2021-10-16
Quê Mẹ (Quê Mẹ, Bến Nứa, Chú tôi)
Thanh Tịnh
Nhà xuất bản Bút Việt, năm 1975
~
Tựa (Thạch Lam viết lời tựa)
Quê mẹ
Bến nứa
Chú tôi
~
Tựa
Thanh
Tịnh có lẽ là nhà văn đầu tiên ở miền Trung đã trình bày các mối dây liên lạc
nơi ông với đồng nội quê hương, những dây liên lạc nhẹ nhàng như tơ đồng ngày
thu, nhưng không vì thế mà kém phần vương vít và quyến luyến. Gió mùa của cả một
vùng làng mạc và đồng ruộng ấy, chúng ta thấy lướt qua trong tác phẩm của ông,
trong những truyện ngắn mà hầu hết khung cảnh là lũy tre của một xóm nhỏ, hoặc
dòng sông con chẩy qua ruộng lúa xanh tươi. Cốt truyện chỉ là những việc xảy ra
trong đời thường ngày của các nhân vật vẫn sống trong các làng, bến rải rác
theo dọc sông, hoặc đã rời bỏ các nơi ấy đi làm ăn phương xa, nhưng mà trong
lòng lúc nào cũng tưởng nhớ cái Tình Quê-hương đằm thắm.
Làng
Mỹ-lý (một dặm đẹp) có lẽ không phải là một làng có thật trên bản đồ. Nhưng mà
lại thật hơn, nếu tôi có thể nói thế, — đầy đủ và hoạt động hơn bất cứ một làng
nào. Làng Mỹ-lý có lẽ chỉ là biểu hiệu cho tất cả các làng mạc trong một miền,
nhưng cái tài của tác giả đã khiến cho gần gụi và thân mật; chúng ta tưởng đâu
như sống đã lâu năm ở trong đó, cùng với người làng tham dự vào các công việc
hàng ngày và cùng chia xẻ những nỗi buồn, vui.
Và
chúng ta được chứng kiến những công việc rất thôn quê và mộc mạc. Một ngày gặt
lúa, một buổi ra làng, hay một chuyến đò dọc từ chợ làng Thiện đến đầu làng Viễn-trình.
Những cảm tình cũng giản dị như cuộc đời sống ấy, và chỉ đầy đủ hương vị trong
lũy tre hay trên đồng ruộng ấy mà thôi. Có lẽ, linh hồn người ở đấy còn nhiều
màu sắc khác, trong cuộc sống còn nhiều bi kịch khác, nhưng mà tác giả chỉ tả
có cái vẻ êm ả và nên thơ. Tâm hồn ưa thích cái gì vừa đẹp đẽ, vừa nhè nhẹ, tác
giả không lách đi sâu, nhưng dừng lại ở một làn gió, ở một cái thoảng hương
thơm của hoa cỏ bốn mùa. Chiều trong Quê Mẹ thật dịu dàng, và bóng trăng trong
Quê Bạn cũng hiền lành êm ả. Tình quê hương của cô Thảo là một cái tình man mác
và An-nam lắm. Cũng như cái tình yêu trung thành và kín đáo của cô Sương, an phận
và nhẫn nại ngay từ trước khi yêu. Và trong những tình đó, có cái gì nho nhỏ
xinh xinh, một cái gì đáng yêu thương khiến chúng ta cảm động; và chúng ta chú
ý lắng nghe cái giọng hò mái đẩy (trong câu truyện hay Tình trong câu hát) ngân
dài trên phá Tam-giang giữa cánh đồng bát ngát và dưới « trời một vùng đêm dài
không hạn». Đó là tiếng nói của những tâm hồn quê mùa kia, bài ca hát của đất
nước một miền đồng ruộng, nhờ tác giả mà nhịp điệu và giọng buồn đến thắm thía
chúng ta.
Thanh
Tịnh đã muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để ca hát những đám
mây và làn gió lướt bay trên cánh đồng, ca hát những vẻ đẹp của đời thôn quê.
Ông có đạt được chăng cái ý muốn ấy, và tiếng sáo kia có uyển chuyển du dương
không, tôi xin để các bạn đọc phán đoán lấy. Tôi chỉ muốn nói rằng trong lúc
các nhà văn ta bắt đầu trở về đất nước để gìn giữ các hương hoa, Thanh Tịnh đã
cho chúng ta nghe cái tiếng sáo nhỏ và thanh của ông, khẽ nổi lên lẫn với tiếng
hò của bạn gặt trên sông để ca ngợi cái tình và cái thi vị của một vùng.
THẠCH
LAM
➖➖➖
QUÊ MẸ
Chiều chiều ra đứng cửa sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
(CA DAO)
Cô
Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm Hương-thơ ở làng Mỹ-lý.
Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi Yếu-lược không
đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm Hương-thơ
trong làng. Ngày nào anh cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại
phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện.
Công
việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng – hay nói cho đúng lương năm – của
anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc để làm
tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức
việc đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết.
Nhưng
ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và
bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào
được một người con ra đảm đương việc làng việc nước.
Cô
Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ
trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác.
Chiều
hôm ấy lúc thoáng thấy bóng chồng đi về đến cổng, cô Thảo liền vội vàng ẵm con
ra sân để đón. Thấy anh Vận ra dáng mệt nhọc nên cô ta chưa dám hỏi gì hết. Vào
tới sân, anh Vận liền đến ngồi trên cái chõng. Cô Thảo để con ngồi một bên chồng
rồi đột ngột chỉ cây thanh-trà bên bờ hè nói khẽ:
-
Cây thanh-trà mới đấy mà đã có trái rồi cậu ạ.
Anh
Vận để con ngồi trên chân, rồi cúi đầu xuống nhìn mặt con dịu lời đáp:
-
Thế à. Cây thanh-trà ấy trông dáng khô khan không ngờ lại giống tốt.
Cô
Thảo ghé một bên chồng nói tiếp:
-
Cây thanh-trà ấy tôi đem từ bên nhà qua đây. Mới hai năm đã có trái ăn được kể
cũng nhanh thật.
Anh
Vận như sực nhớ một việc gì, nhìn vợ hỏi vội:
-
Tôi nhớ ra rồi. Hôm ấy là ngày giỗ ông bên mợ. Mợ về làng ăn giỗ rồi đem cây
thanh-trà ấy qua cho tôi. Tôi cũng quên lúc ấy mợ đã có thằng Lụn chưa?
-
Rồi, nhưng nó mới được ba tháng.
-
Mà tôi quên giỗ ông nhằm ngày mấy?
Cô
Thảo nhìn chồng mỉm cười:
-
Được vài ông rể quí như cậu thì ngày giỗ của nhà tôi cũng không khỏi hương tàn
bàn lạnh. Giỗ ông nhằm một ngày dễ nhớ nhất mà cậu cũng quên.
Anh
Vận như nhớ lại được, gật đầu lia lịa:
-
Thôi tôi nhớ được rồi. Giỗ ông vào tiết Trung-thu phải không mợ?
-
Không phải, ngày rằm tháng tám.
Anh
Vận lớn tiếng cười vang làm cho thằng Lụn cũng phải ngẩng mặt lên nhìn ngơ
ngác.
–
Rõ ngớ ngẩn như đàn bà. Tiết Trung-thu hay rằm tháng tám có khác gì nhau. Có
khác là người hay chữ họ thường gọi tiết Trung-thu, còn người... ít hay chữ thì
gọi rằm tháng tám....
Cô
Thảo nhìn chồng cười mỉm:
-
Người hay chữ với lại người ít hay chữ! Thì cậu cứ nói người dốt với người
thông có được không.
Thật
ra thì anh Vận cũng có ý nói người hay chữ với người dốt, nhưng lai sợ làm mếch
lòng vợ.
Anh
Vận nhìn ra trước cổng yên lặng. Thằng Lụn cũng muốn tụt xuống đất đùa với đàn
gà con đang đi qua gần đấy. Cô Thảo vào nhà thắp đèn rồi lại trở ra ngồi chỗ
cũ. Mảnh trăng trong lúc ấy đã bắt đầu giọi ánh sáng dịu dàng qua hàng tre trước
cổng.
Trông
thấy ánh trăng, anh Vận quay lại hỏi vợ:
-
Hôm nay là mấy rồi mà trăng sáng quá?
-
Ngày mười ba.
Anh
Vận thả hai chân xuống chõng nhìn vợ ngơ ngác:
-
Thế ngày mốt là ngày giỗ ông rồi à? Và ngày mai là ngày mợ phải về làng.
Cô
Thảo cúi đầu nhìn xuống đất đáp khẽ:
-
Phải.
Anh
Vận đưa tay lên gãi đầu:
-
Thật tôi vô tình quá. Ngày kỵ đã gần đến mà cũng quên.
Cô
Thảo ngồi yên lặng không đáp. Thật ra tối hôm ấy cô muốn xin chồng về làng giỗ
ông, nhưng cô không muốn nói thẳng. Cô tự nghĩ nhắc chồng ngày giỗ ở nhà mình
là một việc chướng lắm. Thật tự nhiên để cho chồng nhớ lại thì hơn. Nhưng mãi đến
chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh-trà để
nhắc xa xuôi cho chồng nhớ.
Tối
hôm ấy, cơm nước xong xuôi, anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ.
Bà
Lại nhìn cô Thảo đang ẵm con đứng tựa bên cột bảo khẽ:
-
Ừ về thì về. Nhưng bên nhà ngày mai giỗ ai mà tôi cũng quên phắt đi rồi.
-
Thưa mẹ, giỗ ông con.
-
Thế à.
Nghĩ
một lát bà ta nói tiếp:
-
Mai mợ chắc phải về làng sớm. Lúc ấy có lẽ tôi cũng chưa dậy. Vậy tối nay mợ ra
ngoài vườn cắt một buồng chuối mật – buồng chuối gần bên cái giếng ấy – để về
giỗ ông. Năm nay tôi bận việc nhà quá, chắc qua không được. Thôi nhờ trời năm
khác.
Nói
xong bà Lại lách bàn tay vào túi yếm lấy ra một hào xu rồi đưa cho cô Thảo.
-
Thôi cho mợ một hào để đi đò. Và nhớ chớ để em ngồi nhìn xuống mặt nước.
Cô
Thảo vội vàng đỡ con xuống, đưa hai tay nhận tiền tỏ ra vẻ sung sướng lắm.
Trước
khi đi ngủ anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn
hào nữa.
Tối
hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật
xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật
vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi
cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu
đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ.
Trời
tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ-lý
hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt
là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ-lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc
cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ.
Qua
những con đường mòn chạy nắp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của
cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô
Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất.
Nhưng
đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu
cũng vất vả, cũng phẳng bằng như nhau hết.
Đi
chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước
nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải
cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước.
Qua
khỏi đầu làng Duyên-hải thì cô Thảo gặp cô Đài, người bạn cùng làng thường chơi
với cô ngày trước. Cô Thảo nhờ cô bạn gánh hộ buồng chuối mật và mấy gói bánh
mua bên chợ Kỳ-lam. Cô Đài vui vẻ nhận lời ngay. Vào quán nước ở gần đấy nghỉ một
chốc, hai cô lại cùng nhau lên đường chuyện trò không ngớt.
Về
đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui
sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo lên om sòm như gặp được người sống
lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyên khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này
có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại
rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người
đứng chung quanh được thấy đôi hoa tai vàng của cô.
Đến
trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu
đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ
trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng
nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào
những người quen biết.
Bà
Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với
người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể
đến đoạn nào bà cũng cỏ ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói
mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết.
Sung
sướng nhất là cô gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm
gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu
đi ra ngoài.
Lúc
cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói:
-
Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không qua.
Cô
Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu mới khẽ đáp:
–
Dạ, nhà con mắc việc quan.
Cô
Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp:
-
Thứ đồ làm Hương-thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan.
Ai
nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng.
Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại
gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ
chảy dài trên má.
Sáng
hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ-lý. Cô gọi
mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi
và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi
cho mẹ hai cặp áo quần mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy
đâu ra hai cặp áo quần ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền
cô đã dành dụm trong một năm.
Lúc
sắp sửa lên đường, bà Vạn cho cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc
ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc nức nở.
Về
nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào
cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí
cô lại bận rộn.
Rồi
chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng
Quận-lão. Nhưng làng Quận-lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên
ven đồi xa thẳm.
➖➖➖
BẾN NỨA
Xem
chợ lá làng Thiên. Trời mưa tầm tã. Trước khi cho thuyền rời khỏi bến, cô
Phương còn nhìn lên bờ hỏi lớn:
-
Ai về Viễn-trình thì xuống mà về.
Tiếng
cô lạc mất trong tiếng mưa rì rào của buổi chiều tàn buồn bã. Hôm ấy thuyền cô
vắng khách. Cô đã cho thuyền đậu thêm một giờ nữa, nhưng người về vẫn không thấy
một ai.
Cô
lái đò liền nhổ sào gác trên mui rồi từ từ cho thuyền quay lại. Ngay lúc ấy một
cụ già hấp tấp chạy xuống bờ sông đưa chiếc dù lên cao gọi lớn:
-
Cô Phương ghé thuyền cho tôi về với.
Phương
kéo nghiêng chiếc nón lá, nhìn lên bờ qua những dòng mưa chi chít:
-
Cụ Uẩn đấy à? Cháu tưởng cụ chiều mai mới về.
Vừa
nói Phương vừa cho thuyền, quay mũi vào bờ. Cụ Uẩn xách đôi giầy hạ trên tay, lội
ra khỏi bờ chừng năm bước. Lúc thấy mũi thuyền gần cụng vào bờ, cụ Uẩn liền đưa
một tay giữ lại. Đoạn cụ bước lên thuyền rồi vội vàng chui vào trong mui.
Tiếng
Cô Phương đằng sau lái nói:
-
Cụ cởi áo ướt vắt trên dây. Để nước mưa thấm vào người độc lắm.
Tiếng
nước mưa xối mạnh trên mui làm át cả tiếng cô Phương. Cụ Uẩn không nghe rõ nên
nhìn ra sau lái hỏi:
-
Cô Phương hỏi gì?
Phương
nhìn vào mui thấy cụ Uẩn cởi áo ra rồi nên nói tiếp:
-
Cụ xem giùm thằng Nghển của cháu nó đã ngủ chưa.
Tiếng
cụ Uẩn trong mui đáp ra:
-
Rồi.
Phương
lẳng lặng đưa mái chèo đẩy đều đều trên mặt nước. Thỉnh thoảng cô lại đưa tay
vuốt mấy dòng nước mưa chảy tràn trên mặt. Phương vừa chèo vừa nhìn lên hai bên
bờ để hy vọng vài người khách chậm chạp còn đuổi theo thuyền cô. Nhưng sau lũy
tre cao ngọn, cô ta chỉ nom thấy vài ngọn đèn xanh đang rung rinh trong bóng nhạt.
Trước
đây hơn một năm, Phương cùng chồng làm nghề chở khách từ chợ làng Thiên đến
làng Viễn-trình. Hai làng cách xa nhau trên bốn mươi cây số. Lệ thường cứ đến
chiều nhổ sào, thì sáng mai vào khoảng tám giờ, thuyền đã đến làng Viễn-trình.
Làng Viễn- trình ở gần biển, nên dân trong làng thường đem cá tôm lên chợ Thiên
bán.
Tất
cả gia tài của hai vợ chồng Phương là một chiếc thuyền rộng ba mui, và đâu được
ba bốn chục bạc. Lấy nhau được một năm thì Phương sinh thằng Nghển. Mỗi lần ẵm
Nghển trên tay, chồng Phương thường tươi cười nói với vợ:
-
Thằng Nghển là cục vàng biết nói của tôi đấy, mợ ạ.
Phương
nhìn con, nhìn chồng, rồi một giọng ngây thơ nói sẽ:
-
Câu nói làm tôi nhớ hồi còn đi học, thầy giáo có bắt tôi học bài Gà đẻ trứng
vàng.
Chồng
Phương âu yếm nhìn vợ rồi tự nhiên cười sung sướng.
Qua
mùa đông năm sau, chồng Phương mang bệnh thương hàn rồi từ trần. Nghển lúc ấy mới
hơn hai tuổi.
Theo
nghề của chồng xưa, Phương lại một mình đưa thuyền qua ngày tháng.
° ° °
Trời
sẫm tối. Thuyền của Phương đến đầu làng Mỹ-lý thì trời tạnh mưa. Xa xa bên chân
đồng làng Duyên-hải, đám mây đen dày đặc đã nứt ra dần, để lọt một thứ ánh sáng
xanh dờn của mảnh trăng cuối thu.
Phương
vừa chèo vừa cất giọng hò lanh lảnh:
Đi
đâu cho thiếp theo cùng.
Đói
no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo.
Phương
tự nhiên cảm thấy lòng lạnh lẽo và buồn man mác. Cụ Uẩn ngồi trong mui, với một
giọng ngái ngủ hỏi sẽ:
-
Cô Phương ơi! Thuyền đã đến đâu rồi cô nhỉ?
Phương
nhìn lên đám lách um tùm hai bên bờ sông rồi đáp:
-
Đến làng Đồng-yên rồi cụ ạ.
-
Thật cô chèo mau quá.
Nghển
nghe có tiếng động, tự nhiên lồm còm ngồi dậy khóc. Cụ Uẩn dỗ ngon dỗ ngọt một
hồi lâu cũng không được. Cụ liền mặc thêm áo rồi bước ra sau lái nói với
Phương:
-
Thôi cô vào ẵm cháu ngủ đi. Để tôi chèo cho.
Cô
Phương còn dùng dằng chưa chịu nghe:
-
Ai lại để cụ chèo.
Trong
mui, tiếng Nghển lại khóc thét lên. Cụ Uẩn giục:
-
Cô đưa tay chèo cho tôi. Tôi tuy già nhưng trai tráng chưa chắc đã chèo kịp
tôi.
Phương
biết từ chối cũng không được nên đưa chèo cho cụ Uẩn.
Nghển
thấy bóng mẹ đi vào thì khóc già hơn trước. Phương ẵm con trong lòng nói sẽ:
-
Thôi con ngủ đi. Về đến làng Viễn-trình mợ sẽ mua kẹo cho con.
Nghển
được thể quay đầu vào ngực mẹ khóc lớn:
-
Con không ăn kẹo.
Phương
đưa tay vỗ nhẹ vào lưng con:
-
Thế con muốn gì?
Nghển
mếu máo:
-
Thầy con đâu?
Rồi
như mọi ngày, lúc nghe con hỏi đến cha, Phương lại nói dối:
-
Thầy qua chợ Sình mua áo tốt cho con.
Nghển
lại vùng vằng đầu nũng nịu:
-
Con không cần áo tốt. Thầy con đâu?
Lệ
thường đến lúc này, túng lắm, Phương mượn một người khách trong thuyền vờ làm «
thầy » để dối con. Lúc ấy Nghển mới chịu ngủ yên bên người cha giả. Nhưng hôm ấy
thuyền vắng khách, quanh quẩn chỉ một mình cụ Uẩn và Phương. Phương đang lúng
túng chưa biết tìm kế gì, thì Nghển đã khóc lớn:
-
Thầy con đâu?
Phương
kiên nhẫn dỗ con:
-
Con nín đi. Mợ gọi thầy về đây.
Đưa
đầu ra ngoài mui, Phương gọi lớn:
-
Thầy nó đã về chưa. Mau xuống thuyền chẳng thằng Nghển không chịu ngủ.
Trong
bóng tối của lũy tre xanh chạy dài theo bến Nứa, tự nhiên có tiếng người đáp:
-
Tôi về đây. Ghé thuyền cho tôi về với.
Phương
đang phân vân chưa biết người ta nói đùa hay nói thật, thì cụ Uẩn đã từ từ cho
quay mũi vào bến.
Một
người vận âu phục, nhanh nhẹn xách va-li bước xuống thuyền:
-
Đâu, Nghển của tôi đâu? Sao nó lại không chịu ngủ.
Phương
thấy người khách thì giật mình bẽn lẻn:
-
Cậu Thảo đi đâu mà về khuya thế?
Thảo
cũng vừa thấy Phương, nên cúi đầu ấp úng:
-
Đò của cô mà tôi tưởng của ai.
Nghĩ
một lát. Thảo nói tiếp:
-
Tôi vừa xuống ga Mỹ-lâm về đây. Tôi về thăm thầy mẹ tôi.
Cụ
Uẩn thong thả cho thuyền ra khỏi bờ rồi chèo xuôi theo dòng nước. Mảnh trăng hạ
tuần rây bụi vàng trên quãng đồng lúa rộng. Phương ẵm con ra ngồi trước mui,
gương mặt tự nhiên ửng hồng và đẹp một cách lộng lẫy. Tiếng nước reo hai bên mạn
thuyền nghe nhẹ và êm. Nghển ngước mắt nhìn Thảo một hồi khá lâu rồi thỏ thẻ:
-
Đây là thầy phải không mợ?
Phương
nhìn ra sông đáp sẽ, giọng ngượng ngập:
-
Vâng.
Nghển
đưa mắt trân tráo nhìn Thảo, nói tiếp:
-
Thế sao thầy không ẵm con?
Không
để Nghển nói hết câu, Thảo đưa hai tay cất Nghển lên rồi vụng về ẵm vào lòng.
Nghển
sung sướng reo lớn:
-
Thầy mua kẹo cho con đâu?
Thảo
cúi xuống mở va-li rồi đưa cho Nghển một gói kẹo tây.
-
Kẹo cho con đây.
Lúc
nói đến chữ con, lòng Thảo tự nhiên nghe êm êm một cách lạ. Phương nói lảng qua
chuyện khác:
-
Độ này thầy làm ở đâu?
Thảo
quay lại đáp:
-
Tôi làm ở sở Hoả-xa. Hôm nay được mấy ngày nghỉ nên định về thăm nhà.
Nghển
vừa ăn kẹo vừa nhìn đàn đom đóm lập loè hai bên bờ sông.
Phương
đứng dậy quay đầu nhìn phía lái hỏi:
-
Cụ Uẩn đã nhọc chưa. Để cháu ra chèo thay cụ.
Nghển
đưa tay nắm chéo áo mẹ năn nỉ:
-Mẹ
đừng ra chèo. Mẹ ngồi đây với thầy với con.
Phương
cúi đầu nhìn xuống sàn thuyền, hai má đỏ như gấc. Dưới ánh trăng gương mặt của
Phương trông hồng hồng tươi xinh như bằng sáp. Lòng Thảo hồi hộp sẽ như cánh bướm.
Đằng
lái, tiếng cụ Uẩn đáp lớn:
-
Nước chẩy xuôi nên chèo không mỏi. Lúc nào cháu Nghển ngủ sẽ hay.
Nghển
nhìn về phía sau lái hí hửng:
-
Tiếng ai đấy mợ?
Phương
xoa đầu con:
-
Tiếng cụ Uẩn.
Nghển
ngước mắt đăm đăm nhìn Thảo:
-
Con sợ cụ Uẩn lắm.
Thảo
tươi cười:
-
Tại sao ... con sợ?
Nghển
nói nhanh không suy nghĩ:
-Vì
cụ ấy có râu.
Thảo
nhìn Phương mỉm cười.
Tuy
người giả vờ làm thầy Nghển mỗi ngày mỗi khác, nhưng Nghển chỉ hơi ngạc nhiên một
chút rồi quen ngay. Vì những người này, người nào cũng biết vuốt ve Nghển và nhất
là biết cho Nghển quà bánh. Trước kia Nghển hỏi đến thầy là vì nhớ. Chứ lâu nay
Nghển hỏi thầy là cốt để hỏi quà bánh thôi. Nghển thấy Thảo ăn mặc sang lại vui
vẻ nên thích lắm.
Con
thuyền từ từ lướt nhẹ trên mặt nước, êm đềm như cái bóng. Thấy thuyền đến, vài
con cò ngàng đang lội trên sông bỗng đập cánh bay thẳng vào trong mấy hàng cây
đen tối. Nước rây xuống như mưa.
Thảo
cầm bàn tay xinh xắn của Nghển trong tay mình rồi mỉm cười nhìn Nghển đang cố gắng
rút tay ra.
Phương
chống cằm vơ vẩn nhìn mấy thửa ruộng chạy dài hai bên bờ sông, lòng hơi thổn thức.
Phương cũng không hiểu tại sao tối hôm nay lòng Phương lại rạo rực, tê mê như đống
tro tàn men hơi lửa.
Mặt
trăng lúc ấy đã lẩn hình trong đám mây đen.
Màu
xanh lam của màn sương bụi tỏa hai bên bờ sông đã biến ra màu xanh bạc. Bầu trời
có vẻ nặng nề hơn trước.
Nghển
tự nhiên nắm tay mẹ rồi từ từ kéo mạnh. Một lát sau, Phương cảm thấy Nghển đang
đặt tay mình trên da tay một người khác. Phương rùng mình, toàn người run sẽ,
hơi thở mạnh và không đều.
Phương
không dám quay mình lại. Nghển nói lớn:
-
Đây, mợ mở giùm mấy ngón tay của thầy để con kéo tay con ra.
Thảo
cảm phải hơi lạnh ở da tay Phương truyền qua tay mình, nên toàn người nóng bừng,
tay chân run nhẹ. Thảo như người bị thôi miên. Thảo thả bàn tay Nghển ra rồi nắm
bàn tay dịu mát của Phương. Phương cúi đầu nhìn xuống mặt nước, hai má đỏ bừng.
Nghển trùm hai bàn tay nhỏ xíu của mình ngoài bàn tay Thảo rồi nói lớn:
-
Thầy giữ chặt lấy. Đừng thả ra.
Thảo
sợ cụ Uẩn nghe được nên quay lại hỏi:
-
Tiếng chuông chùa nào đấy cụ Uẩn?
Thảo
vừa nói dứt lời, một tiếng chuông chùa đã dìu dặt thả giữa không trung một tiếng
ngân dài não nuột.
Cụ
Uẩn che tay ngang trán nhìn mông ra xa rồi đáp:
-
Tiếng chuông chùa Đồng Tâm.
Phương
quay lại nhìn Thảo, hai người nhìn nhau mỉm cười rồi cùng đưa mắt nhìn dòng
sông sắp uốn mình trước mặt.
° ° °
Năm
qua, ngày tháng qua. Nghển đã khôn lớn và không hỏi thầy như trước nữa. Nhưng
giữa đêm khuya, mỗi lần chèo thuyền qua bến Nứa, Phương lại cất tiếng gọi:
-
Ai về Viễn-trình thì xuống mà về.
Nhưng
đêm nào cũng như đêm nào, đáp lời Phương, chỉ có tiếng chuông chùa Đồng Tâm
ngân dài trên mặt nước.
➖➖➖
CHÚ TÔI
Tôi
còn nhớ rõ ràng, tối hôm ấy là một đêm trăng về cuối hạ. Chúng tôi đang ngồi học
trong nhà, thì chú tôi nhân đi tỉnh về, ghé lại thăm.
Thấy
em gái tôi ngồi nghê nga học chữ Hán, chú tôi đến đứng gần bên bàn, mỉm cười,
nhìn nó chòng chọc. Nghe nó học, cha tôi đưa mấy ngón tay thon thon mỏng dài,
thong thả vuốt chải chòm râu xuống, ra vẻ đắc ý lắm.
Nhưng
em tôi thì hẳn không đắc ý chút nào, vì chữ nho là thứ chữ xưa nay nó vẫn sợ.
Theo ý nó cũng như theo ý tôi về thời bây giờ, thì người ta bắt chúng tôi học
chữ nho là làm một việc hoàn toàn vô ích. Chữ nho khó học cũng như khó hiểu, và
chỉ đem lại những sự rắc rối thêm cho đời học sinh chúng tôi.
Nhưng
mỗi lần nghe thầy dạy học bàn giải những nghĩa thâm thúy của nó thì chúng tôi lại
đâm ra ngờ vực. Dầu sao, chúng tôi vẫn đồng lòng khinh và sợ những buổi học ác
nghiệt nặng nề kia. Không mấy khi trong giờ chữ nho anh em tôi đọc thuộc bài.
Tôi thì nhanh trí, lõm bõm còn đọc được vài ba chữ, chứ em tôi thì đứng ngậm
câm ra đó như pho tượng.
Những
ngọn thước quá thẳng tay của thầy Thiện đã bắt em tôi ghét luôn cả thầy lẫn chữ
của thầy dạy nữa.
Nó
thường gọi thầy Thiện là một ông ác thần râu quặp. Và một hôm trước mặt học trò
nó còn dám cả gan gọi thầy ta là ông đồ gàn. Tôi còn nhớ một hôm tan buổi học
chiều, nó hớn hở tìm đến tôi và nhí nhảnh bảo tôi rằng:
«Anh
Thanh ạ, thầy dạy chữ Hán tên Thiện nhưng kỳ thật thì ác lắm. Mà ác hơn thầy
Thiện thì không phải một thầy tên là ác mà chính là ông thanh tra tên Le Bon.
Anh có biết không, sau khi đến viếng lớp anh thì ông ta lại vào lớp em với ông
đốc trường Mỹ-lý. Gặp thầy Thiện, ông ta liền ân cần hỏi ngay bằng một câu tiếng
Pháp: Monsieur, comment vous appelez-vous? [1]
Không
ngần ngại, thầy Thiện liền chắp tay cung kính trả lời:
-
J’ai Thiện. [2]
Thế
là muốn tránh cơn tức cười, ông thanh tra phải vội vàng đi thật nhanh qua lớp
khác.
Em
tôi và tôi ghét chữ Hán bao nhiêu thì chú tôi lại thờ chữ ấy bấy nhiêu. Dùng đến
chữ « thờ » để tỏ lòng chú tôi yêu quí nó, tưởng cũng không quá đáng. Vì chú
tôi đã lắm lần tỏ ra vẻ thờ nó thật. Chẳng vậy mà chú tôi lại đi rửa mặt, mặc
áo đen dài trước khi đọc đến chữ Hán. Hay mỗi lần vô ý làm rơi quyển sổ chữ Hán
xuống đất, chú tôi lại lật đật cúi lượm lên, rồi kính cẩn đội lên trên đầu gần
vài phút
Những
cử chỉ ấy tưởng cũng không lạ mắt lắm. Vì chú tôi là một nhà thâm nho lỡ vận.
Cũng như các nhà hủ nho khác, chú tôi ghét bọn Tây học vô cùng. Chú tôi bảo bọn
trai theo Tây học sau này chỉ tổ bất hiếu. Chú tôi còn mỉa mai bảo vần chữ Tây
như b (bê), q (cu), k (ca), h (hát), hay n (anh), m (em) là một thứ văn khi đọc
lên thì không cao thượng chút nào cả. Ý hẳn chú tôi lại muốn nói văn chương
Pháp chỉ quanh quẩn trong nghề ca hát (k.h), trong đạo anh, em (n.m) chứ không
có gì cao siêu hơn nữa. Về vấn đề này chú tôi đã lắm lần cãi lý với cha tôi rất
kịch liệt.
Chú
tôi bảo:
«
Anh cho thằng Thanh đi học chữ Tây thì sau này không khéo nó lại xách lư hương
nhà ta đi bán mất. Thì nhà Tây có bàn thờ đâu mà bảo nó để lư hương ông bà nó lại,
«
Nếu ông nghe lời tôi cho nó đi học chữ Hán thì sau này tệ đi nữa nó cũng ra làm
hương, làm lý với nước với làng. Mà tên ông bà trong gia phả lại khỏi phảỉ nhờ
ai đọc hộ nữa. Còn gì bất biếu bằng lúc đem gia phả nhà ta nhờ người khác đọc.
Anh nghĩ lại xem, ngòi bút lông mềm mại dịu dàng thì họ lại thay vào ngòi bút sắt.
Mà bút sắt chỉ tạo được quân làm giặc, chứ tạo ra người quân tử hiền lương thể
nào được? Ừ, nghĩ cho kỹ tóc trên đầu là máu mủ của cha mẹ, họ còn giang tay
cúp phăng đi được nữa là.
«Tôi
không hiểu dân trong làng nghĩ thế nào mà cho con đi theo Tây học được? Vì cái
gương bất hiếu đã lộ ra trước mắt mà họ không chịu nhìn cho rõ. Không bất hiếu
mà bọn Tây học dám kêu ông bà chúng nó là « ai ơi! » (aieux) in như lúc chúng
kêu một người không bao giờ quen biết. »
Trước
bao nhiêu lý luận nghiêm nghị và ương gàn ấy, cha tôi vẫn lẳng lặng mỉm cười,
chứ không bao giờ đáp lại.
Lần
này có lẽ là lần đầu chú tôi mới ghé lại bên bàn để nghe chúng tôi học. Nghe em
tôi đọc lớn mấy chữ Hán, chú tôi ra dáng mừng rỡ lắm.
Chú
tôi lần tay trong chiếc bao con đeo trước ngực, lấy cặp kính ra rồi nâng hai
cái cóng để trên mép tai rất cẩn thận. Đoạn chú tôi chống tay lên bàn nhìn quyển
vở chữ Hán của em tôi đang học.
-Thầy
dạy cháu học chữ Hán tên gì?
-
J’ai Thiện.
Em
tôi nói xong liền kề má lên trên quyển sách cười ngặt nghẹo.
-Thế
nào? Thầy cháu họ Ro à?
Câu
hỏi bất ngờ ấy lại làm cho em tôi cười lớn hơn nữa. Không hiểu chuyện gì, chú
tôi cũng cất tiếng cười theo, nhưng với một giọng cười đạo mạo nghiêm trang của
phần đông người theo nho học.
Một
lúc sau, em tôi ngồi khoanh tay trên bàn, giả vờ làm nghiêm rồi nói sẽ:
-
Chú ạ, thầy cháu tên Thiện nhưng ác lắm.
-
Ừ, thầy thương mới cho roi cho vọt cháu ạ.
-
Nếu thầy thương bằng cách ấy thì thà cháu chịu thầy ghét còn hơn.
Muốn
nói lảng qua chuyện khác, chú tôi liền thấm nước miếng trên đầu hai ngón tay rồi
vừa lật từng tờ giấy quyển vở chữ Hán vừa khẽ hỏi em tôi:
-
Chữ Hán cháu viết hay cháu đồ?
-
Cháu viết đấy.
-
Nếu vậy thì cháu viết tốt hơn trước nhiều lắm!
-
Chú bảo thế, chứ thầy Thiện thì cứ bảo chữ cháu viết như gà cào.
-
Thì ai cũng vậy, đầu có gà cào thì sau mới...
-
Mới gì chú?
-
. . . Mới phụng múa được.
-
Thế người bạn cháu tên Phụng, sao chữ chị ta viết cũng như gà cào?
-
Lý sự như cháu thì ương gàn lắm. Biết nói đến lúc nào mới hết được! Thôi, này lặng
để nghe chú hỏi: Khổng-Tử viết là nghĩa gì cháu có biết không?
-
Là xừ Khổng-Tử nói rằng.
-
Ấy chết! Đùng nói dại. Phải gọi ngài là Đức Thánh mới được.
-
Vâng, thì Đức Thánh Khổng-Tử nói rằng.
-
Không được kêu tên của ngài, chỉ nói Đức Thánh là đủ rồi. Mà đã Thánh thì phải
dùng chữ « dạy » mới nghe được chứ!
-
Rõ khổ, thế sao người làm sách lại không nói: « Đức Thánh viết »?
-
Nếu nói Đức Thánh viết thì ai biết là đức Thánh nào. Thôi cháu chớ cãi nữa. Dạy
sao thì học vậy, con nít mà đòi ngang tài với Thánh-hiền xưa thì chẳng những
không phải đạo với « người trên đầu trên cổ » lại còn không nên nữa cháu ạ.
-
Thôi được, thì không nên. Nhưng không biết Đức Khổng-Tử có họ hàng gì với ông
Khổng-Minh không?
-
Không, đức Thánh là người nước Lỗ...
Không
để chú tôi nói hết câu, em tôi liền láu lỉnh ngắt lời, hỏi:
-
Lỗ... là lỗ vốn ấy à, phải không chú?
Lần
này không nén được cơn tức giận đã tràn trề trong lòng, chú tôi liền hậm hực
vào nhà lấy dù, rồi trở ra đi thẳng.
° ° °
Đã
hơn ba tuần chú tôi không qua nhà tôi nữa. Ngày nào chú tôi cũng xách dù đi
quanh các nhà hàng xóm để khuyên những người lân cận nên cho con đi học chữ
Hán. Nhưng đạo Khổng, cũng như chú tôi, đã già rồi, đã khàn hơi rồi, không ai
còn chịu mất thì giờ nghe chú tôi giảng giải nữa.
Nói
không ai nghe, chú tôi liền mở trường dạy chữ Hán, để quyến rủ con dân trong
làng đến học. Nhưng trường mở cửa đã mấy hôm mà số học sinh vẫn không quá hai
người. Mà hai người ấy không phải ai lạ, chính là hai đứa con của chú tôi lên
mười tuổi. Thấy bọn con nít trong làng đua nhau đi xin học ở trường Mỹ-lý, chú
tôi lại đâm ra ghen ghét. Có một lần, một bọn học trò trường Mỹ-lý đi ngang qua
nhà chú tôi, rồi cất tiếng nhại giọng học của mấy cậu con. Qua mấy ngày sau chú
tôi liền đi qua mấy làng Diệp-hải, Từ-sơn để quyến rủ thêm học trò đến học.
Nhưng số học trò của chú tôi vẫn như cũ dẫu lời hứa sẽ dạy không lấy tiền đã
tràn ra khắp huyện. Trái lại trường Mỹ-lý cuối năm ấy, phải mở rộng thêm hai lớp
mới đủ chỗ cho con dân trong làng đến xin học.
Một
hôm tôi đến thăm thì thấy nhà chú tôi chật ních cả học trò. Tôi đương còn ngạc
nhiên thì chú tôi kêu tôi lại gần rồi mỉm cười sung sướng sẽ bảo: « Đạo
Thánh-hiền thì không bao giờ suy đồi được cháu ạ! » Tôi hiểu biết chú tôi đang
tranh cạnh một cách âm thầm với trường Mỹ-lý. Tiếng học lớn của bọn học trò chữ
Hán đã làm chú tôi vui vẻ, vì trường Mỹ-lý vẫn còn thua trường chú tôi về sự ồn
ào náo nhiệt. Có một điều rất lạ là học trò trường chú tôi chẳng những khỏi trả
tiền thầy, lại được thầy cấp giấy mực để học và luôn cả bữa cơm trưa tại nhà thầy
nữa.
Qua
tháng sau tôi lại đến thăm, nhưng lần này thì nhà chú tôi hiu quạnh yên tĩnh,
không huyên náo như xưa nữa. Văng vẳng chỉ nghe được mấy tiếng lè nhè của hai dứa
con chú tôi ngồi học. Hỏi đến học trò thì chú tôi ngồi ôm đầu gối, thở dài rồi
sẽ bảo:
-
Chúng nó cũng theo học a, b, rồi cháu ạ.
Nói
xong chú tôi liền gục đầu ôm mặt.
Thì
ra hôm nay tôi mới biết, bọn học trò đông đảo của chú tôi ngày trước là bọn
chăn trâu mà chú tôi đã quyến rủ được ở ngoài đồng làng Quận-mỹ.
------------------
Chú
thích:
[1] Thưa ông, tên ông là gì?
[2] Tôi có Thiện (ý ông ta muốn trả lời: “Là
Thiện”, nhưng nói tiếng Pháp không thành).
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét