2020-11-07
Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên
(Truyền Kỳ Mạn Lục)
Nguyễn Dữ
Trong năm Quang Thái ① đời nhà Trần, người ở Hóa
Châu ② tên
là Từ Thức, vì có phụ ấm được bổ làm Tri huyện Tiên Du ③. Bên cạnh huyện có một tòa chùa
danh tiếng, trong chùa trồng một cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở thì người các nơi
đến xem đông rộn rịp, thành một đám hội xem hoa tưng bừng lắm. Tháng 2 Bính
Tý ④, người ta
thấy có cô con gái, tuổi độ 15, 16 phấn son điểm phớt, nhan sắc xinh đẹp tuyệt
vời, đến hội ấy xem hoa. Cô gái vin một cành hoa, không may cành giòn mà gãy
khấc, bị người coi hoa bắt giữ lại, ngày đã sắp tối vẫn không ai đến nhận. Từ
Thức cũng có mặt ở đám hội, thấy vậy động lòng thương, nhân cởi tấm áo cừu gấm
trắng, đưa vào tăng phòng để chuộc lỗi cho người con gái ấy. Mọi người đều khen
quan huyện là một người hiền đức.
Song Từ Thức vốn tính hay rượu, thích đàn, ham
thơ, mến cảnh, việc sổ sách bỏ ùn cả lại thường bị quan trên quở trách rằng:
- Thân phụ thầy làm đến Đại thần mà thầy không
làm nổi một chức Tri huyện hay sao!
Từ than rằng:
- Ta không thể vì số lương năm đấu gạo đỏ mà
buộc mình trong áng lợi danh. Âu là một mái chèo về, nước biếc non xanh vốn
chẳng phụ gì ta đâu vậy.
Bèn cởi trả ấn tín, bỏ quan mà về. Vốn yêu
cảnh hang động ở huyện Tống Sơn ⑤, nhân làm nhà tại đấy để ở. Thường dùng một thằng nhỏ đem một
bầu rượu, một cây đàn đi theo, mình thì mang mấy quyển thơ của Đào Uyên
Minh, ⑥ hễ
gặp chỗ nào thích ý thì hý hửng ngả rượu ra uống. Phàm những nơi nước tú non kỳ
như núi Chích Trợ, động Lục Vân, sông Lãi, cửa Nga ⑦, không đâu không từng có những
thơ đề vịnh. Một hôm Từ Thức dậy sớm trông ra bể Thần Phù ⑧ ở phía ngoài xa vài chục
dặm, thấy có đám mây ngũ sắc đùn đùn kết lại như một đóa hoa sen mọc lên, vội
chèo thuyền ra thì thấy một trái núi rất đẹp. Từ kinh ngạc bảo lái thuyền rằng:
- Ta đã từng lênh đênh trên áng giang hồ, các
thắng cảnh miền đông nam, không biết trái núi này từ đâu lại mọc ra trước mắt,
ý giả là non tiên rụng xuống, vết thần hiện ra đây chăng? Sao trước không mà
nay lại có?
Bèn buộc thuyền lên bờ thì thấy những vách đá
cao vút nghìn trượng, sừng sững đứng thẳng, nếu không có cánh thì vị tất đã
trèo lên thăm cảnh đó được. Nhân đề một luật thơ rằng:
Thiên chương bích thụ quải triêu
đôn,
Hoa thảo nghênh nhân nhập động
môn.
Nhiễu giản dĩ vô tăng thái dược,
Duyên lưu thặng hữu khách tầm
nguyên.
Lữ du tư vị cầm tam lộng,
Điếu đĩnh sinh nhai tửu nhất tôn.
Nghĩ hướng Vũ Lăng ngư tử vấn,
Tiền lai viễn cận chủng đào thôn.
Nghĩa là:
Triêu dương bóng rải khắp ngày
xanh,
Hoa cỏ cười tươi đón rước mình.
Hái thuốc nào đâu sư kẽ suối,
Tìm nguồn duy có khách bên ghềnh.
Lang thang đất lạ đàn ba khúc,
Nênh nổi thuyền câu rượu một bình.
Bến Vũ ⑨ chàng ngư, tìm thử hỏi,
Thôn Đào ⑨ chỉ hộ lối loanh quanh.
Đề xong, trông ngắm thẫn thờ, như có ý chờ
đợi. Chợt thấy ở trên vách đá bỗng nứt toác ra một cái hang, hình tròn mà rộng
độ một trượng. Vén áo đi vào, vừa được mấy bước thì cửa hang đã đóng sập lại
tối tăm mù mịt như sa vào cái vực đen tối. Bụng nghĩ không còn thể nào sống
được nữa, lấy tay sờ soạng lối rêu, nhận thấy có một cái khe nhỏ, quằn quèo như
cái ruột dê vậy. Đi mò độ hơn một dặm thì thấy có đường đi ngoi lên. Bám bíu
trèo lên thì mỗi bước mỗi thấy rộng rãi. Lên đến ngọn núi thì bầu trời sáng sủa.
Chung quanh toàn là những lâu đài nguy nga, mây xanh ráng đỏ, bám ở lan can, cỏ
lạ hoa kỳ, nở đầy trước cửa. Sinh nghĩ nếu không phải là chỗ đền đài thờ phụng,
tất là cái xóm của những bậc lánh đời, như những nơi núi Thứu nguồn Đào ⑨ chẳng hạn. Rồi chợt thấy có
hai người con gái áo xanh bảo nhau rằng:
- Lang quân nhà ta đã đến!
Đoạn họ vội chạy vào báo tin, một lúc đi ra
nói rằng:
- Phu nhân chúng tôi sai mời chàng vào chơi.
Sinh đi theo họ vào, vòng quanh một bức tường
gấm, vào trong một khung cửa son, thấy những tòa cung điện bằng bạc đứng sững,
có những tấm biển đề: "Điện Quỳnh Hư", "Gác Dao Quang".
Trên gác có bà tiên áo trắng, ngồi trên một cái giường thất bảo bên cạnh đặt
một chiếc giường nhỏ bằng gỗ đàn hương, mời Sinh lên ngồi và bảo rằng:
- Tính hiếu kỳ của chàng đã thành chứng
nghiện. Sự vui sướng trong một chuyến đi chơi này, kể cũng đã thỏa nguyện bình
sinh. Nhưng mối duyên gặp gỡ chàng có còn nhớ gì không?
Từ thưa rằng:
- Tôi là một kẻ dật sĩ ở Tống Sơn. Một cánh
buồm gió, một lá thuyền nan, phóng lãng giang hồ thích đâu đến đấy. Nào có biết
chốn này lại có Tử phủ Thanh đô! Lần mò lên được tới đây, chẳng khác như mình
đã mọc cánh mà bay lên đến cõi tiên vậy. Song lòng trần mờ tối, chưa biết tiền
đồ ra làm sao. Dám xin chỉ bảo rõ ràng cho chúng tôi được hiểu.
Bà tiên cười bảo:
- Chàng biết sao được. Đây là núi Phù Lai, một
động tiên thứ 6 trong 36 động, bồng bềnh ở ngoài bể cả, dưới không có bám bíu,
như hai núi La Phù tan hợp theo với sóng rợn, mà tôi tức là địa tiên ở Nam nhạc
là Ngụy phu nhân. Vì thấy chàng là người cao nghĩa sẵn lòng cứu giúp sự nguy
khốn cho người, nên mới dám làm phiền mời chàng đến đây.
Bà tiên nhân đưa mắt cho con hầu để bảo gọi
một cô tiên ra, Từ liếc nhìn trộm, chính là người bẻ gãy cành hoa ngày trước.
Bà tiên trỏ bảo rằng:
- Đứa con tôi đây tên là Giáng Hương,
ngày trước gặp phải cái nạn trong khi đi xem hoa, nhờ chàng cứu gỡ, ơn ấy khôn
quên, nay muốn cho nó kết duyên để báo đền ơn trước.
Bèn ngay đêm ấy đốt đèn mỡ phượng, rải đệm
vàng rồng, để hai người làm lễ giao bái. Ngày hôm sau quần tiên đến mừng, có
người mặc áo gấm cưỡi con ly từ đàng bắc xuống, có người bận xiêm lụa cưỡi rồng
từ phía nam lên, có người đi kiệu ngọc, có người cưỡi xe gió, đồng thời lại
họp. Tiệc yến đặt ở tầng thượng trên gác Dao quang, buông rèm câu ⑩ ngọc, rủ trướng móc vàng,
phía trước đặt một cái ghế bành bằng ngọc lưu ly mà để không. Quần tiên vái
chào nhau cùng ngồi ở những ghế bên tả; Từ Thức thì ngồi ở cái giường bên hữu.
Ngồi xong, có tiếng truyền hô là Kim tiên ⑪ đã đến, mọi người đều bước
xuống đón cúi lạy chào. Đoạn rồi lên gác tấu nhạc. Tiệc bày mâm bằng mã não,
đĩa bằng ngọc thạch, các món ăn đều rất kỳ lạ, lại có những thứ rượu kim tương,
ngọc lễ, mùi hương đưa lên thơm nức, dưới trần không bao giờ có được cái của
quý như vậy. Người áo gấm trắng nói:
- Chúng tôi chơi ở chốn này mới tám vạn năm,
mà bể Nam đã ba lần tung bụi. Nay chàng từ xa tới đây, không vì tiên phàm mà
cách trở, ba sinh hương lửa, tưởng cũng không phụ, đừng nên cho chuyện thần
tiên là câu chuyện hoang đường.
Rồi có những người trẻ nhỏ, chia ra từng lớp
mà múa điệu Lăng Ba. Đoạn, phu nhân mời tiệc. Giáng Hương rót rượu. Người bận
xiêm lụa nói đùa rằng:
- Nương tử hôm nay mầu da hồng hào, chứ không
khô gầy như trước nữa. Người ta bảo ngọc nữ không chồng, câu ấy hỏi có tin được
không?
Quần tiên đều cười, duy người mặc áo xanh buồn
rầu không vui mà nói rằng:
- Mối duyên của cô em đây, thật cũng là tốt
đẹp. Song nghĩ cái giá băng ngọc ở trên mây, mà đi kết mối tóc tơ ở cõi thế,
vạn nhất tiếng tăm vỡ lở, thiên hạ chê cười, quần tiên chúng ta e không khỏi
mang tiếng lây được.
Bà Kim tiên nói:
- Ta ở trong chốn lâu thành trên trời, chầu
hầu cạnh đức Thượng đế, mênh mang trần hải, chưa từng đặt bước xuống bao giờ.
Thế mà những kẻ hiếu sự họ còn bịa ra, nào bảo Dao trì hội kiến ở đời Chu ⑫, thanh điểu truyền tin ở đời
Hán ⑬, ta còn
thế, huống chi là lũ các nàng ư ? Song tân lang ngồi đây, ta không nên bàn
phiếm những câu chuyện khác làm rối lòng dạ người ta.
Bà phu nhân nói:
- Tôi nghe tiên khá gặp chứ khôn tìm, đạo
không tu mà tự đến. Những cuộc gặp gỡ hiếm lạ, đời nào mà không có: như đền Bạc
hậu ⑭, như quán
Cao đường ⑮, như thần
Lạc phố lướt sóng ⑯, như nàng
Giang Phi cởi ngọc ⑰, như Lộng
Ngọc lấy Tiêu Sử ⑱, như Thái
Loan gặp Văn Tiêu ⑲, như Lan
Hương gặp Trương Thạc ⑳. Bao nhiêu những chuyện cũ còn sờ sờ đó; nếu thế này mà bị chê
cười thì đã có những người trước ấy họ chịu đỡ tiếng cười cho mình.
Mọi người cùng phá lên cười rất vui vẻ. Rồi đó
mặt trời gác núi, các khách khứa đều giải tán cả. Từ đùa bảo Giáng Hương rằng:
- Thì ra tất cả các cõi trời đều có chuyện
phối ngẫu cả. Cho nên ả Chức Nữ lấy chàng Ngưu Lang, nàng Thượng Nguyên tìm
chàng Phong Trắc ㉑, Tăng Nhụ
có bài ký Chu Tần ㉒, Quần
Ngọc có bài thơ Hoàng lăng ㉓, cảnh
khác nhưng tình cũng giống nhau, nghìn xưa vẫn như thế cả. Nay quần tiên ai về
chỗ nấy, sống trong cảnh quạnh quẽ cô liêu, đó là vì lòng vật dục không nẩy
sinh, hay là cũng có nhưng phải gượng đè nén?
Nàng đổi sắc mặt nói:
- Mấy người ấy là những cái khí huyền nguyên,
những cái tính chân nhất, thân hầu cửa tía, tên ghi đền vàng, ở thì ở phủ thanh
hư, chơi thì chơi miền sung mạc, không cần gạn mà lòng tự trong, không cần lấp
mà đục vẫn lặng. Không như thiếp bảy tình chưa sạch, trăm cảm dễ sinh, hình ở
phủ tía nhưng lụy vướng duyên trần, thân ở đền quỳnh mà lòng theo cõi dục;
chàng đừng nên nhân một mình thiếp mà cho tất cả quần tiên đều thế.
Từ nói:
- Nếu thế thì em còn thua các tiên kia xa lắm.
Vợ chồng cùng vỗ tay cả cười.
Chỗ Giáng Hương có bức bình phong trắng. Từ
thường đề thơ lên trên rằng:
Nhãn để yên hà cước để vân,
Thanh quang sái sái bức Tam Thần.
Tùng hoa bán lão hương phong động,
Môi dẫn Thương Lương điếu đĩnh
nhân.
Nghĩa là:
Khói rợp mây che khắp bốn trời,
Non Thần trong sáng đó là nơi.
Hoa thông theo gió đưa hương ngát,
Dắt dẫn thuyền câu khách một
người.
II
Thu phong nhất dạ nguyệt man san,
Liên quyển hoàng hoa nhập ỷ lan.
Tửu lực khốn nhân thi tứ khổ,
Ngâm hào túy các bích lang can.
Nghĩa là:
Một đêm gió thổi nguyệt đầy non,
Rèm cuộn hoa vàng lọt cửa son.
Rượu mệt mê say người nặng trĩu,
Mượn đem bút trúc gửi thi hồn.
III
Bảo áp ngưng hàn hoán túc hương,
Biệt tài tân phổ lý nghê thường.
Từ thành bất cảm cao thanh đạo,
Kinh khởi âm lai phong vũ trường.
Nghĩa là:
Đốt lại lò trầm nhóm lại hương,
Đắn đo đổi mới khúc nghê thường,
Bài thành không dám cất cao tiếng,
E gió mưa về ẩm một phương.
IV
Hồng Hà đối khởi Xích thành tiêu,
Sáp hán cung tường tỏa tịch liệu,
Tinh đẩu nhiễu lan thiên nhất ác,
Dạ thâm Tần nữ học xuy tiêu.
Nghĩa là:
Ráng đỏ đùn lên tựa gấm thêu,
Cung tường cao vút vắng teo teo,
Trăng sao dường mọc quanh bên mái,
Tần nữ đêm dài học thổi
tiêu. ㉔
V
Thương mang vân ngoại đoản trường
chu,
Mân Quế kiền khôn nhật dạ phù,
Nhất điểu mộ xuân phi bất tận,
Liên không đạm tảo bích du du.
Nghĩa là:
Ngoài mây thấp thoáng bóng tiên
châu,
Mận, Quế ㉕ phương trời ngút tận đâu.
Xuân muộn con chim bay lạc lõng,
Vòm không quang sạch biếc làu làu.
VI
Khước hàn liêm phóng nguyệt trùng
trùng,
Khiếp đối suy nhan bả kính dung.
Cách trúc hoán lai tiên chẩm mộng,
Ngũ canh vô nại viễn sơn chung.
Nghĩa là:
Rèm buông cản lạnh nguyệt linh
lung,
Gương võ vàng soi luống thẹn
thùng.
Cách trúc gối tiên vừa khẽ chợp,
Non xa đưa rộn tiếng chuông đồng.
VII
Phù phù thụy ái nhiễu kim khuê,
Phương trượng huề nam Nhược thủy
tê.
Xướng bãi đà canh thiên dục thự,
Hương tâm hà xứ nhất thanh kê.
Nghĩa là:
Khí lành quanh quất phủ buồng
xuân,
Phương trượng ㉖ non xa, Nhược thủy ㉗ gần
Dứt tiếng canh đà ㉘ trời sắp sáng,
Lòng quê theo rõi áng mây Tần.
VIII
Yên lam như kế liễu như điền,
Tỏa thát tình khuy hải bạc thuyền.
Vũ khách khứ thời vô xứ mịch,
Bộ hư thanh ngoại bích liên thiên.
Nghĩa là:
Hơi lam: mái tóc, liễu: hoa cài,
Thuyền bể xa trông thấp thoáng
ngoài.
Đạo sĩ một đi tìm khó thấy,
Trong không tản mác tiếng ngân
dài.
IX
Tứ diện ba đào nhất kế sơn,
Dạ lai hà xứ mộng hương quan.
Mang mang trần giới hồi đầu viễn,
Thân tại hồng vân bích thủy gian.
Nghĩa là:
Sóng nước bao quanh núi một vùng,
Mộng về quê cũ lối không thông.
Mây vàng nước biếc thân nương đậu,
Trần giới xa coi ngút mịt mùng.
X
Đào hoa nhiễu giản xuất Thiên
thai,
ủy địa tàn hồng bán lục đài.
Khước tiếu Lưu lang khinh xuất
động,
Lâm phong kỷ bả ngọc thư khai.
Nghĩa là:
Mặt suối hoa đào lặng lẽ trôi,
Rêu trùm sắc thắm uổng pha phôi.
Lưu Lang biệt động sao khờ mấy,
Thư ngọc buồn tênh giở mấy
hồi. ㉙
Như Từ, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được
một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm gió thổi, những sáng sương sa,
bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh
chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một
hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương Nam. Từ trỏ bảo Giáng
Hương rằng:
- Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả
trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.
Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:
- Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ
hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay
ý nàng nghĩ thế nào?
Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang
nói:
- Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu,
để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với
nàng cùng già ở chốn làng mây bến nước.
Giáng Hương khóc mà nói:
- Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản
mối lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù
nay chàng về nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày
trước nữa.
Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:
- Không ngờ chàng lại mắc mớ vì mối lòng trần
như vậy.
Nhân cho một cỗ xe cẩm vân để chàng cưỡi về.
Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:
- Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên
mối tình ngày cũ.
Rồi tràn nước mắt mà chia biệt.
Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì
thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa,
duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc mầu xanh thủa nọ. Bèn
đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:
- Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi
cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm
thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi. ㉚
Chàng bấy giờ mới hậm hực bùi ngùi; muốn lại
lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra
đọc, thấy có câu: "Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non
tiên ở trên bể dịp khác còn đâu!" mới biết là Giáng Hương đã nói trước với
mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi
Hoành Sơn, ㉚ rồi
sau không biết đi đâu mất.
Lời bình:
Than ôi, nói chuyện quái sợ loạn chuyện
thường, cho nên thánh hiền không nói. Nhưng việc Từ Thức lấy vợ tiên, cho là
thực không ư ? Chưa hẳn là không; Cho là thực có ư? Chưa hẳn là có. Có không lờ
mờ, câu chuyện tựa hồ quái đản. Nhưng có âm đức thì tất có dương báo, cũng là
lẽ thường. Những bậc quân tử sau này khi để mắt đến sẽ liệu mà thêm bớt, bỏ chỗ
quái mà để chỗ thường thì phỏng có gì là hại.
Chú thích:
① Quang
Thái: niên hiệu Trần Thuận Tông, từ 1388-1398.
② Hóa
châu: Thanh Hóa ngày nay (theo nguyên chú Hóa Châu là châu Thanh Hóa cổ).
③ Tiên
Du: nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.
④ Năm
Bính Tý: dưới thời Thuận Tông là năm 1396.
⑤ Huyện
Tống Sơn: khoảng đời Trần là vùng đất tương đương với miền bắc huyện Nga
Sơn và miền đông bắc huyện Hà Trung; thời Lê là vùng đất huyện Hà Trung, Thanh
Hóa ngày nay.
⑥ Đào
Uyên Minh: năm sinh có ba thuyết: 365; 372; 376, mất 427, tên là Tiềm, là
thi gia đời Đông Tấn. Từng làm Huyện lệnh Bành Trạch, sau vì không chịu luồn
cúi nên treo ấn từ quan. Ông có câu nói nổi tiếng: "Lẽ nào vì năm đấu gạo
lương mà phải khom lưng!". Thơ văn của ông giản phác mà tinh luyện, có
phong cách riêng, phần lớn thể hiện tư tưởng ẩn dật.
⑦ Núi
Chích Trợ... cửa Nga: đều là những thắng cảnh của Thanh Hóa.
⑧ Thần
Phù: Theo Lịch triều hiến chương loại chí, phần Dư địa chí: cửa Thần Phù là
cửa sông ra bể, thuộc huyện Nga Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
⑨ Núi
Thứu: xưa Tây vực có núi Thứu Lĩnh, vì núi hình chim Thứu nên thành tên.
Nguồn đào: theo Đào hoa nguyên ký của Đào Tiềm thì đời Tấn có một người đánh cá
ở Vũ Lăng đi thuyền lạc vào rừng đào. ở đấy người đánh cá gặp một thôn xóm rất
yên bình, hỏi thì là những người lánh nạn nhà Tần, họ không biết gì về thời
cuộc hiện tại. Người đánh cá ở mấy hôm rồi ra về. Câu chuyện đến tai viên quan
quận, ông ta muốn người đánh cá đưa đi, nhưng khi trở lại, người đánh cá không
tìm được dấu vết gì nữa. Sau những từ Vũ Lăng, nguồn Đào, thôn đào vừa chỉ nơi
ẩn dật cũng vừa chỉ cõi tiên.
⑩ Câu:
cái móc để vén rèm, màn.
⑪ Kim
tiên: tức Tây Vương mẫu.
⑫ Sách
Loại tụ nói vua Chu Mục Vương ham thích thần tiên rồi gặp bà Vương mẫu ở Dao
Trì.
⑬ Lời
chua ở sách Đường thi, nói vua Hán Vũ Đế ngồi ở điện Thừa Hoa, chợt có hai con
chim xanh từ phương tây bay lại, đậu ở trước điện. Vua hỏi Đông Phương Sóc. Sóc
nói: "Đó là bà Vương mẫu sắp đến chơi đấy". Một lát quả nhiên bà
Vương mẫu đến, có hai người thị nữ áo xanh tức là hai con chim xanh lúc trước.
⑭ Chuyện
Ngưu Tăng Nhụ đời Đường gặp các nàng tiên ở đền Bạc thái hậu; xem thêm chú
thích 5 Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây.
⑮ Sở
vương chơi ở quán Cao Đường, gặp một nàng thần nữ, cùng chung chăn gối. Xem
thêm chú thích 11 Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu.
⑯ Thần
nữ ở Lạc Phố tên là Bật Phi, con gái vua Phục Hy. Sách Quần ngọc có chép chuyện
Trần Tư Vương gặp thần nữ ở Lạc Phố.
⑰ Hai
nàng tiên Giáng Phi chơi ở bên sông gặp Trịnh Giao Phủ, cởi ngọc minh châu mà
tặng cho. Trịnh nhận được ngọc đi được mấy chục bước thì ngọc không còn nữa mà
những nàng kia cũng biến mất.
⑱ Chàng
Tiêu Sử giỏi thổi ống tiêu, vua Tần Mục Công đem con gái là Lộng Ngọc gả cho.
Chàng dạy nàng thổi tiêu, chim phượng hoàng nghe tiếng bay đến. Sau vợ chồng
cùng cưỡi phượng mà bay lên trời.
⑲ Chàng
Văn Tiêu gặp nàng tiên Thái Loan ở núi Tây tại đất Chung Lăng, hai người lấy
nhau.
⑳ Ngọc
nữ Đỗ Lan Hương lấy Trương Thạc. Sau nàng về trời, Trương Thạc rất thương nhớ.
㉑ Phong
Trắc đọc sách ở trong núi sâu, bà tiên Thượng Nguyên phu nhân đêm đến ve vãn
(xuất ở sách Thiên hạ dị kỷ).
㉒ Chuyện
Ngưu Tăng Nhu. Xem chú thích 5 Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây.
㉓ Lý
Quần Ngọc qua miếu Nhị phi ở Sầm Dương có đề một bài thơ câu đầu là:
"Hoàng Lăng miếu tiền xuân dĩ không" chợt có hai người con gái hiện
lên tự xưng là hai nàng Nga Hoàng, Nữ Anh hẹn sau hai năm sẽ cùng Lý gặp gỡ.
㉔ Tần
nữ: xem chú thích 18 cùng truyện.
㉕ Mân,
Quế: nguyên chú: Mân thuộc vùng đất Bách Việt giáp với Ngao Sơn biển Đông;
Quế là Quế Châu, Quảng Tây. Ngày nay Mân là tỉnh Phúc Kiến.
㉖ Phương
trượng: tăng phòng. Nguyên do là Vương Huyền Sách đời Đường sang sứ Tây
vực, vào chỗ ở của nhà sư Duy Ma, thấy căn buồng của sư vuông vắn, mỗi bề mười
hốt, bèn gọi là phương trượng.
㉗ Nhược
thủy: theo Sơn hải kinh, là một dòng sông ở vùng cực tây của Trung Quốc,
sức nước rất yếu, dù một hạt cải cũng không thể nổi trên mặt nước: tương truyền
là nơi tiên ở.
㉘ Đà:
tên một giống cá có chân, dài vài trượng, da bền có thể bưng trống được; tiếng
kêu rất vang, mỗi lần kêu rất đúng với một trống canh.
㉙ Bài
thơ này lấy ý từ câu chuyện Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai. Đời Hán, Lưu Thần,
Nguyễn Triệu vào núi hái thuốc. Hai chàng đi mãi lạc vào Thiên Thai, gặp tiên
nữ, lấy làm vợ. Được một thời gian, nhớ nhà đòi về, tiên nữ tiễn đưa đến cửa
động. Lưu Nguyễn về đến nhà thì đã qua bảy đời, bạn bè họ hàng không còn ai,
hai người muốn trở lại nơi cũ nhưng không tìm được lối xưa nữa. Nhà thơ Tào
Đường (đời Đường) có năm bài thơ "kể" chuyện này rất được nhiều người
ưa thích.
㉚ Năm
thứ 5 niên hiệu Diên Ninh: Diên Ninh là niên hiệu của Lê Nhân Tông từ 1454 đến
1459; năm thứ 5 là: 1458.
➖➖➖
Lời bình của người biên soạn:
Chúng ta chú ý rằng Từ Thức ở cõi tiên khoảng
1 năm thì bằng ở cõi trần 80 năm. Theo thuyết tương đối (theory of
relativity) của Albert Einstein thì khi chúng ta đi với
tốc độ càng cao, thời gian sẽ càng ngắn lại. Nguyễn Dữ kể lại cho chúng ta biết
thời xưa đã có phi thuyền vũ trụ đến đón Từ Thức đi ngao du trong vũ trụ bao la
cùng với tiên nữ Giáng Hương, vượt ra khỏi Hệ Mặt Trời. Theo đồng hồ trên phi
thuyền thì thời gian là khoảng 1 năm. Khi Từ Thức quay trở lại Trái Đất, thời
gian đã qua đi 80 năm. Trong phần chú thích mục ㉙ kể câu chuyện Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai “được một thời
gian” sau đó quay trở lại Trái Đất thì đã qua 7 đời (thời điểm đời nhà Hán bên
Tàu). Tức là các phi thuyền ngoài hành tinh đã đến Trái Đất nhiều lần rồi. 😊
“Truyền kỳ mạn lục” được viết vào năm 1547.
Chúng ta cũng biết Từ Thức làm quan thời vua Trần Thuận Tông, từ 1388-1398 (xem
chú thích số ① ở
trên). Nếu chúng ta giả thiết Từ Thức lên phi thuyền ngoài hành tinh vào khoảng
năm 1390 (tôi lấy ra một năm “chẵn” trong khoảng 1388-1398). Sau một năm trên
vũ trụ bằng 80 năm trên Trái Đất ông trở lại Thanh Hóa vào khoảng năm 1470.
Từ Thức đi du lịch ngoài vũ trụ một năm nhưng
khi quay trở lại thì “Trời đất đổi thay đã nhiều”. Chúng ta cùng lược sử: sau
nhà Trần là đến thời nhà Hồ (1400-1407), nhà Hậu Trần (1407-1413), đến thời kỳ
nhà Minh bên Tàu sang xâm chiếm nước ta (1414-1427). Trong thời kỳ này phải kể
đến thời kỳ Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn 10 năm đánh quân Tàu (1418-1427). Sau
đó ông lập nên nhà Lê qua các thời Lê Thái Tổ niên hiệu Thuận Thiên
(1428-1433), Lê Thái Tông (1434-1442) niên hiệu Thiệu Bình và Đại Bảo, Lê Nhân
Tông (1443-1459) niên hiệu Đại Hòa và Diên Ninh, Lê Thánh Tông (1460-1497 )
niên hiệu Quang Thuận và Hồng Đức.
Năm 1470 là năm trị vì của Đức vua Lê Thánh
Tông lấy niên hiệu Hồng Đức. Như vậy, Từ Thức “đi du ngoạn” đã tránh được giai
đoạn binh đao và khi trở về thì lại gặp thời minh quân (vua hiền). Thật là may
mắn lắm thay! (Nhại lời bình của Nguyễn Dữ. 😊)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét