãy về nói với con trai bà rằng ta sẽ thực hiện ngay lời hứa chừng nào cậu
sai người mang đến cho ta bốn chục mâm lớn bằng vàng khối, xếp đầy những thứ giống
như thứ cậu đã nhờ bà mang đến dâng ta dạo nọ, do bốn chục tên nô lệ da đen đội
trên đầu, và bốn chục tên nô lệ da trắng trẻ đẹp và khôi ngô, ăn mặc lộng lẫy dẫn
đường. Đấy là những điều kiện để ta sẵn sàng gả con gái ta cho cậu. Thôi bà già
hãy về đi, ta chờ bà trở lại mang theo lời đáp của con trai bà.
Bà
mẹ Alátđanh lại phủ phục lạy vua một lần nữa rồi ra về. Vừa đi, bà vừa cười thầm
cho sự điên cuồng của con trai:
-
Thật vậy, nó đào đâu ra bấy nhiêu chiếc mâm vàng và số viên thủy tinh xanh đỏ lớn
đến thế để xếp cho đầy? Hay nó trở lại cái hang ngầm dưới đất mà cửa đã bít lại
rồi để hái trên cây? Và tất cả cái đám nô lệ bảnh chọe mà nhà vua đòi, nó lấy ở
đâu ra? Đấy nhé, cu cậu quá bất cẩn rồi; chắc cu cậu chẳng hài lòng với chuyến
đi sứ của già này.
Về
đến nhà, đầu óc còn mải suy nghĩ tới những điều ấy, bà bảo Alátđanh chẳng còn
gì mà trông mong nữa.
-
Con ơi, mẹ khuyên con chớ nên tơ tưởng đến việc kết hôn cùng công chúa
Bađrunbuđua. Đúng là hoàng đế có tiếp mẹ rất nhân từ và mẹ tin là Người có lòng
thương con thật, nhưng quan tể tướng, nếu mẹ không nhầm, đã làm cho vua thay đổi
ý kiến, con nghe mẹ kể đây rồi con cũng sẽ nghĩ y như mẹ. Sau khi tâu với vua
là thời hạn ba tháng đã hết rồi, hãy nhớ lấy lời hứa, mẹ nhận thấy nhà vua thầm
thì một lúc với quan tể tướng rồi mới trả lời như thế này.
Bà
mẹ Alátđanh thuật lại cho con trai nghe thật rành rọt tất cả những điều hoàng đế
đã nói với bà và những điều kiện vua đặt ra để thách cưới. Cuối cùng, bà nói
thêm:
-
Con ơi, nhà vua đang chờ con trả lời đấy, nhưng nói riêng giữa mẹ con ta, – bà
mỉm cười – chắc vua sẽ còn phải chờ lâu.
-
Không quá lâu như mẹ nghĩ đâu, mẹ ạ. Và cả nhà vua cũng nhầm, nếu Người cho rằng
bằng cách thách cưới cao quá mức, Người sẽ làm cho con không thể nào nghĩ tới
công chúa Bađrunbuđua nữa. Con chờ đợi những khó khăn còn lớn hơn nữa kia, hoặc
là Người sẽ thách cưới nàng công chúa tuyệt thế vô song của con bằng một giá
cao hơn thế nhiều. Nhưng bây giờ thì con hài lòng. Những thứ vua đòi ấy chẳng
đáng bao nhiêu so với khả năng của con có thể bỏ ra để lấy được công chúa. Mẹ
hãy đi kiếm thức ăn gì đi, để yên cho con nghĩ tới việc đáp ứng những điều vua
thách thức.
Bà
mẹ Alátđanh vừa ra khỏi nhà đi mua thức ăn, Alátđanh lấy cây đèn thần và miết
vào. Lập tức thần đèn hiện ra, và vẫn với những câu nói như chúng ta đã biết, hỏi
chàng cần gì và ngỏ ý sẵn sàng chờ lệnh, Alátđanh bảo:
-
Hoàng đế gả công chúa cho ta. Nhưng nhà vua đòi ta dẫn cưới bốn chục chiếc mâm
lớn bằng vàng ròng thật nặng, xếp thật đầy những thứ quả trong khu vườn ta đã đến
lấy cây đèn mà ngươi là nô lệ. Vua lại đòi ta phải có bốn chục tên nô lệ da đen
đội những mâm vàng ấy và có bốn chục tên nô lệ da trắng trẻ đẹp, khôi ngô, ăn mặc
sang trọng đi trước dẫn đường. Ngươi hãy đi đi và mang tặng vật ấy đến cho ta
thật nhanh vào, để ta có thể đưa đến nhà vua trước giờ bãi triều.
Thần
đèn đáp: lệnh của ngài sẽ được thi hành ngay tức khắc, và biến luôn.
Chỉ
một loáng sau, thần lại xuất hiện ra cùng với bốn mươi tên nô lệ da đen, mỗi
tên đội một chiếc mâm vàng nặng hai chục mác① xếp đầy châu ngọc và kim
cương, còn đẹp còn to hơn những loại đã dâng vua lần trước. Mỗi chiếc mâm được
phủ một tấm khăn dệt bằng sợi bạc thêu hoa vàng. Đám nô lệ vừa da đen vừa da trắng
với những chiếc mâm vàng ấy chiếm gần chật hết cả căn nhà vốn dĩ không lấy gì
làm rộng với một chiếc sân con đằng trước và một mảnh vườn nhỏ đằng sau.
Thần
đèn hỏi Alátđanh đã hài lòng chưa và chàng có truyền lệnh gì nữa không.
Alátđanh đáp chàng không đòi hỏi gì hơn nữa, thế là thần đèn biến mất ngay.
Bà
mẹ Alátđanh đi chợ về. Bước vào nhà, bà hết sức ngạc nhiên thấy bao nhiêu người
và châu báu. Bỏ những thức ăn vừa mua về xuống, bà định cất tấm mạng che mặt
thì Alátđanh đã ngăn lại:
-
Mẹ ơi, chớ nên để mất thời giờ. Trước khi hoàng đế bãi triều, mẹ cần trở lại
hoàng cung, mang ngay theo tặng vật và món của hồi môn của công chúa Bađrunbuđua
mà vua đã thách, để cho Người thấy rõ sự sốt sắng và chữ tín của con mà thấu hiểu
tấm lòng thiết tha của con muốn được làm rể Người.
Không
đợi mẹ trả lời, Alátđanh mở cửa thông ra đường phố và cho đám nô lệ lục tục kéo
ra, cứ một tên da trắng kèm theo một tên da đen đội chiếc mâm vàng trên đầu. Bà
mẹ đi sau rốt theo sau tên nô lệ da đen cuối cùng. Chàng đóng cửa lại và bình
tĩnh trở về buồng riêng, hy vọng là hoàng đế sau khi nhận được lễ vật đúng như
thách cưới, sẽ bằng lòng gả công chúa cho chàng.
Tên
nô lệ da trắng đầu tiên vừa bước ra khỏi nhà Alátđanh đã làm cho tất cả những
người qua đường trông thấy đều phải dừng chân lại.
Trước
khi tám chục nô lệ vừa da trắng vừa da đen ra hết khỏi nhà, phố xá đã đông nghịt
những người từ mọi nơi chạy xô lại để xem cảnh tượng xiết bao đẹp mắt và khác
thường, áo quần những tên nô lệ may bằng gấm vóc đắt tiền và đính nhiều châu
báu đến nỗi những kẻ sành sỏi nhất cũng quả quyết là mỗi chiếc áo ấy giá đến những
một nghìn đồng. Áo quần sang trọng và dĩ nhiên được cắt rất khéo, diện mạo tuấn
tú khôi ngô, tầm vóc xinh đẹp và đều đặn của mỗi tên nô lệ, dáng đi sang trọng
và khoảng cách nhau rất đều, cùng với ánh sáng lấp lánh tỏa ra từ những viên ngọc
cực to dát lên những chiếc thắt lưng bằng vàng khối, và những phù hiệu, châu ngọc
buộc trên mũ của chúng, mọi thứ đều đặc biệt mỹ quan, khiến cho tất cả người
xem cực kỳ khâm phục. Họ ngắm nghía không biết chán và còn đưa mắt nhìn theo
cho đến khi mất hút mới thôi. Nhưng vì phố xá chật ních những người, cho nên ai
đứng đâu đành phải ở yên nơi đấy.
Đám
nô lệ mang lễ vật đó phải đi qua nhiều phố mới đến được hoàng cung, thành thử cả
một phần khá lớn kinh thành bao gồm đủ hạng người giàu có sang hèn, được chứng
kiến cảnh lộng lẫy mê hồn. Lính cấm vệ canh giữ hoàng cung vừa trông thấy cái
đoàn kỳ diệu ấy từ xa đã vội vã xếp hàng, và khi tên đi đầu trong số tám chục
tên nô lệ tới nơi, lính cấm vệ tưởng nhầm đấy là một ông vua, vì trang phục của
gã quá ư lộng lẫy và đắt tiền, liền tiến lên định hôn gấu áo của gã. Nhưng tên
nô lệ được thần đèn chỉ bảo, vội ngăn lại và trịnh trọng nói với bọn lính:
-
Chúng tôi chỉ là nô lệ, còn chủ nhân chúng tôi sẽ xuất hiện lúc nào xét thấy cần.
Tên
nô lệ đi đầu và theo sau là cả bọn, tiến vào tận cái sân thứ hai rất rộng, nơi
tất cả quân lính trong nội phủ đến xếp hàng tề chỉnh mỗi buổi nhà vua thiết triều.
Các
võ quan đứng đầu các hàng quân, mặc rất sang trọng, nhưng đều bị lu mờ hẳn khi
tám chục tên nô lệ mang lễ vật của Alátđanh tiến vào và xếp hàng ngay bên cạnh.
Trong cung của hoàng đế cũng không có gì đẹp rực rỡ bằng, và tất cả vẻ cao sang
của các quan đại thần đang quây quần quanh vua cũng đều chẳng có nghĩa lý gì
trước cảnh tượng mới đang diễn ra trước mắt vua.
Nhà
vua đã được báo tin trước về việc đoàn nô lệ diễu qua các phố và tiến vào hoàng
cung, liền truyền cho mời vào. Bởi vậy khi đoàn nô lệ tới nơi, cổng điện đã mở
sẵn, và chúng chia thành hai đoàn tả, hữu bước vào rất trật tự. Khi cả đoàn đã
vào hết trong sân điện và xếp thành hình cánh cung trước ngai vàng, các nô lệ
da đen liền hạ những chiếc mâm đội trên đầu, đặt xuống tấm thảm để chân. Tất cả
cùng một loạt khấu đầu xuống đất. Bọn nô lệ da trắng cũng làm như vậy. Rồi tất
cả đứng lên, những tên da đen nhanh nhẹn giở các tấm vải phủ chiếc mâm vàng để
trước mình, sau đó cả bọn đứng im, tay chắp trước ngực, vẻ rất cung kính.
Trong
thời gian ấy, bà mẹ Alátđanh đã tiến tới sát chân ngai, quỳ xuống và thưa:
-
Tâu bệ hạ, Alátđanh con trai tôi không phải là không biết món lễ vật cháu dâng
lên bệ hạ thật quá hèn mọn so với công chúa Bađrunbuđua. Tuy nhiên cháu vẫn hy
vọng rằng bệ hạ vui lòng chấp nhận, và xin công chúa hiểu cho rằng cháu đã cố gắng
thực hiện đúng với điều kiện bệ hạ đã đoái thương mà phán bảo.
Hoàng
đế lúc ấy chẳng còn bụng dạ nào nghe lời chúc tụng của bà cụ. Và đưa mắt nhìn bốn
chục chiếc mâm vàng xếp đầy ắp những châu ngọc long lanh nhất, rực rỡ nhất, quý
giá nhất, chưa từng thấy trên đời, và tám chục tên nô lệ vừa tuấn tú khôi ngô vừa
ăn mặc sang trọng lộng lẫy như những ông hoàng, vua đã lác mắt đến ngẩn ngơ mê
mẩn. Vua không đáp lời bà mẹ Alátđanh mà lại quay sang hỏi tể tướng, ông này
cũng đang thảng thốt không hiểu người ta lấy từ đâu ra những bấy nhiêu ngọc ngà
châu báu.
-
Này, tể tướng! – Vua lớn tiếng hỏi – Ông nghĩ sao về con người này, cho dù đấy
là ai chăng nữa, đã dâng lên ta một lễ vật quý báu và lạ thường dường này, mà cả
ta cả ông đều chưa từng được biết? Ông có cho là nó không xứng đáng kết hôn với
công chúa Bađrunbuđua con gái của ta nữa không?
Cho
dù tể tướng có ganh tỵ và đau xót đến đâu khi trông thấy một tiểu tốt vô danh sắp
trở thành phò mã chứ không phải là con trai mình, ông vẫn không dám nói khác.
Rõ ràng là lễ vật của Alátđanh quá đủ để cho chàng được kết thân với nơi lá ngọc
cành vàng. Bởi vậy, ông đành trả lời cho hợp ý với vua:
-
Muôn tâu bệ hạ, không những thần không nghĩ kẻ đã dâng lên bệ hạ một lễ vật quý
giá thế này không xứng đáng với ân huệ bệ hạ định ban cho, mà thần còn dám nói
rằng kẻ đó đáng được hưởng nhiều hơn nữa, nếu như thần không tin chắc rằng ở
trên đời này chẳng có kho tàng vật báu nào có thể mang ra so sánh với công chúa
ta.
Các
quan đại thần đang dự buổi triều đều vỗ tay tán đồng ý kiến của tể tướng.
Hoàng
đế không chút đắn đo, và cũng không buồn nghĩ tới cả chuyện hỏi xem Alátđanh
còn có những đức tính nào khác cần thiết cho một con người rắp ranh trở thành
phò mã hay không, chỉ nhìn những của cải vô giá ấy và sự sốt sắng của Alátđanh
đáp lời thách cưới mà chẳng chút nề hà là những điều kiện ấy cao quá mức, vua
đã lóa mắt và dễ dàng tin rằng chàng hoàn toàn có đầy đủ mọi điều như vua mong
đợi. Bởi vậy, để cho mẹ Alátđanh hoàn toàn mãn nguyện, vua phán:
-
Bà cụ à, bà hãy về bảo với con trai bà rằng ta đang nồng nhiệt chờ để chào đón
và ôm hôn chàng. Ta cho phép chàng đến đây để được thành thân với công chúa,
càng sớm bao nhiêu, ta càng vui lòng bấy nhiêu.
Bà
mẹ Alátđanh khấp khởi mừng vui nghĩ đến thân phận hèn mọn của mình mà lại được
nhìn thấy con trai đạt tới địa vị cao sang quá lòng mong ước. Bà vừa đi khỏi,
vua đã ra lệnh bãi triều. Rồi bước xuống ngai vàng, vua sai các hoạn nô chuyên
hầu hạ công chúa đến mang các mâm châu báu về cung của nàng, vua cũng sẽ thân
hành đến tận nơi để ngắm nghía cho thỏa thích.
Lệnh
đó được thi hành ngay tức khắc dưới sự đôn đốc của viên chỉ huy bọn quan hoạn
trong cung.
Tám
chục nô lệ da đen và da trắng cũng không bị bỏ quên. Chúng được vào hoàng cung,
và lát sau, khi hoàng đế đã kể cho con gái nghe về sự sang trọng đẹp đẽ của
chúng, vua sai dẫn chúng vào tận cung riêng của công chúa để cho nàng nhìn qua
rèm cửa mà thấy rằng không những vua cha không nói quá lời mà có khi còn chưa
diễn tả đúng thực trạng của bọn người nhà Alátđanh là khác.
Còn
bà mẹ trong thời gian ấy đã về đến nhà, vẻ mặt rạng rỡ của bà báo trước cho con
tin mừng:
-
Con ơi, – bà nói – con tha hồ mà thích nhé. Con đã đạt được mọi điều mong ước
mà mẹ không hề nghĩ tới, hẳn con còn nhớ mẹ đã nói với con những gì. Để con đỡ
sốt ruột, mẹ nói ngay rằng, hoàng đế sau khi hỏi ý kiến triều đình, đã tuyên bố
con xứng đáng được kết hôn cùng công chúa Bađrunbuđua. Người đang chờ để ôm hôn
con và làm lễ cưới. Giờ con phải chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ ấy sao cho nó xứng
đáng với lòng tin yêu của nhà vua đối với hai mẹ con ta. Sau bấy nhiêu chuyện kỳ
diệu mà mẹ đã thấy con làm, mẹ tin chắc rồi sẽ chẳng thiếu một thứ gì. Mẹ không
thể quên không nói với con rằng hoàng đế đang nóng lòng đợi con. Con chớ để mất
thời giờ, hãy đến ngay với Người!
Khoái
trá vì tin vui và đang mải tơ tưởng đến người yêu, Alátđanh không nói nhiều với
mẹ. Chàng lui về phòng riêng. Cầm lấy cây đèn đã giúp chàng thực hiện mọi điều
mong ước, chàng vừa chạm khẽ, thần đèn đã hiện ra ngay tức khắc và tỏ ý sẵn
sàng chờ lệnh.
Alátđanh
bảo:
-
Thần đèn, ta gọi ngươi đến để sửa soạn cho ta tắm ngay; và khi tắm xong, ta muốn
ngươi đã để sẵn cho ta một bộ y phục đắt tiền nhất, đẹp đẽ nhất chưa bậc đế
vương nào từng mặc.
Chàng
chưa dứt lời, thần đèn đã hóa phép tàng hình, làm cho chàng cũng vô hình giống
như thần, rồi đưa chàng đến một nhà tắm hoàn toàn xây bằng đá cẩm thạch quý nhiều
màu sắc trông vô cùng đẹp mắt. Ở phòng khách rộng và rất sạch sẽ, có người giúp
cởi quần áo cho chàng mà chàng không hề thấy người phục dịch. Từ phòng khách,
chàng được mời sang buồng tắm nhiệt độ vừa phải, ở đấy chàng được kỳ cọ và tắm
rửa bằng nhiều thứ nước hoa. Sau khi đã qua nhiều buồng tắm, mỗi buồng có nhiệt
độ khác nhau, chàng đi ra thì con người đã khác hẳn lúc mới vào. Da dẻ chàng
tươi tắn, trắng trẻo, hồng hào, thân thể chàng nhẹ nhàng, khoan khoái hơn. Trở
lại phòng khách, chàng không còn trông thấy bộ quần áo cũ của mình để ở đấy nữa.
Thần đèn đã cẩn thận thay vào đấy bộ y phục mà chàng đòi hỏi.
Alátđanh
kinh ngạc trước vẻ xa hoa của bộ quần áo sắp sẵn cho mình. Có thần đèn giúp,
chàng vừa mặc vừa ngắm nghía từng chiếc, chiếc nào cũng đẹp cũng sang quá mức
tưởng tượng, chàng mặc xong, thần đèn đưa trả chàng về căn buồng cũ ở nhà riêng
như trước, rồi hỏi chàng có lệnh gì sai bảo nữa không.
-
Có, – Alátđanh đáp. – Ta chờ ngươi mang đến cho ta một con ngựa đẹp và thuần
hơn con ngựa được quý trọng nhất trong đàn ngựa của vua. Yên cương đệm ngự phải
trị giá hơn một triệu đồng. Ta muốn ngươi đưa đến hai chục tên nô lệ ăn mặc
cũng sang trọng và gọn ghẽ như những tên đã mang dâng lễ vật, để đi hầu ở hai
bên tả, hữu và đằng sau ta, cùng với hai chục tên khác tương tự để dàn hàng đôi
đi trước. Ngươi hãy đưa đến cho mẹ ta sáu nô tì để hầu hạ cụ, đứa nào cũng ăn mặc
sang trọng ít ra không kém các nữ tì của công chúa Bađrunbuđua. Mỗi đứa mang
theo một bộ y phục đầy đủ đẹp tốt và lộng lẫy như thứ dành cho hoàng hậu. Ta
cũng cần mười túi tiền, mỗi túi đựng một nghìn đồng vàng. Đấy là mệnh lệnh ta
truyền, ngươi hãy đi và thi hành nhanh lên!
Alátđanh
vừa truyền lệnh xong, thần đèn biến mất và một lát sau xuất hiện cùng với con
ngựa và bốn chục nô lệ, mười tên trong số này mỗi đứa cầm một túi đựng một
nghìn đồng vàng, và sáu nữ tì mỗi người đội trên đầu một bộ quần áo khác nhau
dành cho mẹ Alátđanh bọc trong một tấm vải dệt bằng bạc. Thần đèn trình tất cả
lên Alátđanh.
Alátđanh
cầm bốn túi tiền đưa cho mẹ, bảo bà giữ lấy để dùng riêng khi cần. Sáu túi còn
lại giao cho các tên nô lệ giữ, để bốc từng nắm mà tung ra cho dân chúng trong
lúc đoàn đi qua các phố xá tới cung vua.
Chàng
truyền cho sáu tên này cùng với những tên khác xếp thành hai hàng đi trước
chàng, ba tên đi bên phải, ba tên đi bên trái. Cuối cùng, chàng giao sáu ả nữ
tì cho mẹ, nói rằng đó là những người hầu riêng của bà, bà toàn quyền sai bảo,
và những bộ áo quần mà chúng đội trên đầu là để cho bà dùng. Sau khi sắp xếp
xong mọi việc chàng cho thần đèn lui ra, nói rằng sẽ gọi đến khi nào cần, thế
là thần biến mất ngay.
Alátđanh
lúc này chỉ còn nghĩ tới việc đáp ứng mong muốn của nhà vua đang muốn gặp
chàng, chàng sai một trong số bốn chục tên nô lệ – tôi không nói là đứa nào bảnh
bao nhất vì tất cả bọn chúng đều bảnh bao như nhau – đến ngay hoàng cung để hỏi
thị vệ trưởng xem thử lúc nào thì chàng được vinh dự đến phủ phục trước ngai
vàng. Tên nô lệ nhanh nhảu hoàn thành nhiệm vụ được giao, và trở về cho biết
hoàng đế đang sốt ruột đợi chàng.
Không
chậm trễ, Alátđanh lên ngựa và truyền lệnh khởi hành theo trình tự đã nói ở
trên kia. Mặc dù suốt đời chưa cưỡi ngựa bao giờ, ngay lần đầu tiên chàng đã
lên yên với phong thái ung dung đến nỗi kỵ sĩ giàu kinh nghiệm nhất cũng không
thể cho đây là một người mới bước vào nghề. Trong chốc lát, phố xá đều hầu như
chật ních những người xem, đông không thể nào đếm được. Và vang dậy những lời
hoan hô, những lời trầm trồ ngợi ca và cảm tạ, đặc biệt là những khi sáu tên nô
lệ mang các túi tiền vàng bốc từng nắm tiền tung ra tứ phía.
Tuy
vậy, những lời hoan hô ấy không chỉ thốt ra từ những người đang chen lấn, xô đẩy
và cúi xuống để nhặt tiền, mà còn từ miệng những kẻ có địa vị cao sang hơn đám
bình dân. Họ không thể nén lòng không công khai ca ngợi một cách xứng đáng sự
hào phóng của Alátđanh. Không chỉ những kẻ vẫn còn nhớ, là đã từng trông thấy
Alátđanh chơi bời lêu lổng trong đường phố như một tên du thủ du thực khi đã
khá lớn tuổi không nhận được ra chàng, mà ngay những người mới gặp chàng cách
đây chưa lâu cũng khó nhận ra được, vì nét mặt chàng thay đổi quá nhiều. Đó là
do cây đèn thần có đặc tính từng bước một làm cho những ai làm chủ nó thay đổi
dần cho phù họp với cương vị mới.
Lúc
này người ta chú ý nhiều đến con người Alátđanh hơn là cảnh xa hoa lộng lẫy
đang diễn ra quanh chàng, mà phần đông đã được trông thấy hồi nãy, khi đoàn nô
lệ mang lễ vật tiến vào hoàng cung. Những người sành về ngựa thì rất ca ngợi
con tuấn mã. Họ biết nhận đúng vẻ đẹp của nó mà không bị lóa mắt bởi bộ yên
cương đắt tiền cũng như những kim cương và châu ngọc sáng chói dát lên trên đó.
Khắp nơi đồn đại rằng hoàng đế đã gả công chúa Bađrunbuđua cho chàng. Phong
thái chàng tỏ ra xứng đáng với việc đó quá thành ra không ai vì chuyện xuất
thân hèn mọn của chàng mà tỏ ý ganh tị sao chàng giàu có và đạt tới địa vị cao
sang như vậy.
Alátđanh
tới hoàng cung. Ở đây đã bày biện đâu vào đấy để nghênh tiếp chàng. Vào đến cổng
thứ hai, chàng muốn xuống ngựa theo đúng tục lệ như tể tướng, các vị tướng lĩnh
và đại thần vẫn làm, song viên thị vệ trưởng theo lệnh vua đã chực sẵn ở đấy,
ngăn không để chàng xuống ngựa và phò chàng đến tận điện thiết triều, tới đây mới
giúp chàng hạ mã. Alátđanh muốn cưỡng lại, nhưng không thể được. Trong lúc ấy
quân cấm vệ đã dàn thành hàng đôi trước điện. Thị vệ trưởng mời Alátđanh đứng
sang bên phải, rồi mời chàng đi giữa hai hàng quân và rước chàng đến tận ngai
vàng.
Trông
thấy Alátđanh, hoàng đế ngạc nhiên về trang phục đắt tiền và đẹp đẽ của chàng,
đến bản thân vua cũng chưa bao giờ ăn vận sang như vậy. Nhưng sự ngạc nhiên ấy
vẫn chưa bằng sự kinh ngạc về vẻ mặt khôi ngô, tầm vóc cân đối và phong thái
cao sang mà vua không hề chờ đợi, nó khác hẳn địa vị hèn kém của bà mẹ mỗi lần
đến ra mắt trước ngai vàng. Tuy lạ lùng và kinh ngạc, vua vẫn đứng lên và xuống
khỏi ngai vàng mấy bước khá nhanh để kịp đỡ không cho Alátđanh phủ phục, rồi ôm
hôn chàng vô cùng thắm thiết. Sau nghi thức ấy, Alátđanh còn muốn quỳ lạy, song
hoàng đế đã cầm tay, buộc chàng bước lên và đặt chàng ngồi vào giữa vua và tể
tướng.
Lúc
bấy giờ Alátđanh mới cất lời:
-
Muôn tâu bệ hạ, kẻ hèn mọn này được hưởng những vinh dự vừa rồi là bởi lòng
nhân từ và ý cao cả của bệ hạ muốn như vậy, song xin phép cho tôi được tâu là
tôi sinh ra vốn là thần dân của bệ hạ. Tôi biết rõ địa vị cao sang và uy danh
vinh hiển của Người, thật là một trời một vực so với sự xuất thân hèn mọn của
tôi. Nếu có một điểm nào khiến cho tôi được nghênh tiếp nồng hậu như thế này,
xin thú thật ấy chính là do tính táo bạo và sự tình cờ khi tôi mạo muội ngẩng đầu
đưa mắt nhìn lên, và dâng tất cả tình cảm, ước vọng của mình lên công chúa
thiêng liêng, người đã làm cho tôi thầm mong trộm nhớ. Xin bệ hạ hãy tha thứ
cho kẻ bạo gan này, song tôi không thể nào che giấu là tôi sẽ chết vì đau khổ nếu
không còn được có niềm hy vọng là ước mơ của mình sẽ thành hiện thực.
-
Con của ta ơi, – hoàng đế ôm hôn chàng một lần nữa và đáp, – con sẽ làm cho ta
buồn, nếu con đã có một khoảnh khắc nào nghi ngờ ta thất tín. Cuộc sống của con
đối với ta từ nay quá quý báu, ta không để con chết mà không cho con môn thuốc
chữa thuộc quyền hạn của ta. Được trông thấy con và nghe con nói, ta còn thú
hơn tất cả mọi kho tàng của ta và của con gộp lại.
Dứt
lời, vua đưa tay ra hiệu. Thế là vang lên tiếng sáo đàn. Ngay lúc đó hoàng đế dẫn
Alátđanh bước sang một phòng khách tráng lệ đã bày sẵn một bữa tiệc linh đình.
Hoàng đế ngồi tiếp riêng Alátđanh. Tể tướng và các đại thần trong triều, tùy
theo phẩm trật của mình, phân ngôi theo hầu trong suốt bữa tiệc. Hoàng đế mắt
không rời khỏi Alátđanh mà càng nhìn vua càng ưa thích. Vua đàm đạo với chàng về
nhiều chuyện khác nhau. Alátđanh đối đáp rất khôn ngoan và thông thạo, làm cho
hoàng đế càng tin chắc những ấn tượng tốt đẹp đầu tiên của mình đối với chàng
là đúng.
Tiệc
tan, vua cho triệu viên đệ nhất pháp quan trong kinh thành đến, ra lệnh cho ông
lập và hoàn chỉnh ngay tức khắc khế ước kết hôn giữa công chúa Bađrunbuđua và
Alátđanh. Trong thời gian đó, hoàng đế chuyện trò với Alátđanh trước mặt tể tướng
và các triều thần. Những vị này đều lấy làm khâm phục tri thức vững chắc, cách
ăn nói thông minh, hoạt bát cũng như những ý kiến tinh tường và tế nhị của
chàng.
Khi
pháp quan đã lập xong bản khế ước họp thức về mọi mặt, hoàng đế hỏi Alátđanh
xem chàng có muốn lưu lại hoàng cung để hoàn tất mọi nghi lễ thành hôn ngay
trong ngày hôm nay không, chàng đáp:
-
Tâu bệ hạ, mặc dù rất nóng lòng được thừa hưởng ngay tấm lòng nhân từ của bệ hạ
đoái thương, tôi vẫn cúi xin bệ hạ hãy thư cho, để tôi kịp sai xây dựng một
cung điện rước công chúa về cho thật xứng với phẩm cách của nàng. Xin bệ hạ hãy
ban cho một nơi thích đáng ở trước điện của Người, để cho tôi được ở gần mà tới
lui chầu chực. Tôi sẽ xin cố gắng hết sức để cung điện chóng xây dựng xong.
-
Con ơi, tùy con muốn cắm đâu thì cắm. Trước cung của ta có quá nhiều đất trống
và ta cũng đã nghĩ tới chuyện nên xây dựng thêm ở đó. – Hoàng đế đáp. – Nhưng
con nên nhớ là ta nóng lòng muốn được sớm hưởng niềm vui trông thấy các con
thành vợ thành chồng.
Dứt
lời, vua lại ôm hôn Alátđanh một lần nữa. Chàng xin cáo từ hoàng đế với phong
thái xử sự lịch sự, cung kính, như thể chàng đã sinh ra và suốt đời đã ở chốn
cung đình vậy.
--------
Chú
thích:
① Đơn vị đo lường cũ, một mác bằng tám lạng.
➖➖➖
Translated
by Edward William Lane
Revised
by Stanley Lane-Poole
The
Story of ‘Ala-ed-Din and the Wonderful Lamp
I
HAVE heard, O King of the Age, that there dwelt in a city of China a poor
tailor who had a son named ‘Ala-ed-Din. Now this boy had been a scatter-brained
scapegrace from his birth. And when he had come to his tenth year his father
wished to teach him a handicraft; and being too poor to afford to spend money
on him for learning an art or craft or business, he took him into his own shop
to learn his trade of tailoring. But ‘Ala-ed-Din, being a careless boy, and
always given to playing with the urchins of the street, would not stay in the
shop a single day, but used to watch till his father went out on business or to
meet a customer, and then would run off to the gardens along with his
fellow-ragamuffins. Such was his case. He would neither obey his parents nor
learn a trade; till his father, for very sorrow and grief over his son’s
misdoing, fell sick and died. But ‘Ala-ed-Din went on in the same way. And when
his mother perceived that her husband was dead, and that her son was an idler
of no use whatever, she sold the shop and all its contents, and took to
spinning cotton to support herself and her good-for-nothing son. Meanwhile,
‘Ala-ed-Din, freed from the control of his father, grew more idle and
disreputable, and would not stay at home except for meals, while his poor
unfortunate mother subsisted by the spinning of her hands; and so it was, until
he had come to his fifteenth year.
One
day, as ‘Ala-ed-Din was sitting in the street playing with the gutter-boys, a
Moorish Darwish came along, and stood looking at them, and began to scrutinise
‘Ala-ed-Din and closely examine his appearance, apart from his companions. Now
this Darwish was from the interior of Barbary, and was a sorcerer who could
heap mountain upon mountain by his spells, and who knew astrology. And when he
had narrowly scrutinised ‘Ala-ed-Din, he said within himself: “Verily this is
the youth I need, and in quest of whom I left my native land.” And he took one
of the boys aside and asked him concerning ‘Ala-ed-Din, whose son he was, and
wanted to know all about him. After which, he went up to ‘Ala-ed-Din, and took
him aside, and said: “Boy, art thou not the son of such a one, the tailor?” And
he answered: “Yes, O my master; but as to my father, he has long been dead.”
When the Moorish sorcerer heard this, he fell upon ‘Ala-ed-Din, and embraced
him and kissed him and wept till the tears ran down his cheeks. And when ‘Ala-ed-Din
saw the state of the Moor, wonder seized upon him, and he asked him and said:
“Why dost thou weep, O my master? and how knowest thou my father?” And the Moor
replied in a low and broken voice: “My boy, how dost thou ask me this question
after thou hast told me that thy father, my brother is dead? For thy father was
my brother, and I have journeyed from my country, and I rejoiced greatly in the
hope of seeing him again, after my long exile, and cheering him; and now thou
hast told me he is dead. But our blood hideth not from me that thou art my
brother’s son, and I recognized the amongst all the boys, although thy father
was not yet married when I parted from him. And now, O my son, ‘Ala-ed-Din, I
have missed the obsequies, and been deprived of the delight of meeting thy
father, my brother, whom I had looked to see again, after my long absence,
before I die. Separation caused me this grief, and created man hath no remedy
or subterfuge against the decrees of God the most High.” And he took
‘Ala-ed-Din and said to him: “O my son, there remaineth no comfort to me but in
thee; thou standest in thy father’s place, since thou art his successor, and
‘whoso leaveth issue doth not die, O my son.” And the sorcerer stretched forth
his hand and took ten gold pieces, and gave them to ‘Ala-ed-Din, saying to him:
“O my son, where is thy house, and where is thy mother, my brother’s widow?” So
“Ala-ed-Din shewed him the way to their house, and the sorcerer said to him: “O
my son, take this money, and give it to thy mother, and salute her from me, and
tell her that thy uncle hath returned from his exile, and, God willing, will
visit her to-morrow to greet here and to see the house where my brother lived
and the place where he is buried.” So ‘Ala-ed-Din kissed the hand of the Moor,
and went, running in his joy, to his mother’s, and entered, contrary to his
custom, for he was not wont to come home save at meal times. And when he was
come in he cried out in his joy: “O my mother, I bring thee good news of my
uncle, who hath returned from his exile, and saluteth thee.” And she said: “O
my son, dost thou mock me? Who is this uncle of thine, and how hast thou an
uncle at all?” And ‘Ala-ed-Din answered: “O my mother, how canst thou say that
I have no uncles or kinsmen living, when this man is my uncle on my father’s
side, and he hath embraced and kissed me and wept over me, and told me to make
this known to thee!” And she said; “O my son, I know indeed that thou didst
have an uncle, but he is dead, and I know not any other that thou hast.”
On
the morrow the Moorish sorcerer went out to seek ‘Ala-ed-Din, for his heart
could not bear parting from him; and as he wandered in the streets of the city,
he met him disporting himself as usual along with the other vagabonds, and,
approaching, he took him by the hand and embraced and kissed him, and took from
his purse ten gold pieces, and said “Haste thee to thy mother and give her
these gold pieces, and tell her, ‘My uncle would fain sup with us; so take
these pieces and make ready for us a good supper.’ But first of all, shew me
again the way to your home.” And ‘Ala-ed-Din replied: “On the head and eye, O
my uncle.” And he went before him and shewed him the way home. So the Moor left
him and went his way; while ‘Ala-ed-Din went home and told his mother, and gave
her the gold pieces, and said his uncle would fain take supper with them. So
she arose forthwith and went to the market and bought what she needed, and
returning home she set about making ready for the supper. And she borrowed from
her neighbours what she needed of dishes and the rest, and when the time came
for supper she said to her son: “Supper is ready, but perhaps thy uncle doth
not know the way to the house; go therefore, and meet him on the road.” And he
answered, “I hear and obey.” And whilst they were talking, a knock came at the
door, and when ‘Ala-ed-Din opened, behold, there was the Moorish wizard, with a
eunuch carrying wine and fruit. And ‘Ala-ed-Din brought them in, and the eunuch
departed; but the Moor entered and saluted the mother, and began weeping and
asking her questions, as, “Where is the place where my brother sat?” And when
she shewed him her husband’s seat, he went to it and prostrated himself and
kissed the ground, and cried: “Ah, how small is my satisfaction and how cruel
my fate, since I have lost thee, O my brother, O apple of my eye!” And he went
on in this manner, weeping and wailing, until ‘Ala-ed-Din’s mother was assured
that it was true, for verily he had swooned from the violence of his grief. And
she raised him up from the ground and said: “What benefit is there in killing
thyself?” And she comforted him, and seated him. And after he was seated and
before the supper-tray was served, the Moor began talking with her, and said:
“O wife of my brother, let it not amaze thee that in all thy life thou hast
neither seen me nor heard of me in the days of my departed brother; for it is
forty years since I left this city and banished myself from my birthplace and
wandered throughout the countries of India and China and Arabia, and came to
Egypt and abode in its glorious capital, which is one of the wonders of the
world, until at length I journeyed to the interior of the West and abode there
for the space of thirty years. One day, O wife of my brother, I was sitting
thinking of my native land and my birthplace and my blessed brother, and my
longing to see him grew stronger, and I wept and wailed over my separation and
distance from him. And at last my yearning made me determine to journey to this
country, which is the pillow of my head and my birthplace, for to see my
brother. For I said to myself: “O man, how long wilt thou abandon thy country
and thy native place, when thou hast but one brother and no more? So rise and
journey and see him ere thou die; for who can tell the calamities of this world
and the chances of life? And it would be a sore grief to die without seeing thy
brother. Moreover, God (praised be his name!) hath given thee abundant wealth,
and perchance thy brother may be in distress and poverty, and thou canst succour
him as well as look upon him.’ Therefore I arose and made ready for the
journey, and recited the Fatihah, and when the Friday prayers were over, I
departed and came to this city, after many troubles and difficulties, which I
endured by the help of God. So I arrived here, and the day before yesterday, as
soon as I roamed about the streets, I perceived thy son ‘Ala-ed-Din playing
with the boys, and by Almighty God, O wife of my brother, hardly had I seen
him, when my heart went out to him (for blood is loving to its like), and my
heart told me that the was my brother’s son. And I forgot my troubles and
anxieties as I saw him, and could have flown for joy, until he told me of death
of him who is gathered to the mercy of God most High; whereat I swooned for
heaviness of grief and regret. But ‘Ala-ed-Din hath doubtless informed thee of
my tribulation. Yet am I comforted in part by this child, who hath been
bequeathed to us by the departed. Verily, ‘he who leaveth issue doth not die.’”
And
when he saw that she wept at his words, he turned to ‘Ala-ed-Din, to divert her
from the thought of her husband; and to console her and perfect his deception,
he said. “O my son ‘Ala-ed-Din, what crafts has thou learned and what is thy
trade? Hast thou learned a craft to support thee withal, thyself and thy
mother?” And ‘Ala-ee-Din was ashamed and hung down his head in confusion, and
bent it toward the ground. But his mother cried: “What then! By Allah, he
knoweth nothing at all; I never saw so heedless a child as this. All the day he
idleth about with the boys of the street, vagabonds like himself, and his
father (O my grief!) died only of grieving over him. And I am now in woeful
plight; I toil, and spin night and day to gain a couple of loaves of bread for
us to eat together. This is his state, O brother-in-law; and by thy life he
cometh not home save to meals, and never else. And as for me, I am minded to
lock the door of my house and open not to him, but let him go and seek his own
living. I am an old woman, and I have not strength to work and struggle for a
livelihood like this. By Allah, I have to support him with food, when it is I
who ought to be supported.” And the Moor turned to ‘Ala-ed-Din and said: “O son
of my brother, why dost thou continue in such gracelessness? It is shame upon
thee and befitteth not men like thee. Thou art a person of sense, my boy, and
the son of decent folk. It is a reproach to thee that thy mother, an aged
woman, should toil for thy maintenance. And now that thou hast reached manhood,
it behooveth thee to devise some way whereby thou mayest be able to support
thyself. Look about, for God be praised, in this our city there are plenty of
teachers of handicrafts; nowhere more. So choose a craft that pleaseth thee,
for me to set thee up therein, so that as thou waxest older, my son, thy trade
shall bring thee maintenance. If so be thy father’s calling liketh thee not,
choose another that thou preferrest. Tell me, and I will help thee as best I
can, my son.” And when he saw that ‘Ala-ed-Din was silent and answered him
never a word, he knew that he did not wish any calling at all, save idling, so
he said: “O son of my brother, let not my advice be irksome to thee; for if,
after all, thou like not to learn a trade, I will open for thee a merchant’s
shop of the richest stuffs, and thou shalt be known among the people, and take
and give and buy and sell and become a man of repute in the city.” And when
‘Ala-ed-Din heard his uncle’s words, that he would make him a merchant trader,
he rejoiced greatly, for he knew that merchants are well dressed and well fed.
So he looked smilingly at the Moor and inclined his head to signify his
content.
And
when the Moorish wizard saw ‘Ala-ed-Din smiling, he perceived that he was
content to be made a merchant, and he said to him: “Since thou art satisfied
that I make thee a merchant and open a shop for thee, O son of my brother, be a
man, and, God willing, to-morrow I will take thee to the market to begin with,
and get cut for thee an elegant dress such as merchants wear, and then find for
thee a shop, and keep my promise to thee.” Now ‘Ala-ed-Din’s mother had been in
doubt whether the Moor were indeed her brother-in-law; but when she heard his
promise to her son to open a merchant’s shop for him and furnish him with goods
and wares and the rest, the woman decided in her mind that this Moor was verily
her brother-in-law, since no stranger would have acted thus to her son. And she
began to direct her son and bade him banish ignorance from his head and become
a man, and ever obey his uncle like a son, and retrieve the time he had
squandered in idling with his mates. Then she arose, and spread the table and
served the supper, and they all sat down, and began to eat and drink; and the
Moor discoursed to ‘Ala-ed-Din on the affairs of business and the like, so that
the boy did not sleep that night for joy. And when he perceived that the night
had fallen, the Moor arose and went to his abode and promised them to return on
the morrow to take ‘Ala-ed-Din to have his merchant’s clothes made.
The
next day the Moor rapped at the door, and the mother of ‘Ala-ed-Din arose and
opened to him, but he would not enter, but only desired to take her son with
him to the market. So ‘Ala-ed-Din came forth to him and wished him good-day,
and kissed his hand; and the Moor took him by the hand and went with him to the
market, and entered a clothes-shop of all sorts of stuffs, and demanded a
sumptuous suit of merchant’s style. So the dealer brought out what he required
ready made. And the Moor said to ‘Ala-ed-Din: “Choose what pleaseth thee, my
son.” The boy rejoiced greatly when he understood that his uncle had given him
his choice, and he picked out the suit he preferred; and the Moor paid the
dealer the price on the spot. Then he took ‘Ala-ed-Din to the Hammam, and they
bathed, and came forth, and drank sherbet. And ‘Ala-ed-Din arose and put on his
new dress, rejoicing and preening; and he approached his uncle and thanked him,
and kissed his hand, and acknowledged his kindness.
After
the Moor had come forth from the bath with ‘Ala-ed-Din and taken him to the
market of the merchants, and delighted him with the buying and selling therein,
he said to him: “O son of my brother, it behooveth thee to become acquainted
with the people, above all with the merchants, in order to learn their
business, since it is now thy profession.” And he took him and shewed him about
the city and the mosques and all the sights of the place; and then led him to a
cook-shop, where dinner was served to them on silver dishes; and they dined and
ate and drank until they were satisfied’ and then they went their way. And the
Moor pointed out the pleasure-grounds, and great buildings, and entered the
Sultan’s palace, and shewed him all the beautiful large rooms. Then he took him
to the Khan of the foreign merchants, where he had his lodging; and he invited
some of the merchants in the Khan to supper; and when they sat down, he
informed them that this was his brother’s son, whose name was ‘Ala-ed-Din. And
when they had eaten and drunk and night had fallen, he arose and took
‘Ala-ed-Din back to his mother. And when she saw her son, that he was one of
the merchants, her reason departed for very joy, and she began to thank her
brother-in-law for his goodness, saying: “O my brother-in-law, I could not
satisfy myself if I thanked thee all my life, and praised thee for the favour
thou hast done to my son.” And the Moor replied: “O wife of my brother, it is
no favour at all, for this is my son, and it is my duty to fill the place of my
brother, his father. So let it suffice thee.” And she said: “I pray God, by his
favoured ones, the saints of old and of latter days, to keep thee and prolong
thy life to me, O my brother-in-law, so that thou mayest be a shield for this
orphan youth, and he be ever obedient to thy command and do nothing save what
thou orderest him to do.” And the Moor replied: “O wife of my brother,
‘Ala-ed-Din is of man’s estate and intelligent and of an honest stock, and
please God he will follow his father’s way and refresh thine eye. I am sorry,
however, that, to-morrow being Friday the day of worship, I shall not be able
to open his shop for him, because on that day all the merchants after service
repair to the gardens and walks. But on Saturday, God willing, we will
accomplish our affair. And to-morrow I will come here and take ‘Ala-ed-Din, and
shew him the gardens and walks outside the city, which he may not perhaps have
seen before, and point out to him the merchant folk and people of note who walk
about and amuse themselves there, so that he may become acquainted with them
and they with him.”
So
the Moor slept that night at his abode, and in the morning he came to the
tailor’s house and rapped at the door. Now ‘Ala-ed-Din, from excess of delight
in his new dress, and what with the bathing and eating and drinking and
sightseeing of the day before, and the expectation of his uncle’s coming on the
morrow to take him to the gardens, had not slept that night, nor closed his
eyes, nor scarcely believed the morning had come. So as soon as he heard the
rap at the door he ran out like a flash of fire and opened the door and met his
uncle, who embraced and kissed him, and took him by the hand. And as they went
along he said: “O son of my brother, to-day I will shew thee such a sight as
thou never didst see in all thy life.” And he made the boy laugh and entertained
him with his talk. And they went out of the gate of the city and began
meandering among the gardens: and the Moor pointed out the splendid
pleasure-grounds and wondrous tall palaces. And so often as they looked upon a
garden or mansion or palace. The Moor would pause and say: “Doth this astonish
thee, O son of my brother? And ‘Ala-ed-Din well nigh flew with delight at
seeing things he had never imagined in all his born days. And they ceased not
to wander about and amuse themselves till they were weary. Then they entered a
large garden hard by, whereat the heart became light and the eye bright, for
its brooks trickled amid flowers, and fountains gushed form the jaws of brazen
lions, which shone like gold. So they sat down by a lake and rested awhile; and
‘Ala-ed-Din was full of happiness and began to make merry and jest with his
uncle as though he were of a truth his father’s brother. Then the Moor arose,
and loosening his girdle, took forth a wallet of food and fruit and so forth,
saying: “O son of my brother, thou art hungry; come then and eat thy fill.” So
‘Ala-ed-Din fell to eating and the Moor ate with him, and their souls were
refreshed and made glad, and they reposed. And the Moor said: “O son of my
brother, if thou art rested, let us walk a spell and finish our stroll.” So
‘Ala-ed-Din arose, and the Moor led him from garden to garden till they had
quitted all the gardens and come to a lofty hill. But ‘Ala-ed-Din, who all his
life had never gone beyond the city gates, or taken such a walk, said to the
Moor: “O my uncle, whither do we go? We have left all the gardens behind us,
and come to the mountain, and if the way be far, I have not strength to walk
longer; nay, I am all but fainting from tiredness. There are no more gardens
ahead, so let us turn and go back to the city.” But the Moor replied: “Nay, my
son; this is the road, and it is not yet an end of the gardens; for we are just
going to look at one such as is not to be seen among Kings’ gardens, and all
those thou hast seen are naught compared with it. So pluck up thy courage, for,
God be praised, thou art now a grown man.” And the Moor set to cheering
‘Ala-ed-Din with encouraging words, and related wonderful tales, both true and
false, until they came to the place which this Moorish sorcerer had fixed upon,
and the which to find he had journeyed from the lands of the West to the
countries of China. And when they arrived, he said to ‘Ala-ed-Din: “O son of my
brother, sit down and rest, for this is the place we are seeking, and if it
please God I will shew thee wonders the like of which no one in the world ever
saw before, nor hath any one rejoiced in looking upon what thou art to see.
When thou art rested, arise and find some faggots of wood and thin dry sticks
to make a fire. Then will I shew thee, O son of my brother, a thing beyond
description.” And when ‘Ala-ed-Din heard this, he longed to see what his uncle
would do, and forgot his weariness and straightway arose and began to collect
small faggots and dry sticks and gathered them together till the Moor cried,
“Enough, O son of my brother!” Then the Moor drew from his pocket a box, and
opened it, and took from it what incense he required, and he burnt it and
muttered adjurations and said mysterious words. And straightway, amid murk and
quaking and thunder, the earth opened, and ‘Ala-ed-Din was alarmed and
terrified at this, and would have fled. But when the sorcerer perceived his
intention, he was wroth and furiously enraged thereat, for without ‘Ala-ed-Din
his design would come to naught, and the treasure he sought to unearth could
not be obtained save by means of the boy. And so when he saw him thinking of
flight he made for him, and raising his hand, he smote him on the head, so that
his teeth were almost knocked out, and he swooned and fell to the ground. And
after a while he came to, by the spells of the Moor, and fell a-crying, and
said: “O my uncle, what have I done to deserve such a blow from thee?” So the
Moor began to mollify him, and said: “O my son, it is my intention to make a
man of thee; so thwart me not, who am thine uncle, and, as it were, thy father.
Obey me, rather, in all I tell thee, and shortly thou shalt forget all this
toil and trouble when thou lookest upon marvellous things.” Thereupon, when the
earth had opened in front of the wizard, there appeared a marble slab, wherein
was a ring of brass. And drawing geometric figures, the Moor said to
‘Ala-ed-Din: “If thou dost what I tell thee, thou wilt become richer than all
the Kings put together; and for this cause struck I thee, O my son, because
there is buried here a treasure which is deposited in thy name, and yet thou
wast about to abandon it and flee. And now pull thy wits together and behold
how I have cloven the earth by my spells and incantations.
“Under
that stone with the ring,” he continued, “is the Treasury whereof I told thee.
Put forth thy hand to the ring and raise the stone, for no one in the world but
thyself hath the power to open it, nor can any save thee set foot in this
Treasury, which hath been reserved for thee alone. Wherefore thou must hearken
to all that I bid thee, and not gainsay my words a jot. All this, O my son, is
for thy good, since this treasure is immense. The Kings of the earth have never
seen the like, and it is all for thee and for me.”
So
poor “Ala-ed-Din forgot his tiredness and the beating and the tears, and was
dazzled at the words of the Moor, and rejoiced to think that he would become so
rich that Kings would not be wealthier than he. And he said: “O my uncle,
command me what thou wilt, and I will obey thy behest.” And the Moor said to
him: “O son of my brother, thou art like my own child, and more, since thou art
my brother’s son, and I have none of kin save thee; and thou art my heir and
successor, O my son.” And he approached ‘Ala-ed-Din and kissed him, saying:
“For whom should I design all these labours of mine, my child, except for thee,
that I may leave thee a rich man, as rich as can be! Wherefore thwart me not in
anything I tell thee, but go to that ring and lift it as I bade thee.” And
‘Ala-ed-Din said: “O my uncle, this ring is too heavy for me; I cannot lift it
alone; come and help me to raise it, for I am little in years.” But the Moor
replied: “O my brother’s son, we can accomplish nothing if I aid thee, and our
labours would be vain; put then thy hand to the ring and lift it, and the stone
will come up immediately. Did I not tell thee that none can move it but
thyself? Repeat thy name and the names of thy father and mother, whilst thou
pullest, and it will come up at once, and thou wilt not feel its weight.” So
‘Ala-ed-Din summoned his strength and plucked up his courage, and set to work
as his uncle had bidden him, and lifted the stone with perfect ease, after
saying the names of himself and his father and mother as the Moor had
counselled him. So he lifted the slab and cast it on one side.
And
when he had lifted the slab from the door of the Treasury, before him lay a
passage entered by a descent of twelve steps. And the Moor said to him:
“Ala-ed-Din, pull thy wits together, and do exactly what I tell thee to the
uttermost, and fail not a little from it. Descend carefully into yonder passage
until thou reachest the end, and there shalt thou find a place divided into
four chambers, and in each of these thou shalt see four golden jars and others
of virgin gold and silver. Beware that thou touch them not nor take anything
out of them, but leave them and go on to the fourth chamber, without even
brushing them with thy clothes or loitering a single moment; for if thou do
contrary to this thou wilt straightway be transformed and become a black stone.
And when thou comest to the fourth chamber thou wilt find a door; then open the
door, and repeating the names thou saidst over the slab, enter, and verily thou
wilt pass thence into a garden full of fruit trees, whence thou wilt proceed by
a path which thou wilt see in front of thee about fifty cubits long, and come
upon an alcove ①
in which is a ladder of about fifty steps, and thou shalt see, moreover, a Lamp
suspended above the alcove. Take thou the Lamp, and pour out the oil therein,
and put it in thy breast and be not afraid for thy clothes, since it is but
common oil. And on thy return thou mayest pluck what thou pleasest from the
trees, for all is thine so long as the Lamp continue in thy hand.” And when he
had ended, the Moor took a signet ring from his finger and put it on
‘Ala-ed-Din’s finger, and said: “My son, this ring will guard thee from all
peril and fear that may behest thee, so long as thou obeyest all that I have
told thee. Arise, therefore, forthwith and descend and pluck up thy courage,
and strengthen thy resolve and fear not, for thou art a man now, and no longer
a child. And after this, my boy, thou shalt speedily become possessed of riches
galore, till thou art the richest man in the world.”
So
‘Ala-ed-Din arose and went down into the cavern and found the four chambers and
the four golden jars therein, and these he passed by with all care and
precaution, as the Moor had told him, and he came to the garden and went
through it till he found the alcove, and climbing the ladder, he took the Lamp
and poured out the oil and put it in his bosom, and went down into the garden,
where he began to marvel at the trees with the birds on their branches singing
the praises of their glorious Creator. And though he had not noticed it when he
entered, these trees were all covered with precious stones instead of fruit,
and each tree was of a different kind and had different jewels, of all colours,
green and white and yellow and red and other colours, and the brilliance of
these jewels paled the sun’s rays at noontide. And the size of each stone
surpassed description, so that none of the Kings of the world possessed any
like the largest or half the size of the least of them. And ‘Ala-ed-Din walked
among the trees and gazed upon them and on these things which dazzled the sight
and bewildered the mind, and as he examined them he perceived that instead of
ordinary fruit the yield was of big jewels, emeralds and diamonds, and rubies
and pearls, and other precious stones, such as to bewilder the understanding.
But as he had never seen such things in his life, and had not reached mature
years so as to know the value of such jewels (for he was still a little boy),
he imagined that these jewels were all of glass or crystal. And he gathered
pockets full of them, and began to examine whether they are ordinary fruit,
like figs or grapes and other like eatables; but when he saw that they were of
glass (knowing nothing of precious stones), he put some of each kind that grew
on the trees into his pockets, and finding them of no use for food, he said in
his mind: “I will gather these glass fruits and play with them at home.” So he
began plucking them and stuffing them into his pockets until they were full;
and then, when he had picked more and put them in his girdle, and girded it on,
he carried off all he could, intending to use them for ornaments at home, since
he imagined, as has been said, that they were only glass. Then he hastened his
steps, for fear of his uncle, the Moor, and passed through the four chambers,
and came to the cavern, without as much as looking at the jars of gold,
notwithstanding that on his way back he was permitted to take of them. And when
he came to the steps, and ascended them till none remained but the last one,
which was higher than the others, he was unable to climb it by himself, without
help, seeing that he was weighted. And he called to the Moor: “O my uncle, give
me thy hand and help me to get up.” And the sorcerer replied: “O my son, give
me the Lamb, and lighten thyself; perhaps it is that which weigheth thee down.”
But he answered: “O my uncle, the Lamp doth not weigh me down at all; give me
only thy hand, and when I am up I will give thee the Lamp.” But since he wizard
wanted only the Lamp, and nought beside, he began to urge ‘Ala-ed-Din to give
it him, which, since it was at the bottom of his dress and the bags of precious
stones bulged over it, he could not reach to give it him; so the Moor pressed
him to give what he could not, and raged furiously, and persisted in demanding
the Lamp, when ‘Ala-ed-Din could not get at it to give it him.
And
when ‘Ala-ed-Din could not get at the Lamp to give it to his uncle, the Moor,
the impostor, he became frantic at not gaining his desire, though ‘Ala-ed-Din
had promised to give it him without guile or deceit as soon as he got out of
the cave. But when the Moor saw that ‘Ala-ed-Din would not give him the Lamp,
he was furiously enraged and gave up all hope of getting it. So he muttered
incantations and threw incense into the fire, and immediately the slab shut of
itself and by the power of magic became closed, the earth buried the stone as
heretofore, and ‘Ala-ed-Din remained under the ground unable to come forth. For
this sorcerer, as we have related, was a stranger and no uncle of
‘Ala-ed-Din’s; but he misrepresented himself and asserted a lie, in order to
gain possession of this Lamp by means of the youth.
So
the accursed Moor heaped the earth over him and left him, for whose sake this
treasure had been preserved, to die of hunger. For this damnable Moorish
sorcerer was from the land of Africa, from the inner Westland, and from his
youth he had practised sorcery and all magic arts (the City of Africa [in
Barbary] is well known for all these mysteries), and he ceased not to study and
learn from his childhood in the City of Africa until he had mastered all the
sciences. And one day, by his accomplished skill in sciences and knowledge,
acquired in the course of forty years of sorcery and incantation, he discovered
that in a remote city of China, called El Kal’as, there was buried a vast
treasure the like of which not one of the Kings of this world had ever amassed,
and among this treasure was a Wonderful Lamp, which whoso possessed, mortal man
could not excel him in estate or in riches, nor could the mightiest King upon
earth attain to the opulence of this Lamp and its power and its potency. And
when he discovered by his science and perceived that this treasure could only
be obtained by means of a boy of the name of ‘Ala-ed-Din, of poor family, and
belonging to that city, and understood how it could thus be taken easily and
without trouble, he straightway and without hesitation prepared to journey to
China, as we have said, and did with ‘Ala-ed-Din what he did, and imagined that
he would gain possession of the Lamp. But his design and his hopes were
frustrated and his labour was in vain. So he resolved to do ‘Ala-ed-Din to
death, and heaped the earth over him to the end that he might die, for “the
living hath no murderer.” Moreover, he resolved upon this, in order that
‘Ala-ed-Din, as he could not get out, should not be able to bring up the Lamp
from below ground. Then he went his way and returned to the regions of Africa,
dejected in spirit and disappointed of his aim. Thus was it with the sorcerer.
But
as for ‘Ala-ed-Din, when the earth was heaped over him, he began to call to his
uncle, the Moor, whom he believed to be such, to stretch out his hand, that he
might come forth from the vault to the face of the earth; and he shouted, and
no one answered him. Then he understood the trick which the Moor had played
upon him, and that he was no uncle at all, but a lying magician. So ‘Ala-ed-Din
despaired of his life, and perceived to his grief that there remained to him no
escape to the earth’s surface, and he began to weep and bewail that which had
befallen him. But after awhile he arose and descended to see if God Most High
would provide him a door of escape. And he went, turning to right and left, and
found nothing but darkness, and four doors shut against him; for the sorcerer
by his magic had closed all the doors, and had even shut that of the garden
through which ‘Ala-ed-Din had passed, so that he might not find there a door by
which to escape to the surface of the earth, and thus to hasten his death. And
‘Ala-ed-Din’s weeping increased and his wailing grew louder when he saw the
doors all shut, and the garden also, where he had intended to console himself
awhile; but he found everything closed, and he gave himself up to weeping and
lamenting, like him who hath abandoned hope, and he returned and sat on the
steps of the vault where he had first entered.
Thus
he sat weeping and wailing and hopeless. But a small thing is it to God
(extolled and exalted be he!) if he willeth a thing to say to it, “Be,” and it
is. Thus doth he create joy in the midst of woe; and thus was it with
‘Ala-ed-Din. When the Moorish sorcerer sent him to the vault, he gave him a
ring and put it on his finger, saying, “Verily this ring will guard thee from
all danger if thou be in trouble and difficulties, and take away from thee all
evils, and be thy helper wheresoever thou art.” And this was by the decree of
God Most High, that it should be the means of ‘Ala-ed-Din’s escape. For whilst
he sat weeping and lamenting his case and abandoning his hope of life,
overwhelmed with his misfortune, in his exceeding tribulation he began wringing
his hands as the sorrowful are wont to do. And he raised his hands supplicating
God, and saying: “I testify that there is no God but thee alone, the mighty,
the omnipotent, the all-conquering, the quickener of the dead, creator of needs
and fulfiller thereof, who dispellest troubles and anxieties and turnest them
into joy. Thou sufficest me, and thou art the best of protectors; and I testify
that Mohammad is thy servant and apostle. O my God, by his favour with thee,
release me from this calamity.” And whilst he was supplicating God and wringing
his hands from heaviness of grief at the calamity which had overtaken him, his
hand happened to rub the ring, and, behold, immediately the Slave of the Ring
appeared before him and cried: “Here I am, thy slave, between thy hands. Ask
what thou wilt, for I am the slave of him on whose hand is the ring, the ring
of my master.” And ‘Ala-ed-Din looked up and saw a Marid like the Jinn of our
Lord Suleyman, standing before him; and he was affrighted at the awful
apparition, until he heard the Slave of the Ring say: “Ask what thou wilt, for
verily am I thy servant, because the ring of my master is on thy hand.” So he
recovered his spirit and called to mind the words of the Moor when he gave him
the ring. And he rejoiced exceedingly and plucked up heart and said to him: “O
Slave of the Ring, I wish thee to convey me to the surface of the earth.” And
hardly had he spoken when, behold, the earth gaped open and he found himself at
the door of the Treasury, outside, in face of the world. And when ‘Ala-ed-Din
saw himself thus in face of the world, after being three days under ground
sitting in the dark Treasury, and the light of day and the sunshine smote his
face and he could not open his eyes for it, he began to open his eyelids little
by little till his eyes were stronger and became accustomed to the light and
recovered from the gloom.
Then
he perceived that he was on the surface of the earth, whereat he rejoiced
greatly, and it astonished him that he should be outside the door of the
Treasury which he had entered when the Moorish sorcerer opened it, and yet that
the door should be shut and the earth made level so that there was no trace of
an entrance at all. And he wondered more and more, and could not believe he was
in the same place, till he saw the spot where they had lighted the fire of
sticks and faggots, and the place where the sorcerer had muttered his
incantations. Then turning right and left, he saw the gardens at a distance,
and perceived the road, and he knew it was the same by which he had come. So he
gave thanks to God Most High, who had brought him back to the earth’s surface
and saved him from death after the hope of life had abandoned him. So he arose
and walked on the road which he recognized till he came to the city, and
entered, and repaired to his home, and went to his mother. And when he saw her,
he swooned on the ground before her from exceeding joy at his escape and the
recollection of the terror and toil and hunger he had endured. And his mother
had been sorrowful since his departure, and had sat sobbing and weeping for
him; so when she saw him come in she rejoiced over him with great joy, though
grief seized her when she saw him fall swooning to the ground. But she did not
give way to her anxiety in the predicament, but poured water on his face and
borrowed from her neighbours aromatics for him to sniff. And when he was
somewhat restored, he begged her to give him something to eat, saying to her:
“O my mother, it is now three days since I ate anything at all.” And his mother
arose and prepared for him what she had ready by her, and set it before him,
saying: “Come, my son, eat and refresh thyself, and when thou art restored,
tell me what hath happened to thee and befallen thee, O my child; but I will
not ask thee now, because thou art weary.” So ‘Ala-ed-Din ate and drank and
became restored, and when he was better and had regained his spirits, he said
to his mother: “Ah, my mother, I have a heavy reckoning against thee for
abandoning me to that devilish man who sought my ruin and desired to kill me.
Know that I looked death in the face on account of the accursed reprobate whom
thou didst acknowledge as my uncle; and had not God Most High delivered me from
him, both I and thou, my mother, would have been imposed upon by the plenitude
of this villain’s promises of the good he would do me, and the zeal of the love
he displayed for me. But know, O mother, that this man is a sorcerer, a Moor, a
liar, accursed, impostor, cheat, hypocrite. I hold the devils beneath the earth
are not his match. May God condemn every record of his deeds! Listen, then, my
mother, to what this devil did—for all I tell thee is really true. See how this
accursed one brake every promise he made me to work me good; and look at the
love he shewed me and how he acted; and all to attain his own ambition! And he
would have killed me—God be thanked for my deliverance. Consider and hearken, O
my mother, how this Man of the curse acted.” Then ‘Ala-ed-Din informed his
mother all that had befallen him—weeping for excess of joy—telling her how,
after he had left her, the Moor had led him to a mountain wherein was a
treasure, and how he had muttered incantations and spells. And he added: “After
that, O my mother, he beat me till I fainted from soreness, and a great horror
gat hold of me, when the mountain split asunder and the earth opened before me
by his sorcery, and I trembled and was afeared at the roaring of the thunder
which I heard and the darkness which fell around as he muttered his spells. And
I would fain have fled from fear when I saw these awful sights. So when he saw
that I was bent upon flight, he reviled me and beat me. But, since the Treasure
could not be unearthed save by me, as it was in my name, and not his, and
because this ill-omened sorcerer knew that it could only be opened by my means,
and this was what he wanted me for: therefore, after beating me, he thought it
better to mollify me in order to send me to open the Treasure and obtain his
desire. And when he sent me, he gave me a ring and put it on my finger, after
it had been on his own. So I descended into the Treasury, and found four chambers
all full of gold and silver and the like, and all this was as nought, for that
Devil’s own hand commanded me to touch nothing of it. Then I entered a great
garden full of lofty trees, whose fruits confounded the reason, for all were of
glass of delightful colours; and I came to the hall in which was this Lamp, and
I took it forthwith and emptied it.” And ‘Ala-ed-Din took out the Lamp from his
bosom, and shewed it to his mother, and in like manner the precious stones
which he had brought from the garden, of which there were two large pockets
full, of such as not one was to be met with among the Kings of the world. But
‘Ala-ed-Din knew not their worth, but deemed them glass or crystal. And he
continued: “After getting the Lamp, O my mother, and arriving at the door of
the Treasury, I called to the accursed Moor, who passed himself off as my
uncle, to give me his hand and help me up, as I was overburdened with things
and could not get up alone. But he would not give me his hand, but said: ‘Hand
up the Lamp that is with thee, and then I will give thee my hand and help thee
out.’ But I had put the Lamp at the bottom of my pocket, and the bags stuck out
above it, and I could not get it out to give it him, and I said: ‘O my uncle, I
cannot give thee the Lamp, but when I am up I will give it thee.’ But he did
not mean to help me out, for he only wanted the Lamp; and his intention was to
take it from me and heap the earth over me and destroy me, as he did his best
to do. And this is what happened, O my mother, from this ill-omened sorcerer.”
And ‘Ala-ed-Din told her all the story to the end thereof, and fell to cursing
the Moor with all his might from out of his raging soul, saying: “O my mother,
woe to this damnable sorcerer, this ill-omened, vile, inhuman cheat and hypocrite,
who contemneth all human kindness, and spurneth mercy and compassion!”
When
his mother heard her son’s story and what the Moorish sorcerer had done to him,
she said: “Yea, my son, of a truth he is a miscreant and a hypocrite, a
hypocrite who slays folk by his magic; and it was only the grace of God Most
High, my son, that delivered thee from the wiles and spells of this accursed,
whom I believed to be in truth thine uncle.” And ‘Ala-ed-Din, since he had not
slept a wink for three days, and found himself nodding, sought his repose and
went to sleep, and his mother likewise slept afterwards; and he did not wake up
till near noon on the second day. As soon as he was awake he wanted something
to eat, for he was hungry. And she said to him: “O my son, I have nought to
give thee, because thou didst eat yesterday all that there was in the house;
but wait awhile; I have spun yarn which I will take to the market and sell and
buy thee something to eat with the proceeds.” To which ‘Ala-ed-Din replied:
“Mother, keep thy yarn; sell it not, but give me the Lamp I brought, that I may
go sell it, and buy therewith something to eat, for I think the lamp will fetch
more than the yarn.” So she arose and brought the lamp to her son, and she
found it very dirty, and said: “O my son, here is the Lamp, but verily it is
dirty, and when we have cleaned and polished it it will sell for a greater
price.” So she went and took a handful of sand, and fell to rubbing the lamp
therewith; but she had hardly begun to rub when there appeared before her one
of the Jann, of terrible aspect and vast stature, as it were of the giants. And
he said to her: “Tell me what thou dost want of me; here am I, thy slave, and
the slave of him who holdeth the Lamp; not I only, but all the slaves of the
Wonderful Lamp which is in thy hand.” But she trembled, and fear gat hold of her,
and her tongue clave as she gazed upon that terrible form; and she could not
answer, because she was not accustomed to seeing apparitions like that. So in
her terror she could not make any reply to the Marid, but fell down overcome
with alarm. But ‘Ala-ed-Din her son was waiting hard by, and had seen the
‘Efrit of the Ring which he had rubbed when in the Treasury; and hearing the
speech of the Jinni to his mother, he hastened forward and seized the Lamp from
her hand, saying: “O Slave of the Lamp, I am hungry; and I wish thee to bring
me something to eat, and let it be something good beyond imagination.” So the
Jinni vanished for a moment and brought him a magnificent tray of great price,
made of pure silver, on which were twelve dishes of various foods and delicious
dainties, and two cups of silver and flagons of clear old wine, and bread
whiter than snow; and he set them before ‘Ala-ed-Din and vanished. And
‘Ala-ed-Din arose and sprinkled water on his mother’s face and made her smell
pungent perfumes, and she revived. Then he said: “O my mother, come and eat of
this food which God Most High hath provided for us.” And when his mother saw
the beautiful table, that it was of silver, she marvelled at this affair, and
said: “O my son, who is this generous benefactor that hath satisfied our hunger
and lightened our poverty? Verily we are in his debt, and I am thinking that
the Sultan, seeing our case and our poverty, sent this tray of food to us
himself.” “O my mother,” he answered, “this is not a time for speculation;
come, let us eat, for we are an-hungered.” So they went and sat down to the
tray and fell to eating, and ‘Ala-ed-Din’s mother tasted viands such as never
in all her life had she eaten the like thereof. So they ate heartily with the
utmost appetite from the violence of their hunger; moreover, the food was fit
for Kings. But they knew not if the tray were precious or not, for they had
never seen its like in their born days. And when they had done eating (but they
left enough for supper and to last for the next day), they arose and washed
their hands and sat down to talk, and ‘Ala-ed-Din’s mother turned to her son
and said: “O my son, tell me what took place with the Slave, the Jinni, now
that God be praised, we have eaten and satisfied ourselves from his good
things, and thou hast no excuse for saying to me, ‘I am hungry.’” So,
‘Ala-ed-Din told her all that had taken place between him and the Slave, while
she was fallen in a swoon from affright. And sore amazement took hold upon her,
and she said to him: “It is true, for the Jinn do appear before the son of
Adam, though I, O my child, in all my days have never seen them; and I am
thinking that this is the same that appeared to thee in the Treasury.” But he
replied: “It is not he, O my mother; this slave who appeared before thee is the
Slave of the Lamp.” And when she heard these words she said: “How is that, my
son?” And he answered her: “This slave is different in aspect from that; and
that one was the Slave of the Ring, and this which thou sawest is the Slave of
the Lamp which was in thy hand.”
And
when she heard this she said: “Aha! that accursed, who appeared to me and
nearly killed me with fright, belonged to the Lamp!” “Yes,” he said, and she
continued: “I adjure thee, O my son, by the milk which thou didst suck from me
cast away this Lamp and Ring, since they will cause us great fear, and as for
me, I cannot bide a second time to look at them. And it is forbidden us to deal
with them, since the Prophet (God bless and save him!) hath warned us against
them” And he said to her; “O my mother, thy behests be on my head and my eye!
Yet as to this behest which thou hast spoken, it is not possible for me to
abandon either the Lamp or the Ring. Thyself hast seen what good they did us
when we were an-hungered; and know, O my mother, that the Moor the liar, the
sorcerer, when I was sent down to the Treasury, wanted nought of the gold and
silver of which the four chambers were full, but commanded me only to bring him
the Lamp, and nought besides, because he knew its great value, and unless he
had known that this was immense, he had not toiled and laboured and journeyed
from his own country to ours in search of it, nor would he have imprisoned me
in the Treasury when he despaired of the Lamp, when I would not give it to him.
Therefore, O my mother, it behooveth us to hold fast by this Lamp and take care
of it, for it is our sustenance, and shall make us rich, and we must not
publish it abroad to anyone. And as touching the Ring, in like manner I may not
take it off my finger, since but for this ring thou hadst not seen me again
alive, but I should have lain dead within the Treasury under the ground. Then
how can I take it off my hand? And who knoweth what may befall me in life of
troubles and perils and sore calamities, from which this Ring may deliver me? Only
in deference to thy wishes I will conceal the Lamp, and never again constrain
thee to look upon it.” And when his mother had heard his words and had well
weighed them, she perceived they were right, and said to him: “O my son, do as
thou wilt; for myself, I wish never to see them again, nor would I willingly
witness once more the terrible sight which I have seen.”
‘Ala-ed-Din
and his mother continued eating of the viands which the Jinni had brought them,
two days, and then they were done. So perceiving that nothing remained to them
to eat, he arose, and took one of the plates which the slave had brought on the
tray, which were of pure gold, though he knew it not; and he went with it to
the market. And there met him a Jew, viler than the devils, and to him he
offered the plate. And when the Jew saw it, he took ‘Ala-ed-Din aside so that
none should see, and examined the plate carefully and assured himself that it
was of fine gold; and not knowing whether ‘Ala-ed-Din was acquainted with its
worth or was inexperienced in such things, he said to him: “How much, O my
master, is this dish?” And ‘Ala-ed-Din answered, “Thou knowest its value.” And
the Jew considered how much he should bid for it, since ‘Ala-ed-Din had
answered him a business-like answer; so he thought to offer him a small price,
and yet he feared that ‘Ala-ed-Din might know the value of it and expect to receive
a high price. So he said within himself: “Perchance he is ignorant of it and
knoweth not the value.” Then he took from his pocket a dinar of gold and gave
it him. And when ‘Ala-ed-Din had looked at the piece of gold in his hand, he
took it and quickly went away. So the Jew knew that the youth did not
understand the value of the plate, so he repented with abject repentance that
he had given him a dinar instead of a carat of a sixtieth. ‘Ala-ed-Din
meanwhile did not tarry, but went to the baker’s and bought of him bread and
changed the dinar and took and went to his mother and gave her the bread and
the change of the gold, and said to her: “O my mother, go and buy for us what
we need.” And she arose and went to the market and bought all they required,
and they ate and were merry. And every time the price of a plate was exhausted,
‘Ala-ed-Din took another and went with it to the Jew, and the accursed Hebrew
bought it of him for a pitiful price; and he would have reduced the price
further, but he was afraid, as he had given him a dinar the first time, that if
he reduced it the youth would go away and sell to some one else, and he would
thus lose his usurious gains. And ‘Ala-ed-Din ceased not to sell plate after
plate till all were sold, and there remained only the tray on which the plates
were set; and as this was large and heavy, he went and brought the Jew to his
house, and shewed him the tray, and when he saw its size he gave him ten
dinars, which ‘Ala-ed-Din took, and the Jew departed. And ‘Ala-ed-Din and his mother
subsisted on the ten dinars till they were done.
Then
‘Ala-ed-Din arose and fetched the Lamp, and rubbed it, and there appeared
before him the Slave who had appeared to him before. And the Jinni said to him:
“Command what thou wilt, O my master, for I am thy slave and the slave of him
who possesseth the Lamp.” And ‘Ala-ed-Din answered: “My desire is that thou
bring me a tray of food like unto that which thou didst bring me before, for I
am starving.” Then, in the twinkling of an eye, the Slave brought him a tray,
like the one he came with before; and on it were twelve plates of the richest,
and on them the proper viands; and on the tray were also bottles of clear wine
and white bread. Now ‘Ala-ed-Din’s mother had gone forth when she knew that her
son intended to rub the Lamp, that she might not look a second time upon the
Jinni; and presently she came home and perceived this tray, covered with dishes
of silver, and the odour of rich viands permeating her house; and she wondered
and rejoiced. And ‘Ala-ed-Din said to her: “See, O my mother, thou didst tell
me to cast away the Lamp; behold now its advantages!” And she answered: “O my
son, God multiply his weal! but I would not look upon him.” Then ‘Ala-ed-Din
and his mother sat down to the tray, and ate and drank till they were
satisfied; and they put aside what was left for the morrow. And when the food
they had was finished, ‘Ala-ed-Din arose and took a plate of the plates of the
tray under his garment and sallied forth in quest of the Jew to sell it to him;
but by the decrees of destiny he passed by the shop of a jeweller, who was a
just man and feared God. And when the jeweller sheykh saw ‘Ala-ed-Din he
questioned him, saying: “O my son, what dost thou want? for I have seen thee
often passing by, and thou wast dealing with a Jewish man, and I have seen thee
making over to him various things, and I am thinking that thou hast something
with thee now, and thou seekest him to buy it. But thou dost not know, O my
son, that the property of the Muslims, who profess the Unity of God Most High,
is fair spoil to the Jews, who always defraud them, and worst of all this
damned Jew with whom thou hast dealt and into whose hands thou hast fallen. So
if thou hast with thee, O my son, anything thou wishest to sell, shew it me,
and fear not at all, for I will give thee its value by the truth of the Most
High God.” So ‘Ala-ed-Din produced the plate before the sheykh, who when he had
looked upon it, took it and weighed it in his balance, and questioned
‘Ala-ed-Din and said: “Didst thou sell the like of this to the Jew?” And he answered,
“Yes, its like and its brother.” And the other said: “How much did he give thee
for its price?” And he answered, “He gave me a dinar.” And when the sheykh
heard from ‘Ala-ed-Din that the Jew had given him only a single dinar for the
price of the plate, he exclaimed: “Woe to this accursed who cheats the servants
of the Most High God!” And looking at ‘Ala-ed-Din he said: “O my son, verily
this rascally Jew hath cheated thee and mocked at thee; for thy plate is of
fine virgin silver; and I have weighed it and found its value to be seventy
dinars. So if thou wilt take its price, take it.” And the jeweller sheykh
counted out to him seventy dinars, and ‘Ala-ed-Din took them, and thanked him
for his kindness in shewing him the Jew’s fraud. And whenever the price of a
plate was gone, he went and brought another, so that he and his mother became
well to do, though they ceased not to live as of old, as middle-class people,
without excess or waste.
‘Ala-ed-Din
had cast aside his gracelessness and shunned vagabonds, and chose for his
companions upright men, and went every day to the market of the merchants and
sat with the great and the small of them, and asked them concerning matters of
business and the price of investments and the rest. And he would visit the
market of the goldsmiths and jewellers; and there he would sit and divert
himself with looking at the jewels and how they were bought and sold there. And
thus he learned that the pockets full of fruit which he had gathered in the
Treasury were not of glass or crystal, but were precious stones. And he knew
that he had become possessed of vast riches such as Kings could never amass.
And he examined all the stones that were in the market of the jewellers and
found that their very biggest was not equal to his smallest. And he ceased not
each day to saunter to the Bazar of the Jewellers and make acquaintance with
the people, and obtain their good-will, and inquire of them concerning buying
and selling and taking and giving and the dear and the cheap; till one day,
after rising betimes and putting on his dress, he went as was his wont to the
Bazar of the Jewellers, and as he passed he heard the herald calling thus: “By
command of the gracious patron, King of the Time, Lord of the Age and the
Season: now let all the people close their stores and shops and enter in unto
their houses, because Bedr-el-Budur, the daughter of the Sultan, intendeth to
visit the bath; and whoso disobeyeth the order, death is his penalty, and his
blood be on his own head.” And when ‘Ala-ed-Din heard this proclamation, he
longed to look upon the Sultan’s daughter, and said within himself: “Verily all
the folk talk of her beauty and loveliness, and the summit of my ambition is to
behold her.”
So
‘Ala-ed-Din set himself to seek a way whereby he might attain to a sight of the
daughter of the Sultan, the Lady Bedr-el-Budur; and it seemed best to him to
stand behind the door of the Hammam, so as to see her face when she came in.
Accordingly, without any delay, he went to the bath before she was expected and
stood behind the door, a place where no one could see him; and when the
daughter of the Sultan drew near, after going about the city and its quarters
and diverting herself thereby, she came to the bath, and on entering, lifted
her veil and displayed her face, as it were a radiant sun or a pearl of great
price; for she was as the poet sang:
Borders
of kohl enhance the witchery of her glance,
Gardens
of roses are her damask cheeks,
Black
are her tresses as the gloomy night,
Illumined
by the glory of her brow.
When
the princess raised her veil from her face and ‘Ala-ed-Din looked upon her, he
said: “Of a surety her make magnifieth the Mighty Maker, and extolled be he who
made her and adorned her with such beauty and loveliness!” His vigour became
weak at the sight of her, and his thoughts became distraught, and his sight
bewildered, and love of her got hold of his whole soul; and he went home and
returned to his mother like one in a dream. And his mother spake to him, but he
replied not yea or nay; and she set before him breakfast, but he remained in
the same state. So she said to him: “O my son, what hath befallen thee? Doth
anything distress thee? Tell me what hath happened to thee, for thou, contrary
to thy wont, repliest not when I speak to thee.” Then ‘Ala-ed-Din,—who had
believed that all women were like his mother, and though he had heard of the
beauty of Bedr-el-Budur, the daughter of the Sultan, yet knew not what this
beauty and loveliness might mean,—turned to his mother and said to her, “Let me
alone.” But she urged him to come and eat; so he came and ate a little, and
then lay on his bed pondering till morning dawned. And he ceased not from this
state the next day, so that his mother was perplexed for her son’s condition
and could not find out what had come over him. And she believed he was
seriously sick, and came and asked him, saying: “O my son, if thou feel pain or
anything of the kind, tell me, that I may go and bring thee a physician; and
this very day there is in this city a doctor from the land of the Arabs whom
the Sultan sent for, and the rumour goeth that he is very skillful. So if thou
be sick, let me go and call him in.”
When
‘Ala-ed-Din heard that his mother wished to bring him a physician, he said to
her: “O my mother, I am well, and not sick at all. But I always believed that
all women resembled thee, until yesterday I saw the Lady Bedr-el-Budur, the
daughter of the Sultan, going in to the bath.” And he told her all that had
betided him, and said: “Perhaps thou didst also hear the herald calling: ‘Let
no man open his shop or stay in the streets, that the Lady Bedr-el-Budur may go
to the Bath.’ But I did look upon her, even as she is, because she lifted her
veil at the entering of the bath. And when I gazed on her form and saw that
noble shape, there seized me, O my mother, a violent ecstasy of love for her,
and a fixed resolve to win her possesseth every part of me; nor can I possibly
rest until I gain her. And I intend, therefore, to demand her of the Sultan,
her father, in lawful wedlock.” And when his mother heard his words she feared
for his reason, and said: “O my son, God’s name be on thee! for it is plain
thou hast lost thy reason, my son. But be guided, and be not as the insane.”
And he answered: “O my mother, I have not lost my reason, nor am I mad, nor can
thy words alter what is in my mind, for peace is impossible to me till I win
the beloved of my heart, the lovely Lady Bedr-el-Budur. And I am determined to
demand her of her father, the Sultan.” And she said to him: “O my son, by my
life, say not so, lest any one hear thee and say thou art mad. Put away from
thee this folly; for who should do a thing like this, to ask it of the Sultan?
And I know not how thou wilt set to work to ask this favour of the Sultan, even
if thy speech be true, or through whom thou wilt ask it.” And he answered:
“Through whom, O my mother, should I make this request, when I have thee? And
whom have I more trusty than thee? It is my wish that thou thyself ask this
request.” And she said: “O my son, God preserve me from this! Have I lost my
reason like thee? Cast away this thought from thy soul, and think whose son
thou art, my son, the child of a tailor, of the poorest and meanest of the
tailors to be found in this city; and I, too, thy mother, come of very poor
folk. So how dost thou presume to ask in marriage a daughter of the Sultan, who
would not deign to marry her to any of the Kings and Sultans, unless they were
his equals in grandeur and honour and majesty; and were they less than he but a
single degree he would not give them his daughter.”
~
‘Ala-ed-Din
waited patiently till his mother had ended her speech, and then said: “O my
mother, all that thou recallest I know, and it is familiar to me that I am the
son of the poor; but all these thy words cannot change my purpose in the least,
nor do I the less expect of thee, as I am thy son and thou lovest me, to do me
this kindness; otherwise thou wilt undo me, and speedy death is upon me; unless
I obtain my desire of the darling of my heart; and in any case, O my mother, I
am thy child.” And when she heard his words she wept in her grief for him, and
said: “O my son, yea verily I am thy mother, nor have I child or blood of my
blood save thee; and the height of my desire is to rejoice in thee and wed thee
to a wife; but if I seek to ask for thee a bride of our equals and peers, they
will ask at once if thou hast trade or merchandise or land or garden, to live
on. And what can I answer them? And if I cannot answer the poor people, our
likes, how shall I venture upon this hazard and dare this impertinence, O my
son, and by what means shall I ask for thee of the Sultan his daughter, and
howsoever shall I compass access to the Sultan’s presence? And if they question
me, what shall I answer? And probably they will take me for a mad woman. And
supposing I gain access to the presence, what shall I take him as an offering
to his Majesty?
And
she went on: “O my child, the Sultan indeed is clement, and never rejecteth him
who approacheth him to ask of him equity or mercy or protection. Ask him for a
gift, for he is generous, and granteth grace far and near. But he granteth his
favour to those who deserve it, either having done something before him in
battle or otherwise served their country. Then as for thee, tell me what hast
thou done before the Sultan’s eyes or publicly, that thou shouldst merit this
grace? And again, this grace which thou askest becometh not our rank, and it is
not possible that the King should give thee the favour which thou wouldst ask.
And whoso approacheth the Sultan to ask favours, it behooveth him to take with
him something befitting his majesty, as I said to thee; and how canst thou
possibly present thyself before the Sultan, and stand before him and ask his
daughter of him when thou hast nothing with thee to offer him suitable to his
rank? And ‘Ala-ed-Din replied: “O my mother, thou speakest aright and thinkest well,
and it behooveth me to consider all that thou hast brought to mind. But, my
mother, the love of the Sultan’s daughter, the Lady Bedr-el-Budur, hath
penetrated into the core of my heart, and peace is impossible to me unless I
win her. But thou hast reminded me of something I had forgotten, and this very
thing doth embolden me to ask of him his daughter. Thou sayest, O my mother,
that I have no offering to make to the Sultan, as is the custom of the folk,
yet as a fact I have a gift to present the equal of which I think doth not
exist among the Kings anywhere, nor anything approaching it; for verily what I
thought to be glass or crystal is nothing but precious stones; and I believe
that all the Kings of the world have never owned aught to equal the least of
them. For by visiting the jewellers I learned that these are the costliest
jewels which I brought in my pockets from the Treasury. Therefore be tranquil.
In the house is a china bowl; arise, therefore, and fetch it, that I may fill
it with these jewels, and we will see how they look in it.” And his mother
arose and went for the china bowl, and said within herself: “Let me see if the
words of my son concerning these jewels be true or not.” And she set the bowl
before ‘Ala-ed-Din, and he drew from his pockets the bags of jewels, and began
to arrange them in the bowl, and ceased not to set them in order until it was
full; and when it was quite full his mother looked into it, and could not see
into it without blinking, for her eyes were dazzled by the sheen of the jewels
and their radiance and the excess of their flashing. And her reason was
confounded, though she was not certain whether or not their value was so vastly
great; but she considered that her son’s speech might possibly be true—that
their equals could not be found among the King’s. Then ‘Ala-ed-Din turned to
her and said: “Thou hast seen, O my mother, that this gift for the Sultan is
splendid, and I am convinced that it will procure thee great favour from him,
and he will receive thee with all honour. So now, O my mother, thou hast no
excuse; collect, therefore, thy faculties and arise; take this bowl and go with
it to the palace.” And his mother replied: “O my son, certainly the present is
exceeding precious, and none, as thou sayest, possesseth its equal. But who
would dare to approach and ask of the Sultan his daughter, the Lady
Bedr-el-Budur? As for me, I dare not to say to him, ‘I want thy daughter’ when
he asketh me ‘What is thy want?’ But I know, O my son, that my tongue will be
tied. And suppose that, by God’s help, I pluck up my courage and say to him:
‘It is my desire to become related to thee by thy daughter, the Lady
Bedr-el-Budur and my son ‘Ala-ed-Din,’ they will conclude forthwith that I am
possessed, and will cast me forth in shame and disgrace, till I tell thee not
only that I shall run in danger of death, but thou wilt likewise. Yet, in spite
of all this, O my son, in deference to thy wish, I needs must pluck up heart
and go. But if the King welcome me and honour me on account of the gift, and I
should ask of him what thou wishest, how shall I reply when he asketh me, as is
usual, What is thy condition and thy income? Haply, O my son, he will ask me
this before he asketh me who thou art.” And ‘Ala-ed-Din answered: “It is
impossible that the Sultan should thus question thee after looking at the
precious stones and their splendor; nor doth it boot to consider things which
may not happen. Do thou only arise and ask him for his daughter for me, and
offer him the jewels, and do not sit there inventing obstacles. Hast thou not
already learned, O my mother, that this Lamp of mine is now a firm maintenance
for us, and that all I demand of it is brought to me? And this is my hope, that
by its means I shall know how to make answer to the Sultan if he ask me thus.”
And
‘Ala-ed-Din and his mother kept talking over the matter all that night. And
when morning dawned his mother arose and plucked up courage, the more as her
son had explained to her somewhat of the properties of the Lamp and its
virtues—that it would supply them with all they wanted. ‘Ala-ed-Din, however,
when he saw that his mother had plucked up courage on his explaining to her the
effects of the Lamp, feared lest she should gossip about it to the people, and
said to her: “O my mother, take heed how thou tellest any one about the Lamp
and its virtues, for this is our own benefit. Restrain thy thought, lest thou
babble to any one about it, for fear we lose it and lose the benefit which we
possess from it.” And his mother answered, “Fear not for that, O my son.” And
she arose and took the bowl of precious stones and passed forth early, that she
might reach the audience before it was crowded. And she covered the bowl with a
kerchief, and went to the palace, and when she arrived the audience was not
full; and she saw the ministers and sundry of the magnates of the state
entering to the presence of the Sultan. And presently the levee was completed
by the wezirs and lords of the state and grandees and princes and nobles. Then
the Sultan appeared, and the ministers bowed down before him, and in like
manner the rest of the grandees and nobles. And the Sultan seated himself on
the divan on the kingly throne, and all who attended the levee stood before him
with crossed arms awaiting his command to be seated. And he ordered them to
sit, and every one of them sat down in his order. Then the petitioners
presented themselves before the Sultan, and he decided everything, as usual,
until the audience was over; when the King arose and went in to the palace, and
every soul departed his own way. And when ‘Ala-ed-Din’s mother saw the Sultan
had risen from his throne and gone into the Harim, she too took her departure
and went her way to her house. And when ‘Ala-ed-Din perceived her, and saw the
bowl in her hand, he thought that probably some accident had befallen her, but
he did not wish to question her until she was come in and had set down the
bowl. Then she related to him what had happened, and ended by saying: “Praise
be to God, my son, that boldness came to me, and I found a place in the levee
this day, although it did not fall to my lot to address the Sultan. Probably,
if it please God Most High, to-morrow I will speak to him. Indeed, to-day many
of the people could not address the Sultan, like me. But to-morrow, my son, be
of good cheer, since I must speak to him for the sake of thy desire, and how
shall what happened happen again?” And when ‘Ala-ed-Din heard his parent’s
words he rejoiced with exceeding joy; and though he expected the affair from
hour to hour, from the violence of his love and yearning for the Lady
Bedr-el-Budur, for all that he practised patience. So they slept that night,
and in the morning his mother arose and went with the bowl to the audience of
the Sultan; but she found it closed. So she asked the bystanders, and they told
her that the Sultan did not hold an audience continually, but only thrice a
week.
So
she resolved to return home that day. And every day she went, and when she saw
the audience begin she would stand before the Sultan till it was over, and then
she would return; and next day she would go to see if the court were closed;
and in this manner she went for a whole month. Now the Sultan had perceived her
at every levee, and when she came on the last day and stood before the
presence, as was her wont, until it was over, without having courage to come
forward or address him a word, and the Sultan had risen and gone to his Harim,
and his Grand Wezir with him, the Sultan turned to him and said: “O Wezir, six
or seven days at each audience have I seen that old woman presenting herself
here; and I see she always carries something under her cloak. Tell me, O Wezir,
knowest thou aught of her and her business?” And the Wezir answered: “O our
lord the Sultan, verily women are wanting in sense; probably this woman hath
come to complain to thee of her husband or one of her people.” But the Sultan
was not satisfied with the Wezirs reply, but commanded him, if the woman came
again to the levee, to bring her before him. So the Wezir put his hand on his
head and said: “I hear and obey, O our lord the Sultan.”
Now
the mother of ‘Ala-ed-Din was wont to set forth every day to the audience and
stand in the presence before the Sultan, although she was sad and very weary;
yet for the sake of her son’s desire she made light of her trouble. And one day
she came to the levee, as usual, and stood before the Sultan, who when he saw
her ordered his Wezir, saying: “This is the woman I spake of to thee yesterday;
bring her instantly before me that I may inquire into her suit and decide her
business.” And straightway the Wezir arose and brought ‘Ala-ed-Din’s mother to
the Sultan. And when she found herself in the presence, she performed the
obeisance and invoked glory upon him, and long life and perpetual prosperity;
and she kissed the ground before him. And the Sultan said to her: “O woman, for
some days have I seen thee at the levee, and thou hast not addressed a word to
me; tell me if thou hast a want, that I may grant it.” So she kissed the ground
again and invoked blessings upon him, and said: “Yea, by the life of thy head,
O King of the Age, verily have I a suit. But, first of all grant me immunity,
if I can present my suit to the hearing of our lord the Sultan, for perhaps thy
Felicity may find my petition strange.” So the Sultan, wishing to know what was
her petition, and being endowed with much mildness, promised her immunity, and
at once ordered all who were there to depart, and remained alone, he and the
Wezir.
Then
the Sultan, turning to her, said: “Explain thy suit, and the protection of God
Most High be on thee.” But she answered: “O King of the Age, I shall need thy
pardon also.” And he replied, “God pardon thee.” Then she said: “O our lord the
Sultan, verily I have a son whose name is ‘Ala-ed’-Din. One day of the days he
heard the herald proclaiming that none should open his shop or appear in the
streets of the city, because the Lady Bedr-el-Budur, the daughter of our lord
the Sultan, was going to the bath. And when my son heard that, he longed to see
her, and hid himself in a place where he would be able to look upon her
closely, and that was behind the gate of the Hammam. So when she drew near, he
looked upon her and gazed full upon her as much as he liked; and from the
moment he saw her, O King of the Age, to this instant, life hath been
intolerable to him; and he hath desired me to ask her of thy Felicity that he
may wed her. I have not been able to banish this fancy from his mind, for the
love of her hath taken possession of his heart, so that he told me: “Be
assured, O my mother, that if I do not obtain my desire, without doubt I shall
die.’ So I trust for clemency and pardon from thy Felicity for this hardihood
of mine and my son’s, and punish us not for it.”
When
the King had heard her story, looking kindly at her, he fell a-laughing, and
asked her: “What is it thou hast with thee, and what is this bundle?” Then the
mother of ‘Ala-ed-Din, perceiving that the Sultan was not wroth at her speech,
but rather laughing, forthwith opened the cloth and set before him the bowl of
jewels. And when the Sultan saw the stones, after the cloth was taken off, and
how the hall was lighted up, as it were, by chandeliers and lustres, he was
dazed and amazed at their sparkling, and wondered at their size and splendour
and beauty, saying:—“To this day have I never seen the like of these jewels for
beauty and size and loveliness, nor do I believe that there is in my treasury a
single one equal to them.” The turning to his Wezir, he said: “What sayest
thou, O Wezir, hast thou seen, thou in thy time, the like of these splendid
jewels?”
And
the Wezir answered: “Never have I seen such, O our lord the Sultan, and I do
not think that the smallest of them is to be found in the treasuries of my lord
the King.” And the King said to him: “Verily he who hath presented me with
these jewels is worthy to be the bridegroom of my daughter Bedr-el-Budur, for,
methinks, as far as I can see, none is worthier of her than he.” When the Wezir
heard this speech of the Sultan, his tongue became tied with vexation, and he
grieved with sore grieving, because the King had promised to marry the Princess
to his son. So after a little he said to him: “O King of the Age, thy Felicity
was graciously pleased to promise the Lady Bedr-el-Budur to my son: it is
therefore incumbent on thy Highness to graciously allow three months, when,
please God, there shall be a present from my son more splendid even than this.”
So the King, though he knew that this thing could not be accomplished either by
the Wezir or by any of the grandees, yet of his kindness and generosity granted
a delay of three months, as he had asked. And turning to the old woman,
‘Ala-ed-Din’s mother, he said: “Go back to thy son, and tell him I have given
my royal word that my daughter shall bear his name, but it is necessary to
prepare her wardrobe and requisites, and so he will have to wait three months.”
‘Ala-ed-Din’s
mother accepted this answer, and thanked the Sultan and blessed him, and
hastened forth, and almost flew with delight till she came home and entered.
And ‘Ala-ed-Din her son saw how her face was smiling; so he was cheered by the
hope of good news; moreover, she had come back without loitering as heretofore,
and had returned without the bowl. So he asked her, saying: “If it please God,
my mother, thou bringest me good news, and perhaps the jewels and their rarity
have had their effect, and the Sultan hath welcomed thee and been gracious to
thee and hearkened to thy request?” And she related it all to him—how the
Sultan had received her and marvelled at the multitude of the jewels and their
size; and the Wezir also; and how he had promised that “his daughter shall bear
thy name; only, O my son, the Wezir spake to him a private word before he
promised me, and after the Wezir had spoken he covenanted for a delay of three
months; and I am afraid the Wezir will be hostile to thee and try to change the
mind of the King.”
When
‘Ala-ed-Din heard the words of his mother and how the Sultan had promised him
after three months, his soul was relieved and he rejoiced exceedingly, and
said: “Since the Sultan hath promised for three months, though it is indeed a
long time, on all accounts my joy is immense.” Then he thanked his parent and
magnified her success above her toil, and said: “By Allah, O my mother, just
now I was, as it were, in the grave, and thou hast pulled me out; and I praise
God Most High that I am now sure that there liveth none richer or happier than
I.” Then he waited in patience till two months of the three were gone.
One
day of the days the mother of ‘Ala-ed-Din went forth about sunset to the market
to buy oil and beheld all the bazars closed, and the whole city deserted, and
the people were putting candles and flowers in their windows; and she saw
troops and guards and cavalcades of aghas, and lamps and lustres flaming. And
wonder gat hold of her at this marvel and gala, and she went to an oilman’s
shop which was still open, and having bought the oil, said to the dealer: “O
Uncle, inform me what is the occasion to-day in the city, that the people make
such adornment, and the markets and houses are all closed and the troops
paraded?” And the oilman answered: “O woman, I suppose thou art a stranger, not
of this city.” But she said, “Nay, I am of this city.” So he cried: “Art thou
of this city, and hast not heard that the son of the chief Wezir this night is
to unite himself to the Lady Bedr-el-Budur, the daughter of the Sultan, and he
is now at the bath; and these officers and soldiers are drawn up waiting to see
him come forth from the bath and accompany him to the palace into the presence
of the daughter of the Sultan!”
When
the mother of ‘Ala-ed-Din heard his words she was sad and perplexed in her mind
how she should contrive to break this dismal news to her son, for her unhappy
boy was counting hour by hour till the three months should be over. So she
returned home after a little, and when she had come and entered to her son she
said: “O my son, I would fain tell thee certain tidings, though thy grief
thereat will cost me dear.” And he answered, “Tell me, what is this news.” And
she said: “Verily the Sultan hath violated his covenant to thee in the matter
of his daughter the Lady Bedr-el-Budur, and this night the Wezir’s son goeth in
to her. And O my child, I have long suspected that the Wezir would change the
Sultan’s mind, as I told thee how he spake privily to him before me.” Then
‘Ala-ed-Din asked her: “How knowest thou that the Wezir’s son is going in this
night to the Lady Bedr-el-Budur, the daughter of the Sultan?” So she told him
about all the decorations she had noticed in the town when she went to buy oil,
and how the aghas and grandees of the state were drawn up waiting for the
Wezir’s son to come forth from the bath, and how this was his nuptial night.
When he learnt this, ‘Ala-ed-Din was seized with a fever of grief, till after a
while he bethought him of the Lamp. Then he cheered up, and said: “By thy life,
O my mother, suppose the Wezir’s son should not enjoy her, as thou thinkest.
But now let us cease this talk, and arise; bring our supper, that we may eat,
and after I have retired awhile within my chamber all will be well.”
So
after supper ‘Ala-ed-Din withdrew to his chamber and fastened the door and took
out the Lamp and rubbed it, and immediately the Slave came and said: “Ask what
thou wilt, for I am thy slave, the slave of him who hath the Lamp, I and all
the servants of the Lamp.” And ‘Ala-ed-Din said: “Listen. I asked the Sultan
that I might marry his daughter, and he promised me, in three months; but he
hath not kept his word, but hath given her to the son of the Wezir, and this
very night it is his intention to go in to her. But I command thee, if thou be
a true servant of the Lamp, that when thou seest the bride and bridegroom
together this night thou bring them in the bed to this place. This is what I
require of thee.” And the Marid answered: “I hear and obey; and if thou hast
any other behest, besides this, command me in all thou desirest.” But
‘Ala-ed-Din said: “I have no other command save that which I have told thee.”
So the Slave vanished, and ‘Ala-ed-Din returned to finish the evening with his
mother. But when the time came when he expected the Slave’s return, he arose
and entered his chamber, and soon after beheld the Slave with the bridal pair
on their bed. And when ‘Ala-ed-Din saw them he rejoiced with great joy. Then
said he to the Slave: “Take away yonder gallows-bird and lay him in a closet.”
And immediately the Slave bore the Wezir’s son and stretched him in a closet,
and before leaving him he blew a cold blast on him, and the state of the
Wezir’s son became miserable. Then the Slave returned to ‘Ala-ed-Din and said:
“If thou needest aught else, tell me.” And ‘Ala-ed-Din answered, “Return in the
morning to restore them to their place.” So he said, “I hear and obey,” and
vanished.
Then
‘Ala-ed-Din arose, and could hardly believe that this affair had prospered with
him. But when he looked at the Lady Bedr-el-Budur in his own house, although he
had long been consumed with love of her, yet he maintained an honourable
respect towards her, and said: “O Lady of Loveliness, think not that I brought
thee here to harm thine honour; nay, but only that none other should be
privileged to enjoy thee, since thy father the Sultan gave me his word that I
should have thee. So rest in peace.” But when Bedr-el-Budur found herself in
this poor and dark house, and heard the words of ‘Ala-ed-Din, fear and
shuddering took hold of her, and she was dazed, and could not make him any
reply. Then ‘Ala-ed-Din arose and stripped off his robe, and laying a sword between
himself and her, slept beside her in the bed, without doing her wrong, for he
wished only to prevent the nuptials of the Wezir’s son with her. But the Lady
Bedr-el-Budur passed the worst of nights; she had not passed a worse in all her
life; and the Wezir’s son, who slept in the closet, dared not move from his
fear of the Slave which possessed him.
When
it was morning, without any rubbing of the Lamp, the Slave appeared to
‘Ala-ed-Din, and said: “O my master, if thou desirest anything, command me,
that I may perform it on the head and the eye.” So ‘Ala-ed-Din said: “Go bear
the bride and bridegroom to their place.” And in the twinkling of an eye the
Slave did as ‘Ala-ed-Din bade him, and took the Wezir’s son and the Lady
Bedr-el-Budur and carried them and restored them to their place in the palace,
as they had been, without seeing any one, though they almost died of fear when
they found themselves being carried from place to place. Hardly had the Slave
put them back again and departed, when the Sultan came to visit his daughter.
And when the Wezir’s son heard the door open, he forthwith leaped from the bed,
for he knew that none but the Sultan could come in at that time; but it was
exceedingly disagreeable to him, for he wished to warm himself a little, since
he had not long left the [cold] closet; however, he arose and put on his
clothes.
The
Sultan came in unto his daughter the Lady Bedr-el-Budur, and kissed her between
the eyes and wished her good-morning, and asked her concerning her bridegroom,
and whether she was content with him. But she made him never an answer, but
looked at him with an eye of anger; and he asked her again, and she remained
silent and said not a word to him. So the Sultan went his way and departed from
her house, and went to the Queen, and told her what had befallen him with the
Lady Bedr-el-Budur. Then the Queen, loth to have him vexed with the Princess,
said to him: “O King of the Age, this is the way with most brides in their
honeymoon; they are shy, and a trifle whimsical. So chide her not, and soon she
will return to herself and converse with people; for now it is her modesty, O
King of the Age, that preventeth her speaking. However, it is my intention to
go and visit her.”
So
the Queen arose and put on her robes and went to her daughter the Lady
Bedr-el-Budur, and approached her and gave her good-day, and kissed her betwixt
the eyes. And the Princess answered her never a word. So the Queen said to
herself: “Some strange thing must have happened to her to disquiet her thus.”
So she asked her: “O my daughter, what is the cause of the state thou art in?
Tell me what hath come to thee, that when I visit thee and bid thee good-day,
thou answerest me not.” Then Bedr-el-Budur turned her head and said to her:
“Chide me not, O my mother; it was indeed my duty to meet thee with all regard
and reverence, since thou hast honoured me by this visit. However, I beg thee
to hear the reason of this my behaviour, and see how this night which I have
passed hath been the worst of nights for me. Hardly had we gone to bed, O
mother, when one whose shape I know not lifted up the bed and bore us to a
dark, loathly, vile place.” And she related to her mother the Queen all that
had happened to her that night, and how they had taken away her bridegroom and
she had been left alone, till presently another youth came and slept, instead
of her husband, and placed a sword betwixt them. “And in the morning he who
took us returned to carry us back, and came with us to this our abode. Hardly
had he restored us to it and left us, when my father the Sultan entered at the
very hour of our return, and I had not heart or tongue to speak to him from the
greatness of the fear and trembling which had come over me. And perhaps it may
have vexed my father; so I pray thee, O my mother, tell him the reason for my
condition, that he may not blame me for my lack of reply to him, but instead of
censure, excuse me.”
When
the Queen heard the words of her daughter the Lady Bedr-el-Budur, she said to
her: “O my child, calm thyself. If thou wert to tell this story to any one, it
might be said that the daughter of the Sultan had lost her wits, and thou hast
well done in not telling thy father this tale; and beware, my daughter, beware
of telling him thereof.” But the Princess answered her: “Mother, I have spoken
to thee sensibly, and I have not lost my wits, but this is what hath happened
to me; and if thou dost not believe it when I say it, ask my bridegroom.” Then
the Queen said to her: “Arise, now, my daughter, and away with such fancies
from thy mind; put on thy robes and view the bridal fete which is going on in
the city in thy honour and the rejoicings that are taking place all over the
realm for thy marriage; and listen to the drums and songs, and look at these
decorations, all done for the sake of pleasing thee, my daughter.” Thereupon
the Queen summoned the tirewomen, and they robed the Lady Bedr-el-Budur and straightened
her up. And the Queen arose and went to the Sultan and told him that the
Princess had been troubled that night with dreams and nightmare, and added:
“Chide her not for her lack of answer to thee.” Then she summoned the Wezir’s
son secretly, and asked him concerning the matter, and whether the story of the
Princess were true or not; but he, in his fear of losing his bride from out his
hand, answered: “O my sovereign lady, I know nothing of what thou sayest.” So
the Queen was sure that her daughter had been distraught by nightmare and
dreams. The festivities lasted all day, with ‘Almehs and singers and the
beating of all sorts of instruments, and the Queen and the Wezir and the
Wezir’s son did their utmost to keep up the rejoicing, so that the Lady Bedr-el-Budur
might be happy and forget her trouble; and all day they left nothing that
incited to enjoyment undone before her, that she might forget what was in her
mind and be content. But all this had no influence upon her; she remained
silent and sad and bewildered at what had befallen her that night. Worse indeed
had happened to the Wezir’s son than to her, since he passed the night in a
closet; but he had denied the fact and banished this calamity from his mind,
because of his fear of losing his bride and his distinction, especially as all
men envied him the connection and the exceeding honour thereof; and, moreover,
because of the splendour of the bride’s loveliness and her excessive beauty.
‘Ala-ed-Din
too went out that day to see the festivities which were going on in the city
and the palace, and he began to laugh, above all when he heard people talking
of the honour which had fallen to the Wezir’s son and his good-fortune in
becoming the son-in-law of the Sultan, and the great distinction shewn in his
rejoicings and wedding festivities. And ‘Ala-ed-Din said to himself: “Ye know
not, ye rabble, what happened to him last night, that ye envy him!” And when
night fell and it was bedtime, ‘Ala-ed-Din arose and went to his chamber and
rubbed the Lamp, and immediately the Slave presented himself. And he ordered
him to bring the Sultan’s daughter and her bridegroom as on the past night,
before the Wezir’s son had taken her to him. And the Slave waited not an
instant, but vanished awhile, till he reappeared, bringing the bed in which was
the Lady Bedr-el-Budur and the son of the Wezir. And he did with the latter as
on the preceding night,—took and put him to sleep in a closet, and there left
him bleached with excessive trembling and fear. And ‘Ala-ed-Din arose and
placed the sword betwixt himself and the Princess, and went to sleep. And when
it was morning the Slave appeared and restored the pair to their own place; and
‘Ala-ed-Din was filled with delight at the misadventure of the Wezir’s son.
Now
when the Sultan arose in the morning he desired to go to his daughter,
Bedr-el-Budur, to see whether she would behave to him as on the preceding day.
So, after he had shaken off his drowsiness, he arose and dressed himself and
went to his daughter’s palace and opened the door. Then the Wezir’s son hastily
got up and rose from the bed and began to put on his clothes, though his ribs
almost split with cold; for when the Sultan came in the Slave had only just
brought them back. So the Sultan entered, and approached his daughter
Bedr-el-Budur, who was in bed; and drawing aside the curtain, he wished her
good-morning, and kissed her betwixt the eyes, and inquired after her state.
But he saw she was sad, and she answered him never a word, but looked at him angrily;
and her state was wretched. Then the Sultan was wroth with her, since she
replied not, and he fancied that something was wrong with her. So he drew his
sword and said to her: “What hath come to thee? Tell me what hath happened to
thee, or I will take thy life this very hour. Is this the honour and reverence
thou shewest me, that I speak and thou repliest not a word? And when the Lady
Bedr-el-Budur saw how angry her father the Sultan was, and that his sword was
drawn in his hand, she was released from her stupor of fear, and turned her
head and said to him: “O my honoured father, be not wroth with me, nor be hasty
in thy passion, for I am excusable, as thou shalt see. Listen to what hath
befallen me, and I am persuaded that when thou hast heard my account of what
happened to me these two nights, thou wilt excuse me, and thy Felicity will
become pitiful toward me, even as I claim thy love.” Then the Lady
Bedr-el-Budur related to her father the Sultan all that had happened to her,
adding: “O my father, if thou dost not believe me, ask the bridegroom, and he
will tell thy Felicity the whole matter; though I knew not what they did with
him when they took him away from me, nor did I imagine where they had put him.”
When
the Sultan heard the speech of his daughter, grief took hold of him and his
eyes ran over with tears. And he sheathed the sword, and came and kissed her,
saying: “O my daughter, why didst thou not tell me last night, that I might
have averted this torment and fear which have fallen upon thee this night?
However, it signifieth nothing. Arise and drive away from thee this fancy, and
next night I will set a watch to guard thee, and no such unhappiness shall
again make thee sad.” And the Sultan returned to his palace, and straightway
ordered the presence of the Wezir. And when he came and stood before him, he
asked him: “O Wezir, what thinkest thou of this affair? Perchance thy son hath
informed thee of what occurred to him and my daughter?” But the Wezir made
answer: “O King of the Age, I have not seen my son, neither yesterday nor
to-day.” Then the Sultan told him all that his daughter the Princess
Bedr-el-Budur had related, adding: “It is my desire now that thou find out from
thy son the truth of the matter; for it may be that my daughter, from terror,
did not understand what befell her, though I believe her story to be all true.”
So
the Wezir arose and sent for his son and asked him concerning all that the
Sultan had told him, whether it were true or not. And the youth replied: “O my
father the Wezir, God forbid that the Lady Bedr-el-Budur should tell lies! Nay,
all she said is true, and these two nights that have passed were the worst of
nights, instead of being nights of pleasure and joy to us both. But what befell
me was the greater evil, for, instead of sleeping with my bride in the bed, I
was put to sleep in a closet, a cursed, dark, and loathsome place smelling
horribly, and my ribs almost split with the cold.” And the young man told his
father all that had happened to him, and added. “O honoured parent, I entreat
thee, speak to the Sultan that he release me from this marriage. Truly it is a
great honour to me to be the son-in-law of the Sultan, and most of all since
the love of the Lady Bedr-el-Budur hath taken possession of my being; but I
have not strength to endure another night like the two which are over.”
When
the Wezir heard his son’s words he was exceeding sad and sorry, for he hoped to
exalt and magnify his son by making him son-in-law to the Sultan; therefore he
considered and pondered over this case, how to remedy it. It was a great
hardship to him to break off the marriage, for he had been much congratulated
on his success in so high a matter. So he said to his son: “Take patience, my
child, till we see what may betide this night, when we set warders to watch
over you; and do not reject this great honour, which hath been granted to none
save thee alone.”
Then
the Wezir left him and returned to the Sultan and told him that what the Lady
Bedr-el-Budur had said was true. Therefore the Sultan said: “If it be so, we
must not delay.” And he straightway ordered the rejoicings to cease and the
marriage to be annulled. And the people and folk of the city wondered at this
strange affair, and the more so when they saw the Wezir and his son coming
forth from the palace in a state of grief and excess of rage; and men began
asking what had happened and what the cause might be for annulling the marriage
and terminating the espousals. And none knew how it was save ‘Ala-ed-Din, the
lord of the invocation, who laughed in secret. So the marriage was dissolved,
and still the Sultan forgot and recalled not the promise he had made to the
mother of ‘Ala-ed-Din, nor the Wezir either, and they knew not whence came that
which had come.
‘Ala-ed-Din
waited in patience until the three months were over, after which the Sultan had
covenanted to wed him to his daughter, the Lady Bedr-el-Budur. Then he
instantly despatched his mother to the Sultan to demand of him the fulfilment
of his promise. So the mother of ‘Ala-ed-Din went to the palace; and when the
Sultan came to the hall of audience and saw her standing before him, he
remembered his promise—that after three months he would marry his daughter to
her son. And turning to the Wezir, he said: “O Wezir, this is the woman who
gave us the jewels, and to whom we did pledge our word for three months. Bring
her to me before anything else.” So the Wezir went and brought ‘Ala-ed-Din’s
mother before the Sultan; and when she came up to him she saluted him and
prayed for his glory and lasting prosperity. Then the Sultan asked her if she
had any suit. Whereto she answered: “O King of the Age, verily the three months
are over, for which thou didst covenant with me, after which to marry my son
‘Ala-ed-Din to thy daughter the Lady Bedr-el-Budur.”
The
King was perplexed at this demand, the more when he observed her poor condition
and that she was of the meanest of the people. Yet the present she had given
him was exceedingly splendid, beyond his power to purchase. Then turning to the
Wezir, he said: “What stratagem hast thou? Of a truth I pledged my word; yet it
is evident to me that they are poor people, and not of high degree.” And the
Wezir, since envy was devouring him, and he was beyond everything grieved at
what had befallen his son, said within himself: “How shall one like this wed
the daughter of the Sultan and my son lose this honour?” So he answered the
Sultan: “O my lord, it is an easy thing to be rid of this stranger, for it is
not fit that thy Felicity should give thy daughter to a man like this,—one
knoweth not who he is.” The Sultan replied: “In what way shall we ward off this
man from us, when I have pledged my word, and the word of Kings is sacred?” The
Wezir answered: “O my lord, my advice is that thou demand of him forty bowls of
pure gold full of jewels, such as this woman brought thee that day, and forty
maids to carry the bowls, and forty black slaves.” And the Sultan said: “By
Allah, O Wezir, thou hast said well, for he cannot compass this thing, and thus
we shall be freed from him.” Then he said to the mother of ‘Ala-ed-Din: “Go,
tell thy son that I hold to the promise which I made to him, provided he be
able to furnish my daughter’s dowry, for which I require of him forty bowls of
pure gold, each full of jewels, such as thou didst bring me, and forty maids to
carry them, and forty black slaves to attend and escort them. If thy son can do
this I will marry him to my daughter.”
So
the mother of ‘Ala-ed-Din returned to her house shaking her head and saying:
“Whence shall my poor son procure these bowls of jewels? Suppose he return to
the Treasury and gather these jewels and bowls from the trees, yet with all
this,—and I do not think he can, but say that he acquire them,—whence will he
get the maids and slaves?” And she ceased not to commune with herself until she
arrived at her house, where “Ala-ed-Din was expecting her. And when she came
in, she said: “O my son, did I not tell thee not to think that thou couldst
attain to the Lady Bedr-el-Budur, and that such a thing was not possible for
people like us?” And he said to her: “Explain to me what tidings there be.” And
she said: “O my son, verily the Sultan received me with all honour, as is his
wont, and it is evident to me that his intentions towards us are benevolent.
But thy enemy is the accursed Wezir; for after I had spoken to the Sultan,
according to thy tongue (as thou saidst, “Verily the time is come for which
thou didst covenant’), and after I had said to him, ‘Verily it behoves thy
Felicity to order the wedding of thy daughter the Lady Bedr-el-Budur to my son
‘Ala-ed-Din,’ he turned to the Wezir and spake to him; and he answered him
secretly; and afterward the Sultan gave me his answer.” Then she told
‘Ala-ed-Din what the Sultan required, and said to him: “O my son, verily he
requireth of thee an immediate reply, and methinks we have no answer for him.”
When
‘Ala-ed-Din heard the words of his mother, he laughed and said: “O my mother,
thou sayest that we have no answer for him, and considerest the affair
exceeding hard; but compose thy mind, and arise, bring me something to eat, and
after we have eaten, if the Compassionate please, thou shalt see my answer. And
the Sultan like thee, thinketh he hath required an enormous thing, in order to
keep me from the Lady Bedr-el-Budur; though really he hath asked a smaller
thing than I expected. But do thou arise, and fetch me somewhat to eat, and
trust me to provide the answer for thee.” So his mother arose and went forth to
fetch what was needed from the market to prepare dinner. And ‘Ala-ed-Din went
into his chamber, and took the Lamp and rubbed it, and immediately there
appeared to him the Slave, who said: “O my master, ask what thou desirest.” And
‘Ala-ed-Din answered: “I have demanded the daughter of the Sultan in marriage,
and the Sultan hath required of me forty bowls of pure gold, each weighing ten
pounds, and they must be full of the jewels which are in the garden of the
Treasury; and to carry them there must be forty maids, and to each maid a
slave, forty slaves in all. So I desire of thee that thou bring me all these.”
And the Jinni said: “I hear and obey, O my master,” and vanished for the space
of an hour, when he brought forty maids, and with each maid a eunuch, and on
each maid’s head a bowl of fine gold full of precious stones. And he set them
before ‘Ala-ed-Din, saying: “Here is thy wish: tell me then if thou hast need
of any affair or service beside this.” But ‘Ala-ed-Din answered: “I need
nothing else; but if I require anything I will summon thee and inform thee
thereof.” So the Slave vanished. And presently ‘Ala-ed-Din’s mother appeared
and entered the house, and perceived the slaves and maids. And she marvelled,
saying: “All this is from the Lamp. God preserve it for my son!” And as she was
about to raise her veil, ‘Ala-ed-Din said to her: “O my mother, this is the
moment for thee, before the Sultan goes in to his seraglio, to his family. Take
thou to him that which he demanded, and go to him forthwith, that he may know
that I am able to do what he required, and more also. Verily he is deceived by
the Wezir, and they both think to foil me.” Thereupon ‘Ala-ed-Din arose and
opened the door of the house, and the maids and the slaves came forth side by
side, each maid with a eunuch beside her, till they filled the street. And
‘Ala-ed-Din’s mother went before them. And the people flocked to the street when
they saw this mighty, wonderful sight, and stood diverting themselves and
marvelling and observing the forms of the damsels and their beauty and
loveliness; for they all wore dresses embroidered with gold and trimmed with
jewels, none worth less than a thousand dinars. And the folks gazed upon the
bowls, and saw that the lustre transcended the light of the sun. Over each was
a piece of brocade embroidered with gold and studded with precious stones. And
the people of the quarter stood wondering at this strange spectacle. But
‘Ala-ed-Din’s mother walked on, and the damsels and slaves marched behind her,
in all order and precision, and the people stopped to examine the beauty of the
damsels, and glorified God the great Creator; and so they arrived and entered with
‘Ala-ed-Din’s mother, the palace of the Sultan. And when the aghas and
chamberlains and officers of the army saw them, wonder gat hold of them and
they were amazed at this sight, the like of which they had never witnessed in
all their born days, above all, such damsels, every one of whom would turn the
head of an anchorite. And although the chamberlain and officers of the Sultan’s
troops were all sons of grandees and nobles, yet they were astonished beyond
measure at the costly dresses which the damsels wore, and the bowls upon their
heads, which they could not gaze full upon by reason of their excessive
flashing and dazzle.
Then
the guard went in and informed the Sultan, and he at once ordered that they
should be brought before him in the Hall of Audience. So ‘Ala-ed-Din’s mother
came in with them; and when they appeared before the Sultan, they all saluted
him with due reverence and worship, and they invoked blessings on his glory and
good-fortune. Then they took the bowls from their heads and set them before
him, and removed their coverings, and then stood respectfully. The Sultan
marvelled with great admiration, and was bewildered at the splendour of the
jewels and their loveliness, which transcended praise; and his wits were turned
when he looked at the golden bowls full of precious stones, which captivated
the sight; and he was confounded at this marvel till he became as the dumb, and
could not say a word from excess of wonder. And his mind was the more perplexed
how all this could have come about in the space of hour. Then he gave
commandment that the damsels with the bowls should enter the palace of the Lady
Bedr-el-Budur; so they took up their loads and went in.
After
that, the mother of ‘Ala-ed-Din came and said to the Sultan: “O my lord, this
is not a great thing wherewith to do honour to the Lady Bedr-El-Budur, for she
merits the double of this [dower].” Then the Sultan turned to the Wezir and
said: “What sayest thou, O Wezir? He who can procure such riches as these in so
short a time, is he not worthy to be the Sultan’s son-in-law and the daughter
of the Sultan his bride?” But the Wezir, although he marvelled at the vastness
of these riches, more even than the Sultan, yet, being devoured by envy, which
grew stronger and stronger when he saw how content the Sultan was with the
dower and riches, and though he could not disguise the truth, answered: “It is
not worthy of her.” And he was devising a plan for the Sultan, that he might
not give his daughter the Lady Bedr-el-Budur to ‘Ala-ed-Din, and accordingly he
went on: “O my lord, all the treasures of the universe are not equal to the
little finger of thy daughter. Thy Highness hath overvalued these presents as against
her.” When the Sultan heard these words of the Wezir, he perceived that they
arose from excess of envy. So turning to “Ala-ed-Din’s mother, he said: “O
woman, go to thy son, and tell him that I have accepted the dowry and I stand
by my promise. My daughter is his bride and he my son-in-law; and bid him come
hither, in order that I may know him. He shall have naught but honour and
esteem from me. And this night shall begin the wedding; only, as I said, let
him come to me without delay.”
Then
Ala-ed-Din’s mother returned home with the speed of the wind, and abated not
the quickness of her pace, in order to congratulate her son. She flew with joy
at thinking that her child was going to become the son-in-law of the Sultan.
After she had gone, the Sultan dismissed the audience and entered the
apartments of the Lady Bedr-el-Budur, and bade them bring the damsels and the
bowls before her that she might look at them. And when they brought them and
the Princess examined the jewels, she was amazed and said: “Methinks there is
not found in the treasuries of the universe a single gem like these!” Then she
gazed upon the damsels and marvelled at their beauty and grace. And she knew
that all this was from her new bridegroom, who had sent it in her service. So
she rejoiced, though she had been sorrowful and sad on account of her
bridegroom the son of the Wezir. Yet she rejoiced with great joy when she
looked upon the jewels and the beauty of the damsels; and she made merry, and
her father was greatly delighted at her cheerfulness, because he saw that her
sadness and grief had departed from her. Then he asked her, saying: “O my
daughter, Lady Bedr-el-Budur, does this astonish thee? Methinks this bridegroom
of thine is goodlier than the Wezir’s son; and presently, please God, O my
daughter, thou shalt enjoy supreme delight with him.” Thus was it with the
Sultan.
As
for ‘Ala-ed-Din, when his mother returned and entered the house, laughing in
the excess of her joy, and he saw her so, he scented good news, and said: “To
God be praise everlasting! My desire is now accomplished.” And his mother said:
“Good news for thee, O my child! Cheer thy heart, and refresh thine eye for the
fulfilment of thy wish. The Sultan hath accepted thy present, the riches and
portion and dowry of the Lady Bedr-el-Budur; and she is thy bride, and this
night, O my son, is the wedding and thy union with the Princess. To assure me
of his promise the Sultan hath proclaimed thee before the world as his
son-in-law, and saith that to-night is the consummation. Moreover, he said to
me: ‘Let thy son come to me, that I may become acquainted with him and welcome
him with all honour and regard.’ And here am I, my son; my task is over; happen
what may, it is now thy own affair.”
Then
‘Ala-ed-Din arose and kissed his mother’s hand and thanked her, and magnified
her goodness to him, and went and entered his chamber and took the Lamp and
rubbed it, and behold, the Slave appeared, saying, “At thy service! Ask what
thou desirest.” So ‘Ala-ed-Din answered: “I desire thee to take me to a bath
the equal of which existeth not in the universe; and bring me there a dress so
royal and exceeding costly that Kings possess not its match.” And the Marid
replied, “I hear and obey.” And he lifted him and took him into a bath such as
Kings and Emperors never saw, all of marble and carnelian, with wonderful
pictures which captivated the eye; and not a soul was there. In it was a hall
studded over with splendid jewels, which when ‘Ala-ed-Din entered, there came
to him one of the Jann in human shape, who washed and kneaded him to the top of
his bent. After which ‘Ala-ed-Din went from the bath into the spacious hall,
and found his old clothes gone and in their place a suit of royal robes. Then
there was brought to him sherbet and coffee flavoured with ambergris. And he
drank and arose, and a number of slaves appeared before him, and clad him in
resplendent clothes, and he was dressed and perfumed and scented. Though
‘Ala-ed-Din was, in fact, a poor tailor’s son, none would have supposed it, but
rather would say: “This is the greatest of the sons of the Kings. Extolled be
he who changeth others but himself changeth not!” Then the Jinni came and
lifted him and returned him to his house, and said: “O my master, hast thou
further need?” And ‘Ala-ed-Din replied: “Yes, I want thee to bring me
forty-eight memluks, twenty-four to go before me and twenty-four to follow me,
with their chargers and habiliments and arms; and everything on them and their
horses must be of the very costliest, such as is not in the treasuries of
Kings. Then bring me a stallion fit for the Cæsars, and let his housings be of
gold studded over with magnificent jewels; and bring me forty-eight thousand
dinars, to each memluk a thousand. For I wish to go to the Sultan’s presence.
So delay not, since without all these things of which I have told thee I cannot
visit him. Bring me also twelve damsels; they must be of peerless beauty, and
clad in the most sumptuous raiment, that they may accompany my mother to the
palace of the Sultan. And let each damsel be attired like the King’s ladies.”
And the Slave answered, “I hear and obey.” And vanishing awhile, he brought him
in the twinkling of an eye, all that he had commanded; and he led a steed the
fellow of which did not exist among the horses of the Arabs, and his housings
were of gorgeous cloth of gold.
‘Ala-ed-Din
sent for his mother at once, and delivered to her the twelve maidens, and gave
her robes that she might be robed, when the damsels would escort her to the
palace of the Sultan. And he sent one of the memluks which the Jinni had
brought him to the Sultan, to ascertain whether he had come forth from his
harem or not. So the memluk went quicker than lightning, and returned to him
speedily, saying: “O my master, the Sultan expecteth thee.” Then ‘Ala-ed-Din
arose and mounted and the memluks rode before him and behind him. And they were
such as to make all men cry: “Extolled be the Lord who created them in such
perfection of beauty and grace!” And they scattered gold among the people
before their master ‘Ala-ed-Din, who excelled them in beauty and comeliness,—and
make no mention of the sons of Kings! Extolled be the Bountiful, the Eternal!
And all this came by virtue of the Wonderful Lamp, which whoso possessed, it
brought him beauty and loveliness and wealth and wisdom. And the people were
astonished at the generosity of Ala-ed-Din and his excessive bounty, and were
distraught as they gazed upon his beauty and comeliness and grace and
courtliness. And they extolled the Compassionate for this his noble creation;
and all blessed him, though they knew he was the son of Such-an-one the tailor;
and none was envious of him, but all pronounced him worthy of his luck.
Thus
was the crowd dazzled by ‘Ala-ed-Din and his bounty and generosity, as he was
going to the palace, scattering gold. And they blessed him, great and small,
till he reached the palace, with the memluks before and behind him distributing
largesse to the people. Now the Sultan had assembled the grandees of the state,
and informed them that he had given his word for the marriage of his daughter
to ‘Ala-ed-Din. And he bade them await his coming, and then go forth, one and
all, and receive him. And he sent for the emirs and the wezirs and chamberlains
and gentlemen of the guard and officers of the army, and they were all in
waiting for ‘Ala-ed-Din at the gate of the palace. Now when ‘Ala-ed-Din arrived
he would have dismounted at the gate, but one of the emirs whom the Sultan had
appointed for the office approached and said: “O my master, the order is that
thou enter and remain mounted on thy charger till thou comest to the gate of
the Hall of Audience.” And they all marched before him and escorted him to the
gate of the Divan, when some of them approached and held his stirrup, and
others supported him on each side or took him by the hand, and the emirs and
officers of state went before him and led him into the Hall of Audience close
to the royal throne. Then the Sultan descended at once from his throne, and
clasped him to his breast, and forbidding him to kiss the ground, kissed him
and seated him beside him on his right. And ‘Ala-ed-Din did as was proper
towards Kings, in giving salutations and benedictions, saying: “O our lord the
Sultan, verily the generosity of thy Felicity caused thee to vouchsafe me the
Lady Bedr-el-Budur thy daughter, although I am not worthy of so great an
honour, since I am of the meanest of thy slaves. And I beg God to prolong thy
life perpetually. But in truth, O King, my tongue is powerless to thank thee
for the greatness of the surpassing favours with which thou hast overwhelmed
me. And I beg of thy Felicity that thou give me a piece of land where I may
build a palace suitable for the Lady Bedr-el-Budur.” And the Sultan was
bewildered as he gazed upon ‘Ala-ed-Din in his princely robes, and looked upon
him and considered his beauty and comeliness, and saw the memluks arrayed for
his service and their handsome apparel. And his wonder increased when
‘Ala-ed-Din’s mother approached in her costly attire, sumptuous as though she
had been a Queen; and when he perceived the twelve damsels attending her
standing before her in all respect and worship. Further, the Sultan considered
the eloquence of ‘Ala-ed-Din, and the refinement of his language, and was
astounded at it, he and all those who were with him at the levee. And fire was
kindled in the heart of the Wezir for envy of ‘Ala-ed-Din, till he almost died.
Then the Sultan, after hearing ‘Ala-ed-Din’s benedictions, and perceiving the
loftiness of his bearing and his deference and eloquence, pressed him to his
bosom and kissed him, saying: “Alas for me, my son, that I have not enjoyed thy
company till this day!”
When
the Sultan saw ‘Ala-ed-Din in this respect he rejoiced with great joy, and
immediately ordered the music and band to play. And he arose and took
‘Ala-ed-Din and led him into the palace, where supper was made ready and the
servants had laid the tables. So the Sultan sat down and seated ‘Ala-ed-Din on
his right; and the wezirs also sat, and the grandees of the state and lords of
the realm, all of them in their degree; and the band played, and they made very
merry in the palace. And the Sultan waxed friendly with ‘Ala-ed-Din and
conversed with him, and he answered with all courtliness and eloquence, as
though he had been brought up in the palaces of Kings and had been their
familiar. And the longer the conversation lasted between them the greater
became the Sultan’s joy and satisfaction, as he listened to his graceful
replies and the charm of his eloquence.
After
they had eaten and drunk and removed the tables, the Sultan commanded to bring
the Kadis and witnesses, and they came and tied the knot and wrote the contract
of marriage between ‘Ala-ed-Din and the Lady Bedr-el-Budur. After this
‘Ala-ed-Din arose and would have gone out, but the Sultan stopped him, saying:
“Whither, O my son? The festivities are beginning and the wedding is ready, and
the knot is tied and the contract written.” But he answered: “O my lord the
King, it is my intention to build a palace for the Lady Bedr-el-Budur befitting
her rank and station; and it is impossible that I should enter in to her before
this is done. But, please God, the building shall be finished in the briefest
space by the energy of thy servant and the countenance of thy Felicity. And for
me, much as I long for union now with the Lady Bedr-el-Budur, yet it behoveth
me to serve her and to do so first.” So the Sultan said to him: “O my son,
choose the land which thou deemest fit for thy project; take it altogether into
thy hands; but the best place would be here in front of my palace on the open
plain; then if thou so fanciest build the palace there.” “This,” said
‘Ala-ed-Din, “is the height of my desire, to be near thy Felicity.”
------
NOTES
Note
①.
Liwan.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét