2021-07-17
Viễn
du lịch sử huy hoàng Truyện tranh Bỉ
Lê Văn Lợi tổng hợp từ Wikipedia
-
Thể theo yêu cầu của anh Bảy (anh Đỗ Tấn Sỹ), “Tiểu
thuyết chiều thứ Bảy” tổng hợp thông tin về lịch sử phát triển Truyện tranh Bỉ
(Belgian comics). Nguồn thông tin chủ yếu dựa vào Wikipedia. Tiêu đề do
“Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” tự đặt.
Lời
tựa:
Nhân
kỷ niệm 190 năm ngày Quốc khánh Vương quốc Bỉ (21/07/1831 – 21/07/2021) - ngày
Đức vua Leopold Đệ nhất, vị quốc vương đầu tiên lên ngôi – “Tiểu thuyết
chiều thứ Bảy” trân trọng gửi đến nhân dân Bỉ, các thành viên BelUnion cùng gia
đình, bạn bè thân hữu những lời chúc tốt đẹp nhất, sức khỏe, hạnh phúc và an
lành.
Nhân
dịp này, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” biên soạn và trân trọng giới thiệu đến
anh/chị bài về “Truyện tranh Bỉ”. Tài liệu tham chiếu chủ yếu được lấy từ
Wikipedia tại địa chỉ: https://en.wikipedia.org/wiki/Belgian_comics.
Trong
khi biên soạn, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” có in đậm và in nghiêng một số tác
giả, một số sê-ri, một số nhà xuất bản, một số phong cách nhằm gây chú ý cho
người đọc, chứ không làm sai lệch thông tin của trang nguồn. Việc dịch thông
tin từ tiếng Anh sang tiếng Việt là do “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” tự biên soạn.
Anh/chị nào cần thông tin gốc, xin vui lòng tham khảo trang nguồn đã dẫn ở
trên.
➖➖➖
Truyện
tranh được ví là “Nghệ thuật thứ 9” ①. Wikipedia nhận định “Truyện
tranh Bỉ là một phân nhóm khác biệt trong lịch sử truyện tranh và đóng một vai
trò quan trọng trong sự phát triển của truyện tranh châu Âu”.
Truyện
tranh là một hợp phần huyết thống của Văn hóa Bỉ. Truyện tranh có khắp nơi trên
đất Bỉ. Thật khó có thể tìm thấy một người Bỉ chưa bao giờ đọc truyện tranh. Mọi
người đều có một bộ sưu tập nhỏ ở nhà, mọi người đều biết truyện tranh, thậm
chí truyện tranh là một phần của chương trình giảng dạy ở trường học.
~
Ai
đã đặt nền tảng, đã đẩy quả bóng “Nghệ thuật thứ 9” lên cao, ai đã đưa
“Truyện tranh Bỉ” có một vị trí huyền thoại và dẫn dắt “Truyện tranh Châu Âu”
trong một thời gian dài?
Có
lẽ đó là Georges Prosper Remi (1907 - 1983), được biết đến với nghệ danh Hergé. Ông nổi tiếng với việc tạo ra
“Les Aventures de Tintin” (Những
cuộc phiêu lưu của Tanh-tanh), loạt album truyện tranh được coi là một trong những
truyện tranh châu Âu nổi tiếng nhất thế kỷ 20. Ông đồng thời cũng chịu trách
nhiệm cho hai loạt album truyện tranh nổi tiếng khác, “Quick et Flupke,
gamins de Bruxelles” (Quick và Flupke, nhóc con Brúc-xen) (1930–1940) và “Les
Aventures de Jo, Zette et Jocko” (Những cuộc phiêu lưu của Jo, Zette và
Jocko) (1936–1957). Các tác phẩm của ông được thực hiện theo phong cách vẽ ligne claire ⑤ (nét thoáng) riêng
biệt. Thành công của Hergé đã
truyền cảm hứng cho giới trẻ thời đó, thúc đẩy các tài năng trẻ đến với truyện
tranh. Khoảng 80% truyện tranh của Bỉ được xuất khẩu. Vì vậy, các nghệ sỹ truyện
tranh của Bỉ được thừa nhận và tên tuổi của họ được biết đến trên toàn thế giới.
~
Chúng
ta hãy cùng viễn du theo dòng lịch sử “Truyện tranh Bỉ”.
Trước
năm 1940
Việc
sản xuất truyện tranh quy mô lớn đầu tiên ở Bỉ bắt đầu vào nửa cuối những năm
1920. Trước đó, các trang dành cho giới trẻ được minh họa vẫn theo lối cổ, giống
với Images d'Épinal (Nhà in Épinal). Truyện tranh lúc đó đến từ Pháp, đến
với độc giả nói tiếng Pháp (vùng Wallonia và Bruc-xen). Phổ biến nhất là tờ La
Semaine de Suzette (Tuần báo Suzette – tờ dành cho thiếu nữ), tờ L'Épatant
(Lộng lẫy) và Le bon point illustré (Điểm mỹ họa). Các tác giả Pháp như
Marijac cũng đóng góp cho các tạp chí của Bỉ.
Những
năm 1920 chứng kiến sự hình thành của nhiều tạp chí trẻ, mới, một số tờ thuần
truyện tranh như tờ song ngữ Zonneland / Petits Belges (Người Bỉ Bé nhỏ)
của nhà xuất bản Công giáo Altiora Averbode hoặc các tạp chí hướng đạo
như Le Boy-Scout Belge (Hướng đạo sinh), nơi Hergé (Georges Remi) ra mắt; Một số tờ khác được xuất bản dưới
dạng phụ lục (báo chữ nhưng phần phụ lục là truyện tranh). Nổi tiếng nhất trong
số này là tờ Le Petit Vingtième (Đôi mươi Bé nhỏ), tờ phụ san dành cho thanh
thiếu niên hàng tuần của tờ báo Công giáo Le Vingtième Siècle (Thế kỷ
Hai mươi). Thành lập vào năm 1928, tờ này do nghệ sĩ trẻ Hergé làm tổng biên tập và đồng thời
cũng là biên tập viên chính. Hergé,
vào tháng 1 năm 1929 cho ra mắt loạt sê-ri mới cho phần phụ lục: Les
Aventures de Tintin (Những cuộc
phiêu lưu của Tanh-tanh). Sau thời gian ban đầu bị ảnh hưởng bởi phong cách của
các tác giả truyện tranh như Alain Saint-Ogan, Pinchon (người
Pháp), hay George McManus (người Mỹ), rất nhanh sau đó Hergé sớm phát triển phong cách
riêng của mình. Tintin nhanh
chóng trở nên rất nổi tiếng, và doanh số của tờ báo tăng gấp bốn lần vào các
ngày thứ Năm, ngày có phần phụ lục truyện tranh của Hergé. Tintin sau đó trở thành nguyên mẫu
cho nhiều sê-ri truyện tranh Bỉ, có phong cách vẽ riêng (gọi là phong cách ligne claire – nét thoáng), giữ
tần suất xuất bản vừa phải (hàng tuần), sử dụng bong bóng lời thoại (🗨, 💬)
(trong khi truyện tranh của các quốc gia khác như Hà Lan và Đan Mạch viết văn bản
phía bên dưới bản vẽ trong nhiều thập kỷ sau đó), và cách xuất bản: đầu tiên in
trên tạp chí / báo tuần rồi sau đó tập hợp lại và xuất bản dưới dạng album.
Trong
khi Tintin rất nổi tiếng, phải
mất gần một thập kỷ trước khi tạp chí truyện tranh thành công khác mới xuất hiện.
Trong quãng thời gian đó, ngày càng có nhiều tạp chí dành cho giới trẻ đăng một
số trang có truyện tranh chịu sự ảnh hưởng của Tintin.
George
Van Raemdonck, ② họa sĩ lớn về truyện tranh đầu tiên người
Fla-măng, hầu như chỉ làm việc ở Hà Lan cho đến sau Thế chiến thứ hai. Tuy
nhiên, ông đã có ảnh hưởng đến một số nghệ sĩ Fla-măng trước chiến tranh như Jan
Waterschoot và Buth, và với tư cách là một nghệ sĩ viết báo truyện
tranh hàng ngày, ông đã mở đường cho phương pháp xuất bản điển hình của truyện
tranh Fla-măng nếu so sánh với các ấn phẩm vùng Walloonia thịnh hành lúc bấy giờ.
Nghệ
sỹ thiên về cổ điển hơn (so với truyện tranh) là Frans Masereel, ③ một thợ khắc gỗ
người Fla-măng với tác phẩm "Passionate Journey" (Hành trình
đam mê) năm 1926, một câu chuyện không lời được kể trong 165 bức tranh khắc gỗ,
đôi khi được coi là cuốn tiểu thuyết đồ họa đầu tiên.
Vào
nửa sau của những năm 1930, hầu hết các tạp chí thanh niên vùng Walloonia đều
dành chỗ cho một hoặc nhiều truyện tranh của các nghệ sĩ nội địa. Ví dụ như Jijé ④ trong Le
Croisé (Thập tự chinh) năm 1936 và Petits Belges (Người Bỉ Bé nhỏ)
năm 1939, François Gianolla ở Jeunesse Ouvrière (Công nhân Trẻ),
và Sirius trong Le Patriote Illustré (Minh họa Ái quốc). Dupuis, một nhà xuất bản có trụ
sở tại Marcinelle gần Charleroi,
đã thành công với hai tạp chí gia đình có tên là Le Moustique (Con Muỗi)
và Bonnes Soirées (Tối đêm Tốt lành). Charles Dupuis, con trai của Giám đốc điều hành NXB, đã quyết định
thành lập một tạp chí dành cho thanh niên xoay quanh một nhân vật anh hùng mới,
có tên là Spirou. Tạp chí ra
mắt vào ngày 21 tháng 4 năm 1938. Nghệ sĩ người Pháp Robert Velter, một
trợ lý cũ của Martin Branner, được yêu cầu tạo ra sê-ri tiêu đề, và phần
còn lại của tạp chí chứa đầy truyện tranh nổi tiếng của Mỹ như Superman
(Siêu nhân). Tám tháng sau, trong một động thái bất thường, tạp chí được xuất bản
bằng tiếng Hà Lan với tên là Robbedoes (Spirou). Điều này có ảnh
hưởng sâu sắc đến truyện tranh vùng Fla-măng và vì vậy, sự phát triển truyện
tranh Bỉ bao gồm cả hai vùng là vùng Wallonia và vùng Fla-măng. Năm 1939, Jijé tham gia tạp chí. Ông làm việc ở
đó cho đến khi qua đời vào năm 1980, và là nguồn động lực của tạp chí trong thế
chiến và sau đó. Ông phát triển mở rộng tạp chí và đem đến thành công trong suốt
những thập kỷ tiếp theo, đồng thời là người truyền cảm hứng cho thế hệ nghệ sĩ
truyện tranh trẻ trong những năm 1940 và 1950, được gọi là trường phái Marcinelle. ⑤ Ngoài việc chịu ảnh
hưởng của Hergé, nguồn cảm hứng
chính của Jijé đến từ các nghệ
sĩ Mỹ như Milton Caniff hoặc Noel Sickles.
Một
số tạp chí Fla-măng cũng bắt đầu sản xuất truyện tranh hiện đại hơn, với các
tác phẩm của các nghệ sĩ đã thành danh như Frans Van Immerseel ở tờ Zonneland
(Người Bỉ Bé nhỏ) và họa sĩ theo trường phái biểu hiện Frits Van den Berghe
ở tờ Bravo, hoặc những cái tên mới như Jan Waterschoot ở tờ Zonneland
hoặc Eugeen Hermans (hay còn gọi là Pink) ở tờ Ons Volkske,
một tờ tuần báo được lấy cảm hứng từ tờ Le Petit Vingtième (Đôi mươi Bé
nhỏ). Tác giả truyện tranh quan trọng nhất của tờ Bravo và tờ Zonneland
là John Flanders, người sau đó tiếp tục cung cấp các câu chuyện cho các
tạp chí Fla-măng cho đến những năm 1960.
Thế
chiến thứ hai
Trong
chiến tranh, nhiều tạp chí đã phải ngừng xuất bản hoặc thu hẹp quy mô hoạt động
do thiếu giấy và bị hạn chế do quân Đức chiếm đóng. Le Petit Vingtième bị
giải thể sau cuộc xâm lược của Đức, và Hergé
bắt đầu làm việc cho tờ báo cộng tác Le Soir, nơi ông phải chuyển từ một
trang đôi hàng tuần của Tintin
thành một tờ nhật báo. Tình trạng thiếu giấy cũng buộc ông phải giảm số trang
trên mỗi album từ 120 trang trước đó xuống còn 62. Để bù đắp điều này, nhà xuất
bản Casterman quyết định bắt
đầu xuất bản các album bằng màu thay vì đen trắng. Điều này đã trở thành tiêu
chuẩn thời hậu chiến cho tất cả các album của nhà xuất bản vùng Walloonia và
Bruc-xen: Từ những năm 1960 trở đi, hầu như tất cả truyện tranh ngôn ngữ
Fla-măng cũng đều được in màu.
Các
tạp chí khác cố gắng tiếp tục xuất bản, nhưng phải thay thế truyện tranh bị cấm
của Mỹ bằng tư liệu nội địa. Đây là cơ hội cho những tài năng mới xuất hiện. Ở
tờ Spirou, Jijé được Sirius và họa sĩ
minh họa trẻ tuổi Maurice Tillieux cùng tham gia cộng tác.
Tạp
chí Fla-măng Bravo, ra đời từ năm 1936 với hầu như chỉ có truyện tranh Mỹ,
phải thay đổi hướng đi vào năm 1940, và tạo ra một phiên bản tiếng Pháp, thu
hút một số nghệ sĩ trẻ người Bỉ như Edgar P. Jacobs, Jacques Laudy,
Raymond Reding và Flemish Willy Vandersteen, cùng với họa sĩ minh
họa nổi tiếng Jean Dratz.
Một
lối thoát khác cho các nghệ sĩ trẻ là một số xưởng hoạt hình nhỏ, được tạo ra
khi những bộ phim hoạt hình nổi tiếng của Mỹ những năm 1930 có thể không còn được
chiếu nữa. Ở Antwerp, Ray Goossens và Bob de Moor bắt đầu
với AFIM, và ở Bruc-xen, André Franquin, Eddy Paape, Peyo và Morris
làm việc cho CBA.
1944–1958
Chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc là giai đoạn khó khăn lần thứ hai, với việc nhiều
tạp chí biến mất hoặc đổi chủ, trong khi một lượng lớn tạp chí mới xuất hiện giờ
đây đã chấm dứt tình trạng kiểm duyệt và thiếu giấy. Spirou, đã biến mất vào cuối năm 1943, xuất hiện trở lại vào
năm 1944 với cùng các tác giả. Mặt khác, Bravo có chủ sở hữu mới và những
người đóng góp chính đã tìm kiếm các nhà xuất bản mới. Tờ báo Le Soir đã
thay thế phiên bản thời chiến và tất cả nhân viên bằng phiên bản và nhân viên
trước thời chiến, và Hergé không
tìm được nhà xuất bản trong gần hai năm do bị cáo buộc cộng tác với người Đức và
bị điều tra.
Năm
1946, Raymond Leblanc muốn thành lập một tạp chí dành cho giới trẻ để mở
rộng nhà xuất bản nhỏ Lombard
của mình, và quyết định sử dụng Tintin
vốn đã rất nổi tiếng làm nhân vật anh hùng chính cho tạp chí Tintin. Khởi sự vào năm 1946 với
phiên bản tiếng Pháp và tiếng Hà Lan (phiên bản tiếng Hà Lan có tên gọi là Kuifje).
Tờ này đã trở thành thông lệ cho các tạp chí truyện tranh của Bỉ. Một phiên bản
khác dành cho công chúng Pháp ra đời vào năm 1948. Tạp chí ngay lập tức tuyển dụng
chủ yếu là các nghệ sĩ Bỉ, hầu hết đến từ Bravo: Jacobs (người đã từng cộng
tác với Hergé), Laudy,
và nghệ sĩ trẻ Paul Cuvelier. Tạp chí thành công ngay tức thì. Ngay sau
đó những tên tuổi khác tham gia, bao gồm cả Jacques Martin. Để có được
thành công với phiên bản tiếng Fla-măng (thời điểm đó Tintin chưa được biết đến nhiều đối với công chúng Fla-măng),
hai trong số những nghệ sĩ Fla-măng mới xuất sắc nhất đã được liên hệ: Bob
de Moor và Willy Vandersteen. De Moor ở với Hergé và Tintin cho đến cuối đời, nhưng Vandersteen lại rời tạp
chí sau 11 năm.
Nhiều
tạp chí khác chỉ tồn tại được vài năm, và những nghệ sĩ xuất sắc nhất của họ
sau đó đã gia nhập Spirou hoặc
Tintin. Các tạp chí như Bimbo,
Story hay Wrill chủ yếu thành công trong khu vực cục bộ và thiếu
một loạt phim chính thực sự có tiếng tăm. Tillieux làm việc cho Bimbo,
Martin cho Wrill, André-Paul Duchâteau bắt đầu sự nghiệp
viết lách của mình trong phiên bản mới của Bravo. Petits Belges /
Zonneland tiếp tục được xuất bản, nhưng chỉ dành một vài trang cho truyện
tranh. Nghệ sĩ chính trong những ngày đó là Renaat Demoen, sau đó gia nhập
François Craenhals.
Đối
thủ cạnh tranh chính của Tintin
và Spirou trong thời kỳ này
là Heroic-Albums, có phương pháp xuất bản khác: thay vì một số truyện
dài thường xuất hiện với tần suất một trang mỗi tuần, Heroic xuất bản một
truyện dài hoàn chỉnh mỗi tuần. Các nghệ sĩ chính cho tạp chí này gồm Tillieux,
Fred Funcken, Tibet, François Craenhals, Greg, ... Do bị kiểm duyệt ở Pháp,
tạp chí này đã biến mất vào năm 1956.
Ở
vùng Flanders, cũng có sự bùng nổ tương tự của các tạp chí mới, nhưng những nghệ
sĩ và truyện tranh quan trọng nhất lại chủ yếu làm việc cho các tờ báo: Marc
Sleen vẽ nhiều trang trên tạp chí 't Kapoentje, nhưng loạt truyện
chính của ông Nero lại xuất hiện trên tờ báo Het Volk (Nhân dân) từ
năm 1947 trở về sau. Willy Vandersteen đã làm việc cho rất nhiều tạp
chí, cả bằng tiếng Hà Lan và tiếng Pháp, nhưng loạt phim chính của ông là Spike
và Suzy xuất hiện trên De Standaard (Tiêu chuẩn) từ năm 1945.
Hai
họa sĩ này thống trị làng truyện tranh Fla-măng cho đến năm 1980, mặc dù Nero
được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Đức, thành công duy nhất bên ngoài vùng
Flanders là Spike và Suzy. Bộ truyện tranh này trở thành truyện tranh nổi
tiếng nhất của Hà Lan và có một lượng khán giả khá lớn trong vùng Wallonia, chủ
yếu là do sự xuất hiện của bảy câu chuyện được tạo ra đặc biệt trong Tintin, được coi là hay nhất của
bộ truyện. Do thành công này, Vandersteen đã mở một Studio sản xuất hàng
trăm truyện tranh và mang lại cho nhiều nghệ sĩ trẻ một công việc ổn định. Tuy
nhiên, trái ngược với trường phái Marcinelle
và ở một mức độ thấp hơn là Studios Hergé, rất ít nghệ sĩ có sự
nghiệp độc lập thành công sau khi rời xưởng. Một trong những sê-ri chính của
Studio là Bessy, ban đầu được thực hiện cho tờ báo La Libre Belgique
(Nước Bỉ Tự do) của Walloonia vào năm 1952, và sau đó đến với công chúng vùng
Flanders và cuối cùng là sê-ri hơn 1.000 truyện tranh ở Đức.
Trong
khi đó, nhiều nghệ sĩ sau này trở nên nổi tiếng đã ra mắt với quy mô nhỏ trên
các tờ báo của Walloonia: Peyo, Greg, Albert Uderzo, René Goscinny, ...
Trong những năm 1950, bối
cảnh truyện tranh ở Bỉ bị chi phối bởi ba phương pháp xuất bản chính:
(1) Cách thứ nhất: đầu tiên các truyện tranh đăng trên các tạp chí chính Tintin và Spirou – sau đó được tập hợp lại và làm thanh các album rồi
gửi sang các nhà xuất bản Lombard
và Dupuis;
(2) Cách thứ hai: đầu tiên truyện tranh đăng trên các tờ nhật báo vùng ở
Flanders - De Standaard và Het Volk - sau đó được tập hợp thành các
album đen trắng (các album này giá rẻ hơn);
(3) Cách thứ ba: truyện tranh đăng trên các tờ tuần báo tiếng Pháp, không tập hợp lại
thành các album.
-
Ngoài ba phương pháp trên, số lượng các tạp chí khác giảm dần, và các nhà xuất
bản truyện tranh mà không đăng trên tạp chí, dần dần biến mất, ngoại trừ Casterman, nhà xuất bản truyện
tranh của Hergé, và một số
truyện tranh khác.
Đây
là “Kỷ nguyên vàng” (Golden Age) truyện tranh Bỉ, một thời kỳ phát triển
rực rỡ và mở rộng không ngừng, với sự khởi đầu và tiếp nối của nhiều bộ truyện
nổi tiếng nhất.
Spirou
mở rộng từ 12 trang lên 52 trang toàn màu. Số lượng truyện tranh Mỹ, được giới
thiệu lại sau khi chiến tranh kết thúc, giảm dần xuống gần con số không vào năm
1950. Thay vào đó là truyện tranh của Victor Hubinon và Jean-Michel
Charlier (sê-ri truyện tranh Buck Danny), Maurice Tillieux (sê-ri
truyện tranh Gil Jourdan), Eddy Paape, Will, và quan trọng
nhất là André Franquin, Morris và Peyo. Loạt truyện tương ứng
của họ là Gaston Lagaffe, Lucky Luke và The Smurfs đã trở
thành những cuốn sách bán chạy nhất trên thế giới. Trong khi thế hệ đầu tiên học
được nhiều kiến thức nghệ thuật khi làm việc với Jijé, nhiều nghệ sĩ trẻ bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của họ
trong Studio Peyo trước khi tạo ra loạt phim của riêng họ, đảm bảo sự tiếp
nối của Trường phái Marcinelle.
Khía cạnh hài hước của tạp chí được đảm bảo bởi tổng biên tập Yvan Delporte,
nhà văn, người viết lời cho tranh của Franquin, Will và Peyo.
Cùng với các họa sĩ chính của Tintin,
họ đã định hình phong cách truyện tranh Pháp-Bỉ trong nhiều thập kỷ sau đó.
Tintin cũng
có một câu chuyện thành công tương tự. Các nghệ sĩ mới như Jean Graton (sê-ri
truyện tranh Michel Vaillant) và Raymond Macherot có nhiều độc giả
mới. Hergé lập Studio của mình
để giúp ông thực hiện truyện tranh Tintin,
ông cũng đã tạo phong cách cho nhiều nghệ sĩ như Bob de Moor và Roger
Leloup.
Phong
cách của hai tạp chí (Spirou
và Tintin) hoàn toàn khác biệt.
Phong cách ligne claire của Tintin tỏ ra nghiêm túc, khoa
giáo - tương phản với trường phái Marcinelle
hài hước, biếm họa của Spirou.
Ở
vùng Flanders, không có tạp chí nào có thể sánh được với thành công của hai tạp
chí Walloonia (Spirou và Tintin). Để tồn tại trong thời kỳ
này, không sống được dưới dạng tạp chí truyện tranh mà phải trở thành tờ phụ lục
của các tuần báo. Đáng kể nhất là tờ 't Kapoentje, xuất bản tác phẩm của
Buth và Rik Clément, nhưng tờ này cũng không có ảnh hưởng nào bên
ngoài vùng Flanders. Họa sĩ duy nhất thực sự thành công trong thời kỳ này là Jef
Nys với tác phẩm Jommeke, ra mắt năm 1955 và trở thành truyện tranh
nhật báo lớn thứ ba ở vùng Flanders.
Các
nghệ sĩ như Pom, Bob Mau hay Renaat Demoen ít thành công
hơn và chỉ có một lượng độc giả hạn chế, trong khi các nghệ sĩ Fla-măng khác bắt
đầu làm việc cho các tạp chí Pháp ngữ, theo chân của Morris (làm cho tờ Spirou) và Bob de Moor (làm
cho tờ Tintin). Thành công nhất
trong số này là Berck, người lúc đầu làm cho tờ Tintin sau đó chuyển đến tờ Spirou.
1959–1977
Từ
năm 1959 trở đi, sự thống trị của Spirou
và Tintin dần biến mất. Thế hệ
nghệ sĩ đầu tiên không thể tiếp tục nhịp điệu xuất bản của những thập kỷ trước,
và các tạp chí Pháp đã tiếp cận được nhiều khán giả mới, nhờ sự kiểm duyệt bảo
hộ của chính quyền Pháp. Các nghệ sĩ Pháp như René Goscinny và Albert
Uderzo, những người trước đây làm việc cho các tạp chí và báo của Bỉ, đã
thành lập tạp chí Pilote của riêng họ, và bầu không khí ít hạn chế hơn ở
đó đã thu hút một số đồng nghiệp chính của họ từ Spirou như Morris, Jijé, Charlier và Hubinon. Ngoài Morris, tất
cả họ vẫn tiếp tục làm việc cho Spirou,
nhưng sự suy giảm đã bắt đầu.
Tintin
bị thiếu những câu chuyện mới của Hergé.
Greg trở thành tổng biên tập vào năm 1962 và ở lại đó cho đến năm 1975, đưa
vào một phong cách và nội dung mới, dành cho độc giả lớn tuổi hơn, đồng thời giới
thiệu một số nghệ sĩ mới như Hermann Huppen, William Vance, Jean
Van Hamme và Dany. Bất chấp sự hoan nghênh của giới phê bình đối với
các tác giả mới này, số lượng phát hành từ từ giảm xuống (từ mức cao kỷ lục
270.000 bản một tuần chỉ tính riêng ở Pháp), rồi các ấn bản quốc tế của Tintin đã biến mất trong thập kỷ
tiếp theo, sau khi ra mắt sê-ri lớn cuối cùng có tên là Thorgal (nhà văn
Jean Van Hamme viết lời, Rosinski vẽ tranh).
Spirou
cũng phải tìm các nghệ sĩ và loạt phim mới để lấp đầy các trang và giữ chân độc
giả của họ. Phải đến khoảng năm 1970, nhiều người trong số họ mới trở thành những
ngôi sao thực sự, với sự nổi lên của Raoul Cauvin với tư cách là cây bút
chính mới của tạp chí. Loạt phim mới lớn nhất trong những năm 1960 là Boule
et Bill của Franquin-cộng tác viên Jean Roba. Nó trở thành bộ truyện nổi tiếng
nhất của tạp chí cùng với Gaston Lagaffe sau sự biến mất của Lucky
Luke vào năm 1967. Khoảng năm 1970, Berck (sê-ri Sammy), Lambil
(sê-ri: Les Tuniques Bleues - Áo chẽn màu xanh), François Walthéry
(sê-ri Natacha) và Leloup (sê-ri Yoko Tsuno) là các nghệ
sĩ và sê-ri truyện tranh mới, với Raoul Cauvin là nhà văn quan trọng nhất
cho các sê-ri này. Tuy nhiên, sau năm 1966, số lượng phát hành khoảng 280.000 bản
một tuần (Pháp và Bỉ cộng lại), đã không còn đạt được.
Ở
vùng Flanders, tình hình rất ổn định, vì chỉ xuất bản hạn chế trong vùng, lại
do các tác giả thành danh của những năm 1940 và 1950 đảm nhận, vì vậy không còn
chỗ cho những tài năng trẻ xuất hiện. Các nghệ sĩ trẻ hoặc làm việc trong
Studio Vandersteen, hoặc tìm việc ở hai tờ Spirou và Tintin.
Điều đó góp phần củng cố mối liên kết giữa các cảnh truyện tranh thuộc hai nhóm
ngôn ngữ (tiếng Pháp và tiếng Fla-măng).
~
Fandom ⑥ truyện tranh, bắt
đầu ở Hà Lan và Pháp vào những năm 1960, nổi lên ở Flanders vào năm 1966 với
các ấn phẩm khác nhau của Jan Smet, người cũng đã tạo ra giải thưởng
truyện tranh Fla-măng đầu tiên vào năm 1972. Giải thưởng này phát triển thành Bronzen
Adhemar, giải thưởng truyện tranh quan trọng nhất của vùng Flanders, được đặt
theo tên của nhân vật thần đồng Adhemar trong The Adventures of Nero
(Cuộc phiêu lưu của Nero). Ở Wallonia, nó chỉ bắt đầu một cách nghiêm túc vào
năm 1971, với những giải thưởng đầu tiên (giải Prix Saint-Michel ở Bruc-xen)
và fanzine (Rantanplan), đều của André Leborgne, và cửa
hàng chuyên doanh đầu tiên và nhà tái xuất bản vật liệu cũ, Michel Deligne.
Institut Saint-Luc ở Bruc-xen đã tạo ra một bộ phận truyện tranh với các
giáo viên như Eddy Paape, và chịu trách nhiệm phần lớn cho các tác giả mới,
hướng đến người lớn hơn, những người đã đi đầu trong những năm 1980 và 1990.
Các cuộc triển lãm với các nghệ sĩ lớn đã được tổ chức trên khắp đất nước, một
số do những người đam mê nghiệp dư, một số được chính phủ xác nhận.
Từ
1978 đến nay
Những
thập kỷ trước 1978 đã cho thấy sự suy giảm hơn nữa của các hệ thống xuất bản
truyền thống của truyện tranh Bỉ, và chấm dứt sự thống trị của các tác giả Bỉ
trong truyện tranh châu Âu.
Phản
ánh sự thay đổi từ truyện tranh dành cho thanh thiếu niên sang truyện tranh
dành cho người lớn chính là sự sụp đổ của Tintin
và sự khởi đầu của A Suivre vào năm 1978 - nguyệt san truyện tranh (dành
cho người lớn) của nhà xuất bản Casterman.
Truyện tranh bấy giờ xuất bản các "chương" dài hơn của các tác giả
châu Âu về tiểu thuyết đồ họa, với các nghệ sĩ như Hugo Pratt và Jacques
Tardi. Trong số họ, vẫn có những tài năng xuất sắc nhất của Walloonia và
Bruc-xen, bao gồm Didier Comès, Benoît Sokal và François
Schuiten. Tạp chí này (A Suivre), được xem là câu trả lời trí tuệ đáp
lại các tạp chí Pháp như Métal Hurlant, - có xu hướng đổi mới đồ họa, tưởng
là một thành công lớn và có nhiều ảnh hưởng, nhưng hóa ra lại tương đối ngắn ngủi.
Ấn bản tiếng Hà Lan, bắt đầu vào năm 1980, khép lại vào năm 1989 (cùng năm Pilote
ngừng xuất bản), rồi vào năm 1997, ấn bản tiếng Pháp cũng biến mất, chứng tỏ sự
sụp đổ của định dạng tạp chí, trong một thị trường mà hầu hết mọi người thích
mua ngay lập tức - các album.
Ở
Flanders, một thử nghiệm cuối cùng với tạp chí truyện tranh dành cho thanh thiếu
niên đã được bắt đầu vào năm 1993 với Suske en Wiske Weekblad của Standaard
Uitgeverij: với sự kết hợp giữa truyện tranh cổ điển và bộ truyện mới và được
thực hiện bởi bộ truyện tiếng Hà Lan nổi tiếng nhất và một chiến dịch quảng bá
lớn, nó đã ban đầu có một lượng lớn khán giả, nhưng dần dần mất đà và biến mất
vào năm 2003.
Tạp
chí truyện tranh duy nhất còn tồn tại là Spirou,
nhưng với sự kết thúc của Robbedoes phiên bản tiếng Hà Lan vào năm 2005,
khi lượng phát hành giảm xuống chỉ còn khoảng 3.000 bản, câu chuyện thị trường
đại chúng nào dành cho khán giả Fla-măng vẫn còn đó, khiến cho những nghệ sỹ Fla-măng
trẻ tuổi rất khó để có được lượng khán giả lớn hơn.
Tờ
Spirou, trong khi đó, sau khi
sụt giảm trong những năm 1970 và 1980 từ 280.000 xuống còn 160.000 bản, vẫn giữ
được lượng phát hành khá ổn định. Đó là tiền đề cho nhà xuất bản Dupuis để thử nghiệm các nghệ sĩ
và loạt truyện tranh mới trước khi thực hiện một khoản đầu tư lớn vào loạt
album. Sau những thử nghiệm nhắm mục tiêu đến khán giả trưởng thành hơn vào cuối
những năm 1970 và những năm 1980 với phần bổ sung Le Trombone Illustré
và việc xuất bản các truyện tranh như sê-ri XIII (Mười ba) và sê-ri Jeremiah,
trọng tâm một lần nữa được tập trung vào loạt phim hài hước và khán giả là
thanh thiếu niên trẻ tuổi. Bây giờ các nghệ sĩ nổi tiếng như Bernard
Hislaire, Zep, Tome, Janry hay Midam hoặc đã khởi
sự hoặc vẫn tiếp tục đăng tác phẩm trên tạp chí.
Nhưng
bên cạnh tạp chí, Dupuis, giống
như tất cả các nhà xuất bản khác, vẫn nhắm đến đối tượng lớn tuổi hơn với với bộ
sưu tập tiểu thuyết đồ họa.
Cả
Lombard và Dupuis kể từ đó đã sát nhập vào
hãng truyền thông Pháp Média Participations, nhưng vẫn giữ được mức độ độc
lập nhất định.
Ở
Flanders, thời kỳ này bắt đầu với sự xuất hiện của hai truyện tranh thành công
mới trên báo, đó là Bakelandt của Hec Leemans và Kiekeboe
của Merho. Nhưng chúng dường như cũng là những thành công cuối cùng của
một hệ thống đang chết dần chết mòn, và truyện tranh ở Flanders ngày càng tập
trung nhiều hơn vào các album. Những bộ truyện và tác giả thành công rất ít và xa
vời, hầu hết, như Urbanus hay F. C. De Kampioenen, chỉ là một
thành công cục bộ trong vùng. Một vài nghệ sỹ ngoại biên như Ever Meulen,
người chủ yếu là họa sĩ minh họa, hoặc Kamagurka, người thiên về hoạt
hình, đã có một số thành công ở Wallonia, Pháp và Hà Lan, nhưng ngoài những ngoại
lệ đó, phương pháp chính cho truyện tranh Fla-măng, nghệ sĩ muốn thành công tác
phẩm vẫn được in tại ba nhà xuất bản Pháp ngữ (Dupuis, Le Lombard,
Casterman).
Thành
công nhất trong số này kể từ những năm 1960 có thể kể đến William Vance,
Jo-El Azara, Griffo, Marvano, Jean-Pol, Jan Bosschaert và Luc Cromheecke.
Ảnh
hưởng và ghi nhận
Bỉ
đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nghệ thuật thứ 9. Văn
hóa truyện tranh của Bỉ đã được tạp chí Time gọi là "Europe's richest"
(phong phú nhất châu Âu), trong khi tờ Calgary Sun gọi Bỉ là "quê
hương của truyện tranh ".
Sự
công nhận đối với truyện tranh Bỉ bên ngoài giới hâm mộ (fandom) còn chậm,
nhưng trong những năm 1970, ngày càng có nhiều truyện tranh và tác giả nhận được
các bài đánh giá và bài viết trên các tờ báo và tạp chí. Con tem chính thức đầu
tiên có hình một anh hùng truyện tranh được thực hiện vào năm 1979, in hình Tintin, và hầu hết các truyện
tranh nổi tiếng của Bỉ cũng được in tem trong các thập kỷ tiếp theo. Các cuộc
triển lãm lớn về truyện tranh được tổ chức từ năm 1969, và cuối cùng là Belgian
Centre for Comic Strip Art (Trung tâm Nghệ thuật Truyện tranh của Bỉ), thường
được gọi là Bảo tàng Truyện tranh, được mở tại Bruc-xen vào năm 1989 trong một
nhà kho cũ do Victor Horta thiết kế. Trung tâm này phát triển nhanh
chóng, với 160.000 du khách vào năm 1994 và 240.000 vào năm 2000. Các thị trấn
khác nhau của Bỉ có các bức tranh bích họa và tượng của các truyện tranh lớn, một
số nghệ sĩ nổi tiếng nhất đã được phong tước hiệp sĩ.
Truyện
tranh Bỉ, các tác giả và các tạp chí thường được coi là trung tâm trong sự phát
triển của truyện tranh châu Âu. Hergé,
với Tintin, và Jijé, là giáo viên truyện tranh, được
coi là những tác giả có ảnh hưởng nhất trong số các tác giả Bỉ thời kỳ đầu. Tác
giả người Pháp Tibet nói rằng các họa sĩ truyện tranh coi Hergé là Đức Cha và Jijé là Bố già truyện tranh. Jijé không chỉ là người thầy của các
tác giả Bỉ quan trọng như André Franquin, mà còn của các tác giả lớn của
Pháp như Jean Giraud và Jean-Claude Mézières. Trong Hergé
Studio, các tác giả người Pháp như Jacques Martin, và tác giả Thụy
Sĩ Derib đã làm việc nhiều năm trong Studio Peyo. Các tạp chí
truyện tranh Tintin và Spirou đã được dịch ra các thứ
tiếng khác nhau, và các sê-ri truyện tranh tiếng tăm từ các tạp chí đã được in
lại trên các tạp chí truyện tranh ở Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức hoặc Hà
Lan. Album của bộ truyện chính và các tác giả đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng,
và thậm chí nhiều bộ truyện nhỏ đã được dịch sang các thứ tiếng khác nhau ở Tây
Âu. Các nghệ sĩ như Joost Swarte người Hà Lan, Chris Ware người Mỹ,
Bill Leak người Úc hay Jason người Na Uy bị ảnh hưởng sâu sắc bởi
phong cách ligne claire của Hergé, trong khi những người khác
như Daniel Torres của Tây Ban Nha, Pora của Phần Lan và Yves
Chaland người Pháp theo sát "Phong cách nguyên tử" của Jijé và Franquin. Các nghệ sĩ
của Bỉ thời gian gần đây như Kamagurka và Philippe Geluck lại đặc
biệt nổi tiếng ở Pháp. Gần đây hơn, các tiểu thuyết đồ họa của Bỉ cũng đã được
dịch sang tiếng Anh, như Jean-Philippe Stassens với tác phẩm Deogratias,
trong khi nhiều bộ cũ hơn cũng được tái bản, mặc dù thành công chỉ ở mức hạn chế.
Đặc
biệt là Hergé và Tintin có nhiều ảnh hưởng đến
các nghệ sĩ khác bên ngoài truyện tranh, như Roy Lichtenstein và Andy
Warhol. Hergé đã được đặt
tên cho một đường phố và một bức tượng ở Angoulême, Pháp. Bưu chính Pháp và Hà
Lan đã phát hành tem tưởng nhớ Tintin.
Trò
chơi điện tử, phim hoạt hình và phim người đóng đã được sản xuất cho các sê-ri
nổi tiếng như XIII (Mười ba), Tintin,
Spirou et Fantasio, Spike
et Suzy và Lucky Luke, cùng loạt phim dài tập về Hanna-Barbera
của The Smurfs đã đạt được thành công trên toàn thế giới với lượng bán
vé khổng lồ. Thành công tiếp tục được chứng minh bằng việc xếp hạng các phim hoạt
hình dựa trên cuộc phiêu lưu của Tintin
và Lucky Luke ở Đức và Canada vào năm 2005 và 2006. Bên cạnh đó, có những
tiểu thuyết đồ họa dành cho người trưởng thành như The Wedding Party (Tiệc
cưới) của Hermann Huppen và Jean Van Hamme đã được chuyển thể
thành phim.
Hầu
hết các họa sĩ truyện tranh lớn của châu Âu đã làm việc một thời gian, thường
là những năm đầu trong sự nghiệp của họ, tại Bỉ: Các tác giả người Pháp như Albert
Uderzo và René Goscinny, Jacques Tardi, Jean Graton và
Claire Bretécher, người Đức như Andreas, tác giả người Ba Lan Grzegorz
Rosiński, Carlos Roque người Bồ Đào Nha, các tác giả Thụy Sĩ Zep
và Cosey ... Ngay cả tác giả lớn người Ý Hugo Pratt đã tạo ra nhiều
tác phẩm nổi tiếng nhất sau này của ông cho nhà in Casterman.
--------
Chú
thích:
① Vùng nói tiếng Pháp (Francophonie)
hay ví các loại hình nghệ thuật theo số thứ tự như sau:
1. Nghệ thuật thứ nhất: kiến trúc
2. Nghệ thuật thứ hai: điêu khắc
3. Nghệ thuật thứ ba: hội họa
4. Nghệ thuật thứ tư: khiêu vũ
5. Nghệ thuật thứ năm: âm nhạc
6. Nghệ thuật thứ sáu: thơ
7. Nghệ thuật thứ bảy: điện ảnh
8. Nghệ thuật thứ tám: truyền hình
9. Nghệ thuật thứ chín: truyện tranh
Ai
đã ví truyện tranh là “Nghệ thuật thứ 9”? Một người Bỉ: ông Maurice
De Bevere (1923 - 2001), được biết đến với nghệ danh Morris, là một
họa sĩ truyện tranh và tác giả của Lucky Luke, một bộ truyện tranh bán
chạy nhất về một tay súng ở Miền Tây Hoang dã Hoa Kỳ.
② George
Van Raemdonck (28/8/1888 – 28/1/1966) là một nghệ sĩ
truyện tranh và họa sĩ người Bỉ, và thường được coi là tác giả truyện tranh Fla-măng
đầu tiên. Ông chủ yếu làm việc cho các tạp chí và tờ báo cánh tả, xã hội chủ
nghĩa và chống phát xít, tạo ra hàng nghìn phim hoạt hình chính trị.
③ Frans
Masereel (31/7/1889 - 3/1/1972) là một họa sĩ và nghệ sĩ đồ họa
người Fla-măng làm việc chủ yếu ở Pháp, đặc biệt được biết đến với những bức
tranh khắc gỗ tập trung vào các vấn đề chính trị - xã hội, chẳng hạn như chiến
tranh và chủ nghĩa tư bản. Ông đã hoàn thành hơn 40 cuốn tiểu thuyết không lời
trong sự nghiệp của mình, và trong số này, tác phẩm vĩ đại nhất của ông thường
được cho là "Passionate Journey" (Hành trình đam mê).
④ Joseph
Gillain, được biết đến nhiều hơn với nghệ danh Jijé (13/1/1914 – 19/6/1980), là một
nghệ sĩ truyện tranh người Bỉ, nổi tiếng với vai trò là một họa sĩ của bộ Spirou et Fantasio (người
đưa vào nhân vật Fantasio) và người tạo ra một trong những bộ truyện
tranh Phương Tây lớn nhất, đầu tiên ở châu Âu, là Jerry Spring.
⑤ Trường
phái Marcinelle. Thuật ngữ
"trường phái Marcinelle"
(tiếng Pháp: École de Marcinelle)
hoặc "trường phái Charleroi" (École de Charleroi) dùng
để chỉ một nhóm các họa sĩ truyện tranh người Bỉ do Joseph Gillain (được biết đến
với cái tên Jijé) thành lập
sau Thế chiến thứ hai. ("Bande à quatre", "Gang of
four", - Bộ tứ -, ngoài Jijé
còn có Franquin, Morris và Will.) Các họa sĩ trường phái Marcinelle đều liên kết với tạp
chí hàng tuần, Spirou, có văn
phòng (vào những năm 1940) đặt tại thị trấn Marcinelle, gần Charleroi ở Bỉ.
Về
mặt phong cách, trường phái Marcinelle
là sự pha trộn giữa hoạt hình và chủ nghĩa hiện thực, và đôi khi còn được gọi
là comic-dynamic (truyện tranh năng động) (chữ "comic" ở
đây có nghĩa là "hài hước", không phải là phương tiện). Nó thường được
trích dẫn là đối lập với phong cách ligne
claire (nét thoáng) của Hergé.
Mặc dù hai phong cách này có nhiều điểm chung, trường phái Marcinelle hướng đến việc truyền đạt ấn tượng về sự chuyển động,
trong khi ligne claire có xu
hướng schematic (lược đồ).
Phần
bổ sung của anh Trần Hữu Nam để chú thích cho ligne claire và trường phái Marcinelle:
“Ligne claire” theo Hergé
https://fr.wikipedia.org/wiki/Ligne_claire
https://en.wikipedia.org/wiki/Ligne_claire
-
nét vẽ đậm, đều (do vẽ nháp bằng bút chì, rồi can bằng bút sắt - mực, nên nét đều
không thay đổi), làm đường bao/biên chia tách /phân định rõ ràng mảng này với mảng
khác – để “tô” một sắc màu (tạo sắc màu với các chấm đen và bằng cách thay đổi
khoảng cách và kích thước chấm đen).
-
đồng một sắc màu cho từng mảng một;
-
không bao giờ dùng nét vẽ tạo bóng (bóng đèn, luồng ánh sáng chiếu);
-
chiều cao dải băng tranh không đổi; các cảnh nối tiếp nhau liền lạc, (hạn chế
chuyển cảnh tùy tiện).
-
lời thoại hoặc dẫn cảnh viết bằng chữ thường, đặt trong khung hình chữ nhật;
Còn
đây là phong cách Dupuis, Charleroi phái, rõ là có khác
Gaston Lagaffe
⑥ Fandom
được hiểu là tập hợp những người có cùng văn hóa, sở thích, và đồng cảm.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét