2026-06-20
Việt
Điện U Linh Tập
Thái
Uý Trung Phụ Dũng Võ Uy Thắng Công
(Chuyện
Lý Thường Kiệt)
Lý
Tế Xuyên, 1329
Người dịch: Lê Hữu Mục
Nhà xuất bản KHAI TRÍ, 1961
Ông
họ Lý tên Thường Kiệt, người phường Thái Hòa bên hữu kinh Thăng Long; thân phụ
tên là An Ngữ, làm quan đến Sùng Ban Lang Tướng, đời này qua đời kia được tập ấm.
Ông nhiều mưu lược, có tài tướng soái, lúc nhỏ phong tư tuấn nhã, có tiếng khen
ra ngoài, được sung làm chức Hoàng Môn Ký Hầu. Đời Lý Thái Tông hằng thiên lên
chức Nội Thị Tỉnh Đô Tri. Thánh Tông bái chức Hiệu Uý Thái Bảo.
Ông
làm quan kính cẩn, hành động đều tuân theo lễ pháp, không một mảy may lầm lỗi,
mông ơn vua trao cho Tiết Việt, được đi kinh lý hai quận Thanh Hóa và Nghệ An,
coi dân đến năm huyện, mọi lào ba nguồn, nếu có kẻ nghịch mệnh thì uỷ cho quan
Trấn trừng trị; duy có nước Chiêm Thành nhác bỏ chức cống, vua phải thân hành
chinh phạt; ông phụng lãnh Tiết Việt Đại Tướng, sung chức Tiền phong, bắt được
vua Chiêm Thành là Chế Củ, luận được thăng chức Phụ Quốc Thái Uý kiêm lãnh chức
Chư Trấn Tiết Độ Đồng Trung Thư Môn Hạ, Thượng Trụ Quốc Thiên Tử Nghĩa Đệ Quốc
Phụ Quốc Đại Tướng Quân Khai Quốc Công.
Nhân
Tông tức vị, thăng chức Phụ Quốc Thái Uý nhiệm Đại thần thời Anh Võ Chiêu Thắng.
Trước kia ông có nghe người nhà Tống muốn đem binh mã qua nhòm biên cảnh nước
ta rồi gây ra chiến tranh, ông lập tực tâu cùng vua rằng:
-
Đợi cho giặc đến mà đánh, bất nhược mình đánh trước đi cho chúng nhụt mất nhuệt
khí thì hay hơn.
Vua
mới sai ông thống lãnh đại binh, đánh phá ba châu Ung, Khâm, Liêm và bốn trại của
Tàu, bắt sống người cùng của cải vô số.
Niên
hiệu Long Phù năm đầu, vua trao cho ông chức Nội Thị Phán Tỉnh Đô Ap Nha Hành
Điện Nôi Ngoại Đô Tri Sự. Mùa đông năm ấy, đi đánh giặc Diễn Châu là Lý Giác
cũng phá tan được. Nhà Tống báo thù, hãm mấy châu Lục Lược. Ông ra sức đắp
thành ở bến đó sông Như Nguyệt, đánh lấy nguồn Vũ Bình. Đem quân trở về, vua rất
khen thưởng; đến lúc ông mất, vua truy tặng chức Nhập Nội Điện Đô Tri Hiệu Kiểm
Thái Uý Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, tước Việt Quốc Công, cấp ăn lộc một vạn
nóc nhà, cho em là Thường Hiếu kế phong tước Hầu.
Người
dân nào ham chuộng ma quỷ, đồng bóng huyễn hoặc dân chúng thì bị ông trừng phạt
sa thải để khử trừ ô phong, cho nên lúc bấy giờ có cái Dâm Từ nào thì đều biến
ra làm hương hỏa của các vị Phúc thần cả; nhân dân chịu ơn sâu của ông rất nhiều,
nên sau khi ông chết, tâu xin lập đền thờ để phụng sự ông; mỗi khi có việc cầu
đảo thảy đều linh ứng.
Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Phụ Quốc Công, năm thứ tư gia phong thêm hai
chữ Dũng Võ. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Oai Thắng, đền
thờ sum nghiêm, linh ứng càng rõ rệt vậy.
~
Tiếm
bình
Lý
Thái Uý là một quan Trung Thường Thị. Trải thời ba triều, thuỷ chung không có
tì vết, phương Bắc bẻ gãy được nhà Tống lớn, phương Nam bình được nước Chiêm mạnh,
kể cái công nghiệp ở triều miếu thì giống như Lê Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành. Sống
làm danh tướng, chết làm danh thần, thật là không lấy gì làm thẹn mặt vậy; ai bảo
trong phường quan Giám lại không có nhân vật xuất sắc như thế, công nghiệp vĩ đại
như thế!
Bên
sao Đế Tọa có sao Yêm Tự, trong sách Chu Lễ có chức Tự nhân, đều nói về hoạn
quan (quan giám), mà những kẻ che lấp thông minh của vua, rối loạn chính sự ở
triều, trải qua đời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh làm một
nước, hại dân kể ra khôn xiết, mà tìm được những hạng trải gan thờ chúa như Mã
Tồn Lạng dẹp loạn, Lý Kế Nghiệp tận trung thì thực là rất hiếm.
Nước
Việt ta từ đời nhà Lý nhà Trần về trước chưa có nghe cái nạn quan Giám; nhà Lê
trung hưng về sau hoạn quan có kẻ ngồi ở trên liêu ban, các quan văn võ đều xu
phụ trước cửa, sống thời kết đảng phản bội công lý, chết thời viện lệ để sắc
phong Vương tước. Mồ mả sánh với Sơn lăng, nhà cửa lớn hơn Vương phủ, những ai
trông thấy đều cũng căm gan. Chỉ duy biết phụng việc công như Hoàng Ngũ Phúc,
đem lòng kính cẩn thờ vua, lấy điều nghiêm minh sửa trị kẻ dưới, thường thống
lãnh đại quân đi đánh dẹp, bình được cái loạn Nguyễn Chất, Nguyễn Cầu, giặc
trông thấy bóng cờ bảo nhau đó là cờ của Mặc Nha Tướng Công rồi đem nhau tránh
đi, oai đức phục người xa như thế, công nghiệp rạng ở triều, vang cả mọi rợ, mỗi
khi ở chỗ miếu đường bàn việc chính sự, sáng suốt quả quyết, nghiễm nhiên có
phong thế đại thần.
Năm
Giáp Ngọ, ông làm Thượng tướng, đem quân qua sông Linh Giang, bắt được phó tướng
của giặc, vào trong đám vài vạn hùng binh như là vào cõi không người, thu hào
không phạm, chung cự không dời, nếu không có trí dũng hơn người thì đâu được
như thế? Nhân sĩ Hà Nam đến nay vẫn còn thương mến mà truy tặng đến tước Đại
Vương, đời Chiêu Thống năm đầu, có tờ chiếu tước đoạt Vương tước của các vị hoạn
quan, duy Việp Công được nhưng cựu mà thôi, đó cũng là công luận của thiên hạ
chớ không phải ý riêng của Bằng Lĩnh vậy.
Than
ôi! Nhật Nam lập quốc trên dưới vài nghìn trăm năm, tìm những kẻ danh thần ở
trong hàng quan Nội Thị, sử xanh đời đời ghi được như Việt Công Việp Công thì
có mấy người đâu?
~
Wikipedia
Lý Thường Kiệt
Lý
Thường Kiệt (chữ
Hán:
李常傑; 1019 – 1105) là một nhà
quân sự, nhà chính trị Đại Việt thời Lý. Ông làm
quan qua 3 triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều
thành tựu to lớn, khiến ông trở thành một trong hai danh tướng vĩ đại nhất nhà
Lý, bên cạnh Lê Phụng Hiểu.[1]
Trong lịch sử Việt Nam,
ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm,
Ung, Liêm nước Tống (1075–1076),
rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân
Tống do Quách
Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy. Đặc biệt,
trận chiến ở ba châu Khâm, Ung, Liêm đã khiến tên tuổi của ông vang dội ra khỏi
Đại Việt và được biết đến ở đất Tống.
Năm
2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch liệt ông vào một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu
biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.[2]
|
Tượng đài Lý Thường Kiệt |
Thân
thế
Dòng
dõi
Ông
vốn là người phường Thái Hòa (太和坊)
của thành Thăng Long, theo Hoàng Xuân Hãn thì
Thái Hòa cũng là tên một núi nhỏ
ở phía Tây trong thành Thăng Long, bây giờ, ở phía nam đê Bách Thảo, gần chỗ rẽ
xuống trường đua ngựa. Họ gốc
của Lý Thường Kiệt vốn không phải họ
Lý,
vì ông được ban quốc tính[3] mới
được mang họ Lý. Họ gốc của ông, hiện có hai thuyết lớn gây tranh cãi:
- Họ
Ngô: thuyết này dựa theo "Phả hệ họ
Ngô Việt Nam" cùng "Thần
phổ Lý Thường Kiệt" do Nhữ Bá Sĩ soạn
vào thời nhà Nguyễn.
Theo cứ liệu này, nguyên danh của ông là Ngô Tuấn (吳俊), biểu tự Thường Kiệt (常傑), sau được ban quốc
tính nên có tên là Lý Thường Kiệt. Ông là con của Sùng Tiết tướng
quân Ngô An Ngữ,
cháu của Sứ quân Ngô Xương Xí và
chắt của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập –
con trai trưởng của Ngô Quyền.[4] Thuyết
này được nhìn nhận phổ biến nhất, tuy nhiên lại bị xem là "thuyết
mới", vì thời gian của cứ liệu đều còn non, một cuốn phả hệ không
rõ nguồn gốc và một thần phổ soạn vào tận thời Nguyễn.
- Họ
Quách: thuyết này dựa theo bia "An Hoạch
Báo Ân tự bi ký" (lập năm 1100)[5][6] và
bia "Cồ Việt quốc Thái úy Lý công thạch
bi minh tính tự" (lập năm 1159),
đây đều là hai bia gốc thời nhà Lý và bản dịch hiện có trong cuốn "Văn
bia thời Lý-Trần" của Lâm Giang, Phạm Văn Thắm và Phạm Thị
Hoa. Theo thông tin của cả hai bia, thì Lý Thường Kiệt vốn họ
Quách, tên Tuấn, biểu tự Thường Kiệt rất
tương tự với thông tin của [thuyết họ Ngô]. Theo thông tin của bia, quê
ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, huyện Gia Lâm ngày
nay), và có lẽ sau này mới cải tịch thành phường Thái Hòa như Toàn thư ghi
nhận. Cha ông làm Thái úy đời Lý Thái Tông,
có hai tên khác nhau, theo Đại Việt sử lược chép
là Thái úy Quách Thịnh Ích (郭盛謚), còn An Nam chí lược thì
chép là Thái úy Quách Thịnh Dật (郭盛溢),[7] quê
ở huyện Câu Lậu, Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Hưng
Yên). Sau được Hoàng đế ban quốc tính, vì vậy Quách
Tuấn mới có tên là Lý Thường Kiệt. Theo văn bia của Thái úy Đỗ Anh Vũ, thì
cha của Anh Vũ gọi Lý Thường Kiệt là cậu ruột.[8]
Sử
sách Trung Quốc thường chép [Thường Kiệt] là Lý Thường Cát hoặc Lý
Thượng Cát.[9][10] Trong
gia đình, ông có một người em tên Lý Thường Hiến (李常憲). Có lẽ cũng như anh, "Thường
Hiến" là biểu tự chứ không phải tên thực; thông lệ từ xưa thì biểu
tự có ý nghĩa tương đồng hoặc trái nghĩa với tên thực và dùng để gọi bên ngoài
như một hiểu hiện của sự lịch sự, chỉ có trong nhà mới gọi tên thực.
Gia
thế
Theo
nhận xét của sách Đại Việt sử ký toàn thư,
nhà của ông nối đời làm quan theo thức thế tập,[11] tức
là truyền chức này vĩnh viễn qua các đời, do đó có thể thấy gia đình của ông là
một nhà quan lại có gốc gác bền vững. Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra là người
có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu
về binh pháp.[12]
Cũng
do hai nguồn khác nhau, nên chức vụ cha của Lý Thường Kiệt cũng khác nhau.
Sách Việt điện u linh tập cùng
với [nguồn họ Ngô] đều ghi cha của Lý Thường Kiệt tên An Ngữ, và là một "Sùng
ban Lang tướng". Sách An Nam chí lược trong
quan chế đời Lý có hai tên Sùng ban và Lang tướng, nhưng chính sách ấy chép hai
tên này rời nhau. Có lẽ "Sùng ban Lang tướng" là "Lang
tướng thuộc Sùng ban", vì ngay trong sách Chí lược cũng có ghi một chức
tên "Vũ nội Lang tướng", nhưng không rõ hai chức vụ này
có địa vị thế nào trong triều đình. Còn như [nguồn họ Quách] thì Lý Thường Kiệt
là con của Quách Thịnh Ích, là một Thái
úy,
do đó vị thế có khác biệt.
Bia
Nhữ Bá Sĩ chép về hành trạng thời trẻ có phần huyền thoại của Lý Thường Kiệt
như sau:
|
“ |
Khoảng
niên hiệu Thiên Thành, đời Lý Thái Tông, cha đi tuần biên địa, ở Tượng Châu
thuộc Thanh Hóa, bị bệnh rồi mất vào năm Tân Mùi (1031). Thường Kiệt bấy giờ
mười ba tuổi, đêm ngày thương khóc không dứt. Chồng
của người cô là Tạ Đức thấy thế, đem lòng thương và dỗ dành. Nhân đó hỏi ông
về chí hướng, ôn g trả lời: "Về văn học, biết chữ để ký tên là đủ.
Về võ học, muốn theo Vệ
Thanh, Hoắc Khứ,
lo đi xa vạn dặm để lập công, lấy được ấn phong hầu, để làm vẻ vang cho cha mẹ.
Đó là sở nguyện". Tạ Đức khen là có chí khí, bèn gả
cháu gái tên là Tạ Thuần Khanh cho ông, và dạy cho học các sách binh thư họ
Tôn, họ Ngô. Thường
Kiệt đêm ngày học tập. Đêm đọc sách, ngày tập bắn cung, cưỡi ngựa, lập doanh,
bày trận. Các phép binh thư đều thông hiểu cả. Tạ Đức lại khuyên đọc sách
nho. Thường Kiệt rất chịu gắng công học tập, nên chóng thành tài. Năm
ông 18 tuổi (1036), mẹ mất. Hai anh em lo đủ mọi lễ tống táng. Trong khi cúng
tế, hễ có việc gì, cũng tự tay mình làm. Lúc hết tang, nhờ phụ ấm, Thường Kiệt
được bổ chức "Kỵ mã hiệu úy", tức là một sĩ quan nhỏ về
đội quân cưỡi ngựa. |
” |
|
— Trích
từ bia Nhữ Bá Sĩ, bản dịch từ sách "Lý Thường Kiệt" của Hoàng Xuân Hãn |
||
Học
giả Hoàng Xuân Hãn khi trích lại nội dung từ bia Nhữ Bá Sĩ, cũng có nhận xét:"Đoạn
trên này, chép theo bia NBS (chú: Nhữ Bá Sĩ), là một bia mới dựng đời Tự Đức.
Chắc rằng Nhữ Bá Sĩ chép theo thần phổ. Thần phổ phần nhiều là lời chép tục
truyền hay lời bịa đặt, ta không thể hoàn toàn tin những chi tiết quá rõ ràng
chép trong thần phổ. Nhưng sự giáo dục Thường Kiệt kể trên đây là hợp với những
điều ta còn biết về đời nhà Lý".
Sự
nghiệp
Dưới
triều Thái Tông và Thánh Tông
|
Tượng Lý Thường Kiệt trong Đại Nam Quốc Tự. |
Năm 1041,
Thường Kiệt còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn Chi hậu (黄门祗候),
một chức hoạn quan theo hầu Lý Thái Tông. Trong 12 năm làm nội thị
trong triều, danh tiếng của Thường Kiệt ngày càng nổi.[13] Năm 1053,
ông được thăng dần đến chức Nội thị sảnh Đô tri (内侍省都知), khi năm 35 tuổi.
Năm 1054,
Thái tử Lý Nhật Tôn kế vị, sử gọi là Lý Thánh Tông.
Dưới triều Thánh Tông, Thường Kiệt lên chức Bổng hành quân Hiệu úy, một chức
quan võ cao cấp. Ông thường ngày ở cạnh vua, thường can gián. Vì có công lao,
ông được thăng làm Kiểm hiệu Thái bảo.[14]
Năm 1061,
người Man ở biên giới Tây Nam quấy rối. Sách Việt điện u linh,
chuyện về Lý Thường Kiệt có chép như sau:"Gặp lúc trong nước, ở cõi Tây
Nam, dân nổi lên chống các thuộc lại, dân Man Lào lại hay tới quấy rối. Vua thấy
ông siêng năng, cẩn thận, khoan hồng bèn sai ông làm Kinh phỏng sứ vào thanh
tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, vào trao quyền tiện nghi hành sự. Ông phủ dụ dân
khôn khéo, nên tất cả năm châu, sáu huyện, ba nguồn, hai mươi bốn động đều quy
phục và được yên ổn".
Về
việc loạn này, trong sách Đại Việt sử ký toàn thư không
thấy chép. Duy chỉ sách Việt sử lược có biên rằng: "Năm
1061, Ngũ Huyện Giang ở Ái Châu nổi loạn". Ngũ Huyện Giang là tên một
vùng thuộc phủ Thanh Hóa. Đời Tiền Lê và đời Lý thường dùng tên sông mà gọi đất
có sông ấy, ví dụ Bắc Giang Lộ, Đà Giang Lộ. Theo hai bia đời Lý, là bia chùa
Hương Nghiêm và mộ chí Lưu Khánh Đàm,[15][16] Ngũ
Huyện Giang chắc ở Thanh Hóa, là sông Mã ngày nay. Bấy giờ Thường Kiệt đã 43 tuổi,
và đây là lần đầu tiên ông có một quân công đáng kể.
Tháng
2 năm 1069,
ông theo vua Thánh Tông đi đánh Chiêm
Thành. Thường Kiệt làm tiên phong đi đầu, truy bắt được vua
Chiêm là Chế
Củ.
Cuối cùng, Chế Củ phải chịu hàng, dâng 3 châu để được tha về nước. Vì có công
trong cuộc chiến với Chế Củ, Thường Kiệt được ban quốc tính và từ đó ông chính
thức được gọi là Lý Thường Kiệt. Bên cạnh vinh dự này, ông còn được
hưởng tước và chức đáng kể, được thụ phong làm Phụ quốc Thái phó (輔國太傅), kiêm các hàm như Dao thụ chư trấn
Tiết độ (遙授諸鎮節度), Đồng
trung thư môn hạ (同中書門下), Thượng
trụ quốc (上柱國), Thiên
tử nghĩa đệ (天子義弟)
cùng Phụ quốc thượng tướng quân (輔國上将軍).
Với
danh xưng "Thiên tử nghĩa đệ", Lý Thường Kiệt đã bán
chính thức dự vào hàng quốc thích, và ông còn nhận được tước Khai quốc
công (開國公).
Phụ
chính Lý Nhân Tông
Năm 1072 Lý Thánh Tông qua
đời, Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi, sử gọi là Lý Nhân Tông. Thái
sư đầu
triều là Lý Đạo Thành tôn Hoàng hậu Dương
thị làm Hoàng thái hậu,
buông rèm cùng nghe chính sự. Mẹ đẻ của Nhân Tông là Thái phi Ỷ
Lan không
được dự vào việc triều đình, bèn dựa vào Lý Thường Kiệt để nắm lấy quyền nhiếp
chính. Lý Thường Kiệt khi đó làm Đô úy, chức vụ ở dưới Lý Đạo Thành.
Tháng
6 năm 1072,
tức là 4 tháng sau khi Nhân Tông lên ngôi, Nhân Tông ra chỉ phế truất Thượng
Dương Thái hậu, giam Thái hậu cùng 72 Thị nữ trong lãnh cung và bắt chôn theo
Thánh Tông. Có thể thấy, ngoài tác động của Ỷ Lan ở bên trong với Nhân Tông còn
có vai trò của võ tướng Lý Thường Kiệt.
Sau
đó, Lý Đạo Thành bị giáng chức làm "Tả Gián nghị đại phu" và
bị biếm truất ra trấn thủ Nghệ
An.
Hoàng thái phi Ỷ Lan, sau cái chết của Dương Thái hậu thì chính thức được tôn
làm Hoàng thái hậu. Theo ý kiến của Hoàng Xuân Hãn,
việc xử chết Dương Thái hậu và giáng chức Đạo Thành, một mình Ỷ Lan không thể
thực hiện mà có vai trò của Lý Thường Kiệt, người nắm quân đội trong tay, trong
khi Lý Đạo Thành vốn là quan văn và tuổi tác đã cao.[17] Từ
đó Lý Thường Kiệt giữ vai trò phụ chính trong triều đình Đại Việt.
Chiến
tranh với Tống
Tiên
phát chế nhân
Bài
chi tiết: Chiến dịch đánh Tống,
1075-1076
Tập tin:Map Dai Viet danh
Tong.jpgBản đồ minh họa các mũi tiến công chinh phạt Ung Châu.
Năm 1075, Vương An Thạch cầm
quyền chính nhà
Tống,
tâu với vua Tống là Đại Việt bị Chiêm
Thành đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người,
có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu Di làm tri Quế
Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu
huyện không được mua bán với Đại Việt.
Thái
hậu Ỷ Lan biết tin, sai ông và Tôn
Đản đem
hơn 100.000 quân đi đánh. Quân bộ gồm 60.000 người do các tướng Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc,[18] Lưu
Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi
Thủ An chỉ huy, tổng chỉ huy là Tôn Đản. Bộ binh tập
trung ngay ở các châu Quảng Nguyên, Môn (Đông
Khê), Quang
Lang,
Tô Mậu rồi tràn sang đánh các trại Vĩnh
Bình, Thái Bình, Hoành
Sơn,
châu Tây Bình, Lộc
Châu.
Một cánh quân khác đóng gần biên giới Khâm châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng, Như Tích và Đề Trạo,
"quân ta tới đâu như vào nhà trống không người".[19]
Lý
Thường Kiệt chỉ huy 40.000 quân thủy cùng voi chiến đi đường biển từ châu Vĩnh
An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu
Khâm, Liêm; Tông Đản vây châu
Ung. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Đại
Việt tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân nhà Tống mà không phải
giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, 2
tháng 1 năm 1076, Liêm
Châu cũng
thất thủ.[20]
Khi
được tin hai châu Khâm, Liêm đã mất, nhà Tống rất hoang mang, lo ngại, các tướng
ở địa phương bối rối. Ty Kinh lược Quảng Nam tây lộ vội vã xin viện binh:
20.000 quân, 3.000 con ngựa, xin thêm khí giới, đồ dùng và một tháng lương, và
xin được điều động các dân khê động, tất cả lấy dọc đường từ Kinh châu đến Quảng
Tây.
Để điều khiển quân được mau chóng, ty ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía
bắc Ung Châu.[21]
Trong
lúc bối rối, triều đình Tống đối phó rất lúng túng. Vua Tống cách chức Lưu Di
và sai Thạch Giám thay coi Quế
Châu và
làm Kinh lược sứ Quảng
Tây.
Trên
các mặt trận, quân Đại Việt hoàn toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở
Khâm và Liêm
Châu tiến
lên phía Bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng
120 cây số, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến
sang phía đông bắc, chiếm lấy Bạch Châu, dường như để chặn quân tiếp viện của Tống
từ phía đông tới. Hẹn ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đạo quân sẽ cùng hội lại
vây chặt lấy Ung Châu.
Ung
Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giám cùng với 2.800 quân cương quyết
cố thủ.
Đô
giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem
quân đến cứu. Lý Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay thuộc thành phố Nam
Ninh,
khu tự trị Quảng
Tây)
phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận.
Tri
châu Ung là Tô
Giám cố
thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày. Sau cùng quân Việt dùng hỏa
công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước, không
thể chữa được cháy. Cuối cùng quân Đại Việt bắt dân Tống chồng bao đất cao đến
hàng trượng để họ trèo lên thành. Ngày thứ 42, thành bị hạ, tướng chỉ huy Tô
Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay quân Đại Việt.[22] Thường
dân trong thành không chịu hàng nên bị quân nhà Lý giết hết hơn 58.000 người, cộng
với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 100.000,[22] tuy
nhiên quân Đại Việt cũng tổn thất đến 10.000 người và nhiều voi chiến.[21]
Lý
Thường Kiệt chiếm xong thành Ung, lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi đem
quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Viên quan coi thành Tân Châu nghe thấy quân Đại
Việt kéo gần đến thành liền bỏ thành chạy trốn.[23] Mục
tiêu hoàn thành, Lý Thường Kiệt cho rút quân về.
Lý
Thường Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về nước. Nhà
Lý cho
những người phương bắc đó vào khai phá vùng Hoan - Ái (Thanh - Nghệ).
Phòng
thủ sông Như Nguyệt
Bài
chi tiết: Trận Như Nguyệt và Phòng tuyến sông Như Nguyệt
Do
tiền đồn ở Ung Châu là căn cứ tập trung quân để nam tiến bị phá tan, nhà
Tống phải
điều động thêm nhân lực và lương thảo để thực hiện chiến tranh với Đại Việt.
Tháng
3 năm 1076, nhà
Tống sai
Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách
Quỳ làm
Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9
tướng, hẹn với Chiêm
Thành và Chân
Lạp sang
xâm lấn Đại Việt, nhưng quân Chiêm Thành
và Chân Lạp không dám tiến vào Đại Việt.[24] Quân
Tống viễn chinh lên đến 10 vạn quân, một vạn ngựa và hai mươi vạn dân phu, khí
thế rất mạnh mẽ, nhất là kỵ binh Tống, nhưng quân Tống muốn phát huy kỵ binh
thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở, tới chỗ bằng, thì ngựa mới tung hoành
được.
Tuyến
phòng thủ của quân Đại Việt, Lý Thường Kiệt dựa vào sông núi, các đèo hiểm trở,
các sông rộng và sâu. Từ trại Vĩnh Bình vào châu Lạng, phải qua dãy núi rậm, có
đèo Quyết Lý, ở trên đường từ tỉnh Lạng Sơn đến Đông Mô ngày nay, vào khoảng
làng Nhân Lý, ở phía bắc châu Ôn. Rồi lại phải qua dãy núi lèn (đá không phá đất),
đá đứng như tường, ở giữa có đường đi rất hiểm: đó là ải Giáp Khẩu, tức
là ải Chi Lăng, ở phía bắc huyện Hữu
Lũng thuộc Lạng
Sơn ngày
nay. Về đường thủy, để chặn địch qua sông, quân Nam chỉ cần đóng thuyền ở bến Lục Đầu thì
đi đường nào cũng rất tiện và chóng.[21]
Các
tướng lĩnh thuộc Man Động như: Nùng Quang Lãm, Nùng Thịnh Đức coi ải Hà Nội,
Hoàng Kim Mãn và Sầm Khánh Tân giữ châu Môn, Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu, Lưu Kỷ
coi Quảng Nguyên khi quân Tống sang đã đầu hàng.[21] Duy
có phò mã Thân Cảnh Phúc giữ châu Quang Lang (Lạng
Sơn)
không những không chịu hàng mà còn rút vào rừng đánh du kích, giết rất nhiều
quân Tống. Những tướng lĩnh này trước kéo quân qua đất Tống, đánh rất giỏi.
Nhưng sau quân Tống tràn sang đánh báo thù, lúc đầu họ cự chiến, sau vì thất trận
và vì sự dụ dỗ, nên đã đầu hàng, thậm chí như Hoàng Kim Mẫn còn chỉ đường bày
mưu cho Tống. Sách Quế Hải Chí kể: "Viên tri châu Quang Lang là phò mã, bị
thua, bèn trốn vào trong rừng Động Giáp, rồi du kích hậu phương quân Tống. Rình
lúc bất ngờ đánh úp quân địch làm chúng rất sợ hãi".[21]
Quân
Tống tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đỉnh, tới phía tây bờ sông Phú
Lương; trong khi đó, một cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu
quân Nam ở Giáp Khẩu (Chi Lăng) và thẳng tới sông
Cầu.
Hoàng đế Lý Nhân Tông sai
Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến lũy sông Như
Nguyệt để chặn quân Tống. Sông Cầu từ địa phận Cao
Bằng chảy
đến Lục Đầu, hợp với sông Bạch Đằng.
Từ Lục Đầu ra đến biển, là một cái hào tự nhiên sâu và rộng, che chở cho đồng bằng
nước Việt để chống lại tất cả mọi cuộc ngoại xâm đường bộ từ Lưỡng Quảng kéo
vào. Đối với đường sá từ châu Ung tới Thăng Long, thì sông Bạch Đằng không can
hệ, vì đã có sông Lục Đầu, là cái hào ngăn trước rồi. Trái lại, sông Cầu rất
quan trọng. Thượng lưu sông Cầu qua vùng rừng núi rất hiểm. Chỉ có khoảng từ Thái
Nguyên trở xuống là có thể qua dễ dàng, và qua rồi thì
có đường xuôi. Nhưng sau sông, ở về phía tây có dãy núi Tam
Đảo,
là một cái thành không thể vượt. Chỉ có khoảng từ huyện Đa Phúc đến Lục Đầu là
phải phòng ngự bờ nam mà thôi. Trong khoảng ấy, lại chỉ khúc giữa, từ đò Như
Nguyệt đến chân núi Nham Biền, là có bến, có đường qua sông để tiến xuống miền
nam một cách dễ dàng thẳng và gần.[21]
Lý
Thường Kiệt đem chủ lực chặn con đường từ trại Vĩnh Bình đến sông Nam Định (sông
Cầu) bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lý
ở phía bắc châu Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía nam châu ấy. Nếu
hai phòng tuyến ấy bị tan, thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức là nam ngạn
sông Nam Định. Để cản quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt sai đắp đê nam ngạc
cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất
lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một
dãy thành hào, che chở cả vùng đồng bằng Giao Chỉ. Thành hào ấy dài gần trăm
cây số, khó vượt qua nhưng lại dễ phòng thủ hơn là một thành lẻ như thành Thăng
Long.
Cùng
lúc đó, thủy binh Tống do Hòa Mân và Dương Tùng Tiểu chỉ huy đã bị thủy quân Đại
Việt do Lý Kế Nguyên điều động, chặn
đánh ngoài khơi lối vào Vĩnh An. Quân Tống có kỵ binh mở đường tiến công quyết
liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Đại Việt tràn qua sông
Như Nguyệt, nhưng quân Nam đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân
Tống. Lý Thường Kiệt còn dùng chiến tranh tâm lý để khích lệ tinh thần quân Nam
chiến đấu. "Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều
phấn khởi. Quân Tống sợ, táng đảm, không đánh đã tan".[25]
Quân
Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu, không
được thủy quân tiếp viện. Quân Đại Việt lại tập kích, doanh trại của Phó tướng
Triệu Tiết bị phá, dù quân Tống cũng giết được hai tướng Đại Việt là Hoàng Chân
và Chiêu Văn.[22] Quân
Tống 10 phần chết đến 6, 7 phần.
Lý
Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Việt bị chiến
tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin "nghị hòa" để
quân Tống rút về. Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân. Sách Việt
Sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh dẫn cổ sử nói về nội tình của nhà Tống về
sự kiện này: Triều thần nhà Tống cho rằng "Cũng may mà lúc đó địch
lại xin giảng hòa, không thì chưa biết làm thế nào".
Hoàng Xuân Hãn,
tác giả sách Lý Thường Kiệt đã bình phẩm: "Giả
như các mặt trận đầu có quân trung châu, thì thế thủ xếp theo trận đồ của Lý
Thường Kiệt đã dàn ra, có lẽ đánh bại Tống từ đầu."
Chiến
tranh với Chiêm Thành
Xem
thêm: Chiến tranh Việt-Chiêm 1069
Dưới
thời Lý Thánh Tông,
Lý Thường Kiệt đã tham gia cuộc tấn công Chiêm Thành năm 1069. Ông cầm quân
truy đuổi và bắt được vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman 4).
Dưới
thời Lý Nhân Tông, ngoài việc cầm quân
đánh Tống, ông còn tiến công Chiêm
Thành vào năm 1075 nhưng
không thu được thắng lợi.
Những
năm cuối đời, ông còn cầm quân đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (1103). Năm 1104,
vua Chiêm Thành là Chế
Ma Na (Jaya Indravarman 2, 1086-1113)
đem quân đánh và lấy lại 3 châu Địa Lý v.v... mà vua Chế
Củ đã
cắt cho Đại Việt. Đến đây, Lý Thường Kiệt một lần nữa kéo quân đi đánh, phá tan
quân Chiêm, Chế Ma Na lại nộp đất ấy cho Đại Việt.
Cuối
đời
Non
sông sạch bóng quân thù. Lúc này vua mới 12 tuổi, Lý Thường Kiệt lại tiếp tục
gánh trách nhiệm lớn của triều đình trong công cuộc xây dựng đất nước, chăm lo
đời sống nhân dân. Ông đã cho tu bổ đê
điều, đường sá, đình chùa hư hỏng
trong chiến tranh và tiến hành nhiều
biện pháp nhằm cải tổ bộ máy hành chính trong toàn quốc.
Năm 1082,
ông thôi chức Thái
úy và
được cử về trị nhậm trấn Thanh Hóa. Làm việc ở đây suốt 19 năm trời, đến
năm 1101 thì
vua Lý Nhân Tông lại mời ông trở lại về triều giữ lại chức Nội thị phán
thủ đô áp nha hành điện nội ngoại đô tri sự. Lúc này ông đã 82 tuổi.
Già
rồi, nhưng ông vẫn tình nguyện cầm quân đi đánh giặc Lý Giác ở Diễn
Châu (năm
1103), dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố
Chính (năm 1104). Ông còn tổ chức lại quân đội, duyệt
đổi lại các đơn vị từ cấm binh đến dân quân.
Tháng
6 năm Ất
Dậu (1105),
Thái úy Lý Thường Kiệt mất, thọ 86 tuổi. Lý Nhân Tông truy phong ông làm Nhập
nội điện đô tri Kiểm hiệu Thái úy bình chương Quân quốc trọng sự (入内殿都知檢校太尉平章軍國重事), tước Việt quốc công (越國公), thực ấp 10.000 hộ và cho người em
là Lý Thường Hiến được
kế phong tước Hầu.
Thân
thế Hoạn quan
Nghiên
cứu của Hoàng Xuân Hãn
Có
một tranh cãi rất lớn về thông tin Lý Thường Kiệt là hoạn quan. Một
số ý kiến cho rằng, "hoạn quan" là [Sĩ hoạn; 仕宦], tức là "người thuộc tầng lớp
làm quan" để ám chỉ xuất thân nhà nhà làm quan của ông, và phủ định
việc Lý Thường Kiệt là hoạn quan. Tuy nhiên, theo dẫn chứng của Hoàng Xuân Hãn,
Lý Thường Kiệt đúng là một hoạn
quan,
và rất có thể ông đã tự hoạn mình để có thể đạt được danh tiếng trên con đường
sự nghiệp của mình.
Phần "Vào
cấm đình" thuộc Chương I: Gốc tích của Hoàng Xuân Hãn đưa ra rất
nhiều bằng chứng về vấn đề này:
|
“ |
Năm
lên 23 tuổi, là năm Tân Tỵ (1041), niên hiệu Can Phù Hữu Đạo đời Lý Thái
Tông, ông (Lý Thường Kiệt) được bổ vào ngạch thi vệ để hầu vua, và sung chức
Hoàng môn chỉ hậu. Chức này là một chức hoạn quan. Như
trên đã nói, ông cưới vợ mấy năm về trước.[26] Thế
thì, vì lẽ gì ông lại tĩnh thân để làm quan hoạn? Về việc này có nhiều thuyết. Bia
LX dựng đời Lý,[27] chỉ
nói tóm tắt rằng: "Lúc ông còn nhược quán, được cử vào cấm thát
hầu Thái Tông hoàng đế". Hai chữ "nhược quán" nghĩa
là tuổi vào khoảng hai mươi, gần đúng như lời bia NBS.[28] Sách
VĐƯL đời Trần,[29] chép
rằng: "Vì ông có dáng mặt đẹp, nên mới tĩnh thân mà sung vào chức
Hoàng môn chỉ hậu". Theo hai sử liệu xưa trên, thì ông tự yếm mà làm
quan hoạn. Nhưng
bia NBS có kể lại rằng: "Về việc này, có hai thuyết. Một thuyết:
lúc vua Lý Thái Tông đánh bắt được Nùng Trí Cao rồi
lại thả ra (1041), ông nhất thiết can; vua cho là thất lễ, bèn phạt bắt tĩnh
thân. Sau khi ông trở về nhà, vua lại triệu vào hầu cận".
Thuyết thứ hai là thuyết đã thấy ở sách VĐUL; rằng: Vua thấy mặt mũi đẹp đẽ,
cho ông tiền ba vạn, bảo tự yếm. Lý
Thường Kiệt đã tự yếm; đó là một sự thật, vì tuy thần tích có nói ông đã lấy
vợ, mà sau, sử ta cũng như sách Mộng khê bút đàm của người Tống đều nói ông
là một hoạn quan. Thuyết nói ông vì can vua mà bị nhục hình, thì chắc sai. Việc
bắt và tha Nùng Trí Cao là vào tháng 11 năm Tân Tỵ, 1041. Và cũng năm ấy ông
được vào cấm thát. Không lẽ trong hai tháng cuối năm, mà ông bị phạt nặng rồi
được cất lên cao như thế. Vả không lẽ vua vừa tha và phong hầu cho một nghịch
thần, mà lại bắt tự yếm một người tôi trung, trẻ tuổi. Thuyết
sau có lý hơn. Hoạn quan xưa nay nhiều quyền thế, vì thường ngày được ở cạnh
vua. Nhất là từ đời Đường, hoạn quan lại càng được thế. Khi trước, tuy được
vua tin nghe, những hoạn quan cũng thường chỉ hành động trong cung thất. Từ đời
Đường, thì được công nhiên cầm chính quyền hay làm đại tướng. Vì những lẽ ấy,
đời sau lắm kẻ tự tĩnh thân để được chọn. Đối với Lý Thường Kiệt, có đặc biệt
hơn là được vua ban tiền và sai làm. Ông nghe lời. Bấy giờ ông 23 tuổi. Không
biết bà vợ ra sao, hay là lúc ấy đã mất rồi. Không sách nào nói đến. Ông
vào cấm thát. "Chưa được một kỷ (12 năm), tiếng nổi nội
đình" (bia LX). Được thăng nhiều lần, lên đến chức Đô tri, ông
coi tất cả mọi việc trong cung (VĐUL và bia NBS). Năm Lý Thánh Tông lên ngôi
(1054, ông 36 tuổi), vì đã có công phù dực, ông được thăng chức Bổng hành
quân hiệu úy, tức là một chức võ quan cao cấp. Hằng ngày, ông hầu cận bên
vua, hiến việc tốt, can việc xấu, giúp vua hết mọi cách. Vì cần lao giúp rập,
nên được cất lên chức Kiểm hiệu thái bảo (bia LX), tức là một chức tại triều
rất cao. |
” |
|
|
— Phần "Vào
cấm đình" của Chương I: Gốc tích của sách Lý Thường Kiệt,
tác giả Hoàng Xuân Hãn. |
|
||
Sách
sử ghi nhận
Hầu
hết các sách sử Việt Nam xuất hiện từ thời Lê
sơ cùng nhà
Nguyễn, và khi chép về Lý Thường Kiệt cũng đã xác nhận ông
là một hoạn quan, hay gọi là Quan giám. Cụ thể như sau:
- Việt điện u linh tập[30] -
Thái úy Trung Phụ Dũng Vũ Uy Thắng công:"Ông nhiều mưu lược, có
tài tướng soái, lúc nhỏ phong tư tuấn nhã, có tiếng khen ra ngoài, được
sung làm chức Hoàng Môn Ký Hầu...Tiếm bình: Lý Thái úy là một quan Trung
Thường Thị. Trải thời ba triều, thủy chung không có tì vết, phương Bắc bẻ
gãy được nhà Tống lớn, phương Nam bình được nước Chiêm mạnh, kể cái công
nghiệp ở triều miếu thì giống như Lê Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành. Sống làm
danh tướng, chết làm danh thần, thật là không lấy gì làm thẹn mặt vậy; ai
bảo trong phường quan Giám lại không có nhân vật xuất sắc
như thế, công nghiệp vĩ đại như thế!"
- Đại Việt sử ký toàn thư -
Trần triều Thái Tông hoàng đế bản kỷ:"Mùa đông, tháng 10, ban tiền
cho Phạm Ứng Mộng, bảo tự hoạn để vào hầu. Trước đó, vua nằm mơ đi chơi thấy
thần nhân chỉ một người bảo vua: "Người này có thể làm Hành khiển".
Tỉnh dậy, không biết là người nào. Một hôm tan buổi chầu, vua ngự ra ngoài
thành, thấy một người con trai theo học ở cửa nam thành, hình dáng giống hệt
người trong mộng, vua gọi đến hỏi, người đó ứng đối giống như những lời
trong mộng. Vua muốn trao cho chức Hành khiển, nhưng thấy khó, mới cho 400
quan tiền bảo tự hoạn, ban tên là Ứng Mộng. Sau này thăng dần
đến chức Hành khiển. Đó là bắt chước lệ cũ của triều Lý, dùng Lý
Thường Kiệt và Lý Thường Hiến vậy".
- Đại Việt sử ký tiền biên -
Lý triều Nhân Tông hoàng đế bản kỷ:"Mùa hạ tháng 6, Thái úy Lý Thường
Kiệt mất. Lý Thường Kiệt nhiều mưu lược có tài làm tướng. Khi còn ít tuổi,
vì có tướng mạo đẹp, tự thiến sung chức Hoàng môn chi hậu..."
- Lịch triều hiến
chương loại chí:"Ông người ở phường Thái
Hòa, thành Thăng Long. Lúc trẻ dáng điệu bảnh bao, tự thiến mình,
được sung chức Hoàng môn chi hậu".
- Khâm định Việt
sử thông giám cương mục:"Giáp Dần,
năm thứ 4 (1254). (Tống, năm Bảo Hựu thứ 2). Tháng 10, mùa đông. Nhà vua bắt
Phạm Ứng Mộng tự thiến mình để vào hầu trong cung cấm. Nhà vua chiêm bao
thấy mình đi chơi, gặp thần nhân trỏ vào một người mà bảo vua rằng:
"Người này có thể làm hành khiển được". Lúc tỉnh dậy, nhà vua
ghi lấy việc ấy. Một hôm, sau khi tan chầu rồi, vua ra chơi ngoài thành,
thấy một người con trai đi từ phía nam lại, trông hệt như người mà mình đã
thấy trong lúc chiêm bao. Gọi lại hỏi, người ấy đối đáp cũng như những lời
đã nói trong lúc chiêm bao. Ý nhà vua muốn cho làm Hành khiển, nhưng nghĩ
khó khăn không biết làm thế nào cho hợp lệ, liền ban cho bốn trăm quan tiền
để tự thiến mình, đặt tên cho là Ứng Mộng, sau thăng dần lên đến
chức Hành khiển. Việc này có lẽ bắt chước như việc dùng Lý Thường
Kiệt, Lý Thường Hiến ở triều nhà Lý".
- Đại Nam thực lục -
Đệ nhị kỷ chép lời bàn của vua Minh
Mạng:"Ất Mùi, Minh Mệnh năm thứ 16... Tựu
trung Lý Thường Kiệt nhà Lý tuy ưu việt về phần võ lược, nhưng xuất
thân từ hoạn quan".
Dù
cho nhiều ý kiến trái chiều về sự thật về thân thế hoạn quan của Lý Thường Kiệt,
cũng như tất cả các sách đều là từ sau thời nhà Hậu Lê - khoảng thời đại
chuộng Nho giáo nhất trong lịch sử
Việt Nam. Thế nhưng cơ bản có thể thấy được việc ông là hoạn quan đã được [công
nhận một cách chính thức] từ rất nhiều bộ sử lớn, ít nhất là với quan niệm
của người Việt từ thời Hậu Lê trở đi.
Bài
thơ Nam quốc sơn hà
Bài
chi tiết: Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà là bài thơ chưa
rõ nguồn gốc tác giả mà nhiều tài
liệu dân gian cho là của ông đang đêm sai người tâm phúc đọc vang trong đền thờ
Trương Hống, Trương Hát (thuộc địa phận sông
Như Nguyệt, khúc sông Cầu, huyện Yên Phong, lộ Bắc Ninh, nay là
huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). Bài thơ được coi là một bản tuyên ngôn độc lập đầu
tiên trong lịch sử dân tộc để
cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt chống lại quân Tống lần thứ 2.
Bản
gốc
Nguyên
bản chữ Hán:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Bản
phiên âm Hán-Việt:
Nam
quốc sơn hà
Nam
quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt
nhiên định phận tại thiên thư.
Như
hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ
đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản
dịch thơ của Trần Trọng Kim:
Sông
núi nước Nam
Sông
núi nước Nam vua Nam ở,
Rành
rành định phận tại sách trời.
Cớ
sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng
bay sẽ bị đánh tơi bời.
Nhận
định
|
Cơ Xá Linh Từ - đền thờ Lý Thường Kiệt - ở phố Nguyễn
Huy Tự phường Bạch Đằng (đất làng Cơ Xá cũ) quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. |
Trong
Bài bia ký chùa Báo Ân núi An Hoạch, Chu Văn Thường – một quan chức ở
quận Cửu Chân, trấn Thanh Hóa đời Lý Nhân Tông ca ngợi Lý Thường Kiệt:
|
“ |
Nay
có Thái úy Lý công, giúp vua thứ tư triều Lý... Ông đứng trước tiết lớn, vâng
mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài
trăm dặm. Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược,
phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt
bảy lần đều thả. Đâu phải riêng nhà
Hán có công huân Hàn, Bành, nước Tề có
sự nghiệp Quản, Án. Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh nhiều năm. Đó
chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy. |
” |
|
— Chu
Văn Thường |
||
Bia
chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn cũng ca ngợi ông:
|
“ |
Làm
việc thì siêng năng, điều khiển dân thì đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy.
Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính
trọng. Dùng uy vũ để trừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho
nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước
lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe
khoang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ
thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trị nước, cái thuật
yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả. |
” |
|
— Bia
chùa Linh Xứng |
||
Sử
thần nhà Lê Trung hưng Ngô Thì Sĩ, trong sách Việt sử tiêu án,
đã đề cao Lý Thường Kiệt qua việc so sánh chiến công đánh Tống của ông với các
chiến thắng của Ngô
Quyền, Lê Đại Hành và Trần Hưng Đạo:
|
“ |
Làm
việc thì siêng năng, điều khiển dân thì đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy.
Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính
trọng. Dùng uy vũ để trừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho
nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước
lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe
khoang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ
thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trị nước, cái thuật
yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả. |
” |
|
— Bia
chùa Linh Xứng |
||
Sử
gia đời Nguyễn Phan
Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại
chí, quyển IX, có nhận xét về vị trí của Lý Thường Kiệt
so với các nhà
chính trị, quân
sự khác
của Đại Việt thời Lý:
|
“ |
Nước
ta đánh nhau với quân nước Trung Hoa nhiều lần, từ vua Nam Đế trở về trước,
việc đã lâu rồi, sau này vua Ngô Tiên Chúa đánh Bạch Đằng, vua Lê Đại Hành
đánh trận Lạng Sơn, vua Trần Nhân Tôn đánh
đuổi được Toa
Đô, Thoát
Hoan, những trận được vẻ vang đó là câu chuyện
hãnh diện của nước ta, nhưng đều là giặc đến đất nước, bất đắc dĩ mà phải ứng
chiến. Còn đến đường đường chính chính đem quân vào nước người, khi đánh
không ai địch nổi, khi kéo quân về không ai dám đuổi theo, như trận đánh Ung
Liêm này thật là đệ nhất võ công, từ đấy người nước Tầu không dám coi thường
chúng ta, đến những đồ cống, hình thức thơ từ, không dám hà trách, chỉ sợ lại
sinh ra hiềm khích. Đến thơ từ của nước ta đưa cho Trung Hoa chỉ dùng có hai
tấm ván sơn đen, liệt tên vài vị đại thần dùng ấn tín Trung thư môn hạ mà
đóng vào, thế thì triều Lý được trịch với Tống nhiều lắm. |
” |
|
— Việt
sử tiêu án |
||
Đào
Cam Mộc và Tôn Đản không muốn tham dự triều chính, mỗi lần đánh giặc xong thì về
ở trang trại vui thú điền viên, nên không nổi danh về đường quan trường (theo
tài liệu nghiên cứu từ nhiều nguồn của Trần Đại Sĩ).[32]
Trong văn hoá đại chúng
|
Năm |
Tác Phẩm |
Diễn Viên |
Thể Loại |
|
2009 |
Ngàn Năm Tình Sử |
Kịch nói |
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét