2021-10-02
Tôi kéo xe (XIII,
XIV, XV, XVI)
Tam Lang Vũ Đình Chí
~
Chương XIII: Thầy tôi mổ bụng!
Chương XIV: Xe xoay, xe măng ca
Chương XV: Mặt lót của mấy đôi giày mang cá
Chương XVI: Sau một trận thừa sống, thiếu chết
~
Chương XIII
Thầy tôi mổ bụng!
Hôm
ấy, chúng tôi say sưa lắm.
Người
ta bảo thuốc phiện nấu bằng xương khướu - mà có lẽ bằng xương khướu đốt cháy thật
- nên ông chủ trọ của tôi kể hết cho tôi nghe cả những câu chuyện ruột gan.
Cái
nghề cắm cổ mà chạy để kiếm lấy dăm ba xu một ngày ở góc phố đầu đường, từ hôm ấy,
tôi mới biết nó cũng có những mặt trái, mặt phải, những góc ngạnh mà con
mắt người ta không thể trông - nói rõ là những khóe và những nỗi của nghề, cũng
như trong trăm nghìn nghề khác.
Thầy
ký rượu pha nước lã vào với nước men; anh chủ thầu bớt xi măng dùng cát; chị
hàng cơm ngâm gạo vào nước vôi để thổi cho lợi bát; thằng sét-ty cho vay
ba mươi phân, bắt khách nợ chỉ được viết vào giấy nhận vay có mười phân theo
như lệ nước... tất cả những cái ấy, các ông gọi là gì?
Bí
mật của nhà nghề!
Nghề
ký rượu, nghề chủ thầu, nghề hàng cơm, nghề sét-ty... nghề nào cũng có cái bí mật
của nhà nghề thì nghề xe kéo cũng chẳng kém gì, vì nó cũng có những cái bí mật
của nó.
Những
cái bí mật ấy, hôm nay tôi đã thò tay lấy được, nó có đủ hay không thì không
rõ, chỉ biết tôi đã lấy được trong túi áo một người đã hơn mười năm làm cái nghề
cầm tay gỗ... - túi áo anh Tư.
Anh
Tư thật quả là một anh chàng không biết giữ ngón bí truyền như mấy ông
làm báo, làm quỷ thuật, làm thuốc, vì anh ta chẳng giấu những cái miếng,
cái khóe của nghề.
Thì
hôm nay, có bao nhiêu miếng hay, miếng khéo, anh ta đã thả cả nó ra, thả trong
một chiếc hến đựng cao xương khướu.
-
Làm nghề xe kéo - Anh ta cất cái giọng nghiêm trang, lại ra vẻ đạo mạo như một
cụ giáo già giảng bài cho học trò - cần phải biết cả bụng của người ngồi xe...
Đến
đây, tôi hãy xin phép các ngài cho tôi ngắt lời anh Tư để dẫn ý anh ra bẳng một
câu văn vẻ:
“Làm
nghề xe kéo phải biết cả tâm lý khách ngồi xe”.
-
“... Biết được bụng người ta thì lúc người ta xuống xe, mình có nằn nì xin thêm
một hai xu, người ta cũng không nỡ thay những đồng xu bằng những cái móng
giò, cái bạt nhĩ.
“Vào
ăn cao lâu, có khi người ta gọi món hàng đồng mà không dùng đũa, nhưng đi xe
thì người ta mà cả, cò kè, bớt từng đồng xu. Một đồng bạc có được những trăm đồng
xu. Một trăm xu ném vào ngăn kéo anh Khách phệ bụng không mùi gì, nhưng một xu
ném vào cái nón rách người phu xe, nó to không biết đâu mà kể. Trăm khách đi
xe, đến chín mươi chín người như thế. Đồng xu trả thêm hay trả đắt cho người
kéo, thật họ coi nó to hơn cái bánh xe.
“Nghĩ
cho kỹ, thì cũng chẳng lạ quái gì.
“Có
ai cần lấy sĩ diện với cu li xe. Chỗ cần sĩ diện là các cửa hàng to, các cao
lâu, rạp hát.
“Khách
ngồi xe đã coi đồng xu là to thì người kéo xe cũng phải làm cho nó nhỏ bớt. Làm
đồng xu nhỏ bớt, không phải là khinh nó dùng được ít việc, chính là khép nhỏ
con mắt người coi nó là to!
“Muốn
bịt mắt người ta thì trước hết phải biết bụng người ta.
“Bác
xem, cái chân tuy chạy, mà cái đầu lúc nào cũng phải nghĩ.
“Đây,
tôi kể bác nghe một thí dụ:
“Một
hôm, chừng độ năm giờ chiều, tôi vừa lấy xe đi thì được kéo ngay một anh công tử.
Anh ta diện cật, mình chỉ biết người ta sộp chứ có biết người ta diện những gì.
“Từ
Hàng Đậu xuống Chợ Hôm, anh ta mà cả có tám xu. Xin một hào, nhất định không
nghe, nhưng chuyến ấy mở hàng, tôi cũng kéo.
“Xe
chạy đến đầu Hàng Đào. Trước tôi chừng sáu, bảy bước chân, một cái xe khác cũng
chạy xuôi, trên có một tiểu thư chẳng biết diện những gì, nhưng trông nửa trên
đằng lưng cũng mốt.
“Phố
chật mà đông người xe trước chạy cũng không nhanh lắm. Được dịp ấy, tôi cũng
răm rắp bước để nghỉ xác, nghĩ bụng: chẳng vạ gì mà len lỏi, vượt lên.
“Từ
lúc ấy, tôi thấy hai díp xe của tôi rung luôn. Tôi đoán bạo ngay là công tử
nóng ruột muốn vượt xe trên nhưng vì phố hẹp mà đông, không có lẽ nào thúc được
mình, mà giá có thúc để xe vượt lên thì chắc anh ta cũng ngượng.
“Biết
thóp, tôi ếp rầm lên, cố tìm một lối để vượt. Vượt được xe trước, tôi lại chạy
ghìm.
“Xe
ra khỏi phố Hàng Đào, vào đường Bờ Hồ Hàng Gươm. Đường rộng, tôi rắp bước cho
hai xe chạy đều hàng, nhưng lúc nào tôi cũng giữ cho xe tôi nhôi lên hơn một đầu
ngựa.
“Díp
xe bấy giờ êm, không rung như trước nữa. Biết khách mình đã hả, tôi cứ giữ nước
ấy mà chạy đi.
“Qua
nhà Dây thép, xe kia đỗ xuống cửa Bô Đa. Tôi chạy chậm bước hơn đến đầu qua-dê-măng
cũ Đờ-Bô, rồi lại bốn cẳng ba chân vượt chuyến tàu điện cũng chạy xuôi mạn đó.
“Đến
phố Chợ Hôm, anh công tử trỏ chỗ xe đỗ rồi đưa cho cả đồng hào.
Tôi
ngắt lời:
...
Cái đó là người ta hảo tâm, biết đâu?
-
Khốn nạn, một thằng trước lúc bước lên xe đã cò kè từng đồng xu thì hảo chết giẫm
gì mà hảo!
...
Nhưng chuyến ấy, ông chạy nhanh hay chậm cũng thế, vì người kia có tán mảnh hay
bắt chim gì người con gái đâu?
-
“Cứ gì phải tán với chim, diện bảnh đi xe, được nhìn gái, nhất lại được gái
nhìn để khoe cái đầu mượt, bộ áo đẹp, đôi giày sang, người lại bôi nước hoa
thơm thì làm gì mà không hả.
“Nhưng
cũng tùy người, chứ không phải ai cũng thế. Kéo ông già thì phải ếp cho nhiều,
chạy cho chậm; kéo ông Tây, phải chạy cho khỏe, tối, có chậm thắp đèn cũng đừng
sợ; kéo tiểu thư công tử thì phải chạy cho nghênh ngang...; nghĩa là cứ tùy mặt
khách mà làm: gặp người nhiều chuyện thì phải vừa chạy vừa tán; gặp kẻ nó khinh
mình phu xe phu pháo thì phải câm mồm; thằng ngồi cho mình kéo không đáng mặt
quan, mình cũng cứ tôn nó lên quan; con đàn bà mình biết mười mươi là gái thập
thành, nó đã diện quần áo bảnh lên xe mình thì mình cũng cứ tôn nó là bà lớn!
Chào Tây đen, chẳng biết nó là ai, mình cũng cứ nói: Mời ông chủ hiệu vải về
Hàng Đào; thấy anh Chiệc, chẳng kể là ai, mình cũng cứ mời: Ông đi xe về
Hàng Buồm, Hàng Bồ? Ông chủ hiệu...
“Có
mất gì một nhời nói bẻo lẻo. Họ làm gì thây xác họ, miễn là họ cứ ngồi lên cho
mình kéo, lúc hạ tay xe, mình có xin thêm, họ cũng không tiếc mà mình cũng
không phải kèo nhèo...
Ông
thầy tôi còn định dắt tôi đi đến những đâu? Nằm học miên man, tự tôi, tôi cũng
không biết nữa.
Cầm
con dao nạo xái, thầy tôi đã mổ bụng từng thằng mà chính tôi cũng là một
thằng trong những thằng bị mổ.
Còn
cái gì tức cười hơn thế?
Tôi,
các ngài cũng biết, tôi từ xưa vẫn là một kẻ ngồi xe!
Chương XIV
Xe xoay, xe măng ca
“Quân
cu li cu leo ấy! Nói làm gì! “
Câu
nói ấy, ngài thường nghe ở cửa miệng những người sang trọng - như ngài với tôi
chẳng hạn - nói ra. Ngài với tôi, chúng ta cùng nghe rõ mà chúng ta cũng như
không nghe thấy gì, vì đối với những quân cu li, một câu nói ấy, có ai cho là
quá.
Nghĩa
là ngài với tôi, ta cùng khinh bỉ họ, khinh bỉ những thằng, mình ngồi cho chúng
nó kéo, những thằng nó cắm đầu cắm cổ kéo mình để kiếm mỗi cuốc lấy hào bạc hay
năm ba xu.
Ngài
cũng nghĩ như tôi, tôi cũng nghĩ như ông X., ông X. cũng nghĩ như ông T.
Trái
lại, có một hạng người họ chẳng nghĩ như chúng ta.
-
Hạng người ấy?
-
Cu li xe kéo.
Chắc
ngài đã sắp ghé ngay vào tai tôi mà bảo:
-
Một người ngồi cho một người khác kéo, người kéo, họ cho thế là trái với nhân đạo
chứ gì?
Không,
tôi hãy xin vứt những lý thuyết về nhân đạo đi. Đây tôi chỉ nói cái nhân cách của
người ngồi xe, cái chân tướng của những người được ngồi cho người khác kéo.
Trong
con mắt bọn cu li xe kéo, những người khách ngồi xe là những người thế nào?
Đây,
ngài hãy nghe anh Tư, ông thầy học của tôi, một hôm đã giảng cho tôi nghe trong
bữa rượu:
-
“... Đừng nghĩ người ta bỏ đồng tiền ra bảo mình kéo thì mình chỉ cứ việc cắm đầu
cắm cố cố chạy cho mau. Cái chân chạy đã đành rồi, nhưng còn cái đầu. Cái đầu
nó cũng phải nghĩ như cái mắt nhìn đường, cái tai nghe còi ô tô báo.
“Có
biết như thế mới trông thấy đời người ta cũng có nhiều kẻ giả danh, giả hiệu
trong những bộ mã tốt đẹp, trong những bộ cánh bảnh bao.
“Tôi
kể lại bác nghe, hôm ấy, tôi còn nhớ rõ về một buổi chiều, chiều mùa nực cũng
như hôm nay, tôi kéo hai người lên từ Hàng Đào, không mà cả.
“Họ
từ trên một chiếc xe khác bước xuống, vẫy xe tôi lại, truyền bảo một cách ra
dáng quá: ‘Đưa đây tao ba hào, xe!’ Thấy hai người quần áo cũng sang trọng: sa
tây, kính trắng, giày dôn, lít-so, tôi cũng yên trí, dốc ngược vạt áo, móc
trong lỗ nẹp áo, lấy ba đồng hào con đưa ra. Tôi hỏi họ đi đâu thì họ bảo đi xe
giờ, mà đi nhiều, lại định giá cho mỗi giờ hai hào rưỡi.
“Cầm
tiền của tôi, một người giao cả cho người xe trước, còn đứng chờ ngay đấy. Tôi
thuận, cả hai người cùng lên xe, ngồi.
“Hết
phố này qua phổ khác, chạy chán lại gác-đê, gác-đê chán lại chạy,
vần vật đến nỗi mảnh áo đã ướt đẫm như người đem dúng vào chậu mồ hôi; tôi tuy
nhọc nhưng cũng cố dò xem tình ý ra sao, cứ vừa nghe, vừa chạy.
“Có
lẽ bấy giờ họ cho tôi như một con vật hay một người Mọi nên cứ tự do nói chán lại
cười. Những câu của họ, nghe sượng cả tai. Đến bọn cu li bát-tê cũng có
người không nỡ mở miệng ra mà nói”
“Tôi
nghe mãi, nghe mãi, mà bấy giờ đã gần một giờ sáng rồi. Thì ra họ đi xoay mà
không đào đâu được ra tiền trả xe, cứ phải loanh quanh suốt tối.”
“Tôi
chột dạ, phải đánh bạo, hỏi. Trước, họ còn nói ngọt, sau đâm bẳn, họ định cà khịa
cả với tôi.”
Bác
nghe, họ mở miệng ra nói được câu này: “Chúng ông bây giờ hết cả tiền, mày muốn
lấy, phải kéo suốt cho đến sáng mai. Bằng lòng không? Chúng ông xuống!”
“Thế
mình mới thật chết. Hai giờ sáng đã phải trả xe rồi. Thuế cả thảy mất năm hào
hai. Từ chiều đến chập tối, kéo được bốn hào, thì các ông ấy đã mượn trước mất
ba rồi, còn có một. Không kéo nữa cũng không được! Tiền đâu mà trả thuế cho cai
xe, đừng nói đến chuyện ăn uống. Thế là phải cắn răng kéo luôn cho đến sáng, bụng
tính nhẩm nếu họ thương tình trả cho hơi chẽ thì sáng về, mình cứ tính
giờ trả cho cai xe thêm.”
“Từ
lúc ấy, tôi cứ bước một ngoài đường; họ ngồi trên cũng không thúc chạy như lúc
chiều, vì họ có định đi đến chỗ chó nào mà thúc!”
“Hôm
ấy, tôi ra ngõ gặp gái thật! Đi mãi mỏi chân, kéo lên góc ở đường Cổ Ngư, buồn
ngủ rũ ra mà không dám nhắm mắt. Càng ngồi hai mi mắt nó càng như bị người cầm
díp lôi xuống. Sợ chợt ngủ đi, các bố ấy chuồn mất, tôi lại phải đứng dậy kéo
xe đi cho tỉnh, ngoảnh trông lại thì hai thằng đã vẹo cổ đi mà ngủ, một thằng
luồn trong cánh tay cái khăn xếp, chừng sợ người ta ăn cắp mất; một thằng thì
quắp vào chân cái can phải gió, vứt đi, chó nó cũng chẳng thèm!
“Có
lúc lộn tiết, muốn tùng bê mẹ nó xe cho hai thằng ngã chổng kềnh; ừ, mà
tức thật, mệt lử cò bợ đếch được nằm, mà từ trưa, nào đã được một khỉ
gió gì vào bụng”.
...
Sao không kéo phăng chúng nó ra Cẩm?
-
Ra Cẩm để lại chịu thêm mấy cái đá đít! Chúng nó ăn mặc sang trọng như thế, ông
Cẩm nào bảo chúng nó xử quỵt. Người ta cho mình là vu vạ. Cò mấy Cẩm? Chao!
...
Thế đến sáng hôm sau, họ làm thế nào?
-
Sáng hôm sau!... Mới bảnh mắt, các bố đã bảo kéo về ngõ Sầm Công, gác-đê
trước cửa tiệm thuốc phiện của một thằng Khách già, rồi anh áo sa đập cửa vào,
lúc ra chỉ còn thấy trần có cái áo dài trắng.
...
Nó cắm áo cho người Khách?
-
“Nào biết được! Mà không cầm thì còn nạy đâu ra tiền. Thế mà nó còn màu mỡ riêu
cua với mình. Ra cửa, nó cũng vờ vờ rút ví móc tiền... Nghĩ nó giả được ít
nhất cũng hơn một đồng. Đêm vừa vặn mười hào con. Thế là từ sáu giờ chiều đến
sáu giờ sáng, chúng nó trả cho có bảy hào bạc.
“Tôi
toan làm rầm lên, thằng kia mới chịu nói thật. Nó dốc ví, nói không còn hào nào
hết, bảo mình hãy đành cầm tạm vậy, hôm nào gặp, nó sẽ cho thêm.
“Biết
làm thế nào? Thôi cũng đành vuốt mồ hôi trán mà cầm. Năm hào hai thuế, ba hào
phụ trả thêm, tất cả chạy đi tám hào hai, thế mà về nộp cho cai xe, còn bị nó
chửi như tát nước vào mặt.
“Về
nhà trọ. Thấy dở buổi, anh em xúm vào hỏi, mình toan giấu, nhưng chưa nói thật
thì đã thấy nhao nhao những tiếng:
“Thằng
Tư gặp phải vố xe xoay hẳn!
“Đêm
qua mày làm xe măng ca phải không?
“Bấy
giờ mình mới nói rõ những vố như thế, trong đám anh em cu li, đã nhiều người bị
trước mình. Xe xoay nghĩa là: xe chạy xoay quanh để xoay tiền. Xe măng ca nghĩa
là: xe kéo những thằng chết đường. Những thằng nằm ngủ sóng sượt trên xe suốt
đêm ngoài đường thì có khác gì thằng chết”.
Tôi
nghĩ, lại buồn cười thầm chuyện trước.
Tôi
có một ông bạn xưa nay vẫn tự xưng là lãng mạn, thường trong túi không có một đồng
kẽm, mà gặp xe là nhảy tràn lên.
Có
lúc đáng phải đi bộ một hào xe, sau vì chạy tiền lung tung mà rồi phải trả đến
hàng đồng.
Cái
xe kéo ông ta chạy nhông để xoay tiền, ông ta vẫn gọi đùa là: xe kinh tế!
-
Lại một hôm nữa...
Chương XV
Mặt lót của mấy đôi giày mang cá
Lại
một hôm nữa. Hôm ấy, mới chập tối, chỉ lác đác mấy hạt mưa nhưng trời rét quá.
Rét tháng Một mà tôi chỉ phong phanh có hai mảnh áo, gió cứ như dao cắt da.
“Sáu
giờ, bảy giờ, tám giờ, hết Hàng Buồm lại Hàng Đào, hết Hàng Đào đến Bờ Hồ, phố
xá vắng tanh, ngóng mãi, chẳng thấy ma nào gọi cả.
“Đi
ngoắt ra phố Cầu Gỗ, tôi chợt nghe có tiếng người gắt nhau dưới một mái hiên
khuất bóng, cách xa. Dừng xe lại, tôi đứng lắng tai nghe. Tiếng ấy chỉ cách tôi
chừng chục bước. Tiếng đàn bà rồi lại tiếng đàn ông, tôi nghe rõ mồn một. Tiếng
đàn bà: “Tôi chẳng đi đâu cả, nhất là cứ đứng đây đến sáng”. Tiếng đàn
ông: “Mợ khó tính lắm, đứng để chết rét đây à?” Rồi họ cứ như ném bùn
sang ao: “Cậu sợ rét thì cậu cứ đi đi!” ‘Thế thì còn nói làm gì. Vào
đấy dễ người ta ăn thịt hẳn!’
“Tôi
đã nói với cậu, thầy tôi nhiều người quen biết’. “Không vào đấy nữa thì
đi chỗ khác, đứng đây nhỡ gặp người quen thì sao?’
“Đi,
thế cậu bảo tôi đi đâu?’
“Thì
cứ đi, kìa cu li xe nó cười cho kia kìa, tôi đã bảo...”
“Tôi
bước ngay lại, ghé luôn xe vào thềm, vừa mở áo tôi vừa chào: “Mời thầy cô
lên xe, thầy cô đi đâu, tôi kéo”.
“Bước
vội ra xe, người đàn bà lật vạt áo sau chùm lên đầu. Rồi người đàn ông cũng
theo ngay sau, vừa nhảy vội lên xe vừa giục chạy.
“Tôi
đóng kín áo tơi lại. Quay càng xe sang tay phải, tôi cứ thẳng đường chạy ra phố
Hàng Gai. Lúc ấy, dễ hai anh chị đã yên trí rồi nên cũng chẳng thèm bảo kéo đi
đâu, cứ mặc kệ cho tôi chạy. Qua Hàng Lờ đến Cửa Nam, từ vườn hoa Cửa Nam thẳng
lên đến dinh ông Bảy, trời mưa.
“Dọc
đường, trong chiếc xe áo tơi cánh gà sùm sụp, chốc chốc lại thấy có tiếng khúc
khích cười. Tôi chạy chậm từ khoảng khỏi trường con tầy, càng chạy chậm càng phải
ghì hai tay xe đẫy. Một lúc thì thấy có tiếng thở dài rồi đến tiếng nói: “Mợ
cứ cầm lấy”.
“Người
tôi đã ráo, bấy giờ lại thấy toát mồ hôi.
Đến
vườn hoa Hàng Đậu, cô ả đòi xuống, còn anh kia thì giục kéo về Hàng Hài. Xuống
xe, anh ta vứt cho ba hào rồi vào hiệu cao lâu đầu phố ấy.
“Chẳng
buồn sửa lại đệm xe, tôi cắp nách hai càng gỗ kéo đi, hai tay thủ kỹ vào hai
túi.
“Cho
đến hôm ấy tôi mới tập nhận thế nào là một người con gái Hà Nội, áo nhung quần
tía, ô đầm hoa tai”.
...
Ông bảo như thế là hạng con nhà tử tế hay bọn chơi bời?
-
Đủ hạng người; mình có đi kéo xe đêm mới biết. Bọn ‘giăng hồ giăng há’ chẳng kể
làm gì vì nghề nghiệp họ là nghề bán thân nuôi miệng. Đến những đứa con nhà tử
tế cũng đâm đốn kiếp; vài giờ dăm ba đồng bạc để cũng được như các tiểu thư
khoe khoang bộ cánh, mua phấn son, hương sáp, áo hàng màu, giày mang cá, bề
ngoài như tiên giáng thế, bề trong dớp dáy chẳng biết đâu là cùng.
“Những
đứa ấy, người ta đã lấy hai tiếng cảnh sộp mà gọi chung.
“Cảnh
sộp ở Hà Nội thì bây giờ có đến hàng rừng: hàng thịt hàng rau, hàng trứng
hàng tôm, cô ký mợ tham, con thầy thông, em ông phán.
“Đừng
thấy nó rẽ cái đầu ngôi lệch, đi đôi giày gót cao đã tưởng nó mình tiền mình của
lắm. Một xu không dính đít, ngã vào hàng bánh tráng, chưa biết đến phải lột áo
mà đền.
“Họ
không khác gì đôi giày mang cá họ lê ở ngoài đường. Dưới cái mũi nhung dát kính
lóng lánh như kim cương, nó còn có cái mặt lót bên trong nhóp những đất cát mồ
hôi nhơ bẩn”.
Ba
chén rượu vào, thầy tôi hôm nay giảng học hùng hồn lắm.
Phải!
Thầy học tôi, một nhà nho không gặp vận, nửa đời người ngậm bút lông mèo đen miệng,
có thiếu gì chữ nghĩa, thiếu gì văn chương!
-
“Tuy thế - Thầy tôi nói tiếp - trong những cảnh khốn nạn ấy, còn có nhiều câu
chuyện đáng đau lòng. Giữa lớp bùn vẩn hôi tanh, nếu biết gạn lọc ra, người ta
còn thấy lẫn cả đôi ba giọt nước mắt.
“Một
hôm, như thế này mà đến nỗi tôi phải khóc.
“Tôi
khóc thật. Khóc thổn thức. Nghĩ thương người, lại thương mình.
“Buổi
hôm ấy, tôi cũng đi làm đêm. Chập tối, hơn chín giờ, gặp một người con gái gọi
xe ngay ở đầu Hàng Bát. Chị chàng, quần áo cũng bảnh, nhảy lên xe, không
mà cả, bảo kéo thẳng ra Hàng Buồm. Hết cả phố Hàng Buồm, chị chàng không bảo đỗ,
lại bảo kéo ra đường Bờ Sông. Từ Bờ Sông xuống đến Đồn Thủy thì gặp đám rước
đèn nghẽn đường. Kèn trống đèn đuốc đi xong, chị ta bảo ngay mình kéo theo đám
rước.
“Qua
nhà hát Tây, Tràng Tiền, Hàng Trống, Bờ Hồ, Hàng Đào, Chợ Đồng Xuân, Hàng Gà Cửa
Đông, dinh ông Sáu Võ, rồi đám rước vào đến cổng tỉnh. Lính Tây đã giục xe kéo
quay lại hàng Giô-giép (Joseph), mà chị chàng thì không nhất định, bảo cứ từ từ
đi buớc một về Hàng Gà Cửa Đông. Để đi bước một chán, chị ả lại thúc chạy rảo
lên. Hết phố Hàng Phèn ra Hàng Bồ rồi chạy loanh quanh đến một giờ khuya mới thấy
bảo kéo lộn về Hàng Bát. Nhưng mới đến đầu ngõ Hàng Bạc, chỗ rẽ ra Bờ Hồ, đã thấy
chị ả bảo đỗ xe cho xuống. Xuống rồi, chị ta bảo kéo xe không theo vào cái ngõ
tối mà hẹp, hai bên chỉ có hai dãy tường”.
...
Chắc vào chỗ tối rồi, nó lại chuồn phải không?
-
“Nào nó có thèm chuồn cho mình. Nó nắm mình đứng lại rồi nó chắp tay lạy van:
‘Em lạy bác, bác thương em! Đây, bây giờ bác muốn làm gì em thì làm! Em thật
không có một xu nào cả”.
“Tôi
giằng tay tôi ra, một tay thì nắm chặt lấy vạt áo nó. Nó vẫn chắp tay van lạy:
‘Đây, em để bác nắn, thật em không còn một xu’.
“Tôi
bỏ tay ra, nắn lưng nó, thì chỗ vạt áo bông bay tôi nắm, đã xoạc ra một mảng
to. Sờ cả túi áo cánh trong nó cũng chẳng có gì, chỉ thấy một hộp mỡ Cô ba đã
hôi sì với một tập những giấy bản là giấy bản.
“Tôi
tức đến nỗi như người ta bị nghẹn cổ, không nói lên được. Nó thấy tôi thế, lại
sát gần đến, co ngay tay tôi mà để vào lòng. Trong bóng tối, tôi vùng ra, sờ
tai sờ cổ nó xem có hoa hột gì không. Tuyệt nhiên không. Sờ lên đầu thì đầu nó
vấn tóc trần; rút chiếc lược thấy lược đã gãy răng, tôi lại bổ giả vào đầu nó.
Hất cánh tay nó lên xem, tôi cố soát lại một lần nữa. Hai cổ tay nó không vòng
xuyến gì cả, chỉ có một sợi dây hột bột không đáng nửa đồng xu. Tôi cúi xuống,
tốc áo nó lên xem nó mặc quần gì. Cái quần, ối giời ôi, nghĩ mới ghê! Nó đụp
trước đụp sau đến trăm mảnh”.
...
Quần vải hay quần lĩnh?
-
Lĩnh, lại lĩnh tía cẩn thận, trông bóng lộn lúc nó mới gọi xe, bước lên.
...
Thế sau, ông đành?
-
Khám xong quần, tôi sờ luôn đến chân. Thấy chiếc giày mũi nhọn, tôi đẩy chân nó
ra, cằm sát tận mắt xem: chiếc giày mang cá cao gót giả da trăn, nhưng đã rách
bố nó cả hai mép.
...
Thế còn cái áo bông bay đấy sao không lột?
-
Cái áo à? Bông bay mà bở bùng bục. Có lấy về cũng chỉ để làm tã lót đít
cho con!
...
Thế sau, ông làm thế nào?
-
“Còn làm gì nữa, mình ném chiếc giày xuống đất, đứng lên túm lấy toan đánh cho
nó vài cái tát, nhưng trông thấy lại thương. Cảnh khổ gặp nhau. Mình khổ, không
ngờ nó lại khổ hơn mình. Nghĩ thế rồi nước mắt tôi cứ chảy xuống ròng ròng miệng
tôi thì nghẹn ngào, cổ tôi như có người ghì bóp.
“Tôi
cầm vạt áo lên lau nước mắt. Lúc tôi bỏ tay xuống thì con bé đã chạy biến đằng
nào mất, chỉ còn lại chiếc xe lù lù sau lưng.
“Có
lẽ con bé lúc đi rồi, nó cười thầm mà chửi tôi là thằng gàn.
“Tôi
gàn... mà có lẽ còn gàn hơn vì tôi hối hận sao hôm ấy tôi lại khám soát nó suốt
từ đầu đến chân, tôi, cái thằng đã phải gửi lại chiếc áo thâm dài ở hàng cơm Hà
Nam ngày năm trước”.
Chương XVI
Sau một trận thừa sống, thiếu chết
Nhưng
sau nghĩ ra, mình cũng thật khéo thừa nước mắt.
“Cái
đời, người ta phải lừa lọc nhau, xử tàn tệ với nhau mới sống được, thì sự mình
ăn hiền, ở lành, thật thà như đếm, nó chỉ là cái trò cười của một thằng nhà quê
ngu ngốc trước đám đông những kẻ thị thành.
“Cái
nghề làm xe kéo nó nuôi sống tôi cho đến bây giờ, từ sau hôm bị mẻ đòn thừa sống
thiếu chết ở nhà cai xe, đã đưa tôi vào một đường đi khúc khuỷu, gồ ghề, con đường
bẩn thỉu tối tăm của một phường trâu chó.
“Bấy
giờ tôi nghĩ: cái manh áo thâm nhà nho từ ngày còn ở Thái Bình đã bị chúng nó lột
rồi thì tính cách nhà nho mình chẳng vứt đi, còn giữ làm gì nữa.
“Ăn
của chó phải gục đầu với chó. Tuy đã bảy năm giời làm nghề xe kéo mà từ hôm ấy,
tôi mới thật hoàn toàn là một thằng cu li.
“Hôm
ấy là hôm nào, rồi đã xảy ra những chuyện gì? Đây, tôi kể cả lại đây cho mà
nghe, nghe rồi mà ngẫm nghĩ.
“Cách
đây đã bốn năm, một hôm ở hàng cơm Ba Gà ra, trong túi tôi còn thừa được những
bảy hào với hai xu lẻ. Tôi nhớ rõ vì hôm ấy vừa đếm lại tiền xong thì có người
gọi tôi kéo lên nhà Dây thép Bờ Hồ.
‘Đến
nơi, anh ta xuống xe, bảo tôi đỗ gác-đê. Vào nhà Dây thép được một lát,
anh ta lại ra, bảo tôi đưa cho mượn năm hào, nói rằng mua tem, chỉ có giấy hai
mươi đồng mà ông ký dây thép thì không sẵn có tiền lẻ.
“Tôi
móc hà bao, lấy đúng năm hào đưa anh ta.
“Từ
lúc ấy, tôi cứ yên trí ngồi chờ. Người ta gọi, tôi bảo xe tôi gác-đê
(garder = chờ), rồi lại thủng thỉnh đến chỗ hàng nước đầu hè làm hóp chè tươi,
xin cái tăm rồi quay lại chỗ sân xe, ngồi xỉa.
“Đợi
mãi từ tám giờ sáng cho đến chín giờ, tôi thấy người này người khác tấp nập
vào, ra, còn ông khách của tôi thì càng chờ càng mất vía. Tôi nóng ruột quá. Thấp
thỏm, tôi mon men vào nhà Dây thép thăm dò.
“Tôi
không nhận ra được ai vì trong sở bấy giờ đông người, nên tôi lại ra, lại cứ chỗ
cũ mà ngồi, nhưng vẫn cứ thấp thỏm.
“Mười
giờ hơn, khách ở trong đã vãn. Tôi lại sục vào tìm lần nữa thì thằng kia đã biến
đâu mất từ lúc nào rồi.
“Trời
rét như cắt ruột mà tôi vã cả mồ hôi. Dở khóc dở mếu bước ra, tôi lồng đi tìm,
đi hỏi.
“Thấy
thế, người qua đường, cả các anh em cu li cũng xúm quanh cả lại. Tôi kể chuyện,
thì họ bảo chắc nó chuồn ra cửa đằng vườn ông Bôn-Be rồi.
“Tôi
vẫn chưa tin hẳn, cứ nghĩ bụng: một người áo xa tanh, khăn lượt xếp, sang trọng
như thế, ai nỡ đi lừa mấy hào bạc của một thằng nghèo khổ đã phải làm cái nghề
đi kéo xe tay. Rồi cứ quanh quẩn mãi ở đấy cho đến mười hai giờ, bấy giờ tôi mới
biết mình nghĩ nhầm, mà người ta nói phải.
“Tôi
uất ức, kêu khóc rầm đường như một thằng điên dại. Làm thế nào cho có đủ thuế,
mà một giờ rưỡi chiều đã phải đem tiền nộp cho cai xe rồi.
“Từ
lúc ấy đến hơn một giờ rưỡi, tôi cũng không kéo được thêm ai. Đang suy tính
không biết nên kéo liều đi hay nên quay xe về thì trước mặt tôi đã sừng sững
cái xe lết của cai Đ. tiến lại.
“Tôi
mất cả hồn vía, mắt thì hoa lên, chân tay cũng run lẩy bẩy. Thằng cai nhảy xuống
xe quát hỏi; nó thấy tôi van lạy, chừng đã đoán tôi thiếu thuế, nên sấn ngay lại
túm lấy ngực, lên gối, rồi dìm đầu tôi xuống, đánh túi bụi một hồi. Đánh rồi,
nó lại bắt cởi cả hai lần áo, nắn áo, lại soát cả lưng tôi. Thấy trong túi có
nguyên cái ống thuốc lào với hai hào hai, nó vứt ống thuốc đi, bỏ chỗ hào vào
túi. Khám hết quần, nón, nó lại lật khám đến đệm mui. Giời rét, nó cũng chẳng
trả áo cho tôi mặc vào, da dẻ tôi, những chỗ bị đòn, tím thâm tím bầm cả lại.
“Nó
hầm hầm không nói, bắt tôi cứ ở trần như thế kéo xe đi, rồi nó nhảy lên xe đạp
đi kèm tôi. Dọc đường, nó chửi rủa không còn thiếu gì lời, vu cho tôi đã chuyển
tiền cho người nhà, lại dọa về đánh một trận cho tôi biết tay, để từ giờ đừng
ăn cắp như thế nữa.
“Tôi
muốn nói, nhưng cái tức đưa đầy lên đến cổ. Bị rét, bị đánh, tôi không cần gì cả.
Nhưng nó chửi tôi là thằng ăn cắp, tôi ức quá, tôi có ăn không ăn hỏng của ai
bao giờ.
“Quẳng
tay xe xuống, tôi sấn lại, đánh cho nó một quả đấm vào mặt, ngã quay lơ. Nó
nghĩ tôi chạy, nên vừa bò dậy, vừa kêu lên, nhưng tôi vẫn nghiến hai hàm răng,
sừng sững đứng nhìn vào mặt nó.
“Chỗ
ấy chỉ còn chừng vài chục bước nữa thì về đến nhà. Người nhà nó thấy tiếng kêu,
đổ xô cả ra, nhưng nó cũng đã túm lấy đầu tôi, kéo được về đến cửa. Tức thì
đánh, chứ thân hình tôi thế này, địch lại thế nào được với nó. Nó thì xương đồng
da sắt, tôi, hai tay như hai ống sậy, trói chẳng nổi con gà.
“Cái
trận đòn hội chợ ở nhà nó hôm ấy, tôi nghĩ còn kinh cho đến bây giờ.
Bác có biết nó làm những gì không? Thật tàn nhẫn quá.
“Giam
tôi vào một gian buồng hẹp, trói ghì cánh khuỷu tôi lại, bốn thằng nó chuyên
tay nhau đấm đá. Đá chán, chúng nó thay lượt nhau túm tóc lật ngửa mặt tôi lên
mà vả, rồi lại buộc thừng vào chỗ trói cánh khuỷu, giật tôi lên xà nhà.
“Lúc
mới, tôi còn hăng máu, không thấy gì. Sau, tôi thấy như hai cánh tay tôi lìa hẳn
bả vai ra, hai má tôi bị lột mất lần da, mà hai mạn xương sườn cũng như rời từng
cái một.
“Lơ
lửng giữa phòng, mặt tôi úp nhìn xuống đất. Dưới chân tôi, những viên gạch cứ
quay như chong chóng. Tôi nhắm nghiền hai mắt. Trong tai tôi lại thấy vù vù như
có tiếng bay của một đàn ong.
“Rồi
miệng tôi sùi bọt, mũi thì đổ máu, mắt tôi nảy đóm lên. Tôi mê man rồi thiếp đi
dần, ngất đi lúc nào không biết.
“Mở
mắt ra, tôi thấy tôi nằm trên một mảnh ván để sát ngay dưới đất, đầu thì ướt
như người mới gội, lại hâm hấp nóng như hơi chõ nước ngùn ngụt bốc lên.
“Trong
gian nhà ấy, trông nghiêng trông ngửa, tôi biết tôi chỉ có một mình. Vừa toan
vùng dậy ngồi lên, tôi thấy vướng hai tay, mới biết cổ tay tôi đã bị sợi dây thừng
trói chặt.
“Lợi
ráo, cả hai hàm răng cũng khô, miệng tôi đã se cả nước bọt. Đưa cả hai tay bị
trói chụm làm một sờ lên trán, tôi thấy trán tôi nóng lắm. Tôi sốt. Người tôi
nóng như điên lên.
“Một
lát, thằng cai lại vào, nó thấy tôi mở mắt thì đứng trâng tráo đấy mà nhìn.
Nhìn chán, nó khạc nhổ vào mặt tôi mà chửi dồn: ‘Mẹ kiếp, mày đã biết tay bố
mày chưa, hay còn bướng!’
“Cổ
ráo quá, tôi lạy van mãi, chúng nó cũng không thí cho được một ngụm nước. Bấy
giờ, thật ra, tôi cũng không biết là chiều hay sáng, chỉ thấy ngoài sân, lấm tấm
mưa phùn.
“Một
lát, nó sai người cởi trói tôi, rồi ném trả vào mặt cái áo nâu cánh lấm đầy
bùn. Tôi cầm áo đứng lên, chạy ra sân chuồn ra cổng.
“Ôm
bộ xương rũ với một đống giẻ rách, tôi lom khom thất thểu trên đường. Được mấy
hạt mưa bay vào mặt, vào lưng, tôi cũng thấy đỡ hẳn được con sốt nóng.
“Người
tôi bấy giờ mỏi mệt lắm. Trông chiếc đồng hồ của một nhà trong phố, mới biết bấy
giờ đã chín giờ sáng, thì ra tôi bị cai xe bắt giam mất một ngày một đêm. Suốt
nửa ngày với một đêm mê man, tôi không được lấy một hột nước hay hột cơm vào bụng.
“Qua
cái máy đầu Hàm Long, tôi vục mồm vào một thùng nước mà uống, cũng chẳng buồn
nghe những câu chửi mắng của con mẹ có chiếc thùng.
“Một
trận ấy, tôi về ốm mất mười hai hôm. Vợ tôi, trước còn đem bán chiếc nồi đồng lấy
tiền nuôi thuốc nuôi cơm, sau khánh kiệt trong nhà, nó phải khóc lóc đem bán
cho chị em chiếc quần lĩnh Bưởi may mặc Tết.
“Từ
hôm ấy, tôi trông những người chung quanh tôi toàn như loài rắn loài rết... Thế
rồi tôi phạm vào một tội ác 1, rồi tôi làm nghề ma cô đi dụ gái, rồi
tôi nghiện thuốc phiện, rồi tôi ăn nói đểu cáng, vạch quần đứng đái vào chân
ngay giữa phố không thẹn, vừa chạy xe ngoài đường vừa đánh trung tiện không ngượng...,
nói tóm lại, nghĩa là tôi không còn trông thấy ai hết, cũng như thằng ra đồng đại
tiện có ngượng gì với cái Vàng cái Vện đứng chực quanh”.
--------------------------------
1 Việc này xảy ra cách đây mươi năm trước,
các báo có đăng mà chính Tư S., người phu xe tôi hỏi chuyện, cũng thuật lại cho
tôi nghe rất rõ ràng, nhưng vì một lẽ riêng, chúng tôi không tiện thuật trong
sách. - T.L
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét