2022-03-19
Một
tháng ở Nam kỳ (VI)
Phạm
Quỳnh
Bản du ký được học giả Phạm Quỳnh viết từ tháng
11 năm 1918 đến tháng 1 năm 1919.
Chương 6: Phần VI
Ngạch
quan lại trong Nam Kỳ khác hẳn ngoài ta. Về ngạch chánh trị đại khái có bốn hạng:
dưới là hạng các thầy Thông thầy Phán làm giấy ở chánh phủ trung ương và các
tòa bố (tức là tòa sứ) các tỉnh, rồi đến hạng Tri huyện, hạng Tri phủ và hạng Đốc
phủ, ba hạng ấy tuy giai cấp khác nhau mà đều là thay quyền quan chủ tỉnh (tức
là quan công sứ) cai trị một quận (circonscription ou délégation), vì
trong này không có phân biệt đường quan với thuộc quan và không có hạng quan tỉnh.
Từ hạng thông phán lên hạng tri huyện có thi, khóa thi này nghe nói khó lắm, có
người nói khó gần bằng thi quan cai trị Tây. Từ hạng tri huyện lên hạng tri phủ
đốc phủ, cứ thăng lần, không có thi nữa. Cứ lệ thi các quan chủ quận là lấy
trong hàng phủ huyện và đốc phủ, không phân biệt hạng nào, nhưng thường thì các
ông huyện mới còn phải làm phụ với quan chủ tỉnh ở sở tại, còn các ông chủ quận
thì cũng tùy quan hàm cao thấp mà lĩnh quận to hay quận nhỏ. Hiện các quan đốc
phủ thường lĩnh quận sở tại ở tỉnh lỵ. Coi đó thì biết trong Nam Kỳ này hàng
các thày làm việc với hàng các quan không có cách biệt nhau, tức là một ngạch,
trong ấy gọi là “ngạch các quan lại hành chánh an nam” (cadre des services
civils indigènes). Còn các quan lại về bên tư pháp (service judiciaire),
thì tôi không được tường lắm, nghe đâu cũng không có thể thức gì riêng.
Quan
Phủ Bảy tuy mới có hàm tri phủ mà được lĩnh quận sở tại ở ngay tỉnh lỵ Long
Xuyên; coi đó thì biết quan trên trọng dụng vậy. Ngài có tiếng là ông quan cần
cán thanh liêm. Mới đến Long Xuyên được vài ba năm mà đã khởi xướng được nhiều
việc công ích. Làm chủ hội Khuyến học Long Xuyên thì ngài mở ra báo Đại Việt tập
chí, trên kia đã nói. Tỉnh Long Xuyên là một tỉnh chuyên nông nghiệp, ngài bèn
lấy cái thế lực quan phụ mẫu mà khuyến khích người dân nên lập hội để giữ lấy lợi
quyền nhà nông và mở mang những đất trong tỉnh hiện còn bỏ hoang nhiều. Ngài đã
lập thành một hội “canh điền”, họp cổ phần để khai đất mới. Lại cổ võ lập ra một
hội “Nông nghiệp tương tế” theo như hội ở Mỹ Tho. Quốc dân ta tất ai cũng đã
nghe nói đến các hội “nông nghiệp tương tế” ở Nam Kỳ và biết rằng nếu các hội ấy
thành lập và thịnh hành được trong suốt cõi thì đồng bào ta trong Lục tỉnh có
cái thế thu phục lại được nhiều lợi quyền về nghề nông, hiện nay lọt vào tay
các Chú cả. Nhân đây nói qua về cách tổ chức và sự lợi ích của các hội “tương tế”,
để giới thiệu cho nhà nông ngoài Bắc ta cũng bắt chước mà làm như trong Nam kỳ,
nhất là lập ra các hội “nông nghiệp ngân hàng” (sociétés de crédit agricole),
ngoài ta đương cần lắm. Về cái vấn đề đó, trong Đại Việt tập chí đã có mấy bài
luận rất tường của ông Hồ Văn Trung, tức là người đã có công giúp vào việc lập
hội “tương tế” Long Xuyên nhiều lắm. Lại có bài diễn thuyết của quan Phủ Trần
Nguyên Lượng, phó chủ hội “Tương tế” ở Mỹ Tho làm ra để cổ động cho dân Nam kỳ
biết cái nghĩa hợp quần về đường nông nghiệp. Bài diễn thuyết ấy nói tường tất
và hay lắm, hội Mỹ Tho đã in thành sách, dám khuyên những người lưu ý về việc
đó nên đọc cho hiểu rõ. Nay tôi tóm tắt những điều đại lược về các hội “tương tế”
và phụ thêm những sự kiến văn trong khi du lịch.
Xứ
Nam kỳ là xứ sống về nghề nông mà giàu về nghề nông. Vậy nghề nông ở đây thật
là nghề căn bản, thật là cái nguồn lợi to nhất trong bản xứ. Cái nguồn lợi ấy nếu
thu hoạch được hết thì người dân còn giàu có biết bao nhiêu. Nhưng xét ra trong
nông nghiệp xứ Nam kỳ có cái hiểm tượng càng ngày càng to, không phá được thì
cái nguồn lợi kia không mấy nỗi mà về tay người ngoài mất cả. Cái hiểm tượng ấy
như sau này. Người dân bản xứ chỉ biết làm ruộng lấy thóc mà thôi. Thóc ấy ăn
không tài nào hết, phải làm ra gạo mà bán cho ngoài: dân cũng chỉ mong có bán
được nhiều mới có nhiều tiền tiêu. Nhưng cái công xay thóc bán gạo ấy không bởi
người mình mà ở cả tay Khách trú. Người mình dẫu giàu đến đâu cũng không có thể
nào mà đặt nhà máy lớn xay hàng ngàn tấn thóc một ngày được; lại dù giỏi đến
đâu cũng chưa thuộc cách buôn bán với nước ngoài bằng người Khách. Vậy thì về
hai đường đó hiện chưa thể thoát li người Khách được; thành ra người mình chỉ
biết cầy sâu cuốc bẫm mà làm ra cho nhiều thóc, đến khi hoạch lợi thì người
ngoài nó chia cho bao nhiêu là được bấy nhiêu mà thôi. Người Khách thừa thế tha
hồ mà ép buộc bọn nhà nông; nhân người mình không hiểu cái tình hình trong thị
trường thế giới thế nào, chúng nó tự đặt giá mà mua thóc của người nhà quê, thường
bắt bí mua rẻ, mình không bán cho nó cũng không bán cho ai được, thành ra bán mất
bán lỗ chỉ những thiệt thòi. Đất của mình, công mình cầy cấy, mà bọn Khách trú
làm chủ nhân ông ngồi hưởng lợi. Người Khách vốn hiểu nghĩa hợp quần, có chí
đoàn thể, họp nhau thành mấy hội vốn cực to, thế cực lớn, vừa đặt nhà máy xay,
vừa thuê tàu bể chở, nghiễm nhiên lũng đoạn cả cái quyền buôn thóc bán gạo
trong Lục châu. Nó liên hợp mạnh như vậy, mình đơn độc từng người địch làm sao
cho nổi. Đã bao giờ đến giờ vẫn như vậy. Gần đây người mình mới tỉnh ngộ, biết
mỗi năm của trong nước lọt vào tay người ngoài không biết bao nhiêu ức triệu.
Những người tri thức lấy làm sốt ruột, muốn tìm phương lập kế mà vãn hồi lại.
Năm 1912, nhờ có ông quan chủ tỉnh giỏi (tức là quan Maspero, hiện nay làm quyền
Thống đốc Nam kỳ, hồi bấy giờ làm công sứ tỉnh Mỹ Tho), các nhà điền chủ lớn ở
tỉnh Mỹ Tho họp nhau lại thành hội để gìn giữ cho lợi quyền nhà nông; hội ấy đặt
tên là “Nông nghiệp tương tế hội”, lập theo cách thức các hội nông nghiệp bên
Tây mà châm chước tuỳ tình hình bản xứ. Đó là hội “tương tế” đặt ra trước nhất ở
Nam kỳ vậy. Điều lệ của Hội dựng ra, rồi sau các hội khác bắt chước cả. Mục
đích Hội là trước họp các điền chủ trong mỗi tỉnh, rồi sau họp cả các tỉnh làm
một hội cực lớn để đối lại với bọn Khách buôn gạo, tìm cách đặt lấy nhà máy, định
lấy giá gạo và bán thẳng cho ngoài, không phải qua tay bọn đó. Cái chương trình
ấy to rộng quá, không thể thực hành ngay được một lúc; vậy hẵng bắt đầu lập hội
“tương tế” trong từng tỉnh một, thí nghiệm xem cách hành động thế nào, rồi bao
giờ tỉnh nào cũng có bấy giờ mới nghĩ liên hợp cả làm một cái tổng cục lớn. Hiện
nay thì cái mục đích riêng cho mỗi tỉnh là thứ nhất xây lẫm ở tỉnh lỵ và ở các
địa phương để mùa đến các người chủ ruộng đem thóc gởi vào đấy, Hội phân giống
tốt giống xấu rồi để đợi xét cái tình hình trong thị trường mà định giá bán,
bao giờ có được giá mới chịu bán, các chủ ruộng không đến nỗi phải theo cái giá
vô bằng của bọn Khách mà bán đổ bán tháo cho thiệt hại; thứ nhì là triệu cổ phần
góp lấy tư bản để làm cái vốn cho vay các nhà chủ ruộng có thóc gởi Hội hay là
có ruộng đợ cho Hội, nhân đó lập lấy cái “nông nghiệp ngân hàng” (crédit
agricole), để cứu bọn nhà nông khỏi một cái hiểm tượng nữa cũng nguy cấp bằng
cái trên. Cái hiểm tượng ấy là cái hiểm tượng bọn Chà và (Tây đen) cho vay,
trong Nam kỳ gọi là bọn “xả tri” (tức ngoài ta gọi là “xét ty” = chetty).
Bọn Chà cho vay này cũng hại cho người dân bằng bọn “Chệt” buôn gạo kia, khiến
cho có người đã nói rằng: “Dân Nam kỳ có hai cái họa lớn: là cái họa Chệt và
cái họa Chà”. Dân làm ruộng thì ở đâu cũng vậy, suốt năm chỉ trông vào mùa gặt
mà tiêu dùng cả năm. Ngộ gặp năm mất mùa, hay là giữa năm túng tiền tiêu thì biết
hỏi vào đâu? Tất phải đến khất vay bọn “xả-tri”, bọn đó bắt lãi rất nặng, đã
túng thì thế nào chẳng phải vay. Đến hạn trả được thì chớ, không trả được thì
lãi phụ vào gốc thành món nợ mới, mỗi ngày lại một nặng lên. Nhiều người cùng
không trả được bị tịch ký mất cả ruộng đất, lắm khi đến thất nghiệp, cùng vô sở
xuất. Ấy cái “họa Chà” ghê như vậy, chẳng kém gì cái “họa Chệt” trên kia, một
cái hại riêng từng người, một cái hại chung cả xứ, hai cái cùng độc bằng nhau.
Muốn đối với cái “họa Chệt” thì phải đặt nhiều hội “nông nghiệp tương tế” mà giữ
lấy cái quyền xay thóc bán gạo; muốn đối với cái “họa Chà” thì phải đặt nhiều
những nhà “nông nghiệp ngân hàng” để có tiền mà cho vay nhẹ lãi cho những người
làm ruộng túng bấn khỏi phải đặt mình vào móng “con diều hâu đen” (le
vautour noir = tức là chỉ bọn Tây đen cho vay). Nhà “nông nghiệp ngân hàng”
lại có một sự ích lợi to nữa: là khi nào tiền vốn đã to và thế lực đã lớn đủ
làm đảm bảo, có thể đứng lên vay các nhà “băng” những khoản tiền to để cho vay
lại các tay điền chủ lớn cho có đủ vốn mà khai khẩn thêm các ruộng đất mới,
giúp cho nông nghiệp trong bản xứ được phát đạt.
Ấy
đại khái cái tôn chỉ của các hội “tương tế” trong Nam kỳ như vậy. Cái phong
trào hợp quần khởi lên tự tỉnh Mỹ Tho, rồi các tỉnh khác cũng kế tiếp theo sau.
Hiện nay thì mấy tỉnh làm ruộng to hoặc đã lập thành hội rồi, hoặc lục tục
đương sắp lập. Hiện tỉnh Châu Đốc, Cần Thơ, Long Xuyên đã lập xong rồi. Ta rất
mong rằng trong suốt địa hạt Nam kỳ đâu đâu cũng dựng lên những hội nông như vậy.
Rồi có một ngày kia sẽ liên hợp lại thành một tổng cục lớn, thế lực gồm cả toàn
hạt, bấy giờ đồng bào ta trong Lục tỉnh sẽ có thể ra tay mà thu phục lại những
lợi quyền trong tay bọn Chệt bọn Chà, cái “họa Chà họa Chệt” từ đấy mới có thể
tiệt được vậy. Ta rất mong mỏi lắm, xin đồng bào ta đã đi vào con đường tốt nên
cố mà tiến mãi lên, thật là may lắm, may lắm.
Ở
chơi Long Xuyên mấy ngày, bữa thì đến xem các ông cùng các thày đánh bóng (tennis)
trong vườn tòa Bố; bữa thì lại ăn cơm ở nhà thày cai tổng gần đấy, nhà lịch sự
lắm, cũng là một tay giàu có trong hàng tỉnh; bữa thì đi coi hát. Bữa ấy quan
Phủ rủ đi, nói rằng có bọn con hát hay lắm mới qua Long Xuyên, tối hôm ấy hát
tuồng Ô thước. Tôi đã phải thú thật với ngài rằng tôi thật “phàm” lắm, đến nghề
diễn kịch ta thì mang nhiên không hiểu gì và không biết thưởng giám gì cả. Quả
khi đến coi tuồng thì cử tọa đều nức nở khen con hát giỏi, mà duy một mình
không giải được cái hay ở đâu. Kỳ thay! Xét kỹ ra thì là bởi mình lấy cái quan
niệm về nghề diễn kịch tây mà xét nghề diễn kịch ta, cho nên sai lạc cả. Diễn kịch
ta không phải là “diễn kịch” (art dramatique) theo nghĩa tây. Diễn kịch
ta chỉ là múa và hát mà thôi, người xem cũng chỉ chủ coi cái dáng múa, nghe cái
điệu hát mà thôi, không ai chú ý đến cái “kịch” (action dramatique) là
cái phần hành động trong bài tuồng. Đến như tuồng tây thì thuần là “kịch” cả,
hoặc “bi kịch” là diễn những việc bi ai cảm động, hoặc “hí kịch” là diễn những
sự hài hí buồn cười, hoặc “bi hí kịch” là nửa bi và nửa hí, vui có buồn có; còn
như nghề hát, nghề múa lại là hai nghề riêng, không lẫn với nghề diễn kịch. Cho
nên khi xem tuồng tây thì cái tinh thần chú cả vào sự hành động trong bài tuồng,
không ai chủ nhìn dáng điệu hay là nghe giọng hát của người làm tuồng, chỉ nhận
cái cách người làm tuồng diễn cái việc trong bài tuồng đó có được hệt, có được
xứng đáng không, có khéo hình dung được các tình cảnh và phô bày được cái thâm
ý của nhà soạn kịch không. Khi xem tuồng ta thì thật khác, phần nhiều chỉ chủ
nghe giọng ca điệu hát của bọn con hát mà thôi; cho nên người mình đi xem tuồng
thường hay nói đi “xem hát”. Xem hát, hai tiếng thật không đúng quá, hát thì
xem làm sao được, nhưng xét đó cũng đủ biết rằng ta thường lẫn tuồng với hát, lấy
hát trọng hơn tuồng, đến nỗi hát lấn mất cả tuồng mà đi xem tuồng gọi là đi
“xem hát”! Ôi! Cái tư tưởng hàm hồ của người nước Nam, nó phát hiện cả ra lời
ăn tiếng nói; bao giờ phá tan được cái màn sương mờ ám nó bao bọc cái trí não
người mình? Nay muốn cho nghề diễn kịch nước ta phát đạt được thì phải quyết
chí cải cách mới xong, thứ nhất phải phân biệt chốn kịch trường với nhà ca quán
và nơi võ đài, cho nghề tuồng, nghề hát, nghề múa, mỗi nghề đứng riêng một cõi,
nghề nào giữ cho thuần cái tôn chỉ, cái tinh thần của nghề ấy, không lẫn lộn với
nhau, thì mỗi nghề mới phát đạt đến cực điểm được. Nghề hát, nghề múa hẵng
không nói làm gì, nay thử xét cái tôn chỉ của nghề tuồng thì đủ biết lối tuồng ở
nước ta vì hỗn tạp với hai lối kia mà chưa thành tính cách gì, vẫn còn khuyết
hám nhiều lắm. Cái tôn chỉ của sự diễn kịch là thế nào? Thế nào gọi là kịch? Kịch
là một cái việc mạnh hơn việc thường trong đời người ta, hoặc là cái kết quả của
cả một cuộc đời chung đúc lại một lúc, hoặc là sự ngẫu hợp của hai việc trái
ngược nhau bỗng xung đột nhau trong giây phút mà sinh ra cái tình trạng hoặc
đáng vui, hoặc đáng buồn, hoặc ghê, hoặc thảm; nói rút lại là việc phi thường ở
trong việc thường mà ra, là cái tia điện sáng bật ra giữa lúc âm dương điện gặp
nhau, cái tia sáng ấy vẫn là điện mà phải có sự xung đột mới nẩy ra được. Đời
người ta cũng có thể ví như cái điện lúc bình thường, khi nào có hai luồng trái
nhau chợt đến xung đột thì mới nẩy ra tia sáng, tia sáng ấy tức gọi là cái việc
phi thường trong việc thường mà ra, tức gọi là một cái “kịch” vậy. Diễn kịch là
lấy những lúc có cái việc phi thường trong một đời người ấy mà diễn tả ra, vụ lấy
hiển nhiên như lúc việc đương hành động vậy. Nói phi thường không phải là việc
hoang đường quái đản gì đâu; phi thường là sánh với việc thường mà nói, có việc
phi thường thì mới thành “kịch” được, đời người trong lúc bình thường thì đời
tôi đây với đời bác láng giềng kia có khác gì nhau mà thành chuyện. Cô Kiều nếu
không gặp gia biến thì sao thành truyện Kiều? Sự gia biến đó tức là sự phi thường,
tức là một cái “kịch” vậy. Nhà soạn “kịch” khéo phải diễn thế nào cho cái kịch ấy
xuất hiện ra hiển nhiên như thực, hình như chung đúc cả sự sinh hoạt một đời
vào trong một lúc đó, khiến cho cái “kịch” ấy nên được kịch liệt, mà người xem
phải cảm động. Sự cảm động tức là cái hiệu quả của nghề diễn kịch: bài kịch mà
cảm động được người ta nhiều ấy là bài kịch hay. Vì người ta lúc bình thường mấy
khi gặp những sự phi thường, có người cả đời không có chuyện gì đáng kỷ niệm; vậy
đến nơi kịch trường là muốn cho cái tấm lòng mình phải kích thích, phải lay
chuyển, phải cảm động ra một cách khác thường. Cho nên nhà diễn kịch phải diễn
cái việc gì tuy kịch liệt khác thường mà cũng là ở trong lẽ thường, khiến cho
người coi có thể tưởng tượng rằng việc ấy cũng có ngày xẩy vào mình được, lắm
khi nhà diễn kịch khéo thì người xem mê đến nỗi tự coi mình như người hành động
trong truyện, như thế thì sự cảm động lại càng sâu và mạnh lắm. Diễn kịch mà đến
được bậc ấy là tuyệt khéo vậy. Nay sánh với nghề diễn kịch ta, còn xa cách biết
bao nhiêu! Trong tuồng ta, trừ phần múa phần hát ra, còn thật tuồng thì có gì?
Thường thường là một cái việc cũ trong lịch sử dàn diễn ra cho dài, pha thêm những
chuyện yêu quái hoang đường thậm là vô vị, khiến cho không biết cái phần cốt yếu
là cái “kịch” ở đâu. Không phải rằng những chuyện cũ không đủ tài liệu mà làm
thành “kịch”, nhưng người mình không biết tiêu biểu diễn xuất cái “kịch” ấy ra,
bỏ những phần vô ích mà chỉ hình dung lấy sự hành động mà thôi, thành ra chuyện
vô vị, không phiền tạp thì nhạt nhẽo, còn đủ khiến cho người ta cảm động sao được?
Rút lại chỉ có mấy câu ca, mấy câu hát, mấy tiếng thét, mấy tiếng hò, mấy cái dáng
điệu quay cuồng uốn éo, đỏ gọng dương vây; còn có cái phong thú gì mà khiến cho
người phong nhã say mê, kẻ tài tình cảm động? Than ôi! Diễn kịch thật là một
cách giáo dục quốc dân không gì mạnh bằng; tiếc thay người mình xưa nay không
biết lợi dụng cho phải đường, để biến thành một nghề đê tiện, làm cái kế sinh
nhai của bọn phường chèo con hát!
Nay
trong Nam ngoài Bắc đã nhiều người có chí muốn ra công cải cách lại nghề diễn kịch
cũ, nhưng chưa thấy xuất hiện được bản kịch nào xuất sắc, mà cũng chưa có phường
tuồng đủ tư cách mà diễn cho xứng đáng. Trước tôi có nói ông Điệp Văn Kỳ là con
quan Điệp Văn Cương cũng là một tay sành về nghề diễn kịch ở Nam kỳ. Ông đã soạn
được mấy bài có đọc tôi nghe hay lắm, nhưng tiếc chưa in thành vở. Chủ ý ông là
muốn lợi dụng các lề lối cũ mà châm chước theo phương phép mới, nghĩa là đặt
bài tuồng mới mà theo giọng cũ, cho con hát có thể diễn được ngay. Mong rằng
ông sẽ chuyên về nghề đó, chắc là trong kịch giới nước ta sẽ nẩy ra một cái tia
sáng vậy.
Chính
quan Phủ Bảy ở đây cũng đã từng soạn nhiều bài tuồng mới, có một bài đã in
thành vở đề là Vị nước quên nhà ngài soạn chung với ông Hồ Văn Trung và đã đem
ra diễn mấy lần ở Long Xuyên và Sài Gòn để giúp việc lạc quyên cho Hội Hồng thập
tự. Bài ấy đặt theo thuần lối mới, khi diễn toàn là các ông và các thày đóng
vai cả, không phải con hát nghề. Truyện là truyện một thày làm việc Nhà nước
tình nguyện sang tùng chinh bên Đại Pháp, vì nước mà quên nhà, bỏ mẹ già cho vợ
trẻ, đến khi trở về tuy thành công danh mà mẹ chẳng may đã chết mất. Cách kết cấu
đã khéo và hệt như lối tuồng tây.
Trước
khi từ biệt các bạn Long Xuyên, nhân bữa chủ nhật, Phủ Đài dắt đi chơi Cần Thơ.
Tự Long Xuyên ra Cần Thơ ước 60 cây lô mét, đi bằng xe hơi. Phải cái xe hơi chạy
khí chậm, nên đi mất từ sáng đến ngót trưa mới tới nơi, nhưng chậm cũng vì đỗ ở
Ô Môn mất non một giờ đồng hồ. Ô Môn là một quận lớn, giàu có nhất trong hạt Cần
Thơ, ở vào giữa khoảng đường từ Long Xuyên đến Cần Thơ. Cai trị quận Ô Môn là
quan Đốc phủ Nguyễn Đăng Khoa, người đã có tuổi mà tính vui vẻ lắm. Khi trở về
ngài có giữ ăn cơm chiều, nói chuyện khoái trá lắm. Ngài khi xưa có đi theo
quân thứ ở mấy tỉnh Bắc kỳ và qua khắp cả các tỉnh Trung kỳ, có tài săn bắn ít
người bằng. Hiện chỗ ngài ngồi chơi còn bày la liệt các thứ súng. Ngài chỉ một
cái súng lớn mà nói rằng: “Cái súng này tôi đã từng bắn được mấy chục con hổ ở
vùng Bình Thuận, Phú Yên đây”. Rồi ngài kể chuyện một bữa bắn được con hổ to lớn
lạ thường, khi nó vươn mình ra từ đầu đến cuối đuôi có tới sáu thước tây, nó
làm kinh hoảng cả một vùng đó, ăn hại không biết bao nhiêu người và súc vật,
người dân đã cho là hổ thần, đành chịu không ai bắn nổi. Nhà săn bắn tài thấy
những miếng nguy hiểm hay liều mình. Ngài bèn cùng mấy người đầy tớ giỏi, đem
chiếc súng lớn vào rừng. Quả gặp hổ thần thật. Ngài bắn luôn mấy phát trúng,
ngã sóng sượt ra, người nhà tưởng chết thẳng rồi, có một anh đánh bạo chạy lại
gần; té ra hổ ta còn ngắc ngoải, vươn tay ra nắm lấy gáy anh chàng! Quan đốc phủ
nhanh mắt và nhanh tay sao, bắn liền ngay một phát vào giữa đầu hổ chết cứng.
May sao là may, nếu chậm một giây phút thì anh đầy tớ kia đi đời. Khi khiêng về
hồn vía đâu mất cả, nhưng phúc đức, khỏi chết. Quan Đốc phủ nói chuyện vui quá,
muốn ngồi nghe mãi không chán.
Con
đường tự Long Xuyên đến Cần Thơ tốt lắm, giữa đổ đá, hai bên trồng cây, cái xe
bon bon chạy giữa, coi phong cảnh rất là ngoạn mục. Vả đại để đường lộ trong
Nam kỳ này ở đâu cũng tốt như vậy: chẳng bù với đường Bắc kỳ, thứ nhất là đường
Trung kỳ, xe hơi chạy có chỗ tưởng bổng lên đến ngọn núi, có chỗ tưởng xô xuống
tận vực sâu!
Cần
Thơ có cái vẻ mĩ miều xinh xắn, sạch sẽ phong quang, thật xứng tên làm tỉnh đầu
về miền Tây (la capitale de l'Ouest). Đường phố thênh thang, cửa nhà san
sát, các nhà buôn Tây cũng nhiều hơn các tỉnh khác, có chỗ coi xinh đẹp hơn ở
Sài Gòn. Tới Cần Thơ vào thăm ông huyện Võ Văn Thơm, chủ bút “An hà nhật báo”.
Ông người đã đứng tuổi, tính trầm mặc, chuyên trị về kinh tế học. Ông không
thích chữ nho, giữ cái thuyết muốn lấy chữ Pháp làm quốc văn. Ông kể cái lẽ sở
dĩ làm sao ông không ưa hán tự thì nói rằng thủa nhỏ đã từng học năm năm mà chẳng
thấy tấn tới gì, ông kết rằng chữ nho quyết không phải là cái lợi khí cho sự học
vấn. Tôi nói rằng đó có lẽ là bởi cái phép dạy học sai lầm, chớ không phải lỗi
tại chữ nho, ngày nay có cách học giản dị, chỉ một vài năm là thông thông. Xem
ra ông không lấy làm tin lắm, nhưng sau bàn đến mấy chữ tây phải dịch ra tiếng
ta thế nào, tìm mãi không được, lại phải tra trong sách Pháp Hoa tự điển mới
xong, thì coi chừng ông cũng rõ rằng tiếng ta bỏ chữ nho không được. Nhưng chủ
nghĩa ông là muốn lấy tiếng Pháp làm quốc văn thì không kể chữ nho mà đến tiếng
ta nữa rồi có cần chi! Nghĩ cũng tiện thật!... Bấy giờ ông đương bận cất một
nhà trường Trung học riêng cho con trai con gái ở Cần Thơ, bao nhiêu kinh phí
ông chịu cả, lại sửa soạn đón thày tây và đầm về dạy; trường sẽ có đặt nhà ký
túc (pensionnat). Ông đặt tên trường là Collège Võ Văn, không biết nay
đã khánh thành chưa.
Ông
giữ ăn cơm, chừng hai ba giờ đi dạo chơi các phố, vào thăm nhà in và nhà bán
sách của báo An Hà. Ở Cần Thơ mới mở một cửa hàng lớn đề là Galerie de
l'Ouest, của người Tây người Nam chung vốn lập ra, bán đủ các thức hàng hóa
vừa tây vừa ta: cửa hàng này có cơ phát đạt to. Chợt đi qua nhà chụp ảnh, quan
Phủ rủ vào chụp cái ảnh ba người, ngài, ông Cư và tôi, để lưu làm kỷ niệm. Năm
giờ chiều lên xe đi về, tới Ô Môn quan đốc phủ Khoa giữ ăn cơm tối, mãi đến quá
chín giờ mới lại lên xe về Long Xuyên. Trời sáng trăng, xe chạy không nhanh lắm,
gió thổi không lộng mà mát, ngồi trong xe vừa ngắm cảnh bóng trăng chiếu xuống
cây cỏ đồng điền, vừa chuyện trò vui vẻ, thật không cảnh gì thú bằng. Quan Phủ
nói: “Mai ông sắp biệt chúng tôi, tôi mong rằng ông sẽ mang được cái kỷ niệm tốt
ở chốn Long Xuyên cô lậu này. Tôi ước ao rằng cái cảm tình kẻ Bắc người Nam từ
nay trở đi sẽ được mỗi ngày một thân mật thêm ra. Nay ông đã biết chúng tôi,
ông nên cổ động cho cái dây liên lạc nó nối người dân một giống một nòi, một
quê hương, một tiên tổ, ngày được bền chặt thêm lên. Tôi lại sở nguyện một điều:
là ước gì các hội “khuyến học” liên hợp với nhau mà đặt cách thế nào cho mỗi
năm ngoài Bắc phái một vài người vào du lịch trong này như ông bây giờ, trong
Nam cũng phái một vài người ra du lịch ngoài Bắc, đi khắp các nơi cho rõ nhân
tình phong tục, vì có biết nhau thì mới thương yêu nhau được. Tôi rất mong mỏi
lắm!" - Ôi! Lời nói trân trọng thay! Nghe mà biết được người dạ cả trí
cao, có cái bụng nhiệt thành với nước. Về phần tôi, tôi xin hết sức vun trồng
cho cái tình thân ái kẻ Bắc người Nam ngày một đặm đà thâm thiết hơn lên. Người
trong một nước có thương yêu nhau, bỏ cái lòng hiềm kỵ riêng mà đồng tâm hiệp lực
mưu việc lợi ích chung, thì nước mới giàu dân mới mạnh được.
Nhưng
đương lúc còn chưa quen biết, chưa am hiểu nhau lắm, được những người như quan
Phủ Bẩy chủ trương mà liên lạc cái cảm tình người hai xứ, thì thật là một sự
may mắn lắm. Nam kỳ được nhiều người như ngài, thì thiết tưởng cái cảm tình kia
không phải ai cổ động mà tự khắc nẩy ra vậy. Tôi được biết ngài thật là một sự
danh dự, một sự hân hạnh vô cùng. Không bao giờ tôi quên mấy ngày qua ở cùng
ngài và các bạn Long Xuyên.
Sáng
sớm hôm sau tôi xuống tàu đi Sa Đéc. Đi Sa Đéc là đi xuôi giở xuống, tự Long
Xuyên đi 6 giờ sáng, ước 9 giờ tới nơi. Quan Phủ có đánh dây thép giới thiệu
cho ông Đặng Thúc Liên là một nhà văn sĩ có tiếng và một tay trợ bút có công của
báo Đại Việt. Không may bữa đó ông Đặng lại về vườn vắng, nên tôi lại thăm
không được gặp, lấy làm tiếc lắm. Bữa sau tới Vĩnh Long tiếp được điện ông,
phàn nàn về sự nhật nhau và tỏ lòng yêu mến, lại càng khiến cho mình thêm tiếc
không được cùng một người đồng chí bàn bạc chuyện trò. Song tuy chưa gặp người
mà đã biết tiếng, thường đọc văn ông, biết ông là một nhà nho học súc tích, lại
được biết cái cảm tình ông đối với mình, nên trong lòng vẫn ham mộ lắm lắm.
Vào
trọ ở nhà “bun ga lâu” (bungalow, tức là nhà khách sạn), để đồ hành lí,
rồi đi dạo chơi phố phường. Các tỉnh Nam kỳ có cái rất tiện cho những khách lữ
hành qua lại: là tỉnh nào cũng có một nhà khách sạn sắp đặt theo lối tây, có buồng
ngủ sạch sẽ, cơm ăn chỉnh đốn, thường là người Tây lĩnh chưng mà quan cai trị
chủ tình giám đốc, khách lạ mới đến vào trọ đấy vừa tiện và vừa chắc chắn không
quan ngại gì, hơn là vào các hàng cơm khách cơm ta. Ngoài Bắc kỳ ta, ngoài Hà Nội,
Hải Phòng, Nam Định, còn các tỉnh tuyệt nhiên không có những nhà khách sạn như
vậy, thật là tối bất tiện cho những hành khách vào bậc tử tế, hoặc có công việc
gì, hoặc đi chơi mà tới nơi không quen biết ai trong tỉnh. Ở Trung kỳ thì cũng
có vài ba tỉnh ở gần đường quan lộ xe hơi thường qua lại, gần đây mới đặt những
nhà gọi là “nhà hành khách” (maison des passagers), như ở Đồng Hới (Quảng
Bình), nhưng những nhà ấy không những chỉ để riêng cho người Tây ngủ trọ đêm,
mà chưa gọi là nhà khách sạn được, thường chỉ có một vài buồng nhỏ và cơm ăn
không có. Muốn cho sự giao thông trong xứ được tiện lợi, hành khách đi lại khỏi
phiền nhiễu, nhân đó sự buôn bán trong nước mới lưu thông và phát đạt được, thì
mỗi tỉnh Trung kỳ và Bắc kỳ ít ra cũng phải đặt một nhà khách sạn có quan kiểm
đốc như trong Nam kỳ mới được. Duy có các nhà “bun ga lâu” ở Nam kỳ tính tiền
ăn tiền trọ đắt quá, ăn hai bữa cơm, ngủ một đêm, lấy tới năm đồng bạc, nên
khách không được đông lắm. Muốn cho thật tiện lợi và được nhiều khách qua lại
thì phải đặt giá rẻ lắm mới được. Nhưng trong Nam kỳ này sự ăn dùng vốn đắt đỏ
và đường tiêu xài thường phí phao lắm, gắp mấy lần ngoài ta.
Tỉnh
Sa Đéc ở chạy dài hai bên bờ sông, coi phồn thịnh đông đúc lắm. Nhưng phố xá
buôn bán cũng chỉ thuần là người Khách, không có một nhà An Nam nào. Vả không một
ở Sa Đéc, tỉnh nào cũng vậy, nơi chợ phố toàn thị là Khách với Chà; lại không
những các tỉnh thành, đến chốn nhà quê, có ý nhận phàm nơi nào coi ra hơi có
người ở đông đúc, tất có một vài tiệm Chệt bán đồ ăn và đồ tạp hóa, lại có khi
có một bác Chà bán vải kiêm làm đại biểu cho bọn “Xả tri” ở tỉnh hay ở quận.
Coi đó thì biết cái “họa Chệt họa Chà” thâm là dường nào, tới đâu cũng thấy
trình bày ra trước mắt như một sự nguy hiểm rất cần cấp mà người dân Lục tỉnh
coi đã quen lấy làm thường vậy. Hiện nay bọn “Chệt” và bọn “Chà” đã chăng lưới
khắp đất Nam kỳ, dù nơi cùng tịch đến đâu cũng không lọt ra ngoài vòng bọn đó.
Người mình làm thế nào mà cắt cho đứt được cái lưới trăm nghìn vạn dây chắc như
dây sắt, bền như chão thừng vậy? Ác thay là mình ở trong lưới đó đã quen đi rồi,
không muốn thoát li ra ngoài nữa! Cái nô lệ nào mà đã vào trong căn tính thì
còn lay làm sao cho chuyển, bạt làm sao cho được? Than thay!
Ở
Sa Đéc này thì thật nhiều Khách quá, một dẫy phố dài rặt các Chú bán hàng. Coi
cũng vui mắt, nhưng không được vui lòng, vì bởi nghĩ đến sự nguy hiểm mà lòng
không yên. Trong các phố ta thì thường trông thấy những nếp nhà nho nhỏ xinh
xinh, có thềm mà không có lầu, nửa kiểu tây, nửa kiểu tàu, tĩnh mịch êm đềm,
coi có cái vẻ phong thú lắm: chắc là nhà của quan phủ huyện, của thày cai tổng,
của cụ điền chủ hay của ông “hội đồng” nào. Nhìn cái dáng nhà đủ biết người
trong nhà là những bậc an nhàn vô sự, phú quí phong lưu. Những nếp nhà xinh
xinh đó, tức là một cái đặc sắc của các tỉnh Nam kỳ vậy.
Ở
Sa Đéc có một ngày một đêm, rồi đi đường bộ xuống Vĩnh Long. Sa Đéc cách Vĩnh
Long ước chừng 20 cây lô mét, đi xe hơi mất chừng một giờ. Quan Phủ Bảy lại có
điện giới thiệu cho quan Đốc phủ Tươi ở Vĩnh Long. Tới nơi vào thăm quan Đốc phủ,
ngài đi thanh tra vắng đến quá trưa mới về, phu nhân tiếp, người phong nhã mà lịch
thiệp lắm. Phu nhân giữ nghỉ chơi, đợi quan đốc phủ về. Nhân nói chuyện về báo
giới mới biết phu nhân cũng là người có kiến thức lắm. Ngài phàn nàn rằng: “Các
nhà báo trong này hay có thói khích bác người ta lắm, thường vị việc riêng nay
châm chọc người này, mai chỉ trích người kia. Thiết tưởng làm báo như vậy là
sai cái nhiệm vụ nhà báo. Nhà báo phải trọng việc công hơn việc tư, lời bàn phải
chánh đáng thì mới đủ làm mực thước cho người, nếu chỉ lấy giọng trào phúng làm
hay thì còn có bổ ích gì?” Lời phê phán thật là xác đáng vậy. Phu nhân lại chăm
việc lễ bái, hay tu bổ các đền chùa. Hiện ngài đương hưng công dựng một cái miếu
Công thần ở gần tỉnh, miếu thờ một vị công thần đời Lê, không rõ danh hiệu là
gì, đằng sau phối hưởng những cai đội binh lính người hàng tỉnh đi tùng chinh
bên Đại Pháp chẳng may bị tử trận. Miếu cất đã xong, trong vài ba bữa nữa sắp
làm lễ khánh thành, phu nhân cố giữ ở lại xem, nhưng đi chơi đã lâu quá, phải
kíp về Sài Gòn để sửa soạn ra Bắc, nên không thể ở lại cho đến ngày làm lễ được.
Phu nhân sai người đưa đi xem miếu và xem các đình chùa trong tỉnh. Tỉnh Vĩnh
Long này là một tỉnh cũ, nên sánh với các tỉnh khác còn có một vài nơi cổ tích.
Cái khí vị trong tỉnh thành cũng ra cái khí vị cũ, hơi giống như các tỉnh ngoài
ta. Đi ra ngoài tỉnh một ít, người ta còn chỉ cái nền thành Vĩnh Long cũ. Tôi
có thăm miếu thờ quan Phan Thanh Giản, ngài là người tỉnh này; trong miếu có bức
tranh họa hình ngài theo một tấm ảnh ngài chụp cùng với bộ sứ hồi sang sứ bên
Paris. Đứng trong miếu, trước hình ảnh ngài mà lại hồi tưởng đến lịch sử quan
Phan, ngậm ngùi than thay cho cái tâm sự bồi hồi của một vị đại thần gặp giữa
lúc bước nước gian nan. Tỉnh Vĩnh Long lại có một cái Văn Miếu, qui mô cũng phỏng
theo các nơi văn miếu ngoài ta mà cách sắp đặt sơ sài lắm: ở gian giữa không có
bài vị đức Thánh sư, chỉ treo có một cái tranh hình ông Khổng râu xồm tóc bới của
các hiệu Khách thường bán! Than ôi! Phu tử lạc loài đến đây làm gì? Ai là người
còn biết cúng tế ngài cho hợp lễ, hợp những lễ phép ngài đã đặt ra, vì sách
ngài còn mấy người đọc nữa? Trong miếu có đôi liễn khắc của cụ nguyên Hóc bộ
Cao Xuân Dục làm mùa thu năm quí mão, tôi sao được như sau này:
Cả
trong miếu còn đôi liễn đó là chút văn chương thừa! Đại để các đình chùa miếu
vũ ở đây có cái vẻ bỏ hoang cả, coi như người dân không thường tới lui lễ bái.
Nhưng rực rỡ phong quang thời là các “nhà làng”, tức là nơi hội sở của các
làng. Có lắm nhà, như “nhà làng” Long hồ ở giữa tỉnh Vĩnh Long, nguy nga như
tòa Đốc lý, nhà thị sảnh một tỉnh lớn. Trong “nhà làng” Long Hồ, ngay giữa cửa
vào có treo một cái biển lớn sơn đen thếp vàng khắc lời nghị định quan “phó
soái” Gourbell khen làng ấy đã biết tỏ hết lòng trung thành với “tân triều” Đại
Pháp. (“tân triều” là tiếng Nam kỳ, tức là Chánh phủ Pháp đối với “cựu triều”
ta) Vẻ vang thay!
Quá
trưa quan Đốc phủ mới đi việc quan về. Ngài ân cần tử tế lắm, có tiếng là ông
quan cần cán, tính tình trí thức cũng bình thường. Ngài là người yêu của quan
nguyên Toàn quyền Doumer, khi xưa đã từng theo quan làm việc ở Bắc kỳ. Nay nói
chuyện ngài vẫn thường tỏ bụng hoài mộ quan Doumer. Trong hàng Đốc phủ Nam kỳ,
duy ngài là có phẩm tước của Triều đình: đức Thành Thái có sắc ban cho ngài hàm
tổng đốc, phẩm phục huy chương đủ cả. Ngài lĩnh chức đốc phủ sứ Vĩnh Long đã mười
năm nay, không từng phải đổi đi nơi nào. Buổi chiều xong việc quan, ngài cho
đánh xe ngựa cùng đi dạo chơi trong các phố: nhìn cái cảnh tượng thành Vĩnh
Long thật có cái vẻ cũ hơn các tỉnh thành khác như Sa Đéc, Cần Thơ, rõ biết là
cái đất đã từng có chút lịch sử. Ngài đưa đến chơi một ông cụ bà con với ngài,
người đã có tuổi: cụ có nho học và đã từng đi du lịch buôn bán ngoài Bắc kỳ,
Trung kỳ nhiều, kiến văn rất rộng, nghị luận rất hay. Ngồi nói chuyện với cụ
lâu lắm, cụ nói nhiều lời xác đáng, nhiều câu dĩnh ngộ. Bàn về cái tính tình người
Bắc người Nam cụ phán đoán mấy lời rằng: “Người Bắc có khôn khéo hơn chúng tôi
thật, nhưng có cái tính duy kỷ, người nào chỉ biết phận người nấy mà thôi, đối
với người ngoài hay biến báo, không được thật thà như người trong này. Tôi đi lại
buôn bán với các ông nhiều, tôi đã từng nhận biết. Nhà này thiếu thức hàng này,
biết rằng nhà láng giềng có, nhưng không hề mách bảo cho người mua biết bao giờ.
Chúng tôi thì không thế: “chúng tôi nhẹ dạ và thật thà hơn các ông. Nhà tôi có
vườn bầu vườn bí, nhà láng giềng thiếu cứ việc sang cắt mà ăn; khi khác tôi có
cần đến trái gì trong vườn họ tôi cũng cứ việc sang mà bứt lấy, tự nhiên như vậy,
không ai quan tâm gì về sự đó. Cái bụng ”của anh của tôi” nó không có cách biệt
nhau lắm như ngoài các ông. Chúng tôi được cái tính đó hơn người Bắc". Trưởng
giả kinh lịch đã nhiều, phán đoán như vậy, tôi cũng xin vâng, không biết đáp lại
thế nào. Có lẽ người Bắc cũng có cái lòng duy kỷ mạnh hơn người Nam thật: đã
khôn khéo thì hay biến báo, đã biến báo thì biết suy hơn suy thiệt, đã suy hơn
suy thiệt lắm thì chỉ biết vị lợi mình mà cái bụng “của anh của tôi” tất thịnh
hành; bấy nhiêu cái đặc tính nó liên tiếp nhau mà làm nhân quả cho nhau vậy.
Trưa
hôm sau từ biệt quan đốc phủ cùng phu nhân và xuống tàu về Mỹ Tho. Ông bạn lại
giữ ở vài ngày nữa, rồi nghe tin sắp có chuyến tàu ra Bắc bèn vội lên Sài Gòn.
Tới Sài Gòn mới biết rõ rằng có chiếc Dumbéa sắp đi, nhưng không ghé vào Bắc kỳ.
Vậy lại phải đợi mươi hôm nữa mới có chuyến khác. Trong những ngày đợi tàu đó
nóng ruột lắm, nghĩ đến công việc bề bộn ở nhà mà chỉ vội muốn ra cho chóng. Đã
quyết định trở về thì cuộc du lịch tất một thú, lại chỉ những ngóng đợi tàu,
không còn có cái hứng muốn đi đâu nữa. Vả ở Sài Gòn đến hai ba tuần lễ thì cũng
đã chán lắm rồi; đất Sài Gòn không có cái phong thú gì, chỉ là chốn mài miệt ăn
chơi, tiêu xài lãng phí, vốn không phải là sự sở thích của mình.
Một
hôm ông Diệp Văn Kỳ lại chỗ trọ, rủ đi xe hơi lên chơi đồn điền cao su của quan
Diệp Văn Cương ở trên Biên Hòa. Lúc ra đi đã về chiều, lên đến nơi thì trời tối
cũng không xem được gì, nhưng khi đi đường được biết cái phong cảnh miền cao
nguyên ở Nam kỳ. Phong cảnh này thật là khác cái phong cảnh mấy tỉnh Tây Nam
mình vừa đi qua mới rồi. Đất đây cao và khô, toàn là đất gò đất núi cả, lắm chỗ
đường xe đi sẻ ngang vào giữa khoảng rừng cỏ bãi hoang, cảnh tượng cũng đìu hiu
tịch mịch như lắm nơi ở Trung kỳ. Vả đất này mới là đất cao nguyên, chưa phải
là đất núi: núi thì còn xa lên trên nữa, vào vùng Mọi ở. Đất này chỉ ưa trồng
cao su mà thôi. Có nhiều cái đồn điền rộng lắm, phần nhiều là của người Tây cả;
vả gần khắp tỉnh Biên Hòa toàn thị là đồn điền cao su hết, ruộng lúa thì không
có mấy và khô khan cầy cấy khó lắm. Miền Tây Nam coi ra phong đăng trù mật bao
nhiêu thì miền Đông Bắc này coi lơ thơ xơ xác bấy nhiêu. Dân nghèo, người ít, đất
rắn, cây cằn, ít những nơi đô hội lớn, thưa những chốn làng xóm to. Quan lại mà
bổ vào những châu quận đây chắc không được tốt bổng bằng miền dưới, tức cũng
như quan lại ngoài ta phải bổ lên Trung du Thượng du mà không được ở vùng Nam
Thái vậy. Nhân tình ở đâu cũng là nhân tình, mà quan trường xứ Nam kỳ chẳng
khác gì quan trường xứ Bắc. Ôi! tiếng tham nhũng ở đâu cũng đã thành cái thanh
danh riêng của bọn quan lại vậy. Tựu trung có người tốt, mà cả đoàn đã mang tiếng
với quốc dân lâu lắm vậy. Tiếng ấy, quan lại ta có mong bao giờ rửa cho sạch
không? Theo ý ông Diệp Văn Kỳ thì khó lòng mà rửa cho sạch được: ông đối với sự
hành động của bọn đó, vốn có cái ác cảm riêng, thường thổ lộ ra lời nói câu
chuyện.
Còn
phải đợi một tuần lễ nữa mới có chuyến tàu lớn bên Tây sang, đáp vào đây, rồi
đi ra Bắc. Làm gì cho qua thì giờ bây giờ? Ngày ngày bèn đi dạo chơi khắp trong
các phố phường, khi ở Sài Gòn, khi về Chợ Lớn. Sài Gòn thì đã nghiễm nhiên
thành một tỉnh tây rồi. Ngoài các phố tây với mấy phố khách, hàng buôn bán An
Nam ít lắm. Những nghề người mình hay làm nhất là nghề chưng khách sạn - mà
khách sạn cũng là chỉ có buồng ngủ thôi, không có cơm ăn - nghề húi tóc, nghề
chụp ảnh, nghề chữa máy và cho thuê xe đạp, nghề thợ kim hoàn, v.v., toàn thị
là những nghề nhỏ mọn tầm thường cả. Ở đường Catinat là đường lớn nhất ở Sài
Gòn, có được mươi lăm tiệm bán hàng Bắc kỳ: đồ thêu, đồ khảm, đồ đồng, đồ the lụa,
v.v. Tiệm lớn nhất là tiệm của ông Đào Huống Mai, là nhà mĩ nghệ có tiếng ở Hà
Nội ta. Đại biểu cho ông ở Sài Gòn là ông Nguyễn Đắc làm phán sự ở tòa Điện
báo. Người Bắc ta ở Sài Gòn kể cũng lơ thơ chẳng có mấy, và chưa lập thành đoàn
thể gì cả. Tôi có bàn với mấy ông rằng ngày nay Nam Bắc giao thông có lẽ mỗi
ngày một nhiều hơn trước, các ông nên họp thành một hội thân ái gồm cả các người
Bắc kỳ ở Nam kỳ, rồi tìm cách đặt lấy một nhà hội quán tại Sài Gòn, trước là để
làm nơi cho anh em đồng xứ mình tới lui mà chuyện trò cho vui, sau là làm một
chốn công sở để tìm phương đặt kế giúp cho người Bắc vào trong này doanh nghiệp
làm ăn. Nói rằng cổ động cho dân Bắc kỳ vào Nam kỳ mà sinh cơ lập nghiệp thì vẫn
hay lắm, vẫn phải lắm, nhưng những người vào tới nơi bỡ ngỡ chưa biết đâu vào
đâu, chưa biết cách làm ăn ra làm sao, mà không có người cũ khuyên bảo chỉ dẫn
cho, thì khó lòng mà tháo vát cho xong. Nếu có một nhà hội như vậy thì người mới
đến ở trên tàu xuống đến ngay nhà hội hỏi han các cách, tiện lợi biết bao
nhiêu. Hội lại sẽ có những đại biểu ở Lục tỉnh báo cáo về cho Hội biết cái tình
hình về nông nghiệp thương nghiệp các nơi thế nào, cùng là chỗ nào làm nghề gì
tiện, chỗ nào đất khai khẩn tốt, hoặc có người hỏi đến thì Hội chỉ bảo cho, chẳng
là giúp đỡ được nhau lắm ru? Ấy là tôi phác họa ra như vậy, xin các ông chú ý
xét xem có thể thực hành được cái việc công ích ấy không.
Chiều
chiều thường về chơi Chợ Lớn, đi xe lửa không đầy nửa giờ. Cái cảnh tượng Chợ Lớn
thật là sầm uất phồn thịnh có một; nhưng nghiễm nhiên là một tỉnh Tàu! Tối đến
đèn điện sáng choang, hàng bày la liệt, đồ tây đồ tàu, đồ ăn đồ uống, tiếng
đánh “toan” xì xồ, tiếng thanh la ánh ỏi, tiếng “hầu sáng” gọi đồ ăn, tiếng
hàng rong rao thức bán, ồn ào rộn rịp, tấp nập linh đình, mỗi tối trông thấy
cái cảnh tượng ấy không thể không khen thay cho giống Khách có cái sức sinh hoạt
lạ lùng, đi trú ngụ ở đất người mà lập thành hẳn một tỉnh riêng của mình, đoạt
người bản xứ ra ngoài cái vòng quyền lợi mình! Than ôi! Đất khách quê nhà, quê
nhà mà sao thành đất khách? Lợi quyền ở tay mình mà sao để ra tay người? Ngày
nay người Nam kỳ đã tỉnh ngộ, biết hợp quần mà tranh giành lại với giống Khách
về đường nông nghiệp. Nhưng về đường thương nghiệp thì biết bao giờ cho mình bằng
nó? Sự khuyết điểm đó mới thật là to và cái hiểm tượng này mới thật đáng lo vậy.
Vì thương nghiệp với công nghệ có cái quan hệ rất mật thiết với nhau: một xứ
tuyệt nhiên không có công nghệ như xứ Nam kỳ, thế tất là phải dùng đồ ngoại
hóa; đã phải dùng đồ ngoại hóa thì thoát li tay bọn Khách sao được? Làm đôi guốc
gỗ người mình cũng không làm được, thì trách sao không phải chịu cái quyền áp
chế trong sự buôn bán của nó? Tôi thường trông thấy Khách gánh nước, Khách bán
củi: còn nghề gì nữa là nó không tranh hết của mình? Hiện nay trong Lục tỉnh mới
nhóm lên cái phong trào phản đối Khách: cái phong trào ấy rất là chánh đáng lắm.
Nhưng phần nhiều còn là phản đối ở lời nói cả, chưa từng thấy thi thố ra việc
làm. Không kể có lắm kẻ lại phản đối sai lầm, cái nên phản đối thì không phản đối
mà phản đối ở cái không cần phải phản đối: có kẻ tạ sự ghét người Tàu mà chỉ
ghét riêng một thứ chữ tàu là cái văn tự cổ không có quan hệ gì đến việc cạnh
tranh về đường buôn bán cả. Thiết tưởng cái cách phản đối ấy chưa đủ cướp lại
được lợi quyền ở tay bọn “Chệt” vậy!...
Đợi
chán chê mới có tin chiếc Paul Lecat ở Tây sang đã tới Sài Gòn. Chiếc này cũng
to gần bằng chiếc Porthos hồi đi vào đây. Thành ra khi đi khi về đều được ghé
tàu to cả, không phải đáp những chiếc chạy thơ nhỏ, như chiếc Manche, chiếc
Haiphong, đi không được vững vàng và hay say sóng.
Ngày
8 tháng 10 tây, xuống tàu ra Bắc. Thế là xong cuộc du lịch Nam kỳ.
*
* *
Đọc
Quốc sử có một điều rất đáng hưng khởi trong lòng: là cái công phu lớn lao của
tổ tiên ta trong mấy mươi thế kỷ khai thác được suốt một cõi đất Đông Dương
này, khiến cho ngày nay từ giáp ranh nước Tàu cho đến vũng bể Xiêm La, từ bến
sông Mê Kông cho đến bờ bể Đông Hải, dân An Nam ta thuần là một giống người,
cùng một cỗi rễ mà ra, cùng một tiếng nói, cùng một phong tục, cái tính tình tư
tưởng cũng không khác gì nhau. Thử hỏi khắp trong thế giới đã có một dân nào
thuần nhất như dân ta chưa? Ngót hai mươi triệu người sinh trưởng ở một cõi đất
mênh mông, trong hơn hai mươi thế kỷ, đã từng lắm phen sướng khổ cùng nhau,
nguy hiểm có nhau, dần dần gây nên một mối quốc hồn tuy lúc bình thường như u ẩn
không hiện ra, mà gặp buổi quốc gia đa nạn đột khởi ra những người anh hùng chí
sĩ lập nên những sự nghiệp phi thường. Cái quốc hồn ấy, phàm người có tấm lòng
khối óc, những khi trông thấy quốc vận suy vi, ai là người chẳng hình như nghe
thấy cái tiếng kêu ai oán như não nùng than khóc ở trong lòng? Ngày nay có người
lấy lẽ chính trị nhất thời, lấy sự gián cách không đâu, mà phân biệt ra kẻ Nam
người Bắc, coi nhau hầu như khác giống khác giòng, không biết rằng dù kẻ Bắc dù
người Nam tuy ăn ở xa cách nhau mà trong lòng cùng là mang nặng một tấm quốc hồn
như nhau; chỉ vì cái quốc hồn ấy không thường có dịp phát hiện ra nên không ngờ
không tưởng vậy.
Tôi
còn nhớ một ngày ở Long Xuyên có ông Cả một làng gần đấy đến chơi, ông nói:
“Tôi thấy trong báo Nam Phong và báo Đại Việt có nói rằng Hoàng thượng ta ở Huế
mới có Dụ đặt ngày mồng 2 tháng 5 An Nam là ngày Đức Thế Tổ Cao Hoàng đế lên
ngôi làm ngày quốc hội trong địa hạt Trung kỳ. Tôi lấy làm phải lắm, dám xin
các ông cổ động để xin Nhà nước Đại Pháp cho phép đặt hội ấy ở cả Bắc kỳ, Nam kỳ
nữa, vì dân ta nhờ ơn Cao Hoàng nhiều lắm, Ngài đã gồm Nam Bắc làm một nhà mà dựng
ra nước Đại Nam ta, nên bao giờ cũng nhớ ơn Ngài mà biết rằng ta là dân một nước”.
- Nếu người An Nam không có một cái mối tinh thần chung thì sao ông Nam kỳ đó lại
nói được những lời quí hóa như vậy?
Tôi
càng đi du lịch trong Nam kỳ lại càng thấy cái cảm giác rõ ràng rằng người Nam
người Bắc thật là con một nhà, nếu biết đồng tâm hiệp lực thì cái tiền đồ của
nước Nam ta không thể nào hạn lượng cho được. Tôi xin đốt lửa thắp hương mà cầu
nguyện cho cái mối đồng tâm ấy ngày một bền chặt, thật là may cho nước nhà lắm
lắm.
Hà
Nội, tháng 11 năm 1918 - tháng 1 năm 1919
Chú
thích:
1 Bưng, tiếng đường trong là cái bãi ngập
nước, không cầy cấy được
2 Diện tích Nam Kỳ: 58.000 cây lô mét; Bắc
Kỳ: 103.500 cây lô mét; Trung Kỳ: 165.000 cây lô mét
3 Số người các tỉnh Nam Kỳ đây là chiếu
theo trong sách “Đông Dương địa dư” của ông PAUL ALINOT, bản in tại Sài Gòn năm
1916
4 Trong Nam Kỳ, nhà quê gọi là vườn, tiếng
nhà quê có ý bỉ và nghĩa như quê mùa. Người Tây ngày nay thường dùng tiếng nhà
quê để nói bỉ, là theo nghĩa Nam Kỳ vậy
5 Trong Nam Kỳ có thứ xe kiểu Ấn Độ, Tây
gọi là voiture malabare, hình như xe hòm, chung quanh gióng mặt kính, một
ngựa hay một lừa kéo; người Nam Kỳ gọi là xe kiếng (kiếng = kính)
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét