2022-02-19
Một
tháng ở Nam kỳ (II)
Phạm
Quỳnh
Bản du ký được học giả Phạm Quỳnh viết từ tháng
11 năm 1918 đến tháng 1 năm 1919.
Chương 2: Phần II
Bước
xuống đất, ngoảnh lại chào cái tàu lớn kia đã chở mình tới đây được an toàn
trót lọt. Càng nhìn càng thấy to lớn thay! Ôi! Ta từ biệt ngươi từ đây, mong rằng
có ngày lại được gặp ngươi lần nữa. Người đời đi chuyến đò còn nên nghĩa, huống
chi là ngươi với ta, trong mấy đêm ngày đã cùng nhau bềnh bồng trên mặt
sóng!... Ta từ biệt ngươi, ngươi có biết không, hỡi kềnh nghê bằng gỗ sắt?...
Khi
đã ngồi trên xe kéo, chạy qua cầu Khánh Hội, hô hấp cái không khí mát buổi
sáng, mới bắt đầu tiếp xúc cái cảnh sắc, cái khí vị đất Sài Gòn từ đấy. Ngay
lúc mới đầu ấy đã biết ngay cái cảnh sắc ấy là cảnh sắc một nơi thành phố tây,
cái khí vị ấy là khí vị một chốn đô hội lớn. Tạm để đồ hành lý ở nhà khách sạn,
rồi đi thăm các người quen thuộc, phần nhiều là quen tên thuộc tiếng mà chưa từng
tiếp mặt bao giờ. Nhân thể đi dạo chơi trong mấy đường phố lớn. Đường có tiếng
nhất ở Sài Gòn là đường Catinat. Catinat nguyên là tên một quan nguyên soái nước
Pháp về đời vua Louis thứ 14, sau là tên chiếc chiến thuyền sang đánh cửa Sài
Gòn trước tiên cả. Nay đặt tên cho một đường lớn ở Sài Gòn là có ý muốn lưu một
mối kỷ niệm cho người sau vậy. Kể to lớn thì đường Catinat chưa phải là to lớn
nhất ở Sài Gòn. Nhưng cũng tức như đường Paul Bert ở Hà Nội là nơi người Tây đến
lập phố trước nhất, rồi sau mỗi ngày một bành trướng mãi ra, thành nơi trung
tâm, đâu đâu cũng đổ xô về đấy, các đường mở sau đều tiếp phụ xung quanh. Đông
đúc phồn thịnh đến nỗi đã phải mở một con đường chạy dọc theo, to lớn rộng rãi
hơn nhiều, gọi là đường Charner - tức là tên quan thủy quân phó nguyên súy coi
chiếc tàu Catinat vào đánh Sài Gòn - để rút bớt cái sức bành trướng đi ít nhiều,
mà vẫn hằng ngày hằng phát đạt, không giảm đi chút nào. Các cửa hàng lớn, hàng
tây, hàng ta (phần nhiều người Bắc Kỳ), hàng Chà (phần nhiều người Bombay bên Ấn
Độ), hàng khách, chen nhau xin xít. Lại thêm có mấy nhà khách sạn lớn, nhà chớp
bóng, nhà hát tây, nên chiều chiều cứ tự năm giờ trở đi kẻ đi người lại như nước
chẩy. Người sang trọng, kẻ thượng lưu, tất mỗi buổi phải dạo qua đường Catinat
một lượt mới là nền. Những trai thanh gái lịch đất Sài Gòn lấy đấy làm chốn cực
phẩm phong lưu. Trên đường thì xe hơi không biết mấy trăm mấy chục mà kể, tiến
lên êm như ru, như vô số những làn sóng tự ngoài xa đưa lại, rạt cả bên bờ nhà
“Đại lục khách sạn” (Hôtel Continental). Nhất là ngày chúa nhật, sau khi
tan lễ nhà Thờ Chánh, không cảnh tượng gì đẹp bằng đường Catinat chừng hồi chín
mười giờ. Đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, người Tây, người Nam, ăn bận rất
lịch sự, ở nhà thờ ra đi dạo qua các cửa hàng, lũ lượt như ngày hội. Thật là
nghiễm nhiên ra cái cảnh tượng một nơi đại đô hội, đương buổi quốc dân phong
phú, thiên hạ thái bình. Coi đó không ngờ rằng trong thế giới hiện còn mấy
nghìn vạn con người đương lầm than trong vòng máu lửa!
Người
ta thường gọi Sài Gòn là cái “hạt báu của Á Đông” (la perle de
l'Extrême-Orient). Tôi chưa từng được biết những nơi đô hội lớn ở Á Đông,
như Hương Cảng (Hongkong), Thượng Hải (Changhai), Tân Gia Ba (Singapore), nhưng
chắc rằng những nơi ấy tuy có lớn, có đông, có sầm uất phồn thịnh hơn, mà về
cách sửa sang sắp đặt, về cái qui mô các đường phố, các lâu đài, về cái vẻ chỉnh
đốn sạch sẽ, mĩ miều khả ái, chơn chu mà sán lạn như hạt châu mới rũa, thì còn
kém Sài Gòn nhiều. Đường phố như vẽ bằng tay, kẻ bằng thước, đều đặn, thẳng thắn,
rộng rãi khang trang, nhiều đường ở giữa lại để những khoảng rộng trồng cỏ, đặt
những tượng đồng kỷ niệm, chiều đến hàng trăm cái đèn điện lớn chiếu sáng như một
dẫy dài những quả ba lông lấp loáng thả phấp phới ngay trên giữa đường phố, coi
rất là ngoạn mục. Đẹp nhất, coi trang nghiêm nhất là con đường đi thẳng vào phủ
Toàn quyền (người Sài Gòn thường gọi là tòa Chánh soái). Hai bên có hai khu vườn
trồng những cây lớn, tối trông như hai đám rừng nhỏ, ở giữa một con đường rộng chạy
thẳng băng tự đầu tỉnh đằng kia cho tới ngang cửa phủ. Coi thật là có bề thế,
có vẻ tôn nghiêm, xứng đáng với một nơi tướng phủ. Mà phủ Toàn Quyền ở đây, qui
mô cũng đẹp hơn ở Hà Nội. Phủ Toàn Quyền Hà Nội tựa hồ như một đống gạch xếp
vuông, trông có vững vàng bền chặt mà nặng nề biết bao nhiêu! Ở Sài Gòn thì như
hình chữ đinh J, nét ngang trên là chánh dinh, nét sổ dưới là các tơ tào. Mặt
trước ở gian giữa có bậc lên, hai bên hai con đường dốc quanh lại như hình bán
nguyệt, trông ra cái vườn rộng thênh thang, giữa có bãi cỏ phẳng lì như một tấm
thảm xanh, trên chỉ trồng hai khóm trúc in nhau như hệt. Còn xung quanh thì vườn
trại mênh mông, cây cối rậm rạp. Những khi quan Toàn quyền ở Sài Gòn, tối đến
trong dinh đèn điện thắp sáng choang, trông xa tưởng tượng như một tòa lâu đài
bằng ngọc có trăng chiếu, chon von ở giữa khoảng rừng rậm tịch mịch u sầu, khác
nào như trong truyện thần tiên vậy. Khen cho ông quan tạo tác nào kinh doanh
cái phủ Toàn Quyền đó cũng khéo tay.
Sài
Gòn còn nhiều những dinh thự cùng các nhà công sở đẹp lắm, như nhà dây thép,
tòa án, dinh quan Thống đốc Nam Kỳ (tức trong ấy gọi là dinh Phó soái), nhà hát
tây, v.v... Nhưng đẹp nhất là nhà Thị sảnh Sài Gòn (Hôtel de ville,
trong ấy gọi là nhà “xã tây”, vì ông đốc lý thành phố tục kêu là ông xã tây).
Kiểu đại khái cũng giống như các nhà thị sảnh bên Tây, trên có cái chòi vuông mấy
từng cao chót vót. Mặt trước trông thẳng ra đường Charner vừa dài vừa rộng, đi
đằng xa lại, coi cũng có cái vẻ trang nghiêm, xứng đáng làm nơi công sở của một
chốn đô hội lớn như Sài Gòn. Chẳng bì với nhà Đốc lý Hà Nội ta, thật so sánh mà
thẹn thay. Mà Hà Nội lại là nơi thủ đô của Đông Dương! Hà Nội có cái nhà hát to
quá không biết dùng để làm gì, suốt cả năm bỏ vắng ngắt như chùa bà Đanh, mà đến
cái nơi công sở để hằng ngày lo công tính việc cho ngót mười vạn con người, để
phòng khi có quan sang khách quí ở nước ngoài qua lại đón tiếp cho xứng đáng,
thì coi như cái nhà hầm, bốn bề kín mít, khí trời ánh sáng không lọt tới bao giờ!
Xin các ông hội viên phải lưu tâm đến sự đó, thật là có quan hệ cho danh dự Hà
thành ta. - Nhà thờ Sài Gòn tuy không có cái nền đá cao như nhà thờ Hà Nội, mà
có hai cái tháp nhọn cao ngất trời, những khi trời sáng sủa đi tự ngoài Vũng
Tàu (Cap Saint Jacques) cũng trông rõ. Lại nhà dây thép, trong gian giữa
có cái tượng đồng người đàn bà ngồi trên quả địa cầu, để biểu hiện cái tin tức
của người ta nhờ dây thép mà truyền được đi khắp thế giới, coi cũng mạnh mẽ và
có ý tứ lắm. Chỉ hiềm chỗ đặt khí tối, giá người nào bước vào vô ý không ngửng
mặt lên thì không biết! Còn Chợ Mới Sài Gòn cũng có cái nhà chòi ở cửa giữa thật
là vĩ đại, vừa cao vừa vững vàng lực lưỡng, coi như một cái pháo đài vậy. Mà
trong chợ thì rộng mênh mông, chợ Đồng Xuân Hà Nội chẳng thấm vào đâu.
Nói
tóm lại, cái hình thức của thành phố Sài Gòn sánh với thành phố Hà Nội còn hơn
nhiều. Từ cách đặt đường phố cho đến cách dựng cửa nhà, từ cách thắp đèn điện
cho đến cách đặt máy nước ở các nhà, cho đến cách tuần phòng vệ sinh trong phố
xá, nhất nhất đều có tiến bộ hơn Hà thành ta cả. Ở Sài Gòn thật là có cái cảm
giác một nơi đô hội mới, nghĩa là một nơi đô hội theo lối tây. Vào đến Chợ Lớn
thì lại ra cái cảm giác một nơi đô hội theo lối tàu. Còn các châu thành khác ở
Lục tỉnh, thì những nơi quan sở là tây mà chốn phố phường là tàu, phần An Nam
thật ít lắm. Xét về phương diện đó thì những đô hội Bắc kỳ tuy coi cũ kỹ mà còn
có cái vẻ An Nam hơn. Người khách ngoại quốc nào sang du lịch đây, nếu không có
cái chủ ý quan sát phong tục người dân thì ở Sài Gòn sướng tiện hơn, nếu muốn
biết cái chân tướng sự sinh hoạt dân An Nam thì cứ đi chơi qua phố phường Hà Nội
cũng đủ làm một cái kho khảo cứu không cùng. Tuy vậy, các tỉnh thành khác không
nói làm gì, mà Hà Nội đã là nơi thủ đô của Đông Dương thì về phần hình thức mới
cũng không kém Sài Gòn mới là phải. Nếu cái hình thức mới cũng đủ mà các đặc sắc
cũ vẫn còn thì mới thật là xứng đáng vậy.
Ngay
chiều bữa tới Sài Gòn, gặp ông chủ bút “Nam Kỳ tân báo” (La Tribune indigène)
là một tờ báo bằng chữ Pháp của mấy ông danh giá trong Lục châu lập ra, và rất
có thế lực trong các hạng tân học ta. Thường đọc báo đó, biết tiếng các ông, phục
cái tài của các ông viết văn Pháp như người Pháp, khen cái chủ nghĩa của các
ông muốn bênh vực cho quyền lợi dân An Nam, vẫn ước ao được tiếp mặt. Nay được
gặp lấy làm mừng lắm. Chủ nhiệm “Nam Kỳ tân báo” có hai ông Bùi Quang Chiêu và
Nguyễn Phú Khai, nhưng đứng tên quản lý chỉ có ông Nguyễn mà thôi. “Quan bác vật
Bùi” thì trong Nam ngoài Bắc ai ai cũng đã biết tiếng. Nguyên ngài có chức
“nông nghiệp kỹ sư”, sung giám đốc các sở canh nông Nhà nước, trong Nam kêu vắn
tắt là quan “bác vật”. Ngài năm nay đã đứng tuổi, đã từng ở Bắc lâu, ở Kinh
cũng nhiều, cái học vấn đã sâu, sự kiến văn lại rộng, thật là xứng đáng làm một
tay lĩnh tụ (leader) cho dư luận xứ Nam Kỳ. Lại thêm người ôn nhã, điềm
đạm, lễ độ, tiếp chuyện thật là vui. Ông Nguyễn Phú Khai thì người còn trai trẻ
lắm, cũng đã từng đi học bên Tây và có văn bằng “Kỹ sư” (ingénieur). Người
lanh lợi thông minh, cũng là một tay lỗi lạc trong bọn tây học nước ta.
Ngay
khi mới gặp, hai ông có cho biết bữa đó chính là ngày kỷ niệm “Nam Kỳ tân báo”
đã đầy năm và mời đến dự tiệc chiều hôm ấy. Tôi lấy làm vui mừng mà nhận lời
ngay, thật cũng là một sự may mới tới Nam Kỳ đã được cái dịp tốt để biểu chút cảm
tình với bạn đồng nghiệp. Tiệc dọn tại nhà cao lâu khách ở Chợ Lớn. Vậy 7 giờ
chiều cùng ông Bùi và mấy người bạn nữa đi xe ngựa về Chợ Lớn. Nhân thể được
ngó qua cái cảnh tượng Chợ Lớn buổi tối, thật ngày thường như ngày hội, các phố
khách Hà Nội, Hải Phòng chửa thấm vào đâu. Nhưng bữa đó mới đi lượt qua mà
thôi, khi tiệc tan rồi thì đã khuya, không thể dạo chơi các phố phường được, định
bữa khác sẽ coi kỹ hơn. Tiệc đông lắm, ước đến bốn năm chục người, phần nhiều
là những bậc tai mắt ở Sài Gòn và Chợ Lớn. Cũng lại là một dịp may được gặp mặt
các ông ấy để nối cái dây thân ái kẻ Bắc người Nam. Bữa tiệc thật vui, có cái vẻ
đậm đà thân mật, không có những lối kiểu cách như ngoài ta. Nói chuyện toàn bằng
tiếng tây, ông nào cũng nói giỏi, không những nói giỏi mà đến cái giọng nói,
cái cách cử động cũng hệt như tây vậy. Trong các ông dự tiệc đấy, có nhiều ông
đã vào dân tây. Coi đó thì biết các bậc thượng lưu trong Nam Kỳ tây hóa đã sâu
lắm, hầu như không còn chút gì là cái phong thể An Nam nữa. Về đường đó thì
ngoài Bắc Kỳ Trung Kỳ còn kém Nam Kỳ nhiều. Đến cách nghị luận cũng đường đột
mãnh liệt, trực mà không có những lối khép mở xa xôi như các nhà cựu học ngoài
ta. Hai cái tâm lý khác nhau biết dường nào! Cái nào là hơn? Khó mà quyết được.
Song thiết tưởng nếu điều hòa được cả hai thì hơn nhất. Nhưng sự điều hòa ấy có
thể thành được không? Đó là cái vấn đề rất quan trọng cho cuộc tiến hóa dân ta
sau này vậy.
Khi
trở về Sài Gòn, vừa ngồi xe vừa nghĩ lan man về cái tương lai nước nhà, thật có
lắm sự hi vọng đáng vui mà cũng nhiều cái hiểm tượng đáng buồn. Nhưng mà cái
tương lai là cái tương lai, ai là người dự đoán được bao giờ? Vả con đường tiến
hóa của mỗi dân mỗi nước là bởi lịch sử, bởi thời thế khiến nên; người ta dẫu hết
sức tư tưởng nghĩ ra đường này là hơn hay là đường kia là phải, cũng không thể
nào đổi được lịch sử, chuyển được thời thế mà mong khuynh hướng cái cuộc tiến
hóa kia về đường mình. Cho nên nghĩ xa xôi lắm mà làm chi?...
Mấy
bữa sau đi thăm các bạn “đồng nghiệp”, tức là các anh em làm báo ở Sài Gòn. Gặp
ông nào cũng được chuyện trò vui vẻ lắm, mới biết kẻ Nam người Bắc tuy ít dịp gần
nhau thân nhau, mà mỗi lần biết nhau, thật là dễ nên cái tình thân ái vậy. Cho
hay người một nước một nhà, dẫu xa cách mà cũng là anh em, miễn là đối với nhau
lấy lòng thành thực, đừng có cái thói ghẻ lạnh người thường, thì khó gì mà chẳng
nên thân mật được? Huống bọn mình lại cùng theo đuổi một nghề, tức là cái nghề
khua chuông gõ mõ trong quốc dân, đem những lời hay lẽ phải mà bàn bạc với bạn
đồng bào, mong gây lấy một mối tư tưởng cảm tình chung, mưu cho nước nhà giống
nhà sau này được cường mạnh vẻ vang, có ngày mở mặt mở mày với thế giới, thì
cái mục đích cao xa ấy há lại không đủ khiến cho ta đồng tâm hiệp lực mà cùng
nhau đạt cho tới rư?
Ôi!
Nếu hết thảy các nhà làm báo ai cũng hiểu cái nghĩa vụ của nghề làm báo thì còn
nghề gì đẹp bằng, hay bằng, cao thượng bằng, đủ khiến cho người ta tận tụy một
đời mà theo đuổi cho cùng? Đương buổi mới cũ giao nhau, cái tư tưởng quốc dân
chưa biết lấy gì làm chuẩn đích, bọn mình nên đề xướng những chủ nghĩa hay để
dìu dắt quốc dân vào con đường chánh đáng, đừng để cho xa lạc vào những ngõ
ngách hiểm nghèo. Về đường giáo dục, về đường xã hội, về đường chính trị, về đường
phong tục, về đường văn chương, về đường đạo đức, cái thế lực của bọn ta có thể
bao gồm hết thảy. Một lời công luận của ta có thể làm cho người ta bỏ đường tà
mà theo đường chánh, hay là bỏ đường chánh mà theo đường tà được. Vậy cái lời
công luận đó ta chẳng nên quí báu lắm rư? Ta chẳng nên cẩn thận lắm rư? Ta há lại
nên phản cái mục đích của ta mà dùng lời công luận đó làm cái khí giới để công
kích lẫn nhau, bày ra một cái gương xấu cho quốc dân rư? Dám chắc rằng các anh
em trong báo giới ta không có ai hiểu lầm cái nghĩa vụ đến vậy. Nếu quả được
như vậy thì may cho nước nhà lắm lắm. Bây giờ cần nhất cho dân ta chỉ có sự học,
nhất thiết cái gì cũng phải học cả, như đứa con nít mới đến tuổi vào trường vậy.
Bọn ta phải hết sức giúp một phần vào sự học ấy, cho cái trình độ quốc dân mỗi
ngày một cao thêm lên, cho cái tư tưởng quốc dân mỗi ngày một rộng thêm ra, để
có ngày đủ khôn đủ lớn mà ra tranh đua với đời được. Chắc cái trách dạy dân
không phải ở đâu bọn mình, mà thực thuộc quyền Nhà nước. Nhưng mình có thể giúp
vào đó một phần to: Nhà nước là ông thày dạy dân, thì mình cũng có thể đương được
một chân trợ giáo. Có lẽ nhiều điều mật thiết trong dân gian, Nhà nước không
xét tới mà mình tường hơn, cái công giáo dục của mình có khi ích lợi hơn Nhà nước
nhiều. Thiết tưởng hiện nay cái nghĩa vụ nhà báo phải như vậy mới là chánh
đáng, chớ những kẻ coi báo giới như một nơi tranh ăn nói, dành lợi danh, hay là
một chốn hí trường để đem những lời nghiêng ngửa, truyện dâm bôn mà mơn man, mà
khêu gợi cái dục tình sằng của công chúng, thì thật là làm mất giá một cái nghề
rất hay, rất cần, rất có ích lợi cho nước nhà đương buổi bây giờ.
Báo
giới trong Nam Kỳ thạnh lắm, phát đạt hơn ngoài Bắc nhiều. Hiện nay có đến mười
tờ báo bằng quốc ngữ. Không kể “Nam Kỳ tân báo” (La Tribune indigène) viết
bằng chữ Pháp, - gần đây báo ấy cũng mới xuất bản thêm một tập phụ trương bằng
quốc ngữ, mỗi tuần lễ một kỳ, đều là Quốc dân diễn đàn, - còn các báo khác thì
có những tờ như sau này:”Nông cổ mín đàm”, chuyên chủ về nông nghiệp, thương
nghiệp, mở ra đã lâu, là tờ báo có tuổi nhất ở Nam Kỳ, hiện ông Nguyễn Chánh Sắt
làm quản lý và chủ bút, ông cũng là một nhà trước thuật có tiếng ở Nam Kỳ; -“Nam
trung nhựt báo”, chủ nhân là quan huyện Nguyễn Văn Của chủ nhà in Union, là một
bậc thân hào danh giá ở Sài Gòn, sinh ra quan hai Nguyễn Văn Xuân hiện tùng
chinh bên Đại Pháp; chủ bút là ông Nguyễn Tử Thực, có ông Nguyễn Viên Kiều
giúp; -“Công luận báo”, quản lý ông Nguyễn Kim Đính, chủ bút ông Lê Hoằng Mưu;
- “Lục tỉnh tân văn”, của ông chủ nhà in Schncider, ông phủ Gilbert Trần Chánh
Chiến làm chủ bút; “Nữ giới chung” (Femina annamite) là tờ báo riêng cho
các bậc nữ lưu, chủ nhiệm là ông Trần Văn Chim và ông Lê Đức; -“Nam Việt tề gia
nhựt báo” (Journal de la famille annamite), của một bà đầm làm báo ở Sài
Gòn mở ra để riêng cho đàn bà con gái An Nam coi; -“Nhựt báo tỉnh” (Moniteur
des provinces), là một tờ công báo, dịch những nghị định công văn của Nhà
nước, đăng những tin thuyên chuyển trong quan lại; -“Nam Kỳ địa phận”, là một tờ
báo của nhà Trung. - Lại gần đây nghe nói mới xuất bản một tờ Thời báo, một tờ
đặt tên nôm là “Đèn nhà Nam”. Đèn nhà Nam, cái tên sáng sủa thay! Ước gì đèn được
sáng tỏ mà chiếu khắp chốn kẻ chợ nhà quê, nơi hang cùng ngõ hẻm, phá được cái
thành hôn mê mà soi tỏ con đường tiến bộ. Đó là cái mục đích chung của cả báo
giới ta vậy. Mấy tờ báo trên đó là xuất bản ở Sài Gòn. Còn ở Long Xuyên có “Đại
Việt tập chí”, thể tạp chí, mỗi tháng một kỳ, của hội Khuyến học Long Xuyên,
cái chủ nghĩa, cái tôn chỉ cũng giống như Nam Phong vậy. Lại ở Cần Thơ, có tờ “An
Hà nhựt báo”, ông huyện Võ Văn Thơm làm quản lý, có một phần chữ tây, một phần
quốc ngữ, chuyên về nông nghiệp thương nghiệp.
Một
địa hạt Nam Kỳ mà bấy nhiêu tờ báo kể cũng đã nhiều lắm vậy. Cứ lấy cái “lượng”
(quantité) mà xét thì thật đủ khiến cho Bắc Kỳ, Trung Kỳ phải thẹn với
Nam Kỳ rằng về đường ngôn luận còn chậm kém xa quá. Nhưng cái “phẩm” (qualité)
có được xứng đáng với cái “lượng” không? Điều đó thì chưa dám chắc vậy. Xưa nay
phàm cái gì muốn cho nhiều tất giá phải kém, không thể vừa nhiều vừa tốt cả được.
Muốn giữ cho cái “phẩm” cao, tất phải hạn cái “lượng” lại mới được. Ấy công lệ
từ xưa vẫn thế: nghề làm báo, nghề làm sách, có thể ra ngoài được cái công lệ ấy
không? Thiết tưởng rằng không. Cho nên xét ra các đồng bào ta trong Lục tỉnh
hình như có ý trọng cái “lượng” hơn cái “phẩm” vậy. Đó cũng là một điều khuyết
điểm trong học giới báo giới xứ Nam Kỳ.
Ta
vừa nói nghề làm sách: nghề làm sách ở Nam Kỳ cũng thịnh lắm, có phần lại thịnh
hơn nghề làm báo nhiều. Tuy vài năm gần đây đã bớt đi nhiều, mà trong khoảng
năm năm mười năm về trước, cái số những sách quốc ngữ xuất bản ở Sài Gòn không
biết bao nhiêu mà kể. Thứ nhất là những bản dịch các tiểu thuyết tàu cũ, như
Tam quốc, Thủy hử, Chinh Đông, Chinh Tây, Phản Đường, Tùy Đường, Đông Châu,
Phong thần, Đại Hồng bào, Tiểu Hồng bào, v.v... nếu sưu tập cả lại thì làm được
một cái thư viện nhỏ! Những tiểu thuyết tàu tự tám mươi đời triều ấy văn chương
đã chẳng ra gì mà truyện thì toàn những truyện huyền hoặc quái đản, của mấy bác
cuồng nho bên tàu đời xưa ngồi không bịa đặt ra để khoái trá những bọn hạ lưu
vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ cũng khả kinh thay!
Không trách cái tư tưởng quốc dân những chìm đắm trong sự mê hoặc không cùng,
có khi sinh ra những việc xuẩn động hại đến cuộc trị an trong xã hội cũng vì
đó. Có người nói việc phá khám Sài Gòn năm nọ cũng là bởi cái di độc của các tiểu
thuyết tàu mà ra, tưởng không phải là nói quá vậy. Cả ngày cả đêm những ca tụng
cái tài ông Tiết Đinh Sơn, ông Tiết Đinh Qui, hay những ông tướng kỳ khôi từ đời
hồng mang nào, trách sao trong trí không loạn lên mà muốn làm thực những việc
mình thường đọc thấy trong truyện? Càng những bọn hạ lưu hung hãn lại càng dễ
nhiễm hơn cả. Coi đó thì biết văn chương không phải là không có quan hệ đến
nhân quần; các nhà làm sách há chẳng nên cẩn thận lắm rư? Chắc ai cầm bút viết
trong bụng cũng có cái ý tốt cả, và như các nhà dịch tiểu thuyết tàu kia là chỉ
chủ làm một món mua vui cho các bạn đồng bào trong khi tửu hậu trà dư, lại vừa
làm một mối lợi riêng cho mình; nhưng phải nghĩ đến cái ảnh hưởng những truyện
vô bằng ấy vào trong óc mộc mạc của những kẻ ít học, chưa biết suy nghĩ sâu xa,
thường lấy hư làm thật, lấy giả làm chân, nó hại biết dường nào!
Ấy
là cái tệ các tiểu thuyết cũ dịch của Tàu. Đến cái tệ của phần nhiều các tiểu
thuyết mới ngày nay thì lại thậm hơn nữa, vì cách đặt để đủ làm cho bại hoại
phong tục, điên đảo luân thường vậy. Tôi biết có bộ tiểu thuyết cực là dâm bôn
mà lại rất là thịnh hành trong bọn phụ nữ. Coi đó thì biết cái hại sâu biết dường
nào! Gia đình tan cũng vì đó, xã hội nát cũng vì đó, cái tương lai nước nhà
nguy hiểm cũng vì đó. Các nhà làm sách có nghĩ tới không? Hay chỉ chủ bán cho
chạy hàng, thâu được nhiều bạc, còn những lẽ cương thường luân lý mặc quách cho
ai? Ôi! Cổ nhân đã dạy: làm người sĩ phu trong nước cái trách là phải phù cho
thế đạo, giúp lấy cương thường. Nếu những nhà làm sách lại cố ý làm nghịch thế
đạo, đạp đổ cương thường, thì một nước như vậy sống làm sao được? Thiết tưởng
các bậc trí thức trong Lục châu ai trông thấy văn vận suy đồi như vậy, phong
túc bại hoại như vậy cũng phải lo, mà tìm cách duy trì cho kịp. Nên mau mau, kẻo
cái tệ đã sâu lắm rồi.
Song
có một điều nên chú ý, là báo nhiều như thế, sách nhiều như thế, mà bán được chạy,
có nhiều người mua, thời cũng là một cái chứng rằng dân Nam Kỳ có tính ham đọc
sách và có tiền thừa mua sách. Như vậy mà nếu có những báo thiệt tốt, sách thiệt
hay cho mà đọc thì ích lợi biết bao nhiêu. Chẳng bù với dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ,
trăm người chưa được một người đọc thông chữ quốc ngữ, mười người đọc thông chữ
quốc ngữ chưa được một người thích xem văn quốc ngữ, lại thêm dân nghèo, bỏ ra
mấy đồng bạc mua báo một năm đã lấy làm một món tiền nặng; đến những bậc sĩ phu
thì phần nhiều những quẩn quanh trong vòng danh lợi mà sao nhãng những việc văn
chương; nghề làm báo làm sách thật không được đủ điều tiện lợi như Nam Kỳ. Cho
nên khá tiếc thay cho những bậc trí thức trong Lục châu không biết khéo lợi dụng
cái cơ hội tốt ấy mà đặt để ra những sách vở hay có ích cho phong hóa, nỡ để
cho cái lòng ham đọc sách, ham mua sách của người dân ấy ngập vào những sách vở
hoặc vô vị, hoặc tầm bậy không ra gì, thật uổng quá.
Nay
nhân nói về nghề làm báo làm sách, nên xét qua cái tình trạng văn quốc ngữ ở
Nam Kỳ thế nào. Chữ quốc ngữ thì đã thông dụng lắm rồi, đàn bà con trẻ thường
biết đọc biết viết cả, nhưng đến văn quốc ngữ thì xem ra chưa được phát đạt lắm.
Trừ mấy nhà văn sĩ có tiếng, còn thì cái trình độ quốc văn đại để hãy còn kém.
Sự kém đó là bởi nhiều lẽ. Thứ nhất là Nam Kỳ bỏ nho học đã lâu, bao nhiêu cái
văn điển cũ đã hầu mất hết không còn. Mà văn quốc ngữ ngày nay muốn cho thành
văn chương, muốn cho phát đạt được, phi nương tựa, phi tổ thuật cái văn điển cũ
ngày xưa thì không thể nào được. Lẽ đó tưởng tầm thường ai cũng hiểu, mà thật
nhiều người chưa hiểu rõ, là vì nhiều người đặt sai cái vấn đề. Có người nói rằng
nếu quả cần phải biết chữ nho mới làm được văn quốc ngữ thì muốn làm văn quốc
ngữ tất phải học lâu năm chữ nho, tất phải trở lại những lối giáo dục hủ lậu
ngày xưa, tất phải ra công rùi mài kinh sử, nghiền ngẫm một cái “tử văn” (langue
morte) vô dụng cho đời nay, như vậy thì chẳng uổng công lắm rư? Nay ta được
nhờ nhà nước Đại Pháp dạy dỗ cho ta, mở mang cho ta con đường văn minh học thuật
mới, đã mừng thay được thoát khỏi cái áp chế của chữ tàu trong mấy nghìn năm,
có đâu ta lại mê cuồng đến nỗi lại đâm đầu vào cái chốn lao lung ấy lần nữa! Những
người nào nói thế là hiểu sai. Nước Nam ta học chữ nho đã mấy nghìn năm, bất luận
rằng cái cách học đời xưa hay hay là dở, phải hay là trái, có một điều hiển
nhiên, ai cũng phải công nhận, là chữ nho đã tiêm nhiễm vào trong tinh thần ta
sâu quá rồi, cái vết nó đã in vào trong óc ta không thể nhất đán đem mà gột rửa
đi được, đến nỗi tiếng nói của ta ngoài những tiếng nhật dụng tầm thường phải
dùng quá nửa chữ nho mới thành văn được, như vậy mà nếu bỏ hẳn chữ nho không học
thì sao cho thuộc hết tiếng nước mình được? Đã không thuộc hết tiếng nước mình
thì sao đặt cho thành văn chương được? Nhưng nói rằng cần phải biết chữ nho,
không phải rằng phải học chữ nho như lối ngày xưa đâu; không phải rằng phải học
cho làm được thơ, được phú, được văn sách kinh nghĩa như xưa đâu; không phải rằng
lại phải trở về cái lối thi cử phiền toái, khảo cứu tỉ mỉ như xưa đâu. Xưa học
chữ nho là vị chữ nho mà học chữ nho, nay học chữ nho là vị quốc văn mà học chữ
nho. Cái mục đích đã khác, cái phương pháp cũng không giống. Xưa phải rùi mài
kinh sử, từng trải Thiên kinh vạn quyển mới thi đậu được một chân đại khoa, mới
làm nổi được một nhà văn sĩ có tiếng. Nay chỉ học cho đủ sự cần dùng về quốc
văn mà thôi, chỉ học cho đủ hiểu hết một quyển Kim Vân Kiều hay một quyển Lục
Vân Tiên mà thôi, thì có khó gì? Trước trăm phần nay không được một phần. Nhưng
cái một phần ấy rất cần, không biết thời không thể nào cầm ngọn bút mà viết
thành bài văn quốc ngữ được, dẫu tài giỏi khôn khéo đến đâu cũng không làm thế
nào ra cái “hơi” văn An Nam được, vì cái “hơi” ấy là tự mấy mươi đời truyền lại
cho ta, không thể tự mình mà đặt lấy ra được. Cho nên những người nào đã quyết
không cho văn quốc ngữ là cần, đành bỏ vào cái địa vị yếu hèn, chỉ đợi ngày
tiêu diệt cho xong, thì không nói làm chi, còn ai đã có bụng thương đến tiếng
nước nhà, muốn gây dựng cho thành một nền quốc văn có thể sống được ở đời này,
thì phải noi theo lấy cái văn điển cũ của ông cha, mà cái văn điển cũ của ông
cha ấy ngoài chữ nho không kiếm đâu cho thấy được. Nay ở Nam Kỳ cái văn điển cũ
đã xa lạc đi mất rồi. Tuy cũng có mấy nhà có chí muốn ra sức mà vãn hồi lại,
nhưng cái phần phản đối với chữ nho, cái phần khảng khái một cách sai lầm, muốn
thị hùng ra tay tước hết những cái văn vẻ tốt đẹp thanh tao của mấy mươi đời
nho học đã di truyền lại cho tiếng An Nam mình, để bày trần cái khí vũ bỉ li
nôm na ra, cái phần ấy thì nhiều lắm. Những người có chí kia thể nào mà chống lại
cho nổi, thể nào mà cứu vớt lại cho toàn được. Đó là một cái nhược điểm cho hậu
vận quốc văn ở Nam Kỳ vậy. Còn một cái nhược điểm to hơn nữa, là hiện nay phàm
những bậc thượng lưu, những người có học thức, thông giỏi chữ Pháp, phần nhiều
khinh rẻ tiếng An Nam, không thèm nhìn đến, cho là một thứ chữ đê tiện để cho hạng
tầm thường dùng mà thôi. Như vậy thì quốc văn mong sao cho phát đạt được? Những
người mong cho quốc văn có thể phát đạt được là thứ nhất trông cậy ở các nhà
tân học ngày nay ra công giúp sức vào, đem cái tinh thần của văn minh học thuật
Thái Tây mà đúc vào cái khuôn văn cũ của nước nhà, khiến cho thành được một nền
văn thiết dụng với đời, không phải chịu mang cái tiếng hư văn như xưa nữa. Nếu
những nhà ấy lại khảng tảng, không để bụng sốt sắng vào, không những thế, lại
khinh bỉ nữa, thì quốc văn còn trông vào đâu mà sinh tồn, mà phát đạt được? Nếu
cái nghề quốc văn chỉ riêng để cho những ông lão hủ ngồi mà ngâm nga đẽo gọt với
nhau thì cái văn chương ấy sao cho thích hiệp với đời? Mà rồi những tay lão hủ
kia một ngày một mất lần đi, một hết dần đi, sau này ai kế nghiệp, ai giữ được
cho cái văn An Nam kia còn chút thoi thóp ở đời? Nguy vậy thay! Hai cái nhược
điểm trên kia mà không phá được thì thật khá buồn thay cho hậu vận quốc văn
mình, biết bao giờ cho ra khỏi được cái địa vị kém hèn.
Cái
tình trạng văn quốc ngữ ấy không những ở Nam Kỳ, mà ở Bắc Kỳ Trung Kỳ cũng có
cái hiểm tượng như vậy. Duy có ở Nam kỳ là cái hiểm tượng ấy trình bày ra một
cách rõ ràng hơn mà thôi. Cho nên mỗi lần nghĩ đến cái vấn đề này mà như nóng
lòng sốt ruột, không biết giải quyết ra làm sao!...
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét