2020-10-24
Không gia đình
Hector Malot
(Bản tiếng Pháp sau phần tiếng Việt)
Lời tựa:
Không gia đình (tiếng Pháp: Sans famille), còn được dịch là Vô
gia đình, có thể được xem là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn Pháp Hector
Malot, được xuất bản năm 1878. Tác phẩm đã được giải thưởng của Viện Hàn lâm
Văn học Pháp. Nhiều nước trên thế giới đã dịch lại tác phẩm và xuất bản nhiều
lần. Từ một trăm năm nay, Không gia đình đã trở thành quen thuộc đối với thiếu
nhi Pháp và thế giới. Kiệt tác này đã được xuất hiện nhiều lần trên phim ảnh và
truyền hình. Xin giới thiệu với anh/chị chương đầu tiên của tác phẩm.
~~~
Chương 1 - Làng tôi
Tôi là một đứa trẻ bị bỏ rơi.
Mãi đến năm lên tám, tôi vẫn tưởng tôi có một người mẹ như những
đứa trẻ khác, vì lúc nào tôi khóc thì lại có một bà đến dịu dàng ôm tôi vào
lòng, dỗ dành cho tôi nín.
Mỗi khi tôi đi ngủ lại có bà đến vuốt ve tôi. Về mùa đông, khi
gió gieo tuyết vào cửa kính trắng xóa, bà kéo chân tôi ủ vào hai bàn tay bà và
ru tôi. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ giọng hát và câu hát ru của bà.
Khi tôi chăn con bò sữa trên những ven đường cỏ xanh hay ở bãi
hoang mà chợt gặp mưa to, bà vội vã chạy ra đón, kéo vạt áo che đầu cho tôi và
đưa tôi về.
Khi tôi cãi nhau với một đứa trẻ khác, bà bảo tôi kể lại cho bà
nghe, rồi bà tìm lời ngọt ngào dỗ tôi và bao giờ cũng cho tôi là phải.
Vì những điều đó và nhiều điều khác nữa, vì giọng nói âu yếm, vì
đôi mắt trìu mến của bà, vì những sự vỗ về thương yêu tôi, vì vẻ nhân từ của bà
dẫu khi trách mắng tôi, tôi luôn nghĩ bà là mẹ tôi.
Tôi biết bà chỉ là mẹ nuôi tôi thôi, như thế này đây.
Làng tôi, hay gọi cho đúng, nơi tôi được nuôi nấng, vì tôi không
có làng riêng cho tôi, không có nơi sinh, mà không có cả cha lẫn mẹ nữa, làng
mà tôi đã sống trong thời thơ ấu gọi là Savanong, một làng trong những làng
nghèo nhất ở miền Trung nước Pháp.
... nghèo nàn đó không phải là tại .... đần độn hay lười biếng
mà chính vì vị trí của làng ở vào một nơi đất khô cằn. Đất lớp mặt mỏng, muốn
được hoa màu tốt phải có phân bón nhưng ở miền này đều thiếu thốn. Vì thế người
ta chỉ thấy một số ít ruộng được cày cấy, còn toàn là những bãi hoang bao la để
cho bụi rậm và cỏ mọc đầy. Trên những bãi cao đó, lác đác cũng có một vài khóm
cây to, nhưng khi những ngọn gió may thổi đến, thì chỉ còn trơ những cành khẳng
khiu.
Muốn thấy những cây đẹp, phải xuống thung lũng, đến chỗ các bờ
sông nhỏ; trong những đồng cỏ hẹp mới có những cây dẻ cao và những cây sồi to
lớn xum xuê. Chính ở một trong những thung lũng đó, trên bờ một dòng suối chảy
xiết đổ vào phụ lưu của sông Loa, có ngôi nhà thân yêu của tôi thời thơ ấu.
Cho đến năm lên tám, tôi chưa hề trông thấy một người đàn ông
nào trong nhà. Tuy nhiên, mẹ tôi không phải góa bụa, vì chồng bà đi làm thợ đẽo
đá ở Pari cũng như phần đông những người thợ khác ở vùng này. Từ ngày tôi đến
tuổi hiểu biết, tôi không thấy ông ta về lần nào. Thỉnh thoảng bạn cùng làm về
quê thì ông nhắn tin thôi.
- Bà Bacbơranh ơi! Ông nhà vẫn khỏe mạnh, có nhờ tôi về nói cho
bà biết là việc làm ăn cũng khá và có gửi ít tiền về đây. Bà đếm lại xem!
Chỉ có thế thôi. Bà Bacbơranh cũng đành biết có thế là đủ: chồng
bà mạnh giỏi, công việc đều, làm ăn khá. Ông Bacbơranh ở mãi Pari không về,
không phải là trong gia đình có chuyện xích mích gì đâu. Việc bất hòa không
phải là nguyên nhân cuộc xa vắng đó. Ông phải ở luôn Pari vì công việc bắt
buộc, chỉ có thế thôi. Khi già ông sẽ trở về. Với số tiền góp nhặt, dành dụm,
vợ chồng ông sẽ khỏi bị đói rét khi tuổi già sức yếu.
Một buổi chiều về tháng Mười Một, trời sắp tối, có một người đàn
ông lạ mặt, đến đứng ngoài bờ giậu. Tôi ở trên hè đang bẻ củi chà là. Người ấy
đứng ngoài nghển đầu vào hỏi tôi có phải đây là nhà bà Bacbơranh.
Tôi mời ông ta vào. Ông khách đẩy cửa làm cho sợi dây buộc kêu
cót két rồi bước vào.
Ông ta lấm như vùi. Những vẩy bùn chỗ khô, chỗ ướt bám từ đầu
xuống chân. Trông thấy thế, ai cũng hiểu rằng ông ta đã vất vả trên những con
đường lầy lội. Nghe có tiếng người, mẹ tôi chạy ra thì vừa gặp ông ta đang vào.
Ông ta nói:
- Tôi đem tin từ Pari về đây!
Đó là một câu rất quen tai, nhưng câu đó nghe khác hẳn giọng nói
các câu mấy lần trước thường kèm thêm những tin: "Ông ấy khỏe mạnh, làm ăn
khá".
Mẹ tôi chắp tay lại và kêu to:
- Trời ơi! Chắc có tin chẳng lành cho ông Giê-rôm nhà tôi rồi!
- Phải đấy! Bà đừng lo sợ quá. Ông nhà bị thương, may không
chết. Nhưng có lẽ rồi thành tật. Hiện giờ ông nằm nhà thương. Tôi nằm giường
bên cạnh. Nhân tôi về quê, ông bảo đi qua nhắn giúp. Thôi, chào bà, tôi không
thể ở lâu được, vì còn phải đi ba dặm nữa, mà trời đã sắp tối rồi.
Mẹ tôi muốn biết tường tận hơn nên đã mời ông khách ở lại ăn
cơm. Đường thì xấu, mà người ta lại bảo trong rừng có nhiều chó sói, nên ông ta
cũng vui lòng ở lại. Ông ta ngồi trong góc cạnh lò sưởi, vừa ăn vừa kể lại cho
chúng tôi nghe.
Ông Bacbơranh bị giàn giáo xây nhà đổ sập xuống đè phải. Xét ra
lúc bấy giờ không phải việc ông ở đấy, nên chủ thầu không chịu bồi thường. Ông
khách nói thêm:
- Thực không may! Phải kẻ tinh khôn hơn, có lẽ họ tìm cách đòi
được tiền trợ cấp suốt đời. Nhưng ông nhà thì chẳng được đồng nào.
Ông ta vừa sấy đôi ống quần cứng cộp vì bùn khô lại, vùa nhắc
lại câu "Thực không may!" với một vẻ buồn thành thực như tỏ ra rằng
nếu vào địa vị ông, ông sẽ vui lòng xin cưa phăng đi một chân hòng đòi khoản
trợ cấp suốt đời. Để kết thúc câu chuyện, ông nói:
- Tuy nhiên, tôi đã khuyên ông nhà đệ đơn kiện chủ thầu.
Mẹ tôi nói:
- Kiện thì tốn kém lắm!
- Phải, nhưng lúc được kiện thì cũng bõ!
Mẹ tôi muốn đi Pari xem sao, nhưng đi là cả một sự phiền phức vì
đường sá xa xôi và tốn nhiều tiền.
Sáng hôm sau, chúng tôi đến hỏi ý kiến linh mục làng. Cha bảo để
xét xem mẹ tôi ra đó có lợi ích gì, thì hãy nên đi. Rồi cha viết thư cho cha
tuyên úy ở nhà thương ông Bacbơranh nằm điều trị. Mấy hôm sau, cha nhận được
thư trả lời, bảo mẹ tôi không phải đi, chỉ cần gửi ít tiền ra cho ông để kiện
chủ thầu.
Ngày, tháng qua, thỉnh thoảng lại có thư về hỏi tiền. Lá thư
cuối cùng khẩn bách hơn, bảo nếu hết tiền thì đem bán con bò sữa đi mà gửi.
Những ai đã sống ở nhà quê, mới biết có bao nhiêu khổ não, đau
đớn trong hai tiếng "bán bò sữa".
Đối với nhà động vật học, bò là giống nhai lại; dưới con mắt của
du khách, đó là con vật tô điểm cho phong cảnh nên thơ mỗi khi nó nghếch cái
mồm đẫm sương trên thảm cỏ; với trẻ con ở tỉnh, bò là nguồn cà phê sữa, bánh
phó-mát kem. Nhưng đối với dân quê, còn có những điều hơn thế. Nhà dù nghèo đến
thế nào, khó đến thế nào, nếu trong chuồng có được một con bò cái, thì nhất
định không phải nhịn đói.
Chỉ với một cái dây thừng để dài hay quấn gọn trên sừng là đủ để
một đứa trẻ có thể chăn bò trên những con đường đầy cỏ xanh non, nơi không
thuộc về ai. Rồi chiều đến, cả gia đình có đủ bơ để nấu súp, đủ sữa để dầm
khoai. Cha, mẹ, con cái, người lớn cũng như trẻ con, mọi người đều sống nhờ con
bò.
Mẹ tôi và tôi, sống rất no đủ nhờ con bò của chúng tôi, ngoài
sữa ra không hề cần đến thịt thà. Con bò cái đó không những là vú nuôi của
chúng tôi, nó còn là một người bạn chân tình nữa. Ta chớ tưởng con bò là một
con vật không biết gì, trái lại, nó là giống rất thông minh và có nhiều đức
tính ngày thêm nảy nở do sự huấn luyện mà ra. Chúng tôi vuốt ve nó, nói chuyện
với nó, nó hiểu chúng tôi. Bằng đôi mắt to tròn, dịu hiền, nó có thể tỏ cho
chúng tôi biết ý muốn hoặc sự cảm biết của nó. Nói tóm lại, chúng tôi yêu nó và
nó cũng mến chúng tôi.
Thế mà chúng tôi phải lìa bỏ nó, lìa nhau vì phải bán nó mới làm
cho ông Bacbơranh vừa lòng.
Hôm sau, một người lái đến. Sau khi ngắm nghía con Russet, rồi
vừa sờ nắn, vừa lắc đầu nói đi nói lại đến trăm lần là con bò này chẳng vừa ý
ông ta chút nào, bò nhà nghèo, khó bán lại, đã ít sữa mà sữa lại xấu. Sau cùng,
ông ta cũng cố gắng mua, cốt để tỏ lòng tốt muốn giúp đỡ bà Bacbơranh là một
người đàn bà đảm đang.
Tội nghiệp cho con Russet. Hình như nó cũng biết câu chuyện vừa
diễn ra, nên không chịu ra khỏi chuồng và kêu rống lên.
Người lái tháo cái roi vẫn quàng ở cổ, đưa cho tôi và bảo:
- Em vào phía sau đánh cho nó ra.
Mẹ tôi bảo:
- Đừng làm thế! Rồi cầm lấy dây, mẹ tôi nói nhẹ nhàng:
- Russet ra đây! Ngoan!
Con Russet không dám kháng cự nữa. Ra đến đường cái, người lái
buộc dây bò vào sau xe, thế là nó phải chạy theo ngựa.
Chúng tôi trở về nhà, vẫn còn nghe thấy tiếng bò kêu, lâu lâu
mới hết.
Thế là chẳng còn sữa, chẳng còn bơ. Từ nay, sáng ăn bánh suông,
chiều ăn khoai chấm muối.
Bán bò được mấy hôm thì đến ngày lễ "Tuần chay". Năm
ngoái, cũng ngày này, mẹ tôi đã làm một bữa bánh rán, bánh sữa rất ngon. Tôi ăn
lấy ăn để, mẹ tôi tỏ vẻ sung sướng vô cùng.
Bấy giờ chúng tôi còn Russet, nó cho sữa pha bột, cho bơ để bỏ
chảo. Bây giờ không còn Russet nữa, hết bơ, hết sữa, hết ngày "Tuần
chay". Tôi nghĩ mà buồn.
Nhưng mẹ tôi đã đem lại cho tôi một sự ngạc nhiên. Không phải
vay mượn ai, bà đã xin hàng xóm người này một chén sữa, người kia một miếng bơ.
Khoảng trưa tôi về nhà, thấy bà đang lúi húi đổ bột vào chảo sành lớn. Tôi lại
gần mẹ tôi và nói:
- A! Nhà có bột!
Mẹ tôi vừa cười vừa đáp:
- Có chứ! Bột đấy! Chính bột mì đấy! Rémi, con xem bột có mịn
không?
Lòng tôi muốn hỏi bột đó dùng để làm gì, nhưng không dám nói ra.
Tôi cũng muốn nhắc hôm nay là ngày lễ "Tuần chay", nhưng sợ làm mẹ
tôi phiền lòng. Chợt mẹ tôi hỏi:
- Đố con biết bột dùng để làm gì?
- Làm bánh mì.
- Làm gì nữa?
- Nấu cháo sữa.
- Gì nữa?
- Trời! Con không biết!
- Có, con biết đấy. Nhưng con là đứa trẻ ngoan, nên con không
nói đấy thôi. Con biết hôm nay thứ ba, ngày "Tuần chay" được ăn bánh
rán, bánh sữa. Nhưng con thấy nhà hết bơ, hết sữa nên con không dám nhắc đến.
Phải không?
- Ôi! Mẹ...
- Mẹ biết trước thế. Nên mẹ đã sắp đặt để đến ngày lễ con khỏi
phải buồn tủi. Con nhìn trong thùng gỗ xem.
Tôi vội tới mở mạnh nắp ra, thì quả thấy nào sữa, nào bơ, nào
trứng, nào khoai. Mẹ tôi bảo:
- Lấy trứng ra đây cho mẹ làm! Con đi gọt khoai đi!
Trong khi tôi thái khoai, mẹ tôi đập trứng cho vào bột, đánh
đều, rồi thỉnh thoảng lại trộn vào một thìa sữa. Khi bột đã hòa xong, mẹ tôi
đặt chậu lên đống tro nóng để đến chiều làm, vì bữa tối chúng tôi mới dùng đến.
Tôi xin thú thật rằng ngày hôm đó tôi thấy dài quá và nhiều lần tôi vào bếp mở
trộm tấm khăn phủ chậu bột ra nhìn. Mẹ tôi gắt:
- Đừng mở! Bột mì bị lạnh vào không nở đâu!
Nhưng tôi thấy bột vẫn nở tốt. Nhiều chỗ phồng lên và trên mặt
có thứ nước như nước dùng. Bột lên men sao mà thơm thế, nức mùi trứng và sữa.
Mẹ tôi bảo:
- Con bẻ cho mẹ một ít củi vụn, để lửa cháy cho đượm và không có
khói.
Không cần phải bảo đến hai lần, tôi vào bếp luôn vì đã nóng ruột
lắm rồi. Trong giây lát, một ngọn lửa to đã bốc lên trong lò. Ánh sáng chiếu
khắp căn bếp. Mẹ tôi liền lấy chảo ở trên tường xuống, đặt lên lò:
- Lấy bơ cho mẹ.
Tôi đem bơ ra, mẹ tôi lấy mũi dao xén một miếng bằng quả hồ đào
và bỏ vào chảo, bơ chảy ra và kêu xèo xèo. A! Bơ thơm ngon quá vì đã lâu tôi
không ngửi thấy mùi. Đồng thời, tôi lại được nghe một khúc nhạc vui tai do lửa
reo và tiếng mỡ nổ tí tách trên lò.
Trong khi tôi chăm chú nghe những âm thanh đó, thì hình như có
tiếng bước chân ngoài sân. Ai lại có thể đến ám bên ta trong giờ này? Có lẽ bà
hàng xóm sang xin lửa chăng?
Nhưng tôi cũng chẳng để ý đến việc đó, vì mẹ tôi đang múc ở chậu
ra một thìa bột trắng tinh đổ vào chảo. Lúc này không phải là lúc nghĩ đến
chuyện khác.
Tiếng gậy chạm vào ngưỡng cửa, rồi bỗng nhiên cánh cửa mở toang
ra. Không ngoảnh cổ lại, bà Bacbơranh hỏi:
- Ai đấy?
Một người đàn ông bước vào. Nhờ ánh đèn đỏ, tôi trông rõ người
đó mặc một cái áo blu trắng, tay chống chiếc gậy to. Người đó nói giọng chương
chướng:
- Đây cũng ăn lễ "Tuần chay" à? Cứ làm đi.
Mẹ tôi bắc chảo ra, vội kêu to:
- A! Ông đã về đấy à?
Xong mẹ tôi cầm cánh tay tôi, đẩy tôi lại chỗ ông ta, ông đứng
dừng lại. Mẹ tôi bảo tôi:
- Cha con đấy!
➖ ➖ ➖
Sans Famille
~~~
À Lucie Malot.
Pendant que j'ai écrit ce livre, j'ai constamment pensé à toi,
mon enfant, et ton nom m'est venu à chaque instant sur les lèvres. - Lucie
sentira-t-elle cela ? - Lucie prendra-t-elle intérêt à cela? Lucie, toujours.
Ton nom, prononcé si souvent, doit donc être inscrit en tête de ces pages : je
ne sais la fortune qui leur est réservée, mais quelle qu'elle soit, elles
m'auront donné des plaisirs qui valent tous les succès, - la satisfaction de
penser que tu peux les lire, – la joie de te les offrir.
HECTOR MALOT.
PREMIÈRE PARTIE
I
Au village.
Je suis un enfant trouvé.
Mais jusqu'à huit ans j'ai cru que, comme tous les autres
enfants, j'avais une mère, car lorsque je pleurais, il y avait une femme qui me
serrait si doucement dans ses bras, en me berçant, que mes larmes s'arrêtaient
de couler.
Jamais je ne me couchais dans mon lit, sans qu'une femme vînt
m'embrasser, et, quand le vent de décembre collait la neige contre les vitres
blanchies, elle me prenait les pieds entre ses deux mains et elle restait à me
les réchauffer en me chantant une chanson, dont je retrouve encore dans ma
mémoire l'air, et quelques paroles.
Quand je gardais notre vache le long des chemins herbus ou dans
les brandes, et que j'étais surpris par une pluie d'orage, elle accourait
au-devant de moi et me forçait à m'abriter sous son jupon de laine relevé
qu'elle me ramenait sur la tête et sur les épaules.
Enfin quand j'avais une querelle avec un de mes camarades, elle
me faisait conter mes chagrins, et presque toujours elle trouvait de bonnes
paroles pour me consoler ou me donner raison.
Par tout cela et par bien d'autres choses encore, par la façon
dont elle me parlait, par la façon dont elle me regardait, par ses caresses,
par la douceur qu'elle mettait dans ses gronderies, je croyais qu'elle était ma
mère.
Voici comment j'appris qu'elle n'était que ma nourrice.
Mon village, ou pour parler plus justement, le village où j'ai
été élevé, car je n'ai pas eu de village à moi, pas de lieu de naissance, pas
plus que je n'ai eu de père et de mère, le village enfin où j'ai passé mon
enfance se nomme Chavanon ; c'est l'un des plus pauvres du centre de la France.
Cette pauvreté, il la doit non à l'apathie ou à la paresse de
ses habitants, mais à sa situation même dans une contrée peu fertile. Le sol
n'a pas de profondeur, et pour produire de bonnes récoltes il lui faudrait des
engrais ou des amendements qui manquent dans le pays. Aussi ne rencontre-t-on
(ou tout au moins ne rencontrait-on à l'époque dont je parle) que peu de champs
cultivés, tandis qu'on voit partout de vastes étendues de brandes dans
lesquelles ne croissent que des bruyères et des genêts. Là où les brandes
cessent, les landes commencent; et sur ces landes élevées les vents âpres
rabougrissent les maigres bouquets d'arbres qui dressent çà et là leurs
branches tordues et tourmentées.
Pour trouver de beaux arbres, il faut abandonner les hauteurs et
descendre dans les plis du terrain, sur les bords des rivières, où dans
d'étroites prairies poussent de grands châtaigniers et des chênes vigoureux.
C'est dans un de ces replis de terrain, sur les bords d'un
ruisseau qui va perdre ses eaux rapides dans un des affluents de la Loire que
se dresse la maison où j'ai passé mes premières années.
Jusqu'à huit ans, je n'avais jamais vu d'homme dans cette maison
; cependant ma mère n'était pas veuve, mais son mari qui était tailleur de
pierre, comme un grand nombre d'autres ouvriers de la contrée, travaillait à
Paris, et il n'était pas revenu au pays depuis que j'étais en âge de voir ou de
comprendre ce qui m'entourait. De temps en temps seulement, il envoyait de ses
nouvelles par un de ses camarades qui rentrait au village.
- Mère Barberin, votre homme va bien; il m'a chargé de vous dire
que l'ouvrage marche fort, et de vous remettre l'argent que voilà ; voulez-vous
compter ?
Et c'était tout. Mère Barberin se contentait de ces nouvelles :
son homme était en bonne santé ; l'ouvrage donnait ; il gagnait sa vie.
De ce que Barberin était resté si longtemps à Paris, il ne faut
pas croire qu'il était en mauvaise amitié avec sa femme. La question de
désaccord n'était pour rien dans cette absence. Il demeurait à Paris parce que
le travail l'y retenait ; voilà tout. Quand il serait vieux, il reviendrait
vivre près de sa vieille femme, et avec l'argent qu'ils auraient amassé, ils
seraient à l'abri de la misère pour le temps où l'âge leur aurait enlevé la
force et la santé.
Un jour de novembre, comme le soir tombait, un homme, que je ne
connaissais pas, s'arrêta devant notre barrière. J'étais sur le seuil de la
maison occupé à casser une bourrée. Sans pousser la barrière, mais en levant sa
tête par-dessus en me regardant, l'homme me demanda si ce n'était pas là que
demeurait la mère Barberin.
Je lui dis d'entrer.
Il poussa la barrière qui cria dans sa hart, et à pas lents il
s'avança vers la maison.
Jamais je n'avais vu un homme aussi crotté ; des plaques de
boue, les unes encore humides, les autres déjà sèches, le couvraient des pieds
à la tête, et à le regarder l'on comprenait que depuis longtemps il marchait
dans les mauvais chemins.
Au bruit de nos voix, mère Barberin accourut, et au moment où il
franchissait notre seuil, elle se trouva face à face avec lui.
- J'apporte des nouvelles de Paris, dit-il.
C'étaient là des paroles bien simples et qui déjà plus d'une
fois avaient frappé nos oreilles, mais le ton avec lequel elles furent
prononcées ne ressemblait en rien à celui qui autrefois accompagnait les mots :
"Votre homme va bien, l'ouvrage marche."
- Ah ! mon Dieu ! s'écria mère Barberin en joignant les mains,
un malheur est arrivé à Jérôme.
- Eh bien, oui, mais il ne faut pas vous rendre malade de peur ;
votre homme à été blessé voilà la vérité ; seulement il n'est pas mort.
Pourtant il sera peut-être estropié. Pour le moment il est à l'hôpital. J'ai
été son voisin de lit, et comme je rentrais au pays il m'a demandé de vous
conter la chose en passant. Je ne peux pas m'arrêter, car j'ai encore trois
lieues à faire et la nuit vient vite.
Mère Barberin, qui voulait en savoir plus long, pria l'homme de
rester à souper ; les routes étaient mauvaises ; on parlait de loups qui
s'étaient montrés dans les bois ; il repartirait le lendemain matin.
Il s'assit dans le coin de la cheminée et tout en mangeant, il
nous raconta comment le malheur était arrivé : Barberin avait été à moitié
écrasé par des échafaudages qui s'étaient abattus, et comme on avait prouvé
qu'il ne devait pas se trouver à la place où il avait été blessé,
l'entrepreneur refusait de lui payer aucune indemnité.
- Pas de chance, le pauvre Barberin, dit-il, pas de chance ; il
y a des malins qui auraient trouvé là-dedans un moyen pour se faire faire des
rentes, mais votre homme n'aura rien.
Et tout en séchant les jambes de son pantalon qui devenait raide
sous leur enduit de boue durcie, il répétait ce mot : "pas de
chance"avec une peine sincère, qui montrait que pour lui, il se fût fait
volontiers estropier dans l'espérance de gagner ainsi de bonnes rentes.
- Pourtant, dit-il en terminant son récit, je lui ai donné le
conseil de faire un procès à l'entrepreneur.
- Un procès, cela coûte gros.
- Oui, mais quand on le gagne !
Mère Barberin aurait voulu aller à Paris, mais c'était une
terrible affaire qu'un voyage si long et si coûteux.
Le lendemain matin nous descendîmes au village pour consulter le
curé. Celui-ci ne voulut pas la laisser partir sans savoir avant si elle
pouvait être utile à son mari. Il écrivit à l'aumônier de l'hôpital où Barberin
était soigné, et quelques jours après il reçut une réponse, disant que mère
Barberin ne devait pas se mettre en route, mais qu'elle devait envoyer une
certaine somme d'argent à son mari, parce que celui-ci allait faire un procès à
l'entrepreneur chez lequel il avait été blessé.
Les journées, les semaines s'écoulèrent et de temps en temps il
arriva des lettres qui toutes demandaient de nouveaux envois d'argent ; la
dernière, plus pressante que les autres, disait que s'il n'y avait plus
d'argent, il fallait vendre la vache pour s'en procurer.
Ceux-là seuls qui ont vécu à la campagne avec les paysans savent
ce qu'il y a de détresses et de douleurs dans ces trois mots : "vendre la
vache."
Pour le naturaliste, la vache est un animal ruminant ; pour le
promeneur, c'est une bête qui fait bien dans le paysage lorsqu'elle lève
au-dessus des herbes son mufle noir humide de rosée ; pour l'enfant des villes,
c'est la source du café au lait et du fromage à la crème ; mais pour le paysan,
c'est bien plus et bien mieux encore. Si pauvre qu'il puisse être et si
nombreuse que soit sa famille, il est assuré de ne pas souffrir de la faim tant
qu'il a une vache dans son étable. Avec une longe ou même avec une simple hart
nouée autour des cornes, un enfant promène la vache le long des chemins herbus,
là où la pâture n'appartient à personne, et le soir la famille entière a du
beurre dans sa soupe et du lait pour mouiller ses pommes de terre : le père, la
mère, les enfants, les grands comme les petits, tout le monde vit de la vache.
Nous vivions si bien de la nôtre, mère Barberin et moi, que
jusqu'à ce moment je n'avais presque jamais mangé de viande. Mais ce n'était
pas seulement notre nourrice qu'elle était, c'était encore notre camarade,
notre amie, car il ne faut pas s'imaginer que la vache est une bête stupide,
c'est au contraire un animal plein d'intelligence et de qualités morales
d'autant plus développées qu'on les aura cultivées par l'éducation. Nous
caressions la nôtre, nous lui parlions, elle nous comprenait, et de son côté,
avec ses grands yeux ronds pleins de douceur, elle savait très-bien nous faire
entendre ce qu'elle voulait ou ce qu'elle ressentait.
Enfin nous l'aimions et elle nous aimait, ce qui est tout dire.
Pourtant il fallut s'en séparer, car c'était seulement par
"la vente de la vache"qu'on pouvait satisfaire Barberin.
Il vint un marchand à la maison et après avoir bien examiné la
Roussette, après l'avoir longuement palpée en secouant la tête d'un air
mécontent, après avoir dit et répété cent fois qu'elle ne lui convenait pas du
tout, que c'était une vache de pauvres gens qu'il ne pourrait pas revendre,
qu'elle n'avait pas de lait, qu'elle faisait du mauvais beurre, il avait fini
par dire qu'il voulait bien la prendre, mais seulement par bonté d'âme et pour
obliger mère Barberin qui était une brave femme.
La pauvre Roussette, comme si elle comprenait ce qui se passait,
avait refusé de sortir de son étable et elle s'était mise à meugler.
- Passe derrière et chasse-la, m'avait dit le marchand en me
tendant le fouet qu'il portait passé autour de son cou.
- Pour ça non, avait dit mère Barberin.
Et, prenant la vache par la longe, elle lui avait parlé
doucement.
- Allons, ma belle, viens, viens.
Et Roussette n'avait plus résisté ; arrivée sur la route, le
marchand l'avait attachée derrière sa voiture, et il avait bien fallu qu'elle
suivît le cheval.
Nous étions rentrés dans la maison. Mais longtemps encore nous
avions entendu ses beuglements.
Plus de lait, plus de beurre. Le matin un morceau de pain ; le
soir des pommes de terre au sel.
Le mardi gras arriva justement peu de temps après la vente de
Roussette ; l'année précédente, pour le mardi gras, mère Barberin m'avait fait
un régal avec des crêpes et des beignets ; et j'en avais tant mangé, tant mangé
qu'elle en avait été toute heureuse.
Mais alors nous avions Roussette, qui nous avait donné le lait
pour délayer la pâte et le beurre pour mettre dans la poêle.
Plus de Roussette, plus de lait, plus de beurre, plus de mardi
gras ; c'était ce que je m'étais dit tristement.
Mais mère Barberin m'avait fait une surprise ; bien qu'elle ne
fût pas emprunteuse, elle avait demandé une tasse de lait à l'une de nos
voisines, un morceau de beurre à une autre et quand j'étais rentré, vers midi,
je l'avais trouvée en train de verser de la farine dans un grand poêlon en
terre.
- Tiens ! de la farine, dis-je en m'approchant d'elle.
- Mais oui, fit-elle en souriant, c'est bien de la farine, mon
petit Rémi, de la belle farine de blé ; tiens, vois comme elle fleure bon.
Si j'avais osé, j'aurais demandé à quoi devait servir cette
farine ; mais précisément parce que j'avais grande envie de le savoir, je
n'osais pas en parler. Et puis d'un autre côté je ne voulais pas dire que je
savais que nous étions au mardi gras pour ne pas faire de la peine à mère
Barberin.
- Qu'est-ce qu'on fait avec de la farine ? dit-elle me
regardant.
- Du pain.
- Et puis encore ?
- De la bouillie.
- Et puis encore ?
- Dame… Je ne sais pas.
- Si, tu sais bien. Mais comme tu es un bon petit garçon, tu
n'oses pas le dire. Tu sais que c'est aujourd'hui mardi gras, le jour des
crêpes et des beignets. Mais comme tu sais aussi que nous n'avons ni beurre, ni
lait, tu n'oses pas en parler. C'est vrai ça ?
- Oh ! mère Barberin.
- Comme d'avance j'avais deviné tout cela, je me suis arrangée
pour que mardi gras ne te fasse pas vilaine figure. Regarde dans la huche.
Le couvercle levé, et il le fut vivement, j'aperçus le lait, le
beurre, des œufs et trois pommes.
- Donne-moi les œufs, me dit-elle, et, pendant que je les casse,
pèle les pommes.
Pendant que je coupais les pommes en tranches, elle cassa les
œufs dans la farine et se mit à battre le tout, en versant dessus, de temps en
temps, une cuillerée de lait.
Quand la pâte fut délayée, mère Barberin posa la terrine sur les
cendres chaudes, et il n'y eut plus qu'à attendre le soir, car c'était à notre
souper que nous devions manger les crêpes et les beignets.
Pour être franc, je dois avouer que la journée me parut longue
et que plus d'une fois j'allai soulever le linge qui recouvrait la terrine.
- Tu vas faire prendre froid à la pâte, disait mère Barberin, et
elle lèvera mal.
Mais elle levait bien, et de place en place se montraient des
renflements, des sortes de bouillons qui venaient crever à la surface. De toute
la pâte en fermentation se dégageait une bonne odeur d'œufs et de lait.
- Casse de la bourrée, me disait-elle ; il nous faut un bon feu
clair, sans fumée.
Enfin, la chandelle fut allumée.
- Mets du bois au feu ! me dit-elle.
Il ne fut pas nécessaire de me répéter deux fois cette parole
que j'attendais avec tant d'impatience. Bientôt une grande flamme monta dans la
cheminée, et sa lueur vacillante emplit la cuisine.
Alors mère Barberin décrocha de la muraille la poêle à frire et
la posa au-dessus de la flamme.
- Donne-moi le beurre.
Elle en prit, au bout de son couteau, un morceau gros comme une
petite noix et le mit dans la poêle, où il fondit en grésillant.
Ah ! c'était vraiment une bonne odeur qui chatouillait d'autant
plus agréablement notre palais que depuis longtemps nous ne l'avions pas
respirée.
C'était aussi une joyeuse musique celle produite par les
grésillements et les sifflements du beurre.
Cependant, si attentif que je fusse à cette musique, il me
sembla entendre un bruit de pas dans la cour.
Qui pouvait venir nous déranger à cette heure ? Une voisine sans
doute, pour nous demander du feu.
Mais je ne m'arrêtai pas à cette idée, car mère Barberin qui
avait plongé la cuiller à pot dans la terrine, venait de faire couler dans la
poêle une nappe de pâte blanche, et ce n'était pas le moment de se laisser
aller aux distractions.
Un bâton heurta le seuil, puis aussitôt la porte s'ouvrit
brusquement.
- Qui est-là ? demanda mère Barberin sans se retourner.
Un homme était entré, et la flamme qui l'avait éclairé en plein
m'avait montré qu'il était vêtu d'une blouse blanche et qu'il tenait à la main
un gros bâton.
- On fait donc la fête ici ? Ne vous gênez pas, dit-il d'un ton
rude.
- Ah ! mon Dieu ! s'écria mère Barberin en posant vivement sa
poêle à terre, c'est toi, Jérôme ?
Puis me prenant par le bras elle me poussa vers l'homme qui
s'était arrêté sur le seuil.
- C'est ton père.
➖ ➖ ➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét