2021-12-11
Truyện thầy Lazaro Phiền
P.J.-B. Nguyễn Trọng Quản
SAIGON
J.
LINAGE, LIBRAIRE-ÉDITEUR
RUE
CATINAT
1887
Tout
droits reservés
~
Lời tựa:
Tuần
này, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” trân trọng giới thiệu với anh/chị truyện ngắn
“Truyện thầy Lazaro Phiền” của Nguyễn Trọng Quản. Tác phẩm này được xuất bản lần
đầu vào năm 1887. Căn cứ theo lời giới thiệu của GS. Nguyễn Văn Trung thì đây
là truyện ngắn cổ nhất viết theo văn phong Phương Tây, bằng chữ Quốc ngữ.
Người
ta đã tìm được tài liệu nguyên bản, di tích, ngôi mộ ghi lại biến cố đau thương
như được mô tả trong tác phẩm. Tức là tác phẩm dựa trên một câu chuyện có thật.
Nhân
kỷ niệm 100 năm lần đầu tiên tác phẩm được xuất bản, vào năm 1987, truyện ngắn
này được in lại nguyên bản bằng kỹ thuật ronéo. Sau đó có nhiều tờ báo khác in
lại. Bản post lên trang “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” được lấy từ một file PDF,
được cho là trung thành với bản in ronéo đó.
Một
lần nữa, xin mời anh/chị thư giãn với cốt truyện, lối hành văn tiểu thuyết theo
phong cách Phương Tây cách đây khoảng 150 năm, trong thời kỳ ban đầu của văn học
Việt Nam được viết bằng chữ Quốc ngữ.
~~~
Truyện thầy Lazaro Phiền
-
Ai
xuống Bà-rịa, mà có đi ngang qua đất thánh ở trong Cát tại làng Phước-lễ, thì
tôi xin bước vô đất thánh ấy, kiếm cái mồ có cây thánh giá bằng ván, sơn nửa
đen nửa trắng, gắn một bên nhà thờ những kẻ Tử-đạo [1] mà thăm mồ ấy
kẻo tội nghiệp! Vì đã hai năm nay không ai thăm viếng không ai màng ngó tới.
Mồ
đó là mồ một thầy đã chịu lương tâm mình cắn rứt đã mười năm, bây giờ mới đặng
nằm yên nơi ấy.
Tôi
xin phép thuật lại truyện tôi đã gặp thầy ấy và làm sao thầy ấy đã tỏ chuyện
mình ra cùng tôi, như sau nầy:
1
Đồng
hồ nhà thờ nhà nước vừa đánh tám giờ tối, đồ tôi đã đem xuống tàu mà đi Bà-rịa
rồi.
Chiếc
Jean-Dupuis định mười giờ mới chạy, nên còn hai giờ chẳng biết làm gì? Muốn lên
bờ đi dạo một hai vòng xem phố xá thành Saigon chơi, mà trong mình có ý mệt cho
nên không lên; vậy mới tính lên sàn tàu coi có cái ghế nào không, mà nằm nghỉ cùng
xem trăng chơi, vì ngày ấy là nhằm ngày rằm tháng chạp annam là 12 janvier
1884.
Lên
đến sàn thấy trăng thanh gió mát thì tôi lại đứng nơi be tàu mà hứng gió.
Đứng
đó lòng buồn một ít vì phải xa cách cửa nhà vợ con hơn tám bữa, cho nên dầu mà
trên bờ đèn sáng như ngày, kẻ qua người lại xe ngựa rầm rầm, nhà hàng dẫy đầy
những kẻ vui chơi, tôi cũng chẳng đem trí mà xem các sự ấy, cứ một xem phía
sông bên Thủ-thiêm mà thôi; vì phía đó chẳng chói sự sang trọng vui chơi, chẳng
tỏ bày sự phàm xác thịt; nơi ấy là nơi nghèo khổ làm ăn ban ngày; thong thả mà
nghỉ ngơi ban đêm, nên còn một hai chỗ còn đèn leo léc mà chỉ vài nhà chưa ngủ
mà thôi.
Còn
dưới sông mặt trăng giọi xuống làm cho nước giọng ra như tấm lụa vàng có thả
kim sa.
Xem
các sự ấy thì lòng lại thêm buồn, nên tôi muốn kiếm sự giải phiền nơi khác;
song vừa giay mặt lại thì tôi thấy một thầy tu đứng gần bên tôi và ngó xuống nước
một cách rất buồn bực lắm.
Muốn
làm quen cho có bạn vì dưới tàu lạ mặt hết, tôi mới hỏi thầy ấy rằng: “Thầy đi
xuống Bà-rịa hay là đi Vũng-tàu?” Thầy ấy ngó tôi một chặp rồi mới nói rằng:
“Thầy
hỏi tôi đi đâu làm chi?” Khi nghe tiếng thầy nói một cách rất buồn bực thảm não
lắm, thì tôi ngó mà coi thầy ấy cho tỏ tường; may đâu lúc đó trăng lại tỏ hơn,
nên tôi đặng xem thầy ấy rõ ràng: Thầy chừng ba mươi tám ba mươi chín tuổi, thấp
người; giọng nói đao thương! Mặt mủi thì xanh xao mét ưởng, mình thì ốm o gầy
mòn, lại cái áo dòng người mặc nó bay phất phơ hai bên làm cho thầy ấy giống
như hình con bù nhình, để nơi đồng ruộng mà đuổi chim. Tôi mới trả lời rằng:
“Thưa
bởi vì tôi biết cha sở Bà-rịa lắm, nên tôi tưởng nếu thầy đi Bà-rịa thì làm sao
nay mai tôi cũng gặp thầy.”
Thầy
ấy mới trả lời rằng: “Tôi không đi Bà-rịa, tôi đi dưỡng bịnh tại Vũng-tàu, vì
tôi có bịnh tức đã hai năm nay; song tôi tưởng đi cũng vô ích, vì tôi biết tôi
không còn sống đặng hơn nửa tháng nữa đâu.”
Tôi
nghe lời ấy, thì tôi nói rằng: “Xin thầy đừng nói làm vậy. Chúa lòng lành vô
cùng người thường làm phép lạ hoài, nên thầy đừng có ngã lòng nản chí, ít ngày
đây thầy sẽ lành.” Thầy tu ấy lắc đầu mà nói rằng: “Thầy ôi! Phải thầy biết tội
tôi thì thầy không muốn cho tôi sống làm chi…” Nói chưa dức lời thầy lấy tay
che mặt mà khóc ròng.
Tôi
thấy vậy mới nói cùng thầy rằng: Dầu mà tội thầy nặng thể nào thì Chúa cũng đã
tha cho thầy rồi: vì thầy chịu cực cũng đã đủ cho nên xin thầy chớ muốn chết
làm chi, vì thầy còn thuộc về những người phải dạy những kẻ chưa biết đạo Chúa;
nên thầy phải sống mà đem những kẻ ấy vào đàng ngay.”
Thầy
tu nghe tôi nói như vậy mới cất đầu lên chùi nước mắt mà nhìn tôi và hỏi chậm
chậm rằng: “Thầy đã có đôi bạn chưa?” Tôi thưa rằng: Đã có đặng sáu tháng nay
thì thầy tu ấy lấy tay mà xô tôi ra cùng nói lớn tiếng rằng:
“Vậy
thì thầy phải xa tôi cho kiếp, kẻo mà sự dử xảy đến cho, tôi sẽ làm hại thầy chẳng
sai đâu; tôi cũng có đôi bạn như thầy vậy; song phận tôi vô phước! Vô phước lắm!
thầy ôi!”
Nói
rồi thầy ấy ôm mặt mình mà khóc một lần nửa; song tôi cũng không ngã lòng, tôi
nắm tay thầy mà nói rằng: ”Tôi thấy thầy buồn bực như vậy, thì tôi chắc thầy đã
có chịu sự gì cực khổ lắm hay là đã làm tội gì trọng, sự ấy tôi không muốn biết
làm chi; song xin thầy đừng phiền quá mà làm hại mình, nếu mà thầy có tội thì
thầy phải sống mà đền tội ấy. Nếu thầy không có tội, mà thầy phải chịu phiền về
sự gì, thì cũng xin thầy phải sống mà chịu cho đến cùng hầu ngày sau sẽ đặng phần
thưởng trọng hơn.”
“Ôi
thôi! Thầy đừng an ủi tôi làm chi? Tội tôi đã lớn lắm, và sự cực tôi đã chịu
thì đã gần quá sức tôi rồi.”
“Thầy
ôi! Đã mười năm nay, tôi như thể không còn trái tim nữa, trái tim tôi như thể
đã biến hóa ra tro bụi rồi; tôi như thể mất trí khôn vậy. Chớ chi thuở trước
tôi đừng có: ôi thôi! Nói đến chừng nào càng đau đớn lòng chừng nấy; bây giờ có
một sự chết làm cho tôi quên người đó mà thôi… Tôi có ý đi tu cho đặng trông cậy
có lẽ đọc kinh cầu nguyện thì sẽ quên người tôi đã đem hết lòng hết trí mà
thương; song vô ích, thầy! Sự tôi chịu cực mười năm nay thì đã đủ mà đền tội
tôi rồi. Bây giờ tôi đặng chết bằng an.”
Tôi
nghe và thấy sự đau đớn như vậy thì tôi làm thinh mà để cho thầy ấy khóc. Khi ấy
mới nghĩ trong mình rằng: có lẽ nào dưới thế gian nầy mà có sự gì dữ tợn đến đổi
làm cho người ta chịu cực đến mười năm mà chẳng nguôi! Mà thật khi ấy tôi đang
còn có phước, còn đang lúc sung túc, là vì tôi mới có vợ đặng ít tháng, còn chí
thiết thương nhau nên tôi không hiểu người ta chịu cực làm sao đặng? Tôi mới tưởng
thầy tu ấy đau đớn bịnh hoạn nên lãng trí mà nói vậy chăng? Muốn cho hẳn tôi mới
ngó mà xem thầy ấy cho rỏ ràng đặng coi có làm sự gì tỏ ra như người điên chăng?
Tôi
vừa ngó một chặp, thì tôi thấy thầy ngấc mặt lên xem trời mà thở ra rằng: “A
Chúa tôi! rất lòng lành vô cùng, xin Chúa cho tôi về gặp mặt bạn tôi cho chóng,
dẩu mà tội nó thể nào thì tôi cũng quên, bởi vì có lời Chúa đã phán: ”Tao tha lỗi
cho bay, như bay tha kẻ có lỗi cùng bay.”
Tôi
thấy vậy mới nói rằng: “Điên! Thầy nầy điên!” Thầy tu ấy nghe đặng mới nói cùng
tôi rằng: “Thầy ôi! Thầy còn trẻ chưa biết đủ việc đời: hay là còn đang lúc có
phước, thầy chưa từng sự đau đớn, nên thầy nói tôi điên, tôi không điên đâu thầy!
Tôi còn trí khôn đủ, tôi xin Chúa đừng cho thầy mắc sự tôi phải chịu, xin Chúa
giản ra cho khỏi đầu thầy sự dữ đã xảy đến cho tôi.”
Nói
vừa dứt lời, thì đồng hồ vừa đánh mười giờ, nên tàu thổi hơi cùng mở đổi mà chạy,
làm cho tôi quên thầy tu mà coi người ta sửa soạn lui tàu.
2
Khi
tàu chạy rồi tôi ngó lại thì thầy tu đã xuống phòng mình rồi. Còn lại một mình,
tôi mới lại đứng sau lái tàu mà xem lằn tàu chạy, cùng nghĩ tới các sự thầy tu
đã nói; khi nghỉ làm vậy, thì trong lòng muốn biết truyện thầy ấy. Vậy mới tính
hỏi, xin thầy thuật truyện ấy ra, song tôi e thầy có chối chăng? Thì tôi đang
kiếm mà lo phương thế cách nào làm cho thầy ấy tỏ sự mình ra. Song nghỉ đi nghỉ
lại một hồi, lại bàn rằng: chuyện người mà mình muốn biết làm chi, nên tôi lại
cúi xuống mà xem bọt nước vận sau lái tàu, trào lên như bạc sôi; lại một hai
khi có yếng sáng trăng giọi xuống thì bọt ấy hóa ra như bạc vàng lộn lại vậy;
mà dẫu làm thể nào trí khôn tôi nó cũng bắt tưởng đến truyện thầy tu luôn, nên
tôi quyết lòng lần này xuống xin thầy ấy thuật truyện mình ra.
Dầu
vậy mặc lòng cũng còn lần lựa chưa muốn xuống mà hỏi. Vì đoán rằng: thầy này đã
nói với tôi rằng: “Xin Chúa hảy giản ra cho khỏi đầu thầy sự dử đã đến cho
tôi”. Thì sự dử ấy là quái gở lắm, cho nên có lẽ thầy tu sẽ chẳng nói ra chăng?
Tôi lần lựa như vậy, cho đến khi tàu đi qua khỏi Xóm-chiếu cho tới đồn Cá-trê,
tôi mới xuống phòng tôi.
May
đâu sự cũng lạ. Ngày đó không có đờn bà quá giang, nên tôi và thầy tu được một
cái phòng có hai cái giường.
Đang
khi đi xuống thì tôi tưởng thầy ấy thức khuya mệt đã nghỉ rồi cho nên tôi lại gần
phòng, sẽ lén khoát màn ra nhẹ nhẹ kẻo thầy ấy giực mình thức dậy. Song tôi vừa
bước chơn vô phòng thì tôi thấy thầy ấy đang quì gối cúi mặt nơi giường mà đọc
kinh cùng thầm thì những lời tôi đã nghe nói trên sân khi nảy.
Tôi
thấy vậy muốn lui ra cho thầy đọc kinh kẻo lo ra, song tôi vừa bước ra thì thầy
kêu tôi mà nói rằng: “Thầy! Thầy lên giường mà ngủ đừng sợ sự gì, tôi đọc kinh
rồi có lẽ tôi nghỉ một chốc đây rồi; tôi sẽ thuật truyện tôi lại cho thầy
nghe.”
Nghe
nói vậy thì trong lòng tôi mầng lắm, nên tôi lên giường mà nằm; khi ấy ông thầy
cũng lên giường mình. Cách một hồi thì tôi nghe tiếng thầy ấy thở một cách như
thể mệt lắm vậy, tôi cất đầu ngó xuống và hỏi rằng: “Thầy mệt lắm hay sao?
Trong mình thầy làm sao?”
Thầy
ấy trả lời rằng: “Không hề gì đâu, thầy đừng lo, trong mình tôi như thường.”
Vậy
tôi mới nằm xuống; có ý thức đợi thầy ấy nói truyện mình, song mắc mệt nên lần
lần tôi ngủ quên không hay. Gần nửa đêm khi dưới tàu thiên hạ ngủ hết, mọi nơi
đều lẳng lặng, trừ ra tiếng máy ầm ầm, như trống canh nhịp, thì tôi nghe kêu rằng:
“Thầy ôi! Xuống ngồi gần bên tôi, tôi sẽ nói truyện tôi cho thầy nghe.”
Khi
tôi nghe kêu, tôi giựt mình và run sợ cả và mình, vì tôi nghe như thể tiếng ấy
bởi nơi mồ mà lên kêu tôi vậy. Lại khi đó cửa sổ phòng tôi mở, nên gió khuya thổi
vô, làm cho tôi lạnh lạnh, thì lại càng run sợ hơn nữa.
Vậy
tôi mới lấy mền trùm lại không trả lời, rồi tôi nghe kêu một lần nữa.
Khi
ấy tỉnh trí nhớ trực thầy tu nằm dưới tôi, tôi mới xuống nhắc ghế lại ngồi gần
bên giường thầy ấy.
Tôi
vừa ngồi gần một bên, thì thầy ấy nắm tay tôi, mà nói rằng:
“Thầy
ôi! Tôi vô phước lắm, xin Chúa tha tội cho tôi … Tôi là kẻ có tội.“
Nói
bấy nhiêu lời thì chảy nước mắt ròng ròng. Dầu mà tôi muốn biết truyện thầy ấy
hết sức mặc lòng; khi tôi thấy sự cực thầy ấy phải chịu mà thuật lại thì tôi
nói rằng: “Thầy ôi! Nếu mà sự này làm cực cho thầy thì xin thầy đừng nói ra làm
chi.”
Thầy
ấy trả lời rằng: “Không! Không! tôi không còn sống bao lâu nữa mà giấu tội tôi.
Mười năm nay tôi đã giấu với mọi người không ai hay đặng, tôi đã giả trá trước
mặt người ta và trước mặt các cha nơi trường tôi tu, làm cho ai nấy tưởng tôi
là người nhơn đức, song hẳn thật tôi là đứa tội lổi là ngần nào. Vậy tôi xin thầy
hãy lặng tai mà nghe tôi, vì đương khi nói mà tôi mệt, thì có khi phải nín mà
lâu đi chăng?”
Nói
rồi thì thầy ấy nhắm mắt lại, cho đặng nhớ mọi sự trước sau cho đủ hầu sẽ thuật
truyện lại cho cùng.
3
Cách
một hồi thầy ấy mở mắt ra và nói rằng: “Xin thầy ghé tai lại mà nghe.
“Thầy
ôi! Tôi là người Bà-rịa, quê quán tôi ở tại Đất-đỏ. Ông già tôi là người có đạo
dòng tử tế, vốn là người Quảng-bình, mà vô ở Đất-đỏ đã lâu; còn bà già tôi là
người Gia-định. Tôi sanh ra là năm 1847 nhằm năm Tự-đức tức vị.
“Tôi
là con thứ năm mà khi ấy tôi còn có một mình, vì mấy người trước đã chết khi
còn nhỏ?
“Khi
ấy đạo ta phải chịu nhiều đều khốn cực lắm, vì chỉ vua dạy bắt những kẻ có đạo
cho nhặt, cho nên kẻ ngoại kiếm thế mà làm hại cho những kẻ ấy luôn.
“Vậy
khi tôi đã nên ba tuổi thì tôi đã biết chịu cực khổ rồi. Khi ấy bà già tôi được
bốn mươi tuổi rồi mắc dịch tả năm 1850 mà chết để tôi lại với ông già tôi một
mình, khi ấy ông già tôi hơn bốn mươi sáu tuổi, mà bà con không còn ai cả, cho
nên khi cha tôi đi đâu thì tôi cũng đi theo luôn: như khi cha tôi đến nhà nào
có cha làm lễ, thì tôi cũng đi theo. Khi kẻ ngoại hay được, có kẻ đạo hiệp nhau
lại, thì báo với quan đến bắt. Nên ai nấy đều kiếm phương mà ẩn mình, cho khỏi
chúng nó bắt: nên nhiều lần cha tôi phải đem tôi lên rừng mà trốn cho đến ba
ngày mới về được, thì trong ba ngày ấy phải ăn những trái cây và rể cây cho khỏi
chết đói mà thôi.
“Từ
khi tôi mới sanh ra cho đến hai mươi tuổi, thì tôi thấy những sự bắt bớ kẻ có đạo
luôn. Lại ông già tôi là trùm họ nên lại càng phải sợ hơn nữa. Ngày chúa nhựt
mà muốn xem lễ cho được, thì phải chịu nhiều đều rất cam khổ là quá chừng. Ông
cha ở nơi Đấtđỏ thì phải trốn lánh luôn. Khi thì làm lễ nhà này khi làm lễ nhà
kia; có khi kẻ ngoại hay đặng thì lại phải đi xa cách vài ba làng; cho nên bổn
đạo phải chịu muôn vàn sự khốn khó mới tìm đặng cha sở mình.”
Tới
đây thầy ấy nín một hồi mà nghỉ cùng nhớ các sự cho đặng tiếp theo truyện mới
nói.
Tôi
thấy thầy ấy gác tay trên trán cùng nhắm mắt lại dường như muốn đọc truyện mình
ở trong trí khôn, như một người kia đọc trong một cuốn sách đang khi rồi sẽ thuật
truyện lại, cho nên tôi làm thinh.
4
Vậy
tôi mới nghĩ rằng: người này từ thuở nên ba mà đã biết sự cực khổ ra thể nào,
đã biết chịu đói chịu khát, chịu mệt chịu nhọc, chịu trốn lánh vào nơi thú dữ,
cọp hùm tây voi ở, đã từng trải sự hiểm nghèo, đã quên sự sung sướng, nên bây
giờ lòng đã cứng hơn gan sắt chẳng còn chỗ nào mà sự cực nhọc thấu vào đặng, mà
đã than rằng:
“Sự
cực tôi chịu đã quá trí tôi rồi “; thì sự cực ấy là độc dữ là thể nào? Mà sự cực
ấy bởi đâu mà ra? Thầy tu đã nói: “Tôi cũng có đôi bạn như thầy”; mà nay sao thầy
ấy lại là thầy tu? Lại thầy ấy có đọc rằng: “Xin Chúa cho tôi gặp bạn tôi”; hay
là thầy ấy phiền vì đã mất bạn mình là người mình rất yêu mến lắm, cho nên phải
phiền vậy chăng? Như vậy không có lẽ? nếu phải phiền vì sự ấy mà thôi thì không
nói rằng: “Dầu tội nó thể nào thì tôi cũng quên rồi.
”Vậy
tôi chắc một là thầy này điên, hai là thầy có làm sự gì quái gở quá trí hiểu
không đặng.
Tôi
còn đang suy như vậy thì tôi nghe thầy ấy ho hai tiếng nhẹ nhẹ rồi nói rằng:
“Thầy
ôi! Thầy nghe tôi thì thầy biết tôi là thể nào? Sanh ra khỏi lòng mẹ thì đã chịu
cực cho đến lớn. Tưởng khi có trí khôn thì được sung sướng một ít mà cũng không
được; số phận tôi phải chịu khốn nạn cho đến trọn đời mà thôi.
“Song
sự cực tôi đã chịu cho đến mười hai tuổi thì tính lại không bằng sự tôi sẽ chịu
khi Tây qua. Thuở ấy là năm 1860 tôi được mười ba tuổi thì tôi nghe nói xôn xao
rằng: “Tỉnh Gia-định đã bị Tây lấy rồi hơn hai ba tháng nay; chừng ít ngày nữa
thì Tây cũng sẽ qua đánh lấy Biên-hoà cùng Bà-rịa. Kẻ ngoại khi nghe đều ấy thì
lo sợ, còn kẻ có đạo thì mầng rở, vì người ta đoán rằng: “Tây qua sẽ binh vực
những người có đạo Datô mà giết những người chẳng giữ đạo ấy.”
“Song
người có đạo thì mầng là vì trông cậy một ít lâu sẽ đặng thong thả mà giữ đạo
mình mà thôi.
“Phải
chi người có đạo biết sự dữ tợn quan Annam sẽ làm cho những kẻ ấy chịu, khi Tây
sẽ đánh lấy Bà-rịa thì những kẻ ấy chẳng trông đợi như vậy đâu!
“Hẳn
thật như vậy, vì năm sau thì nghe Tây đã đánh lấy Biên-hoà rồi, còn kẻ có đạo
thì đã bị quan Annam đốt hết, khi ấy ai nấy đều kinh khủng, người thì sợ Tây
qua giết, người thì sợ quan Annam đốt trước khi Tây qua. Mà cũng không khỏi vì
cách ít tháng (khi ấy tôi đã nên mười lăm tuổi) thì có lịnh truyền dạy bắt những
con nhà có đạo cầm tù lại hết; cùng khắc bốn chữ nầy, “Biên-hoà Tả-đạo” trên
hai mép tai, hầu sau có trốn mà bắt cho dể. “Tôi và ông già tôi cũng bị bắt cầm
một nơi. [2]
“Thầy
ôi! Tôi muốn nói sự cực những kẻ bị bắt vô ngục cho thầy nghe, song nói chẳng đặng.
Ban đầu khi những người ở tù còn tiền đủ mà cho những người lính canh thì còn đặng
thong thả mà đi việc của mình; mà đến khi hết tiền cho chúng nó ăn, thì phải chịu
các sự cực khổ muôn phần. Mọi người đều bị đóng trăng hết, cho nên những kẻ đau
đớn bịnh hoạn, hay là những kẻ có việc cần phải đi ra, mà bị lính không cho đi
thì lại phải làm nhiều sự dơ dáy nơi mình nằm, thì ngục ấy hóa ra thúi tha gớm
ghiết lắm, nhiều người phải mang bịnh mà chết. Chúng ta chịu như vậy cho tới bốn
tháng trường, đến năm 1862 thì nghe đồn nói binh Langsa đã kéo qua đánh lấy
Bà-rịa. Nhiều kẻ khi nghe tin ấy thì mầng, nhiều kẻ thì sợ, nhưng mà mầng sợ
cũng không bao lâu, vì binh Tây chưa đến nơi thì ngục đã bị đốt ra tro mạt hết
rồi. Đến khi lấy đặng Bà-rịa thì ngục còn một đống xương mà thôi.”
Tới
đây tôi chận truyện thầy ấy mà hỏi rằng: “Mà thầy không nói làm sao mà thầy ra
khỏi tù.”
Thầy
ấy gặc đầu cùng trả lời rằng: “ Ông già tôi trước khi đốt ngục thì đã xán bịnh
rồi, nên khi đốt ổng nghe tiếng thiên hạ la, thì ổng ngồi dậy mà coi, song ổng
vừa ngó thấy ngục cháy thì giực mình té ngữa ra mà chết.” Thầy ôi! Khi tôi thấy
cha tôi chết như vậy, thì tôi không còn muốn sống nữa, tôi mới chạy lại ôm xác
ông già tôi quyết lòng đợi lửa tới mà chết thui với ông già tôi, song lửa mới vừa
tới cháy hai chơn tôi thì sự đau đớn làm cho tôi quên hết mọi sự cùng bắt tôi
chạy a ra cửa mà ra khỏi tù.
“Thầy
ôi! Trong ngục hết thảy là ba trăm người mà khi ấy còn sót lại có mười người mà
thôi.”
Đến
đây thầy ấy vổ trán cùng nói rằng: “Đây nầy! Tôi thấy rỏ các sự ấy như thể mới
có hôm qua vậy; nó còn rỏ ràng trong trí tôi đây.” Nói những lời ấy rồi thầy ấy
thở ra một tiếng cùng giấu mặt trong tay mình.
5
Khi
đồng hồ tàu đổ hai giờ khuya thì thầy ấy nói tiếp theo rằng: “Khi tôi ra khỏi
ngục thì chẳng biết đi đâu, ngó quanh ngó quất thì thấy những người lạ hay là
những kẻ ngoại quen, mà những người ấy chẳng dám đam tôi về nhà vì sợ quan nói
giấu người có đạo mà bắt chăng.
“Vậy
khi tôi thấy tôi còn một mình bơ vơ giữa đàng không cha không mẹ không bà con
cô bác. Không ai đoái thương thì tôi quyết lên trên núi liều mình cho thú dữ ăn
đi cho rồi. Tôi phăn phăn đi đặng vài dặm đàng như vậy cho đến khi chơn tôi bị
cháy nó phồng lên mà làm cho tôi đau đớn lắm; đi không nổi nữa, thì tôi mới ngồi
lại bên đàng mà khóc, khi ấy mặt trời đã lặng rồi, lại tôi phần thì đau phần
thì mệt và đói nên tôi té ngửa trong bụi kia cùng bất tỉnh nhơn sự. Tôi chẳng
biết tôi nằm đó là bao lâu, vì khi tôi tỉnh trí lại mở con mắt ra thì tôi thấy
tôi ở nơi nhà thương lính, nằm một bên người lính bị thương tích kia, còn dưới
chơn tôi thì có một ông thầy thuốc đang giặc thuốc nơi chơn tôi bị phỏng.
Tôi
ở nhà thương hơn bốn mươi ngày; không cục cựa đặng vì hai chơn tôi bị bó lại,
cho nên đi đâu không được, mà trong bốn mươi ngày ấy thì có một ông quan ba kia
cách vài ba bữa thì lại đến thăm tôi một lần. Đến khi hai chơn tôi lành, thì
ông quan ba đã đến thăm tôi khi tôi đau, cho người kêu tôi lên và biểu người thông
ngôn hỏi tôi rằng: “Mầy còn cha mẹ bà con tại Bà-rịa không?”
“Tôi
thưa rằng: “Tôi không còn ai hết, cha tôi đã chết trong ngục rồi, còn mẹ tôi đã
chết khi tôi còn nhỏ.”
Thì
ông biểu thông ngôn nói cùng tôi rằng: “Tao đã gặp mầy nằm trong bụi gần chết,
tao coi thấy mặt mầy sáng sủa thì tao thương, muốn đem mầy về nuôi cho mầy
lành; nay tao tưởng mầy còn cha mẹ thì tao cho mầy về, mà mầy nói mầy không có
ai thì tao đem về Gia-định với tao. Mầy chịu đi chăng?”
“Tôi
mới thưa rằng: “Ông đã cứu tôi cho khỏi chết, bây giờ ông thương tôi muốn đem
tôi về Gia-định mà tôi không đi thì tôi sẽ bạc ngải và dại dột là dường nào.”
“Ba
bữa sau tôi xuống tàu mà về Gia-định đặng sáu tháng, kế lấy ông quan ba mắc bệnh
phải về Tây, thì để tôi lại cho Đức cha Lefèbvre.
“Tôi
ở giúp đức cha được một năm rưởi cùng học chữ quốc ngữ cho đến năm 1864 thì đức
cha cho tôi vô trường Latinh.
“Khi
tôi mới vô nhà trường thì tôi kết nghĩa làm anh em vuối một người tên là Verô
Liểu, cũng vô trường một lượt cùng tôi. Người ấy là con ông trùm họ Cầu-kho mà
bởi nhỏ hơn tôi hai tuổi, thì nhường cho tôi làm anh; hai anh em thương nhau
như anh em ruột vậy; chẳng khi nào mà rời nhau, dầu trong nơi học, nơi ngủ, nơi
ăn, thì cũng gần nhau luôn; khi đến ngày bải trường tôi muốn ở lại trường; song
thầy Liểu một hai không cho, một bắt phải đi về nhà cùng thầy mà thôi.
“Lại
cha mẹ thầy Liểu, thấy tôi kết nghĩa với con mình thì lại đem lòng thương tôi
như thương con ruột mình, cho nên trong hai năm tôi học nhà trường Latinh, thì
tôi chẳng thiếu sự gì, lại đặng vui lòng lắm vì chưng bây giờ tôi thương cha mẹ
thầy Liểu và coi hai ông bà ấy như cha mẹ ruột tôi vậy.
“Học
đặng hai năm đến 1866, khi có thầy dòng qua lập trường d’Adran, thì hai anh em
xin qua đó mà học. Học đó thì hai anh em cũng còn thiết nghĩa với nhau như cũ,
lại tôi cũng năng về nhà cha mẹ thầy ấy như thường.
Đến
năm 1870 là năm có giặt người Allemanha và người Phalangsa đánh cùng nhau thì
hai anh em tôi ra đi thi tại Saigon. May đâu hai anh em thi đậu một lượt và lại
được sai đi làm việc một nơi tại dinh quan Thượng-thơ cho nên tôi lại còn nương
ngụ nơi nhà cha mẹ thầy Liểu nữa.
“Tôi
ra làm thông ngôn đặng sáu tháng, khi cha mẹ thầy Liểu thấy tôi ở nơi nhà ấy mà
có lòng ngại chưa đặng thong thả, thì lại muốn giúp mà lo đôi bạn cho tôi, để
tôi lập cơ nghiệp đặng ra ở riêng cho thong thả.
“Ôi!
Thầy ôi! Phải mà tôi biết người thiết nghĩa ấy sẽ phá sự phước tôi, thì tôi sẽ
xa lánh người ấy là thể nào? Ấy thầy xem đó mà coi, thì thầy biết lòng người ta
giả trá là thể nào? Nó đang còn thiết nghĩa với mình hết sức, mà nó kiếm sự làm
cho mình phải khốn không hay.
“Phải
chi tôi chết cùng cha tôi trong ngục thì tôi sẽ khỏi chịu cực cho đến bây giờ!
Ôi! Trong ba mươi lăm năm, tôi đặng hưởng phước không đầy năm năm, còn mấy năm
kia thì những chịu cực chịu khổ mà thôi.”
6
“Thuở
tôi còn ở nhà trường d’Adran thì cha mẹ thầy Liểu thường đến mà thăm viếng hai
anh em tôi, nhiều khi đi thăm thì bà già thầy Liểu hay đem một người con gái chừng
mười bảy tuổi đi lên theo. Người ấy không lịch sự thiệt, song coi phải thể người
mà thôi: tiếng nói dịu dàng, mặt mủi cách điệu, tính nết ăn ở thì dể làm cho
người ta thương lắm. Người ấy là con bà dì thầy Liểu.
“Ban
đầu khi người đi đến thì tôi cũng tưởng là như bà con; mà cách ít tháng thì tôi
lại đem lòng thương, cùng hằng tưởng đến người ấy luôn. Tôi đã thương người ấy
như vậy là một năm chẳng, cho đến khi thi đậu mà ra khỏi trường.
“Song
dầu mà tôi thương người ấy mặc lòng, tôi cũng chẳng tỏ sự ấy ra cho thầy Liểu
là anh em thiết nghĩa với tôi hay.
“Vậy
ngày kia nhằm ngày chúa nhựt khi xem lể về, ông già thầy Liểu rủ tôi ra vườn đi
dạo chơi. Khi đến một đống đá thì ổng nói cùng tôi rằng: “Ta ngồi đây nghỉ một
chặp và nói chuyện hử Mi Lazare!”
“Khi
nghe ổng mời tôi ngồi, thì trong lòng tôi bắt hồ nghi có sự gì cả thể, cho nên
mới kêu tôi ra ngoài vườn một mình, vậy tôi mới ngồi mà làm thinh.
Ông
già thầy Liểu cũng làm thinh một chặp rồi nắm tay tôi mà nói rằng: “Thầy! Thầy
biết xưa nay tôi thương thầy như con ruột tôi vậy, cho nên khi nào bải trường
có con tôi về mà không có thầy thì tôi cũng trông nhớ thầy lắm.”
“Còn
thầy thì tôi cũng biết thầy thương hai vợ chồng già tôi như cha mẹ thầy, cho
nên hai vợ chồng tôi cũng mầng, và lại tôi thấy thằng Liểu nó yêu mến thầy thì
tôi càng mầng hơn nữa, vì nó đặng bắt chước cách ăn ở thầy mà sửa mình lại và
nó khỏi theo những đứa hoang đàng mà hư đi.”
“Tôi
nghe nói như vậy thì tôi làm thinh cúi đầu xuống mà nghe cho cùng, thì ông già
thầy Liểu nói rằng:
“Thầy
nay đã lớn tuổi rồi, cho nên bữa nay tôi muốn nói mà hỏi thầy có ưng nơi nào
thì nói ra, cho tôi liệu cho thầy.”
“Xin
thầy đừng ngại mà từ chối làm chi. Nếu thầy từ chối thì sẽ làm cho vợ chồng tôi
buồn bực lắm, tôi không có giàu có muôn hộ chi, song tôi cũng có đủ mà lo cho
thầy cách tử tế vì thầy là như con tôi. Còn khi thầy có đôi bạn rồi, mà muốn ra
tư riêng thì tôi cũng sẽ lo cho thầy đặng đủ mọi sự, mà lập cơ nghiệp riêng.”
“Vậy
tôi xin thầy tỏ thật lòng thầy đã ưng nơi nào cho tôi biết?”
“Tôi
trả lời rằng: “Bỏ và vú thấy tôi mồ côi, mà đem tôi về nuôi như con ruột, mà
tôi chưa đền ơn ấy được nay bỏ vú lại muốn lo đôi bạn cho tôi nữa, thì tôi khi
nào trả nghỉa cho vú bỏ cho xong ơn ấy kể sao cho xiết?”
“Lại
tôi xưa rày chưa tưởng đến sự vợ chồng, cho nên chưa chọn nơi nào cho xong. Ông
già mới nói rằng: “Ơn ngải chi đâu mà đền, Mi Lazare! Thầy là con, ta là cha,
thầy nói ngay ra thì ta sẽ lo cho. Vậy nếu Mi Lazare không biết nơi nào, thôi để
ta chỉ cho.”
“Vậy
thầy có biết ở trong làng ta có người con gái nào chừng mười tám tuổi, thường đến
thăm ta đây không?”
“Khi
tôi nghe hỏi như vậy thì tôi dấu mặt lại cho nên ông trùm mới cười mà nói rằng:
“Bộ đây! Mi Lazare cũng biết nàng ấy thì phải! Cho nên mới dấu mặt lại như vậy.”
“Khi
tôi thấy ông già thầy Liểu hiểu biết ý tôi đã có lòng thương người ấy, thì tôi
quyết lòng nói thật ra rằng:
“Thưa
với bỏ, xưa nay tôi không tỏ lòng tôi ra cùng ai, mà nay bỏ đã dò lòng tôi mà
biết rõ sự ấy, thì tôi xin thú thật. Tôi đã có lòng thương cô ấy hơn một năm rưởi
nay, mà bởi tôi tưởng tôi là đứa mồ côi không xứng đáng nơi ấy, nên tôi để
trong lòng không dám tỏ ra cùng ai.” Ông già nghe đặng mới cười lớn lên mà rằng:
“Hã!
Hã! không hề gì đâu Mi Lazare! Không hề gì! Các con trẻ tưởng ông già không biết
chi!
Hã!
Hã! Già biết rỏ hết. Để già hỏi đây, thì con cháu sẽ ừ liền không khỏi đâu.”
“Mà
thật tháng sau người con gái bà dì thầy Liểu và tôi đến bàn thờ mà chịu phép
hôn phối.
“Thầy
ôi! Nói sự phước hai đứa tôi thì không cùng, tôi tưởng có ít người mà thương vợ
như tôi. Dầu mà vợ chồng đã về cùng nhau rồi, song lòng tôi còn thương tưởng
như trước.
“Lại
bạn tôi gặp tôi thì cũng lấy làm có phước lắm, vì cũng có lòng thương tôi như
tôi đã thương vậy, cho nên không khi nào, dẫu có phiền lòng thể nào, thì cũng
không nói lời gì ra, làm cho tôi nhớ phận tôi là con mồ côi cô độc. Khi ấy sự
phước tôi là vô cùng.
“Tôi
với bạn tôi về ở nhà thầy Liểu đặng sáu tháng, kế lấy có tờ quan sai tôi đi làm
thông ngôn tại Bà-rịa.”
Tới
đây thầy tu nghe đồng hồ đánh ba giờ khuya thì thầy ấy la hoảng lên rằng:” Đó!
Đó! thầy! nó nằm đó…! gần chết…! nó nắm tay tôi đây…!”
Rồi
nói nhỏ rằng: “Ôi! Tôi là kẻ có tội; tôi là kẻ có tội!” Nói dứt lời, thì nhắm mắt
lại mà nghỉ.
Nghỉ
một hồi, thức dậy nói rằng: “Bây giờ mới đến sự cực tôi đây thầy! Tôi về Bà-rịa
đặng hai tháng rồi , mà bởi tôi có làm quen với các quan trong đồn cho nên thường
đi ăn cơm với các quan ấy. Vậy trong các quan thì có ông quan ba kia có một con
vợ annam.
“Mà
con ấy khi thấy tôi thì làm nhiều cách thể, muốn như xui giục tôi phạm tội cùng
nó, cho nên tôi trốn lánh cho khỏi dịp làm thiệt hại cho vợ mình, vậy lần lần
tôi bớt vô đồn ăn cơm với các quan nữa cho nên tôi đã khuất mặt người đờn bà ấy
đi.
“Qua
năm 1872, thầy Liểu thôi làm việc đã bốn tháng nay, xuống tại Bà-rịa mà mua ngựa
đam về Saigon.
“Thầy
ấy tới nơi thì anh em rước nhau mầng rở bội phần, vì cách mặt đã hơn tám tháng
trường, cho nên gặp đặng thì truyện vãn cùng nhau luôn.”
Tới
đây thầy tu nắm tay tôi mà nói rằng: “Thầy hảy ghé tai lại đây mà nghe cho rỏ.
Đây là đến hai tội tôi, tới đây là tới đầu sự khốn cực tôi. – Tôi mệt lắm, xin
cho tôi nghỉ một chút cùng nhớ các sự cho rỏ hơn.“
7
Thầy
ấy mở con mắt ra mà nói rằng: “Xin thầy chịu khó mở rương tôi ra mà lấy cái thơ
tôi để trong ấy mà đọc, rồi tôi sẽ nói tiếp theo cho thầy nghe.”
Tôi
lại mở rương ra thì thấy có một cái thơ; tôi đem cái thơ ấy kề bên đèn mà đọc rằng:
Bà-rịa,
ngày 14 tháng tám năm Tân mùi.
“Kính
thăm thầy đặng rỏ: người viết thơ nầy là một người xưa nay những tưởng tới thầy
luôn. Dầu mà tôi biết nói thiệt sự nầy ra thì đau đớn lòng thầy lắm. Song là sự
chán chường trước con mắt mà nính đi thì sao đặng?
“Xưa
nay ai nấy đều khen bạn thầy là người nhơn đức, hiền lành trung hiếu cùng chồng
lắm, chẳng ai ngờ sự rất quái gở! Tôi không biết làm sao mà người bộ bề ngoài
nhơn đức như vậy, mà có lòng ngoại tình được. Lại sự rất gớm ghiết hơn, là người
ấy đã chọn bà con mình và bạn hữu thiết nghĩa của chồng mình mà phạm tội ấy.
“Tôi
biết rằng, khi thầy được thơ nầy thì thầy sẽ nói tôi là một đứa nói gian; song
tôi có đủ tang án mà làm cho thầy tin tôi.
“Vậy
xin thầy kiếm trong tủ để áo của bạn thầy, thì thầy sẽ thấy hai cái thơ của thầy
Liểu gởi cho bạn thầy thì thầy sẽ biết tôi có nói sai chăng?
“Bấy
nhiêu xin thầy nhậm lời cùng miển chấp.”
Khi
tôi đọc thơ rồi thì thầy tu ấy nói rằng: “Thầy ôi! Ngày kia đang khi vợ chồng bạn
hữu bà con vui vẻ sum vầy cùng nhau thì sự dữ ấy đến nhà tôi, vì ngày ấy tôi đặng
cái thơ nầy đây.
“Ôi!
Thầy ôi! Nói sự đau đớn lòng tôi đã chịu khi được thơ ấy thì không nổi. Tôi xin
thầy đừng khi nào biết sự đau đớn ấy thì hơn.
“Nhưng
vậy dầu cực thể nào tôi cũng làm như không có sự gì vậy. Song thật trong lòng
tôi quyết kiếm thế nào mà báo cừu hai người đã phá sự phước tôi như vậy.
“Ôi!
Thầy ôi! Người ta nói rằng: “Chẳng có sự dữ nào mà nó đến một mình đâu, một sự
dữ thì nó kéo một bầy sự dữ khác theo.
8
“Tôi
đặng thơ đã hơn một tuần lễ, kế thầy Liểu mua đặng ngựa thì chở về Saigon. Thầy
Liểu lui ghe đặng một ngày thì có tin báo rằng: “Ăn cướp đã chận đàng Saigon mà
đánh ghe buôn nhiều lắm.“
“Khi
quan tham biện nghe báo như vậy thì kêu tôi mà hỏi rằng: “Thầy dám lảnh mười
tên lính đi bắt ăn cướp chăng?”
“Tôi
suy một hồi rồi thưa lại rằng: “Xin quan lớn cho tôi quân lính và thuốc đạn cụ
túc, cho được chống trả phi đảng thì tôi dám đi.”
“Vậy
quan tham biện liền cho tôi đủ quờn phép khí giái quân lính cùng dạy tôi phải
lo xuất hành cho kíp.”
“Khi
tôi đặng phép thì trong lòng tôi bồi hồi run sợ, nữa vui nữa buồn, vì tôi có ý
xin đặng đủ quờn phép mà làm một sự quái gở kia, cho bằng lòng tôi mới thôi.
“Sửa
soạn rồi, tới ngày ấy tôi đem mười ba tên lính xuống ghe mà đi. Tôi đi đặng vài
con nước thì bỏ Tắc-mọi đã xa.
“Vậy
ngày sau chừng sáu giờ chiều, tôi thấy phía bên kia sông, đậu gần bên bờ, một
chiếc ghe giống như ghe thầy Liểu vậy. Khi coi đi coi lại, rỏ là ghe thầy ấy,
thì tôi dạy đậu ghe lại ăn cơm, soạn sửa khí giái, vì tối nay nước lớn thì sẽ
có ăn cướp mà bắn.
“Phải
mà thầy thấy mặt tôi khi ấy thì thầy sẽ kinh khủng chẳng sai.” Là vì tôi khi đó
như bị quỉ ám vậy. Một ít nữa thì tôi sẽ giết một người kia vô tội, mà bây giờ
tôi còn gượng mà cười đặng, thì mặt mủi tôi hóa ra gớm ghiết lắm.
“Vậy
khi ăn cơm nước nghỉ ngơi rồi, thì vừa tới nửa canh ba, nước mới lớn, tôi liền
dạy dưới ghe tắt đèn hết, cho ăn cướp không thấy mà đi qua.
“Súng
ống vừa sẳn sàng, thì vừa ghe thầy Liểu đi giữa dòng sông, ngang ghe tôi; tôi
liền dạy tên cai đứng nơi lái mà kêu ghé.
“Song
người cai mới kêu rằng: “Ghe đi kia ghé!” thì tôi nghe một viên đạn đi vo vo
bên tai tôi, cùng một tiếng súng nổ nơi ghe thầy Liểu.
“Tôi
thấy viên đạn gần trúng tôi thì tôi giận quá sức cho nên sự tôi hềm thù thầy Liểu
lại càng thêm nữa. Tôi liền la rằng: “Cha! Chả! Nó cự bây! Bắn!
“Tức
thì mười mủi súng giay qua ghe thầy Liểu mà phát một lượt; vừa khi ấy tôi nghe
một tiếng rằng: “Cha ôi! Chết tôi!” Tôi nghe tiếng ấy thì tôi biết là tiếng thầy
Liểu thì sự giận và sự hềm thù tôi như thể biến đi đâu mất vậy, cho nên tôi sợ
hải và trách mình tôi lắm. Vậy tôi dạy chèo ghe lại có ý coi có phương thế nào
mà cứu thầy ấy chăng.
“Song
vừa lại đến nơi thì thầy Liểu đã tắc hơi rồi. Nên tôi buồn bực trách móc tôi,
cùng khóc lóc lắm, mà tôi khóc tội tôi mà thôi, chớ còn thầy Liểu thì tôi không
thương tiếc chúc nào.
“Hỏi
cớ sự rồi tôi dạy lính đem ghe vô bờ mà nghĩ cho đặng đến sáng về mà báo quan.
“Về
đến nơi thì tôi đến trình quan tham biện rằng: “Ngày kia hồi canh ba có một chiếc
ghe đi ngang qua chỗ tôi đậu mà đón bắt kẻ cướp. Thấy ghe ấy đi ngang qua thì
tôi kêu ghé, song ghe ấy không ghé mà lại bắn lại một phát súng, tôi thấy vậy
tưởng ghe muốn cự thì dạy lính bắn lại. Bắn rồi chèo ghe ra mà coi, thì tôi thấy
là ghe thầy Liểu đi mua ngựa về có giấy thông hành tử tế, tôi hỏi bạn thì bạn
thưa rằng: “Khi thầy tôi nghe kêu thì tưởng là ăn cướp, nên trèo lên mui mà bắn
chúng nó; chẳng ngờ đàng kia tưởng ăn cướp bắn cự thì bắn lại; mà tại thầy tôi ở
trên mui cho nên bị đạn mà chết đi.”
“Tôi
trình rồi, quan tham biện nói rằng: “Thầy có phép quan sai đi bắt ăn cướp, mà bởi
thầy kia đã không hỏi hang cho rỏ trước khi bắn lại cho nên chết thì phải chịu;
thầy không tội gì!”
“Nói
rồi quan tham biện quở trách tôi sao không hỏi cho kỉ càn cùng dạy tôi về mà
chôn cất thầy ấy cho tử tế.
“Vậy
thầy ôi! Từ ngày ấy cho đến bây giờ thì trí tôi không khi nào an đặng, tôi những
thấy súng ống khí giái luôn, nhứt là khi ngủ thì tôi thấy tôi bị ăn cướp bắt mà
bắn tôi hoài.
“Song
dầu mà lương tâm tôi cắn rứt tôi thể nào thì tôi cũng không quên sự lổi của thầy
Liểu và của bạn tôi đã phạm với tôi.
“Nhiều
lần tôi ở trường án mà về thì tôi muốn lại hỏi mọi sự ra cho vợ hay mà tha lỗi
cho vợ. Song khi lại gần thì tôi không muốn nói ra lại tưởng rằng: hỏi nó thì
nó đương chịu cho đó. Ai dại mà chịu làm cha ăn cướp, bởi vậy cho nên tôi không
khi nào ngui sự lổi bạn tôi đã phạm cùng tôi đặng.
9
“Khi
tôi còn nhỏ, thì thường có Mọi hay đến mà bán hàng nơi nhà tôi. Trong mấy người
mọi đó thì có một đứa hay ra ngoài vườn mà hái một thứ bông tím tím kia, ở dưới
cỏ mà mọc lên; tôi thấy người ấy hái thì tôi cũng bắt chước hái chơi. Người Mọi
thấy tôi hái bông đó thì la tôi biểu đừng có hái, vì nó là giống độc lắm: sắc chừng
một nắm mà uống thì phải mắc bịnh lần lần cho đến bảy tám tháng một năm thì phải
chết: uống vô rồi không thuốc nào mà chữa đặng.
“Khi
ấy thầy Liểu đã chết đặng mười lăm bữa rồi. Ngày kia tôi nhớ đến sự cực tôi,
thì trí khôn tôi nó bắt xao xiến bối rối làm cho tôi như điên vậy, thì tôi đi
ra vườn cho có gió mát giải phiền một ít.
“Tôi
đi chưa đặng giáp vòng vườn thì tôi ngó thấy một đám cỏ bông tím dưới chơn tôi,
tôi cúi xuống mà hái nó mà coi, thì tôi thấy nó là cái bông thuốc độc người Mọi
đã nói với tôi khi trước.
“Vậy
tôi nhắm cái bông một hồi, rồi cúi xuống hái một nắm bỏ vô khăn cầm vào nhà. Thật
sự tôi sẽ làm thì hiểm độc lắm, mà khi tôi vô nhà thì trí tôi cũng an tỉnh như
tôi mới làm một sự phước vậy.
“Tôi
vô nhà thấy bạn tôi đang bắc một cái siêu trên bếp thì tôi hỏi rằng: “Mình sắc
gì đó vậy?” Bạn tôi trả lời: “Ba bốn bữa rày nó bắt tôi ho dữ quá, cho nên khan
tiếng; tôi sắc thử lá nguyệt bạch với chanh uống coi có hết chăng.”
“Tôi
làm thinh không nói gì, cứ cúi xuống mà ngó cái siêu luôn, tôi ngó cái siêu thì
thấy cái nắp nó nhảy lên nhảy xuống dường như muốn mời tôi bỏ nắm bông trong
khăn vô đó vậy. Vừa khi ấy bạn tôi lên nhà trên ăn trầu, thì tôi lại dở nắp
siêu lên bỏ nắm bông ấy vô.
“Khi
bạn tôi uống rồi, đến ngày mai thì không chổi dậy khỏi giường cũng không ăn uống
gì đặng.
“Thầy
ôi! Khi tôi biết tội tôi trọng là thể nào, cùng khi thấy bạn tôi nằm trên giường
mà than thở thì tôi buồn bực ăn năn trách mình muốn cứu vợ tôi cho khỏi chết.
Tôi rước không biết là mấy thầy; mà mỗi khi thầy nào đến tôi cũng lắc đầu hết,
vì khi ấy tiếng người Mọi đã nói với tôi hơn hai mươi năm nay thì tôi nhớ lại hết:
“Uống vô rồi không thuốc nào cứu đặng”.
“Bây
giờ mỗi ngày thì bạn tôi lại thêm ốm o gầy mòn hoài. Khi tôi thấy bịnh bạn tôi
càng ngày càng nặng hơn chừng nào thì tôi lại càng trách mình chừng nấy.
“Bạn
tôi đau đã hơn mười một tháng song tôi không nghe khi nào bạn tôi mở miệng ra
mà nói cùng than thở đều gì; khi thấy tôi buồn thì kiếm lời dịu dàng mà an ủi
tôi thì có.
“Ôi!
Trong mười một tháng ấy tôi trách mình tôi không biết là bao nhiêu; tôi buồn bực
cho đến đổi có nhiều lần bạn tôi thấy tôi chảy nước mắt ra thì tưởng tôi khóc
vì nó, thì nói cùng tôi rằng:
“Xin
thầy đừng rầu rỉ làm chi, tôi không chết đâu; tôi đã chịu thuốc rồi, it ngày
đây thì tôi sẽ lành.”
“Xin
thầy đừng rầu rỉ làm chi, tôi không chết đâu; tôi đã chịu thuốc rồi, it ngày
đây thì tôi sẽ lành.”
“Tôi
chịu cực thể ấy cho đến gần nữa năm 1873. Ngày kia tôi thấy bạn tôi mệt lắm thì
tôi biết đã gần giờ nó phải lìa khỏi thế rồi, nên tôi ở gần một bên bạn tôi
luôn. Đến nữa đêm khi tôi thấy bạn tôi còn thở hơi ra mà thôi thì tôi không còn
trông cậy gì về sự sống nó nửa, thì tôi cho mời các chức đến mà đọc kinh giúp kẻ
mong sanh thì.
“Khi
các chức đến đọc kinh cùng kêu chúa đặng một hồi lâu, thì đồng hồ đánh ba giờ
sáng. Khi ấy bạn tôi bắt tay tôi mà kéo tôi lại một bên miệng mà nói rằng: “Tôi
biết vì làm sao mà tôi phải chết, song tôi cũng xin Chúa thứ tha cho thầy.” Nói
rồi làm thinh cho đến bốn giờ thì linh hồn ra khỏi xác.
“Ôi!
Thầy ôi! Khi tôi thấy tôi còn ở đời một mình thì sự buồn bực nó đã quá trí tôi
đi. Lại khi tôi tưởng đến hai người, tôi đã thương mến quá chừng mà đã phải bị
tay tôi mà chết thì tôi buồn bực sợ hải đêm ngày.
“Cho
nên khi chôn cất bạn tôi rồi tôi xin thôi làm việc mà lên Saigon đặng xin Đức
cha chuẩn cho tôi vô ở nhà dòng Tân-định mà tu trì đức hạnh ít lâu.
“Tôi
vô nhà dòng rồi, thì tôi ở một cách sốt sắng lắm: đêm ngày tôi những đọc kinh cầu
nguyện, ăn chay hãm mình cùng học hành siêng năng tử tế lắm cho nên các thầy bề
trên tôi đều bằng lòng mà khen ngợi tôi hết. Tôi có ý ra sức mà làm các sự ấy,
cho đặng quên hai tội tôi không xưng ra. Bởi vậy, bề ngoài người ta gọi tôi là
người nhơn đức, mà hẳn thật tôi là đứa tội lổi giả hình mà thôi, cho nên dầu
tôi làm thể nào, thì lương tâm tôi cũng cắn rứt luôn chẳng khi nào cho trí khôn
tôi bình an đặng.
“Thầy
ôi! Tôi chịu cực mà học như vậy đã đặng sáu năm, chịu đặng chức thầy, cho đến
năm kia là 1882, thì tôi mắc bịnh nầy; vì mình tôi đã mệt lại thêm trí tôi
không an nữa thì nó sanh ra nhiều chứng bịnh lắm.
“Đã
hai năm nay tôi ở nhà thương mà uống thuốc, song bịnh tôi càng ngày càng tấn tới
thì thầy thuốc dạy tôi xuống Vủng-tàu, “ở đó thanh khí có lẽ ông bớt chăng.”
“Nói
tới đây thì trời vừa sáng, tàu đến Vủng-tàu.
Vậy
tôi mới nói với thầy ấy rằng: “Tội thầy đã nói với tôi đó là đều độc dữ lắm,
song Chúa nhơn từ vô cùng, còn dung thầy sống đến nay thì thầy phải xưng tội
thì Chúa sẽ tha cho thầy chẳng sai đâu.”
Thầy
ấy trả lời rằng: “Thầy đừng sợ làm chi, mai đây cha sở Bàrịa xuống Vủng-tàu thì
tôi sẽ xưng tội tôi ra hết, vì tôi chịu cực cũng đã quá trí rồi.”
Tôi
lại hỏi rằng: “Thầy xuống Vủng-tàu mà ở nhà ai?”
Thầy
ấy trả lời rằng: “Tôi xuống ở nơi nhà cha Bà-rịa đã cất để mà nghỉ tạm khi cha
xuống Vủng-tàu.”
Nói
truyện vừa rồi tàu gieo neo; khi thầy ấy bắt tay tôi từ giả mà lên đất, thì thầy
ngó tôi mà rằng: “Thầy! Coi tôi cho rỏ có lẽ ta gặp nhau lần nầy là lần sau hết.
Xin thầy đi bằng an, đến sau khi thầy có xuống Bà-rịa, thì tôi xin thầy hảy đọc
một kinh nơi mồ LAZARO PHIỀN.” Nói rồi thầy Phiền xuống đò mà lên đất.
10
Thầy
ấy lên đất đặng nữa giờ thì tàu đi vô Bà-rịa. Tôi ở Bà-rịa, đặng một tuần lễ, rồi
tôi trở lại Saigon không nghe tin thầy Lazaro Phiền nữa cho đến ngày 27 janvier
1884 thì người đem thơ đam đến nhà tôi một cái thơ. Tôi coi ở ngoài bao thơ thì
thấy có đóng con dấu Bà-rịa, tôi dở thơ ấy ra thì thấy đề rằng:
Bà-rịa,
ngày 25 janvier 1884
“Kính
thăm thầy đặng mạnh giỏi trong chúa “Khirixitô, cùng xin Chúa phù hộ cho hai vợ
chồng thầy.
“Thầy
ôi! Tôi xưa nay đã giấu tội tôi khi còn sống “làm cho thiên hạ tưởng tôi là người
trọn lành cho nên “trước khi tôi bỏ thế mà xuống nằm nơi tro bụi tôi muốn “cho
người ta biết tôi là ai, biết tội tôi là thể nào. Vậy nay “tôi mới viết thơ nầy
mà xin thầy giúp tôi làm việc ấy cho “nên. Bây giờ có một mình thầy cùng cha sở
Bàrịa biết “các việc tôi mà thôi, mà cha sở người chẳng có phép mà “tỏ tội tôi
đã xưng ra với người. Bởi vậy tôi mới dám xin “thầy, khi tôi chết rồi, thì thuật
truyện tôi lại cho mọi “người biết, lại tôi xin thuật truyện sau nầy đặng cho
thầy “tiếp theo sự tôi đã nói cùng thầy dưới tàu Jean-Dupuis “ngày 12 janvier
1884, có lẽ khi thầy đặng thơ nầy thì “Lazaro Phiền chẳng còn ở đời nữa.
“Tôi
về Bà-rịa đã đặng ba bữa rày cho đặng gần cha “linh hồn, vì thầy thuốc đã đoán
rằng: tôi không còn sống “đặng hơn ba ngày nữa. Vậy ngày hôm qua tôi xin cha
“cho phép người ta vỏng tôi đi xuống Đất-đỏ mà viếng “quê hương tôi một lần sau
hết, ôi! Khi tôi thấy nơi tôi ở “thuở còn thơ ấu thì hai hàng nước mắt tôi tuôn
xuống “ròng ròng.
“Khi
ấy trí khôn tôi nhớ trực lại hết những sự trốn “lánh cực khổ ông già tôi và tôi
đã chịu khi còn bé thì tôi “bước xuống vỏng lại ngồi trên miệng giếng ở trước
nhà “tôi thuở trước cùng ôm mặt tôi mà khóc ròng; một hồi “lâu tôi chổi dậy lên
vỏng biểu người ta đem tôi về Bà-rịa.
“Tôi
về vừa đến nhà thì cha sở đưa cho tôi một cái “thơ cùng dạy tôi đọc cái thơ ấy
cho đến cùng.
“Tôi
dở thơ ra thì thấy chữ viết trong thơ là chữ đờn “bà không có ký tên. Vậy trong
thơ ấy viết thể nầy; tôi xin “chép lại đây cho thầy coi:
“Thơ
nầy là thơ một người đã làm cho thầy phạm hai “tội rất trọng cùng bởi hai tội ấy
mà làm cho thầy chịu “cực khổ mười năm nay, tôi cúi lạy thầy! Nay mai thì “thầy
sẽ về cùng Chúa cho nên tôi giám đến mà tỏ ra “cùng thầy sự thiệt hại tôi đã
làm cho thầy phải chịu, mà “xin thầy hảy theo gương Chúa mà lấy lòng thương xót
“tha sự tội ấy cho một người đã có lòng thật thà mà ăn “năng cùng đền tội mình.
“Lạy
thầy tôi là một người đờn bà tội lỗi dại dột “cùng bạc ác lắm; thuở tôi còn
xuân xanh thì đã theo đàng “tội lỗi mê sa sắc dục thế gian xát thịt, cho đến
hai mươi “mốt tuổi. Khi ấy tôi ở với ông quan ba kia ở tại đồn Bà-rịa “đã đặng
ba tháng; rồi qua năm 1871 khi tôi thấy thầy “xuống làm thông ngôn tại Bà-rịa
thì tôi lại đam lòng mà “thương thầy một cách rất lạ lùng lắm. Ban đầu tôi mướn
“người làm cách nọ thể kia mà đam thầy vô đàng tội lổi “cùng tôi mà tôi thấy thầy
khinh dể chê ghét tôi, thì tôi “lại kiếm thế mà oán thù. Tôi đã kiếm cách thế
mà hại “thầy đã hơn hai tháng, vừa may kế lấy thầy Liểu xuống “đây mà mua ngựa;
nhơn dịp ấy tôi mới viết hai cái thơ “giả chữ thầy Liểu, mà sai người đem giấu
hai thơ ấy nơi “áo bạn thầy, rồi tôi gởi một cái thơ khác cho thầy mà cáo “gian
hai người nhơn đức ấy.
“Bây
giờ thầy biết rỏ ràng rằng: “Bạn thầy cùng thầy “Liểu là người vô tội mà đã bị
chết oan vì tôi. Cho nên “tôi lạy xin thầy tha tội cho tôi, thì Chúa cũng sẽ
tha tội “cho thầy.
“Tôi
chẳng giám viết tên tôi vào thơ nầy; tôi xin thầy “hỏi cha sở Bà-rịa thì thầy sẽ
biết tên người đờn bà tội lỗi “ấy là ai.”
Qua
năm sau, là 1885 nhằm ngày bải trường, tôi xuống Bà-rịa một lần nữa mà thăm bà
con cùng cha sở Bà-rịa.
Ngày
kia tôi đi cùng cha sở ra đất thánh mà viến nhà thờ Tử-đạo, vì nơi ấy có ông bà
tôi nằm đó. Khi tôi ra khỏi nhà thờ thì tôi thấy có một cái mồ gần một bên có
cây thánh giá, có đề chữ mà mưa đã làm lu hết còn sót bốn chữ: 27 janvier 1884
mà thôi; tôi hỏi cha rằng: “Mồ ấy là mồ ai?” Cha sở trả lời rằng: “Mồ ấy là mồ
thầy kia đã phạm tội trọng lắm, mà khi gần qua đời đã ăn năn tội một cách rất
trọn lành cho nên bây giờ ở tại nước thiên đàng chẳng sai?” Tôi hỏi cha rằng:
“Có phải là mồ thầy Phiền chăng?” Cha sở vừa ừ; thì tôi quì gối nơi mồ mà đọc rằng:
“Chúng
tôi cậy vì danh Chúa nhơn từ cho linh hồn Lazaro Phiền đặng lên chốn nghỉ
nghơi.
Hằng
xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng.”
-------------------------------------
[1]
Nhà thờ những kẻ Tử-đạo tại Bà-rịa là nhà thờ nhỏ cất nơi mồ chôn xương những kẻ
chịu đốt tại Bà-rịa. Trong nhà thờ ấy, ở giữa có một cái mồ nơi đầu mồ có một
cái bàn thờ, nơi mồ ấy thì có sáu câu như vầy:
Ba
trăm bổn đạo xác nằm đây
Những
trông sống lại hưởng phước đầy
Vì
chúa tù lao dư ba tháng,
Cam
lòng chịu đốt chết chỗ nầy,
Lập
mồ táng chung vào một huyệt,
Giáo
nhơn coi đó nhớ hằng ngày.
[2]
Truyện thầy tu thuật lại sau nầy về sự giam cầm trong ngục thuở bắt đạo khi Tây
qua, thì tôi đã nghe bà già tôi nói lại nhiều lần; vì bà già tôi khi ấy cũng bị
bắt bị đốt tại Bà-rịa song đã trốn ra khỏi. – Đã hai mươi năm nay mà bốn chữ
“Biên-hoà Tả-đạo” cũng còn rỏ ràng nơi mép tai như mới khắc vậy.
~
Nguyễn
Trọng Quản
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét