2022-01-15
Tiếng
gọi nơi hoang dã (V)
Jack
London
Biên dịch: Nguyễn Công Ái và Vũ Tuấn
Phương.
Tiếng Anh: “The Call of the Wild” được
lấy từ dự án “The Project Gutenberg EBook”.
Chương V.
Lao khổ trên vệt đường mòn
Ba
mươi ngày sau khi rời Đoxân, khối bưu kiện từ Xontoatơ kéo theo sau Bấc và lũ bạn
nghề của nó đi đến Xkeguê. Tình trạng của lũ chó thật là thảm bại, chúng tả tơi
và kiệt quệ. Cơ thể 140 pao của Bấc tụt xuống chỉ còn 115. Bạn nghề của nó, tuy
là những con chó nhẹ cân hơn, nhưng so sánh theo cách tương đối thì lại sút cân
nhiều hơn, Paicơ, tên hay giả ốm để trốn việc, trước kia trong cuộc đời gian dối
của hắn đã từng thực hiện thành công thủ đoạn giả vờ đau chân, nay thì khập khiễng
thật sự chứ không còn là trò bịp nữa. Xônlếch cũng khập khiễng, còn Đớp thì đau
đớn vì sai khớp một xương vai.
Tất
cả bọn chúng đều đau chân dữ dội. Cơ thể chúng chả còn tí sức bật hoặc khả năng
đàn hồi nào nữa. Bàn chân chúng nặng nề rơi từng bước xuống mặt đường mòn, làm
chấn động mạnh toàn thân và nhân lên gấp bội nỗi mệt mỏi đến chết đi được ấy.
Không phải là cái thứ mệt chí tử do một sự ráng sức quá đáng nhưng ngắn ngủi, mệt
như vậy thì chỉ nghỉ vài giờ là hồi sức ngay; mà đây là cái thứ mệt do sự tiêu
huỷ thể lực từ từ và kéo dài suốt trong bao nhiêu tháng trời lao động cực nhọc.
Không còn một khả năng phục hồi nào nữa, không còn tí sức lực dự trữ nào để mà
vét ra nữa. Tất cả đã được sử dụng hết, cho đến tí chút hơi sức nhỏ nhất cuối
cùng. Tất cả mọi cơ bắp, mọi thớ thịt, mọi tế bào đều mệt, mệt đến chết được.
Vì sao mà mệt đến như vậy, thật đã quá rõ ràng. Trong không đầy năm tháng,
chúng đã chạy đến hai nghìn năm trăm dặm, và trong một nghìn tám trăm dặm cuối
cùng, chúng chỉ được nghỉ có năm ngày. Khi chúng đến Xkeguê, thì người ta thấy
rõ ràng là chúng đã kiệt quệ, như chỉ còn thoi thóp. Chúng khó mà kéo cho căng
được các dây thắng, và khi xuống dốc, sức chúng chỉ vừa đủ để xoay xở tìm cách
tránh khỏi bị chiếc xe lao xuống đè phải.
-Nào!
Cố lên đi! Khốn khổ chúng mày, đau chân quá mà! - người lái xe động viên chúng
trong khi chúng bước lảo đảo không vững dọc đường phố chính của Xkeguê - Tí nữa
thôi là hết! Rồi chúng mình sẽ nghỉ thật lâu! Nghe không? Chắc chắn như vậy!
Nghỉ thật là lâu!
Những
người đánh xe tin tưởng chắc chắn là họ sẽ được dừng lại nghỉ ngơi trong một thời
gian dài. Chính bản thân họ cũng đã phải rong ruổi suốt một nghìn hai trăm dặm
mà chỉ mới nghỉ được có hai ngày, mà theo sự hợp lý và lẽ công bằng chung cho tất
cả mọi người thì họ xứng đáng được một thời gian dài nhàn rỗi. Thế nhưng đã có
quá nhiều người đổ xô vào vùng Klonđai, mà có quá nhiều người yêu, người vợ,
người thân của họ không cùng đổ xô vào đấy, cho nên đống thư từ bưu kiện ứ lại
chồng chất như núi; thêm nữa, lại có lệnh của chính phủ truyền tới. Thế là phải
kiếm một lớp chó Vịnh Hâtxơn còn khoẻ nguyên để thay thế cho những con chó đã hết
tác dụng, không còn kéo xe trên đường mòn được nữa. Những con hết tác dụng thì
phải tống khứ đi và vì so với những đồng đôla thì chó cũng chả có giá trị gì mấy,
cho nên người ta bán chúng đi đổi lấy đôla.
Ba
ngày trôi qua. Trong thời gian ba ngày ấy, Bấc và lũ bạn nghề của nó cảm thấy
cơ thể chúng sao mà mệt và yếu lả đi đến thế. Nhưng rồi đến sáng hôm thứ tư, có
hai gã đàn ông người Hoa Kỳ đến nơi này và mua chúng, cùng cả đại cương và mọi
thứ, với một giá rẻ. Hai người ấy gọi tên nhau là "Han" và
"Sác". Sác là một gã trung niên, da nâu nhạt, có đôi mắt yếu đuối ươn
trớt, một bộ ria xoắn lại và vểnh lên hung dữ, tương phản với nét môi ẻo lả ủ rũ
cụp xuống khuất dưới bộ ria ấy. Han là một tay trai trẻ trạc mười chín đôi mươi,
có một khẩu súng còn to tướng và một con dao săn đeo ở chiếc thắt lưng cài tua
tủa những đạn. Chiếc thắt lưng ấy là vật tiêu biểu nhất ở con người của gã. Nó
thể hiện tính chất non nớt của gã, một sự non nớt hoàn toàn và khó mà diễn tả
được. Cả hai con người ấy rõ ràng là rất lạc lõng đối với nơi này. Vì lẽ gì mà
họ phải mạo hiểm xông pha vào vùng đất phương Bắc này, điều đó là một phần
trong màn bí ẩn của vạn vật mà mọi người không thể hiểu nổi.
Bấc
nghe người ta cò kè mặc cả với nhau, thấy những đồng tiền trao qua đổi lại giữa
người lạ với anh nhân viên nhà nước, thế là Bấc biết rằng anh chàng người lai
Xcôtlen cùng những chàng lái xe khác của đoàn xe thư lại sắp sửa rời khỏi cuộc
đời của Bấc theo gót Perôn, Phrăngxoa và những con người khác đã đi qua trước đấy.
Khi
Bấc cùng lũ bạn nghề của nó bị dẫn đến khu đóng trại của những người chủ mới, Bấc
nhìn thấy một quang cảnh luộm thuộm và nhếch nhác, lều căng nửa vời, bát đĩa bẩn
không rửa vứt lổng chổng, mọi thứ lộn xộn bừa bãi. Bấc còn thấy một người đàn
bà mà mấy gã đàn ông gọi là Mecxêđét. Ả là vợ của Sác và chị của Han - một nhóm
gia đình khá xinh xẻo.
Bấc
để ý theo dõi họ, thấp thỏm e ngại, trong khi họ tiến hành dỡ lều và chất đồ lề
lên chiếc xe trượt tuyết. Cung cách của họ phí rất nhiều công sức, mà chả có
phương pháp ngăn nắp gì cả. Chiếc lều được cuộn thành một bó bùng nhùng, đáng lẽ
ra có thể xếp gọn lại chỉ bằng một phần ba. Những chiếc đĩa thiếc chưa rửa, cứ
thế gói lại đưa đi. Mecxêđét cứ liên tục xăng xít ngáng trở trước mặt hai người
đàn ông và luôn mồn huyên thiên can gián và góp ý. Khi họ đặt một túi đựng quần
áo lên đầu chiếc xe trượt, thì Mecxêđét lại gợi ý cho họ là phải đặt ở cuối xe.
Rồi khi đã đặt túi ấy vào thì ả lại muốn lôi cái túi ấy ra để bỏ vào đâu khác nữa.
Và thế là họ lại phải tháo dỡ đồ đoàn ra khỏi xe để lôi cái túi ấy lên.
Ba
người đàn ông từ một chiếc lều bên cạnh bước tới và đứng nhìn, vừa nhìn vừa
nhăn nhở nhe răng ra cười và nháy mắt với nhau.
-Các
vị mang một khối tương đối đấy! - một người trong bọn họ lên tiếng - Chả phải
tôi dám chỉ bảo cho các vị, nhưng tôi mà như các vị thì tôi chả khuân các lều ấy
đi làm quái gì.
-Ôi!
Thật không tưởng tượng nổi! - Mecxêđét kêu to, vung một cái cả hai tay lên trời
tỏ vẻ thất vọng một cách rất điệu - Không có lều thì làm thế nào mà sống được!
Người
kia đáp:
-Sang
xuân rồi! Các vị không gặp thời tiết giá rét nữa đâu!
Mecxêđét
vẫn khăng khăng lắc đầu, và Sác với Han tiếp tục đặt những thứ linh tinh lặt vặt
cuối cùng lên trên chóp cái đống đồ đạc to như núi.
Mọi
người khác hỏi:
-Liệu
có kéo đi được không?
-Sao
lại không? - Sác vặn lại cộc lốc.
-Ồ!
Thôi được, thôi được! - người kia vội vàng trả lời hiền lành - Tôi chỉ thắc mắc
một tí thôi mà. Hình như nó có hơi nặng trên chóp đấy.
Sác
quay lưng và cố đem hết khả năng của mình ra để rút các dây buộc cho đống đồ đạc
hạ thấp xuống nhưng khả năng của y lại quá tồi.
Một
người thứ hai lên tiếng:
-Lũ
chó kéo cái máy cải tiến này tất nhiên sẽ được dịp rèn luyện kịch liệt bộ chân
suốt ngày đây!
-Hẳn
là thế! - hắn đáp lời với một vẻ lễ phép lạnh lùng, rồi một tay gã nắm lấy chiếc
cần xe, tay kia vung roi lên - Mơt-s! - gã thét - Mơt-s! Đi!
-Lũ
chó lao bổ về đằng trước, đè lên đai ngựa, ra sức kéo một lát, rồi chững lại.
Chúng không thể kéo chiếc xe nhích đi được chút nào.
-Đồ
súc sinh lười biếng, tao sẽ cho chúng mày biết tay! - gã vẫn gào lên, vừa vung
roi chuẩn bị quật xuống.
Nhưng
Mecxêđét xông vào, kêu to:
-Han!
Đừng em! - ả vội tóm lấy chiếc roi và giật ra khỏi tay Han - Ôi, những con vật
đáng yêu tội nghiệp. Bây giờ em phải hứa với chị là từ đây đến hết chuyến đi em
sẽ không tàn nhẫn với chúng nữa, nếu không thì thôi, chị sẽ không đi đâu hết.
Thằng
em cười khẩy:
-Gớm,
cái vốn hiểu biết của chị về chó đã quý hoá chưa! Tôi xin chị cứ để mặc tôi.
Tôi bảo cho chị biết chúng nó lười nếu chị muốn chúng làm việc thì chị phải quật.
Cái lối của chúng là như vậy. Chị cứ hỏi bất kỳ ai mà xem! Hỏi thử một ông kia
kìa!
Mecxêđét
nhìn mọi người bằng đôi mắt van xin trên khuôn mặt xinh đẹp hiện rõ vẻ xiết bao
ghê sợ không muốn nhìn thấy cảnh đau đớn.
Một
trong những người đứng đấy trả lời:
-Các
vị muốn biết thì tôi xin thưa! Chúng nó yếu nhũn ra như bún rồi. Đã làm việc kiệt
hết sức rồi, vấn đề là như vậy đấy. Chúng cần phải được nghỉ ngơi cái đã.
-Nghỉ
cái con khỉ! - Từ đôi mép nhẵn thín của Han vang tiếng rủa, khiến Mecxêđét thốt
lên một tiếng "ôi" đau đớn phiền não.
Nhưng
ả lại là một con người trung thành với cánh của mình, nên ả liền vội quay lại bảo
vệ cho em trai:
-Thôi
đừng bận tâm đến lời ông ta nữa em ạ - ả nói - Em là người điều khiển đàn chó của
chúng ta, thôi thì em thấy cần phải xử với chúng như thế nào cho được việc thì
em cứ làm.
Thế
là cây roi của Han lại vụt xuống đàn chó. Chúng lao tới đè vào đai ngựa, chân đạp
thọc sâu vào lớp tuyết nén chặt: rạp mình xuống sát mặt tuyết, dốc cả toàn bộ sức
lực. Nhưng chiếc xe trượt tuyết cứ trụ lại không nhúc nhích, như một cái mỏ neo
cắm chặt. Sau hai lần dốc sức, lũ chó đứng lặng, thở hổn hển. Chiếc roi đang
vun vút rít một cách man rợ, thì Mecxêđét lại nhẩy ra can thiệp một lần nữa. Ả
sụp xuống quỳ gối trước mặt Bấc, nước mắt lưng tròng, quàng hai tay ả quanh cổ
Bấc, kêu lên giọng đầy xúc cảm:
-Ôi,
nhưng con vật tội nghiệp, những con vật đáng yêu khốn khổ! Tại sao chúng mày
không kéo cật lực vào? Có vậy mới khỏi bị roi chứ!
Bấc
không thích gì ả, nhưng nó đang cảm thấy khốn khổ quá nên không cưỡng lại sự vỗ
về của ả, và chịu đựng điều đó coi như là một phần của mọi nỗi khốn khổ phải chịu
đựng trong ngày.
Một
trong những người đứng nhìn, từ nãy đã cắn chặt răng để khỏi buộc ra ý kiến
nóng nảy, nay không nhịn được nữa phải thốt lên:
-Này,
các vị có ra làm sao thì cũng chả việc quái gì đến tôi mà tôi phải lo, thế
nhưng, vì thương thân phận của lũ chó kia, tôi muốn bảo cho các vị biết rằng
các vị có thể giúp đỡ cho chúng rất nhiều bằng cách phá vỡ lớp băng bám chặt
vào xe kia kìa. Càng xe đóng băng chặt cứng rồi, thấy không? Xô mạnh vào cái cần
lái ấy xô sang phải, rồi sang trái, phủ băng cho càng xe bung ra!
Lần
thứ ba, Han lại khởi động chiếc xe, nhưng lần này gã chịu nghe theo lời chỉ vẽ,
nên đã phá vỡ được lớp băng dán chặt càng xe xuống mặt tuyết. Chiếc xe trượt chở
quá tải và chông chênh bắt đầu nhích lên phía trước. Bấc và lũ bạn nó vật lộn
điên cuồng để kéo, dưới trận mưa rơi xối xả. Tiến được một trăm mã thì con đường
mòn rẽ ngoặt và đổ dốc xuống đường phố chính. Muốn giữ cho chiếc xe bị nặng
trên chóp khỏi nghiêng đổ, phải có người lái kinh nghiệm, mà Han thì không phải
là loại người đó. Ở khúc ngoặt, chiếc xe đổ nhào. Đến một nửa số đồ đạc trên xe
bung ra khỏi những dây buộc lỏng lẻo, văng tung toé. Lũ chó cứ chạy, không đứng
lại. Đằng sau chúng, chiếc xe nhẹ hẳn đi cứ nằm nghiêng nhảy chồm chồm trượt tới.
Lũ chó nổi giận vì đã bị đối xử tàn tệ và vì phải kéo một khối trọng tải phi
lý. Bấc điên tiết lên. Nó chồm lên phóng nước đại, cả đàn theo gót nó. Han thét
"Họ! Họ!" nhưng chúng chả thèm để ý. Gã nhảy theo ngáng lại, nhưng bị
kéo gã chổng gọng. Chiếc xe lật úp nghiến lên người gã, còn lũ chó thì cứ theo
đường cái phóng tới, gây thêm cảnh buồn cười cho dân phố Xkeguê trong khi chúng
tiếp tục làm vung vãi nốt mọi thứ đồ đạc còn trên xe ra dọc con đường phố lớn.
Một
số người tốt bụng bắt giữ đàn chó lại và nhặt nhạnh hộ những thứ đồ đạc bị tung
toé khắp nơi. Họ cùng góp một ý kiến khuyên bảo. Đồ đạc chỉ một nửa thôi, còn
chó thì phải gấp đôi, có thế mới hòng đi được tới Đoxân, họ bảo Han và chị gã với
anh rể gã miễn cưỡng nghe theo họ, hất lều xuống, xem xét lại toàn bộ đồ đạc, rồi
thải ra một số đồ hộp làm cho mọi người phải bật cười, bởi vì đối với cuộc hành
trình đường dài thì đồ hộp lại là thứ mà người ta mơ ước.
Mọi
người vừa cười vừa giúp việc xếp dọn:
-Gớm!
Chất nhiều thế! Đủ dùng cho cả một khách sạn! Giảm đi một nửa cũng vẫn còn quá
nhiều đấy. Tống khứ bớt đi! Vứt cái lều kia đi, và cả những cái đĩa kia nữa, chứ
có để lại thì rồi ai rửa? Trời đất ơi! Các vị tưởng là các vị đi du lịch trên một
toa ngủ đầy tiện nghi kiểu Phun-man ư?
Và
cứ thế, họ giúp vào việc thanh toán thẳng thừng những thứ không cần thiết.
Mecxêđét kêu la khi những quần áo của ả bị ném phịch xuống đất và hết thức này
đến thức khác bị quẳng ra ngoài. Ả vừa kêu khóc về mọi thứ nói chung, lại vừa
kêu khóc về từng món bị vứt bỏ nói riêng. Ả siết tay trên đầu gối, mình ả lắc
lư gục tới ngả lui với vẻ rất ư là đau khổ. Ả quả quyết là ả sẽ chẳng đi đâu nữa
hết, một tấc cũng không đi, có vì đến mười chàng Sác, ả cũng không đi. Ả kêu
xin mọi người và kêu xin mọi thứ. Nhưng rồi cuối cùng ả lau sạch nước mắt và
cũng bắt tay vào quẳng các thứ ra ngoài, cả đến những món quần áo tốt cần thiết
không thể thiếu được. Đến nỗi hăng lên, khi vứt xong những thứ của ả, là ả bèn
xông vào vứt các thứ của hai gã đàn ông, sục tung suốt lượt mọi đồ đạc của họ
ra như một cơn lốc.
Thanh
toán xong, đống đồ đạc tuy đã giảm đến một nửa, nhưng vẫn còn là một khối to
kinh khủng. Buổi tối hôm đó, Sác và Han đi tìm mua được sáu con chó thuộc các
giống chó ở miền bên ngoài. Lũ này, cộng với sáu con cũ, cùng Tish và Kuna, hai
con chó étkimô bổ sung tại thác Rinh trong chuyến đi kỷ lục hợp thành một đàn
đông đến mười bốn con. Nhưng lũ chó miền ngoài, mặc dù từ khi được đưa vào đến
nay đã được tập luyện trong thực tế, vẫn chả có tác dụng gì đáng kể. Trong bọn
chúng có ba con chó săn lông ngắn, một con nòi Niufaolân, còn hai con nữa là
chó lai thuộc nòi gì không xác định được. Cái đám lính mới này chẳng có vẻ biết
làm ăn gì cả. Bấc và lũ bạn nghề của nó đứng nhìn chúng bằng những con mắt
khinh bỉ. Mặc dù Bấc nhanh chóng dạy được cho chúng ổn định vào vị trí từng con
và những gì chúng không được làm. Chúng không hứng thú gì đảm nhiệm một cách dễ
dàng công việc lao động trên vệt đường mòn. Trừ hai con chó lai, bọn chúng đều
bị cái môi trường man rợ kỳ lạ này và những sự đối xử tàn tệ làm cho hoảng hốt
ngơ ngác và tinh thần suy sụp. Hai con chó lai thì chả có tí tinh thần nào, ở
chúng chỉ có bộ xương là thứ duy nhất có thể bị suy sụp mà thôi.
Với
những con chó mới vô tích sự và khổ não, cùng lũ chó kiệt quệ vì hai nghìn năm
trăm dặm đường gian khổ liên tục, cái viễn cảnh của đàn chó thật chả sáng sủa
chút nào. Thế nhưng hai gã đàn ông thì lại rất vui mừng hớn hở. Và họ lại còn tự
hào nữa. Họ đang giải quyết công việc đâu ra đấy, với những mười bốn con chó! Họ
đã từng thấy những chiếc xe trượt tuyết tới đây, nhưng họ chưa bao giờ nhìn thấy
một chiếc xe nào với số chó nhiều đến mười bốn con như thế. Trong các loại hành
trình giữa miền Bắc cực này, có một lý do tại sao không nên dùng nhiều chó đến
mức mười bốn con trượt tuyết là không thể chở đủ thức ăn cho mười bốn con chó.
Khốn nỗi Sác và Han không biết điều đó. Họ đã vạch ra trên giấy toàn bộ kế hoạch
cuộc du hành đối với mỗi con chó cần ngần này này, có ngần này con chó, và đi
trong ngần này ngày, cứ thế nhân lên. Mecxêđét nhìn qua vai hai gã rồi gật đầu
tán thưởng. Mọi sự quả là rất đơn giản.
Sáng
hôm sau, lúc đã hết già nửa buổi, Bấc dẫn đầu đàn chó xếp thành một hàng dài,
ngược đường phố bắt đầu ra đi. Chả có gì sôi nổi sống động, Bấc và lũ bạn của
nó không hăng hái cũng chẳng nhiệt tình. Chúng ra đi mà mệt rã rời, mệt đến chết
được, Bấc đã bốn lần nữa lại phải đương đầu với con đường gian khổ ấy, Bấc cảm
thấy cay đắng. Nó chả có bụng dạ nào muốn làm công việc này nữa, mà những con
chó khác cũng đều như vậy. Lũ chó miền ngoài thì nhút nhát và hoảng sợ, còn số
chó cũ thì không tin vào chủ của nó.
Bấc
lờ mờ cảm thấy là không thể trông mong gì được vào hai gã đàn ông và mụ đàn bà
này. Họ chả biết làm bất cứ điều gì. Đã mấy ngày trôi qua, họ càng tỏ rõ là họ
không thể học được kinh nghiệm gì trong thực tế. Họ chậm chạp trong mọi thứ việc,
không có trật tự, không có tính nghiêm ngặt. Họ mất cả đến một nửa đêm mới xong
một chỗ cắm trại lôi thôi lếch thếch. Họ mất đến nửa buổi sáng để nhổ trại và
chất các thứ lên xe trượt đồ đạc xếp lủng củng luộm thuộm đến nỗi trong ngày họ
phải mất thì giờ đứng lại nhiều lần để sắp đặt lại mọi thứ trên xe. Có những
ngày họ không đi được đến mười dặm. Cũng có những ngày họ chịu không thể nào
lên đường được. Và không có ngày nào họ có thể đạt được trên một nửa chặng đường
mà người ta thường dùng làm yếu tố cơ bản để tính toán đường đi so với lượng thức
ăn mang theo cho đàn chó.
Biết
chắc chắn không thể tránh khỏi là họ sẽ thiếu thức ăn cho chó. Nhưng họ lại cho
ăn quá mức, như vậy là lại càng rút ngắn thời gian làm cho cái ngày thiếu ăn sẽ
đến sớm hơn. Lũ chó miền ngoài, mà bộ máy tiêu hoá chưa được rèn luyện qua những
trận đói kinh niên ngốn ngấu ăn rất dữ. Thêm vào đó, Han lại thấy những con chó
étkimô mệt lử kéo yếu ớt, thế là Han quả quyết rằng khẩu phần ăn quy định theo
lệ thường là quá ít. Y tăng lên gấp đôi. Đâu phải chỉ có thế, Mecxêđét với đôi
mắt xinh đẹp rớm lệ và giọng nói rung rung xúc động, ngọt ngào dỗ dành Han cho
lũ chó ăn thêm nữa, nhưng không được Han nghe theo, ả bèn bí mật đánh cắp cá
trong túi đựng thức ăn rồi đút cho chó. Nhưng điều cần thiết nhất lúc này đối với
Bấc và lũ chó étkimô đâu phải là thức ăn, mà là sự nghỉ ngơi. Và mặc dầu trong
cả thời gian vừa qua, đoạn đường đi chả có là bao, nhưng khối đồ đạc nặng nề mà
chúng phải kéo mà huỷ hoại sức khoẻ của chúng một cách nghiêm trọng.
Thế
rồi cái ngày ăn đói đã tới. Một hôm Han sực nhận thấy được sự thật là lượng thức
ăn cho chó đã vơi mất một nửa mà quãng đường đi mới được một phần tư. Hơn nữa,
không có cách gì kiếm ra thêm thức ăn cho chó. Vậy là gã cắt giảm khẩu phần của
chúng, thậm chí cắt xuống dưới mức quy định theo lệ thường, và cố làm sao để
tăng thêm quãng đường đi từng ngày. Chị gã và anh rể gã ủng hộ biện pháp đó.
Nhưng họ thất bại vì đống đồ lề của họ quá nặng và bản thân họ thì kém cỏi bất
tài. Bớt thức ăn của chó đi là một điều đơn giản; nhưng làm cho lũ chó đi nhanh
hơn thì họ chịu, không thể nào làm được, trong khi đó thì bản thân họ buổi sáng
nào cũng loay hoay mãi không thể ra đi sớm hơn được, cho nên không thể tăng
thêm thời gian đi đường. Họ không những không biết làm thế nào để điều hành lũ
chó mà họ còn không biết làm thế nào để điều hành cả bản thân họ nữa.
Con
chó đầu tiên đi tong là Đớp. Tội nghiệp cái thân nó, nó là một tên kẻ cắp vụng
về luôn bị bắt quả tang và bị trừng trị, tuy thế nhưng nó lại là một kẻ phục vụ
trung thành. Cái xương bả vai của nó bị sai khớp, không được chữa chạy và không
được nghỉ ngơi, càng ngày càng đau trầm trọng, thế là cuối cùng Han đã rút khẩu
súng to tướng cho nó một viên đạn.
Trong
địa phương có một câu truyền miệng rằng một con chó miền ngoài mà ăn khẩu phần
chó étkimô thì tất phải đói mà chết, vậy dĩ nhiên là sáu con chó miền ngoài nhập
đàn của Bấc không thể có số phận nào khác hơn là chết, bởi vì chúng chỉ được một
nửa khẩu phần chó étkimô. Con chó nòi Niufaolân chết trước. Rồi đến ba con chó
săn lông ngắn. Còn hai con chó lai thì cứng cỏi gắng níu lấy sự sống được lâu
hơn, nhưng cuối cùng cũng đi nốt.
Cũng
trong thời gian ấy tất cả những gì là hứng thú và dịu dàng của vùng đất phương
Nam đã bay biến hết khỏi ba con người. Chả còn gì là quyết rũ và thơ mộng, cuộc
hành trình giữa miền Bắc cực đã trở thành một thực tế quá phũ phàng đối với loại
đàn ông và loại đàn bà như họ. Mecxêđét thôi không còn than khó cho thân phận
đàn chó nữa, vì quá bận vào việc khóc than cho thân phận mình và cãi nhau với
chồng và em. Cãi nhau là việc duy nhất mà họ không bao giờ thấy chán. Tình cảnh
khốn khổ đã làm họ sinh ra để cáu giận. Sự cáu kỉnh tăng lên cùng một nhịp với
nỗi khốn khổ, rồi tăng gấp đôi, rồi vượt xa nó. Cái tính nhẫn nại diệu kỳ trên
vệt đường mòn ở những con người lao động cật lực và khổ sở cùng cực nhưng vẫn
giữ lời nói êm dịu và thái độ ân cần, không thể có được ở hai gã đàn ông và ả
đàn bà này. Họ chả có tí ý niệm mơ hồ nào về một sự nhẫn nại như vậy. Họ vất vả
và đau khổ; bắp thịt của họ nhức nhối, xương cốt của họ nhức nhối, và ngay cả
tim của họ cũng nhức nhối; và do đó sinh ra ăn nói gay gắt, và những lời lẽ khó
chịu nặng nề luôn luôn ở đầu cửa miệng, từ lúc bảnh mắt cho đến tối đến.
Sác
và Han cãi lộn nhau bất cứ khi nào có cơ hội do Mecxêđét gây ra. Mỗi người đều
giữ trong lòng một điều mặc cảm là mình đã phải làm quá cái phần trách nhiệm của
mình, và không ai là không nhắc đến điều mặc cảm ấy mỗi khi có dịp để nhắc. Thỉnh
thoảng Mecxêđét về hùa với chồng, thỉnh thoảng, ả lại về hùa với em. Kết quả là
một cuộc cãi lộn trong gia đình thật là đẹp đẽ và triền miên không dứt. Mở đầu
bằng cuộc tranh chấp là ai phải chẻ vài que củi chẳng hạn (cuộc tranh chấp chỉ
liên quan đến Sác và Han thôi) thế mà chẳng mấy chốc họ đã lôi hết mọi người
khác trong gia đình ra mà xỉa xói, nào bố mẹ, nào chú bác cô dì, anh em họ
hàng, cả người đã chết ngỏm từ lâu. Rồi nào là quan điểm nghệ thuật của Han,
nào là cái thứ vở tuồng xã hội mà người anh của mẹ y đã viết. Nhưng vấn đề đó
thì nào có liên quan gì đến việc chẻ vài que củi?
Chịu
chả ai hiểu được! ấy thế mà cuộc cãi cọ thường hay xoay sang cái hướng đó, cũng
như hay xoay sang cái hướng đả kích vào những định kiến chính trị của Sác. Và lại
còn cái mồm lắm lời ngồi lê đôi mách của bà chị của Sác thì liệu có liên quan
gì đến việc đốt đống lửa cắm trại bên bờ I-u-con, điều đó thì chắc chỉ có
Mecxêđét mới hiểu rõ. Cô ả trút hết nỗi bực dọc trong người ra thành bao nhiêu
là ý kiến phong phú moi móc vào cái tiết mục này rồi nhân thể lại chì chiết
luôn cả một vài nét đặt trưng khó ưa khác của gia đình nhà chồng. Và trong quá
trình họ cãi vã nhau như vậy thì lửa vẫn chưa nhóm được, chỗ cắm trại dở dang
chưa xong, và chó vẫn chưa được ăn.
Mecxêđét
mang nặng trong lòng một nỗi bất bình đặc biệt - nỗi bất bình của giới tính. Cô
ả là con người xinh đẹp và uỷ mị, và trong cả cuộc đời trước đây đã luôn luôn
được mọi người đối xử lịch sự. Nhưng sự đối xử hiện nay của chồng và em thì là
đủ kiểu trừ phép lịch sự ra. Cái thói của ả là không bao giờ tự lo liệu lấy được.
Hai gã đàn ông quở trách ả. Tức tối vì cái điều mà ả cho là đặc quyền chủ yếu
nhất của phái đẹp đó lại bị đưa ra chê trách như vậy, ả bèn làm cho hai tên đàn
ông phải khốn khổ vì ả. Ả chả còn thèm đếm xỉa gì đến lũ chó, và với lý do là ả
đau đớn trong mình và mệt mỏi, ả khăng khăng đòi ngồi trên xe. Cô ả thật là
xinh đẹp và uỷ mị, nhưng cô ả nặng đến một trăm hai mươi pao - một tí chút trọng
tải thêm vào sau cùng nhưng lại là cái tí chút cường tráng nhất cộng vào khối nặng
vào những con vật yếu mòn và đói lả đã phải kéo. Cô ả ngồi trên xe suốt mấy
ngày cho đến khi lũ chó gục xuống trong vòng dây kéo và chiếc xe trượt tuyết đứng
sững lại không nhúc nhích được nữa. Sác và Han cầu xin ả bước xuống đi bộ, nài
nỉ với ả, khẩn khoản van lạy ả, trong khi đó thì ả vừa khóc lóc vừa kể lể sự bạc
ác bất nhân của hai gã đàn ông, kêu cầu thượng đế ra tay cứu khổ cứu nạn cho ả.
Có
một lúc, hai gã đã dùng sức mạnh bốc cô ả ra khỏi chiếc xe trượt tuyết. Nhưng
sau đó hai gã không còn bao giờ dám làm như vậy nữa. Vì cô ả lết hai chân bước
lệt xệt một lát như đứa bé hư hờn dỗi rồi ngồi bệt xuống trên đường mòn. Mấy gã
đàn ông tiếp tục đi, nhưng ả cứ ngồi đó không nhúc nhích. Hai gã đi được ba dặm,
rồi hai gã lại phải dỡ đồ ra khỏi xe, trở lui lại phía ả, rồi cũng phải dùng đến
sức mạnh để bốc ả đặt lên ngồi lại trên xe trượt tuyết.
Trong
tình cảnh khốn khổ quá độ của họ, họ đã thành ra chai sạn đối với nỗi đau đớn của
đàn chó. Lý luận của Han, mà Han đem ra ứng dụng đối với kẻ khác, là phải rắn
đanh lại. Y bắt đầu đưa lý luận ấy ra thuyết với chị và anh rể, nhưng không có
kết quả, y bèn dùng dùi cui để mang cái lý luận ấy vào lũ chó.
Đến
khu vực trạm "Sao biển" thì thức ăn của chó hết nhẵn. Một người đàn
bà thổ dân da đỏ già móm mém gạ đổi cho họ một vài pao da ngựa đông lạnh để lấy
chiếc súng lục côn bầu bạn của chiếc dao săn to đeo bên của sườn Han. Thật là bần
cùng mà phải dùng đến thứ da ngựa này làm thức ăn, vì đây là những mảng da lột
từ những con ngựa chết đói của những người chăn nuôi trâu bò cách đây những sáu
tháng. Ở cái thế đông lạnh này, nói rằng nó giống như những mảnh sắt mạ thì có
lẽ đúng hơn, và khi con chó đánh vật với thứ da đó để nhét được nó vào dạ dày
thì băng tan đã làm cho nó rời thành những dải da mảnh dai nhách và chả có tí
chất dinh dưỡng nào, cùng một đống lông ngắn chỉ tổ gây kích thích và khó tiêu
hoá.
Vừa
qua tất cả mọi nỗi như vậy Bấc vừa bước những bước lảo đảo dẫn đầu đàn chó tiến
lên phía trước, như đi trong một cơn ác mộng. Khi nào còn có thể kéo được thì
nó kéo. Khi không thể nào kéo được nữa nó ngã quỵ xuống và nằm đấy cho đến khi
ngọn roi hoặc chiếc dùi cui tới tấp giáng xuống đánh bật nó đứng trở dậy. Bộ áo
lông dày đẹp của nó không còn săn cứng và bóng mượt như trước nữa. Những sợi
lông rủ xuống, mềm ủ rũ và kéo lê lết, hoặc dính bết lại từng mảng cùng với máu
khô ở những chỗ bị dùi cui của Han đánh thành thương tích. Các cơ bắp của nó đã
gầy mòn đi thành những thớ nhỏ như dây thừng cồn lên nhiều nút, và những lớp đệm
thịt dày đã tiêu đi đâu mất, để lộ từ từng chiếc xương sườn cho đến cả toàn bộ
khung xương của nó hằn rõ nét qua lớp da lùng nhùng nhăn nhíu lại vì bên dưới
là cả một sự trống rỗng. Thật là một tình cảnh đau lòng. Duy chỉ có điều là
lòng của Bấc không còn có thể đau được nữa. Dưới bàn tay của lão mặc áo nịt đỏ
trước đây, điều này đã được thử thách rồi.
Tình
trạng của Bấc như thế nào thì tình trạng lũ bạn nghề của nó cũng như vậy. Chúng
đã thành những bộ xương, những bộ xương biết di động. Lúc này chúng còn tất cả bảy
con, kể cả Bấc. Trong nỗi khốn khổ cùng cực của chúng, chúng chả còn cảm thấy
đau đớn gì dưới những miếng ngoạm của sợi dây roi hoặc những đòn búa bổ của chiếc
dùi cui. Cái đau của đòn giáng xuống đã trở nên mơ hồ và xa xăm, cũng giống như
những thứ mà mắt chúng thấy và tai chúng nghe, đều có vẻ mơ hồ và xa xăm tất cả.
Chúng chỉ không phải là còn sống một nửa, hay còn sống một phần tư. Chúng chỉ
còn là những bọc xương không hơn không kém, trong đó những tàn lửa của sự sống
chỉ còn chập chờn leo lắt. Mỗi khi dừng lại, chúng đổ sụp xuống trong vòng dây
kéo như những xác chết, và những tàn lửa của sự sống lu mờ đi, lụi dần, hình
như muốn tắt hẳn. Rồi khi chiếc dùi cui hoặc ngọn roi quật xuống, thì tàn lửa
kia lại chập chờn yếu ớt ánh lên trở lại, và chúng lại lảo đảo đứng lên và loạng
choạng bước đi.
Cho
đến một ngày kia, Bili, con chó lành nết, gục xuống và không dậy nữa, Han đã
đánh đổi mất khẩu súng lục rồi, nên y lấy chiếc rìu bổ vào đầu Bili trong khi
Bili nằm gục trong vòng dây kéo, rồi cắt rời cái xác ra khỏi đai cương và kéo
nó sang một bên, Bấc nhìn thấy, và lũ bạn nghề của nó cũng nhìn thấy, chúng biết
rằng số phạn đó sắp đến với chúng, chỉ trong thời gian rất ngắn nữa thôi. Hôm
sau thì Kuna chết. Thế là chúng chỉ còn có năm. Jô, đã quá nhược đi rồi nên
không còn hiểm ác được nữa; Paicơ, què quặt và bước khập khiễng đang trong tình
trạng nửa mê nửa tỉnh, và thời gian tỉnh không đủ lâu để mà tìm được cách giả vờ
hòng trốn việc; còn Xônlếch lão chột mắt, vẫn rất mực trung thành với công việc
lao khổ trên vệt đường mòn, nay buồn rầu ủ ê vì lão còn quá ít sức lực để kéo;
Tích, mùa đông vừa qua không phải đi xa như bọn kia, nhưng nay lại bị kiệt sức,
tiều tuỵ hơn bởi vì nó non nớt, thiếu kinh nghiệm hơn cả; và Bấc, vẫn dẫn đầu
đàn chó, nhưng không còn buộc được lũ bạn phải tuân theo kỷ luật, hoặc không
còn cố gắng để ép buộc chúng vào khuôn phép nữa; có đến một nửa thời gian dọc
đường đôi mắt Bấc mờ đi vì quá suy nhược, nó chỉ còn có thể cố gắng dõi theo
cái bóng chập chờn của vệt đường mòn và dựa vào xúc giác mơ hồ dưới những bàn
chân để đi cho đúng.
Thời
tiết đang xuân, thật là tươi đẹp, nhưng cả chó lẫn người đều không nhận thấy điều
đó. Cứ mỗi ngày trôi qua, mặt trời lại mọc sớm hơn và lặn muộn hơn một ít. Khoảng
ba giờ sáng trời đã rạng, và đến buổi chiều, bóng hoàng hôn vương vất mãi cho đến
chín giờ tối. Suốt ngày dài là ánh nắng rực rỡ. Sự yên lặng rùng rợn ma quái
mùa đông đã phải lùi bước nhường chỗ cho tiếng rỉ rắc vĩ đại của mùa xuân, sự sống
đang thức giấc tiếng rì rào trỗi dậy khắp nơi trên mặt đất, chan chứa niềm vui
cuộc sống. Có cất lên từ những vật đang hồi sinh và chuyển động trở lại, những
vật như đã chết và đã im lìm bất động trong suốt những tháng dài đông giá. Từ
các cành liễu và cành dương hoàn điệp, bật tung ra những chồi non mơn mởn. Những
bụi cây và những dây leo khoác tấm áo mới xanh tươi. Họ hàng nhà dế ca hát suốt
đêm, còn ban ngày thì mọi thứ sinh vật biết bò, biết trườn đều hối hả xông ra,
tung tăng ngoài ánh nắng. Gà gô và chim gõ kiến kêu vang và gõ nhịp trong rừng.
Những bày sóc chuyện trò ríu rít, chim hót líu lo, và trên cao vang tiếng kêu của
từng đàn ngỗng trời từ phương Nam bay lên thành đội hình mũi nhọn duyên dáng
xuyên qua khung trời.
Từ
mọi lưng đồi vẳng đến tiếng nước róc rách, tiếng nhạc của những dòng suối ẩn
kín. Mọi thứ đều thoát dần ra khỏi băng tuyết đang tan, vặn mình, phát ra tiếng
nứt rạn tanh tách. Dòng sông I-u-con đang ráng sức vào phá khối băng kìm chặt
nó để được sổ lồng. Nó xói mòn ở bên dưới, ông mặt trời ăn mòn ở bên trên. Những
lỗ hổng hình thành, những khe nứt há ra rồi toạc dài, trong khi toàn bộ từng mảng
băng mỏng tụt hẳn xuống lòng sông.
Và
ở giữa tất cả nhứng sự bật tung, vùng ra, sôi lên rộn ràng đó của sự sống đang
thức giấc, dưới ánh mặt trời chói lại và trong làn gió nhẹ thoảng qua dịu dàng,
hai gã đàn ông, ả đàn bà và đàn chó loạng choạng bước đi, như những du khách dấn
mình vào cõi chết.
Với
lũ chó rũ rượi, Mecxêđét khóc lóc và ngồi trên xe, Han nguyền rủa lung tung và
Sác đôi mắt đăm chiêu ướt át, đoàn người và chó thất thểu bước vào khu cắm trại
của Giôn Thoóctơn ở cửa sông Hoaitơ. Khi họ dừng lại, lũ chó đổ sập xuống như tất
cả bọn chúng đều bị đánh chết tươi, Mecxêđét lau nước mắt ngước nhìn Giôn
Thoóctơn. Sác ngồi xuống một khúc gỗ để nghỉ. Gã ghé mình xuống rất chậm rãi và
cẩn thận vì toàn thân đau nhức đến cứng đơ lại. Han đứng ra bắt chuyện cùng
Giôn Thoóctơn. Giôn Thoóctơn đang đẽo gọt những phát cuối cùng để hoàn chỉnh một
cái cán rìu làm bằng một khúc cành bulô. Anh vừa đẽo vừa lắng nghe, trả lời, và
khi Han hỏi ý kiến anh nêu những lời chỉ vẽ ngắn gọn. Anh biết rõ cái hạng người
này, anh vẫn góp ý nhưng anh biết tỏng đi là họ sẽ chẳng nghe theo.
Khi
anh bảo cho họ biết là họ không còn có thể liều thân được nữa trên cái mặt băng
kia vì nó đã ruỗng nát bên dưới rồi, thì Han đáp lại:
-Ấy
ở trên kia người ta đã bảo chúng tôi là đáy con đường này đang sụt dần ra rồi,
và tốt hơn hết là chúng tôi nên nằm lại thôi. Họ bảo là chúng tôi không thể đến
được sông Hoaitơ đâu, ấy thế mà chúng tôi vẫn cứ đến được đây này!
Han
nói câu cuối cùng này với một cái giọng cười khẩy đắc thắng.
-Họ
nói với các ngài như vậy là nói đúng đấy - Giôn Thoóctơn trả lời - Đáy con đường
có khả năng sụp hẳn xuống bất kỳ lúc nào, chỉ có những kẻ khờ dại với cái may mắn
mù quáng của những anh khờ, là đi qua được mà thôi. Tôi xin nói thẳng với ngài,
dù có được tất cả vàng của miền Alaxen, tôi cũng sẽ không liều mạng mình trên mặt
băng kia đâu.
-Bởi
vì ngài không phải là thằng khờ chứ gì - Han nói - Dù thế nào đi nữa, chúng tôi
cứ tiếp tục đi Đoxân!
Y
duỗi thẳng ngọn roi ra:
-Đứng
dậy Bấc! Ê! Đứng dậy! Đi!
Thoóctơn
tiếp tục đẽo gọt thanh gỗ. Anh biết không hơi đâu đi làm thầy thằng dại. Tăng
thêm hoặc bớt đi vài ba đứa ngốc trên đời cũng chả làm biến đổi gì được hệ thống
sắp xếp của vạn vật.
Nhưng
đàn chó không đứng dậy theo lệnh. Từ lâu rồi đã chuyển sang giai đoạn phải dùng
đến đòn vọt mới khua chúng dậy được. Chiếc roi vun vút quất xuống loang loáng,
hết chỗ này lại chỗ nọ vung vãi không thương xót. Giôn Thoóctơn mím chặt môi.
Xônlếch là con chó đầu tiên lết tới để đứng dậy. Tích nối theo. Sau đó là Jô, vừa
trườn lên vừa ăng ẳng kêu đau đớn. Paicơ đau khổ vật vã để nhổm dậy. Hai lần nó
nhấc mình lên đến nửa vời lại ngã vật xuống, mãi đến lần thứ ba mới đứng lên được.
Còn Bấc thì không động đậy. Nó nằm lặng nguyên chỗ nó đã gục xuống. Ngọn dây
roi ngoạm vào thân nó hết miếng này đến miếng khác nhưng nó không kêu rên mà
cũng không vật vã. Nhiều lần Thoóctơn quay ngoắt sang định lên tiếng, nhưng anh
lại thôi. Nước mắt anh ứa ra cay cay trong mắt, và trong khi ngọn roi cứ tiếp tục
vụt xuống tới tấp, anh đứng dậy và đi đi lại lại bồn chồn, lưỡng lự.
Đây
là lần đầu tiên Bấc không tuân theo ý chủ, chỉ riêng điều này thôi đã đủ làm
cho Han giận điên tiết lên rồi. Han bỏ chiếc roi, chuyển sang dùng chiếc dùi
cui theo lệ thường. Dưới cơn mưa xối xả của những đòn nặng chuỳ hơn đang giáng
xuống thân nó, Bấc vẫn không chịu nhúc nhích. Giống như lũ bạn nghề của nó, nó
có thể có đủ sức để đứng dậy được, thế nhưng không giống như bọn chúng, nó quyết
định không đứng dậy. Nó lờ mờ cảm thấy là cái kết cục bi thảm sắp xảy đến. Cảm
giác ấy đã rộ lên mạnh mẽ bên trong nó khi nó kéo chiếc xe đi vào bờ, và cứ ám ảnh
nó mãi không thôi. Suốt ngày nó đã cảm thấy dưới bên chân nó là băng chỉ còn một
lớp mỏng, ruỗng nát bên dưới, từ sự cảm thụ đó, chỉ trong tầm tay nữa thôi, ở
ngay trên khoảng băng trước mặt kia, nơi chủ nó đang cố thúc nó phải bước tới.
Nó quyết không chịu động đậy. Nó đã chịu đau đớn quá rồi, đã suy nhược quá mức
rồi nên những đòn đánh xuống không còn gây đau đớn lắm nữa. Và vì những đòn ấy
cứ tiếp tục giáng xuống mình nó, tàn lửa của sự sống bên trong nó lung linh chập
chờn và mờ dần, gần như muốn tắt ngấm. Nó cảm thấy thân thể nó tê liệt đi một
cách lạ thường. Dường như là từ một khoảng cách xa xăm nào đó, nó nhận biết là
nó đang bị đánh. Những cảm giác đau đớn cuối cùng dần dần tách rời ra khỏi nó.
Nó không còn cảm thấy gì nữa mặc dù nó còn nghe được rất lơ mơ tiếng quật của
chiếc dùi cui vào thân thể nó. Nhưng phải đâu là thân thể của nó nữa? Hình như
cái vật bị đánh ở mãi tận nơi nào xa lắc.
Thế
rồi, đột nhiên, không một dấu hiệu báo trước gào lên một tiếng lạc giọng nghe
như tiếng rú của loài thú. Giôn Thoóctơn đâm bổ vào con người đang vung chiếc
dùi cui. Han bị hất bật nhào về phía sau, như bị một thân cây đổ quật ngã.
Mecxêđét thét lên một tiếng thất thanh. Sác nhìn sửng sốt, lau vội đôi mắt ướt
nhoà nhưng cả người cứng đơ không đứng dậy được.
Giôn
Thoóctơn đứng sát bên mình Bấc, gắng sức để tự kiềm chế, cơn giận làm anh run,
không thốt được ra lời.
Cuối
cùng, anh nói lên được bằng một giọng tắc nghẹn:
-Nếu
mày còn đánh con chó này nữa, tao sẽ giết mày.
-Chó
của tao, tao đánh - Han vừa đập vừa tiến lại bàn tay quẹt vệt máu ngang mồm -
Cút đi cho rảnh mắt tao, nếu không thì tao cho mày một trận. Tao đang cần đi
Đoxân.
Thoóctơn
đứng chắn giữa hắn và Bấc không tỏ ra ý gì chịu tránh ra cả. Han rút phắt con
dao săn dài của hắn sụt sịt trong cơn điên loạn buông thả. Thoóctơn dùng chiếc
cán rìu gõ vào những khớp ngón tay của Han, thế là con dao rơi xuống đất. Khi hắn
xoay sang định nhặt, anh lại đánh vào khớp ngón tay của hắn lần nữa. Rồi anh
cúi xuống, tự mình nhặt con dao lên, và cắt hai nhát đứt phăng các dây thắng
trên mình Bấc.
Máu
háu đá của Han đã nguội ngắt. Vả lại, chị của hắn đã lăn vào túm lấy hắn, vướng
hết cả hai bàn tay, hay nói đúng hơn là cả hai cánh tay của hắn; hơn nữa Bấc
cũng đã gần như chết hẳn, chả còn có tác dụng gì cho việc kéo xe. Vài phút sau,
đoàn người và chó rút ra khỏi bờ đi xuống dòng sông. Bấc nghe tiếng chúng ra
đi, ngẩng đầu lên nhìn theo. Paicơ dẫn dầu, Xônlếch ở vị trí sát trước chiếc xe
trượt, ở quãng giữa là Jô và Tích. Chúng đang bước khập khiễng, lảo đảo.
Mecxêđét ngồi trên chiếc xe chở nặng. Han giữ cần lái, còn Sác thì lập cập nối
theo, lúc lúc lại vấp ở phía sau.
Trong
khi Bấc dõi theo chúng, Thoóctơn quỳ xuống bên Bấc và đưa đôi bàn tay thô ráp
nhưng âu yếm của anh dò dẫm tìm xem có chỗ xương nào bị gẫy không. Anh không
phát hiện thấy gì khác ngoài nhiều thương tích bầm tím và một tình trạng đói ăn
suy nhược khủng khiếp. Trong khi anh đang lúi húi thì chiếc xe trượt đã đi ra
được khoảng một phần tư dặm. Anh cùng Bấc nhìn theo chiếc xe đang trườn tới
trên mặt băng. Bỗng nhiên, họ thấy đuôi xe gục xuống, như tụt vào một chỗ lún,
và chiếc cần lái bật tung lên trời, kéo theo cả Han đang bíu chặt lấy nó. Tiếng
kêu thét của Mecxêđét vẳng đến tai họ. Họ nhìn thấy Sác quay ngoắt lại và cố dấn
thêm một bước để chạy trở lui, rồi thì toàn bộ cả một mảng băng lớn tụt hẳn xuống,
lũ chó và người biến mất. Tất cả chả còn gì, chỉ còn nhìn thấy một cái hố to há
hoác. Đáy con đường đã sụp xuống.
Giôn
Thoóctơn và Bấc nhìn nhau.
-Tội
nghiệp! Cái con quỷ đáng thương này! - Giôn Thoóctơn lên tiếng, và Bấc liếm tay
anh.
➖➖➖
Chapter V.
The Toil of Trace and Trail
Thirty
days from the time it left Dawson, the Salt Water Mail, with Buck and his mates
at the fore, arrived at Skaguay. They were in a wretched state, worn out and
worn down. Buck’s one hundred and forty pounds had dwindled to one hundred and
fifteen. The rest of his mates, though lighter dogs, had relatively lost more
weight than he. Pike, the malingerer, who, in his lifetime of deceit, had often
successfully feigned a hurt leg, was now limping in earnest. Sol-leks was
limping, and Dub was suffering from a wrenched shoulder-blade.
They
were all terribly footsore. No spring or rebound was left in them. Their feet
fell heavily on the trail, jarring their bodies and doubling the fatigue of a
day’s travel. There was nothing the matter with them except that they were dead
tired. It was not the dead-tiredness that comes through brief and excessive
effort, from which recovery is a matter of hours; but it was the dead-tiredness
that comes through the slow and prolonged strength drainage of months of toil.
There was no power of recuperation left, no reserve strength to call upon. It
had been all used, the last least bit of it. Every muscle, every fibre, every
cell, was tired, dead tired. And there was reason for it. In less than five
months they had travelled twenty-five hundred miles, during the last eighteen
hundred of which they had had but five days’ rest. When they arrived at Skaguay
they were apparently on their last legs. They could barely keep the traces
taut, and on the down grades just managed to keep out of the way of the sled.
“Mush
on, poor sore feets,” the driver encouraged them as they tottered down the main
street of Skaguay. “Dis is de las’. Den we get one long res’. Eh? For sure. One
bully long res’.”
The
drivers confidently expected a long stopover. Themselves, they had covered
twelve hundred miles with two days’ rest, and in the nature of reason and
common justice they deserved an interval of loafing. But so many were the men
who had rushed into the Klondike, and so many were the sweethearts, wives, and
kin that had not rushed in, that the congested mail was taking on Alpine
proportions; also, there were official orders. Fresh batches of Hudson Bay dogs
were to take the places of those worthless for the trail. The worthless ones
were to be got rid of, and, since dogs count for little against dollars, they
were to be sold.
Three
days passed, by which time Buck and his mates found how really tired and weak
they were. Then, on the morning of the fourth day, two men from the States came
along and bought them, harness and all, for a song. The men addressed each
other as “Hal” and “Charles.” Charles was a middle-aged, lightish-colored man,
with weak and watery eyes and a mustache that twisted fiercely and vigorously
up, giving the lie to the limply drooping lip it concealed. Hal was a youngster
of nineteen or twenty, with a big Colt’s revolver and a hunting-knife strapped
about him on a belt that fairly bristled with cartridges. This belt was the
most salient thing about him. It advertised his callowness—a callowness sheer
and unutterable. Both men were manifestly out of place, and why such as they
should adventure the North is part of the mystery of things that passes
understanding.
Buck
heard the chaffering, saw the money pass between the man and the Government
agent, and knew that the Scotch half-breed and the mail-train drivers were
passing out of his life on the heels of Perrault and François and the others
who had gone before. When driven with his mates to the new owners’ camp, Buck
saw a slipshod and slovenly affair, tent half stretched, dishes unwashed,
everything in disorder; also, he saw a woman. “Mercedes” the men called her.
She was Charles’s wife and Hal’s sister—a nice family party.
Buck
watched them apprehensively as they proceeded to take down the tent and load
the sled. There was a great deal of effort about their manner, but no
businesslike method. The tent was rolled into an awkward bundle three times as
large as it should have been. The tin dishes were packed away unwashed.
Mercedes continually fluttered in the way of her men and kept up an unbroken
chattering of remonstrance and advice. When they put a clothes-sack on the
front of the sled, she suggested it should go on the back; and when they had
put it on the back, and covered it over with a couple of other bundles, she
discovered overlooked articles which could abide nowhere else but in that very
sack, and they unloaded again.
Three
men from a neighboring tent came out and looked on, grinning and winking at one
another.
“You’ve
got a right smart load as it is,” said one of them; “and it’s not me should
tell you your business, but I wouldn’t tote that tent along if I was you.”
“Undreamed
of!” cried Mercedes, throwing up her hands in dainty dismay. “However in the
world could I manage without a tent?”
“It’s
springtime, and you won’t get any more cold weather,” the man replied.
She
shook her head decidedly, and Charles and Hal put the last odds and ends on top
the mountainous load.
“Think
it’ll ride?” one of the men asked.
“Why
shouldn’t it?” Charles demanded rather shortly.
“Oh,
that’s all right, that’s all right,” the man hastened meekly to say. “I was
just a-wonderin’, that is all. It seemed a mite top-heavy.”
Charles
turned his back and drew the lashings down as well as he could, which was not
in the least well.
“An’
of course the dogs can hike along all day with that contraption behind them,”
affirmed a second of the men.
“Certainly,”
said Hal, with freezing politeness, taking hold of the gee-pole with one hand
and swinging his whip from the other. “Mush!” he shouted. “Mush on there!”
The
dogs sprang against the breast-bands, strained hard for a few moments, then
relaxed. They were unable to move the sled.
“The
lazy brutes, I’ll show them,” he cried, preparing to lash out at them with the
whip.
But
Mercedes interfered, crying, “Oh, Hal, you mustn’t,” as she caught hold of the
whip and wrenched it from him. “The poor dears! Now you must promise you won’t
be harsh with them for the rest of the trip, or I won’t go a step.”
“Precious
lot you know about dogs,” her brother sneered; “and I wish you’d leave me
alone. They’re lazy, I tell you, and you’ve got to whip them to get anything
out of them. That’s their way. You ask any one. Ask one of those men.”
Mercedes
looked at them imploringly, untold repugnance at sight of pain written in her
pretty face.
“They’re
weak as water, if you want to know,” came the reply from one of the men. “Plum
tuckered out, that’s what’s the matter. They need a rest.”
“Rest
be blanked,” said Hal, with his beardless lips; and Mercedes said, “Oh!” in
pain and sorrow at the oath.
But
she was a clannish creature, and rushed at once to the defence of her brother.
“Never mind that man,” she said pointedly. “You’re driving our dogs, and you do
what you think best with them.”
Again
Hal’s whip fell upon the dogs. They threw themselves against the breast-bands,
dug their feet into the packed snow, got down low to it, and put forth all
their strength. The sled held as though it were an anchor. After two efforts,
they stood still, panting. The whip was whistling savagely, when once more
Mercedes interfered. She dropped on her knees before Buck, with tears in her
eyes, and put her arms around his neck.
“You
poor, poor dears,” she cried sympathetically, “why don’t you pull hard?—then
you wouldn’t be whipped.” Buck did not like her, but he was feeling too
miserable to resist her, taking it as part of the day’s miserable work.
One
of the onlookers, who had been clenching his teeth to suppress hot speech, now
spoke up:—
“It’s
not that I care a whoop what becomes of you, but for the dogs’ sakes I just
want to tell you, you can help them a mighty lot by breaking out that sled. The
runners are froze fast. Throw your weight against the gee-pole, right and left,
and break it out.”
A
third time the attempt was made, but this time, following the advice, Hal broke
out the runners which had been frozen to the snow. The overloaded and unwieldy
sled forged ahead, Buck and his mates struggling frantically under the rain of
blows. A hundred yards ahead the path turned and sloped steeply into the main
street. It would have required an experienced man to keep the top-heavy sled
upright, and Hal was not such a man. As they swung on the turn the sled went
over, spilling half its load through the loose lashings. The dogs never
stopped. The lightened sled bounded on its side behind them. They were angry
because of the ill treatment they had received and the unjust load. Buck was
raging. He broke into a run, the team following his lead. Hal cried “Whoa!
whoa!” but they gave no heed. He tripped and was pulled off his feet. The
capsized sled ground over him, and the dogs dashed on up the street, adding to
the gayety of Skaguay as they scattered the remainder of the outfit along its
chief thoroughfare.
Kind-hearted
citizens caught the dogs and gathered up the scattered belongings. Also, they
gave advice. Half the load and twice the dogs, if they ever expected to reach
Dawson, was what was said. Hal and his sister and brother-in-law listened
unwillingly, pitched tent, and overhauled the outfit. Canned goods were turned
out that made men laugh, for canned goods on the Long Trail is a thing to dream
about. “Blankets for a hotel” quoth one of the men who laughed and helped.
“Half as many is too much; get rid of them. Throw away that tent, and all those
dishes,—who’s going to wash them, anyway? Good Lord, do you think you’re
travelling on a Pullman?”
And
so it went, the inexorable elimination of the superfluous. Mercedes cried when
her clothes-bags were dumped on the ground and article after article was thrown
out. She cried in general, and she cried in particular over each discarded
thing. She clasped hands about knees, rocking back and forth broken-heartedly.
She averred she would not go an inch, not for a dozen Charleses. She appealed
to everybody and to everything, finally wiping her eyes and proceeding to cast
out even articles of apparel that were imperative necessaries. And in her zeal,
when she had finished with her own, she attacked the belongings of her men and
went through them like a tornado.
This
accomplished, the outfit, though cut in half, was still a formidable bulk.
Charles and Hal went out in the evening and bought six Outside dogs. These,
added to the six of the original team, and Teek and Koona, the huskies obtained
at the Rink Rapids on the record trip, brought the team up to fourteen. But the
Outside dogs, though practically broken in since their landing, did not amount
to much. Three were short-haired pointers, one was a Newfoundland, and the
other two were mongrels of indeterminate breed. They did not seem to know
anything, these newcomers. Buck and his comrades looked upon them with disgust,
and though he speedily taught them their places and what not to do, he could
not teach them what to do. They did not take kindly to trace and trail. With
the exception of the two mongrels, they were bewildered and spirit-broken by
the strange savage environment in which they found themselves and by the ill
treatment they had received. The two mongrels were without spirit at all; bones
were the only things breakable about them.
With
the newcomers hopeless and forlorn, and the old team worn out by twenty-five
hundred miles of continuous trail, the outlook was anything but bright. The two
men, however, were quite cheerful. And they were proud, too. They were doing
the thing in style, with fourteen dogs. They had seen other sleds depart over
the Pass for Dawson, or come in from Dawson, but never had they seen a sled
with so many as fourteen dogs. In the nature of Arctic travel there was a
reason why fourteen dogs should not drag one sled, and that was that one sled
could not carry the food for fourteen dogs. But Charles and Hal did not know
this. They had worked the trip out with a pencil, so much to a dog, so many
dogs, so many days, Q.E.D. Mercedes looked over their shoulders and nodded
comprehensively, it was all so very simple.
Late
next morning Buck led the long team up the street. There was nothing lively
about it, no snap or go in him and his fellows. They were starting dead weary.
Four times he had covered the distance between Salt Water and Dawson, and the
knowledge that, jaded and tired, he was facing the same trail once more, made
him bitter. His heart was not in the work, nor was the heart of any dog. The
Outsides were timid and frightened, the Insides without confidence in their
masters.
Buck
felt vaguely that there was no depending upon these two men and the woman. They
did not know how to do anything, and as the days went by it became apparent
that they could not learn. They were slack in all things, without order or
discipline. It took them half the night to pitch a slovenly camp, and half the
morning to break that camp and get the sled loaded in fashion so slovenly that
for the rest of the day they were occupied in stopping and rearranging the
load. Some days they did not make ten miles. On other days they were unable to
get started at all. And on no day did they succeed in making more than half the
distance used by the men as a basis in their dog-food computation.
It
was inevitable that they should go short on dog-food. But they hastened it by
overfeeding, bringing the day nearer when underfeeding would commence. The
Outside dogs, whose digestions had not been trained by chronic famine to make
the most of little, had voracious appetites. And when, in addition to this, the
worn-out huskies pulled weakly, Hal decided that the orthodox ration was too
small. He doubled it. And to cap it all, when Mercedes, with tears in her
pretty eyes and a quaver in her throat, could not cajole him into giving the
dogs still more, she stole from the fish-sacks and fed them slyly. But it was
not food that Buck and the huskies needed, but rest. And though they were
making poor time, the heavy load they dragged sapped their strength severely.
Then
came the underfeeding. Hal awoke one day to the fact that his dog-food was half
gone and the distance only quarter covered; further, that for love or money no
additional dog-food was to be obtained. So he cut down even the orthodox ration
and tried to increase the day’s travel. His sister and brother-in-law seconded
him; but they were frustrated by their heavy outfit and their own incompetence.
It was a simple matter to give the dogs less food; but it was impossible to
make the dogs travel faster, while their own inability to get under way earlier
in the morning prevented them from travelling longer hours. Not only did they
not know how to work dogs, but they did not know how to work themselves.
The
first to go was Dub. Poor blundering thief that he was, always getting caught
and punished, he had none the less been a faithful worker. His wrenched
shoulder-blade, untreated and unrested, went from bad to worse, till finally
Hal shot him with the big Colt’s revolver. It is a saying of the country that
an Outside dog starves to death on the ration of the husky, so the six Outside
dogs under Buck could do no less than die on half the ration of the husky. The
Newfoundland went first, followed by the three short-haired pointers, the two
mongrels hanging more grittily on to life, but going in the end.
By
this time all the amenities and gentlenesses of the Southland had fallen away
from the three people. Shorn of its glamour and romance, Arctic travel became
to them a reality too harsh for their manhood and womanhood. Mercedes ceased
weeping over the dogs, being too occupied with weeping over herself and with
quarrelling with her husband and brother. To quarrel was the one thing they
were never too weary to do. Their irritability arose out of their misery,
increased with it, doubled upon it, outdistanced it. The wonderful patience of
the trail which comes to men who toil hard and suffer sore, and remain sweet of
speech and kindly, did not come to these two men and the woman. They had no
inkling of such a patience. They were stiff and in pain; their muscles ached,
their bones ached, their very hearts ached; and because of this they became
sharp of speech, and hard words were first on their lips in the morning and
last at night.
Charles
and Hal wrangled whenever Mercedes gave them a chance. It was the cherished
belief of each that he did more than his share of the work, and neither forbore
to speak this belief at every opportunity. Sometimes Mercedes sided with her
husband, sometimes with her brother. The result was a beautiful and unending
family quarrel. Starting from a dispute as to which should chop a few sticks
for the fire (a dispute which concerned only Charles and Hal), presently would
be lugged in the rest of the family, fathers, mothers, uncles, cousins, people
thousands of miles away, and some of them dead. That Hal’s views on art, or the
sort of society plays his mother’s brother wrote, should have anything to do
with the chopping of a few sticks of firewood, passes comprehension;
nevertheless the quarrel was as likely to tend in that direction as in the
direction of Charles’s political prejudices. And that Charles’s sister’s
tale-bearing tongue should be relevant to the building of a Yukon fire, was
apparent only to Mercedes, who disburdened herself of copious opinions upon
that topic, and incidentally upon a few other traits unpleasantly peculiar to
her husband’s family. In the meantime the fire remained unbuilt, the camp half
pitched, and the dogs unfed.
Mercedes
nursed a special grievance—the grievance of sex. She was pretty and soft, and
had been chivalrously treated all her days. But the present treatment by her
husband and brother was everything save chivalrous. It was her custom to be
helpless. They complained. Upon which impeachment of what to her was her most
essential sex-prerogative, she made their lives unendurable. She no longer
considered the dogs, and because she was sore and tired, she persisted in
riding on the sled. She was pretty and soft, but she weighed one hundred and
twenty pounds—a lusty last straw to the load dragged by the weak and starving
animals. She rode for days, till they fell in the traces and the sled stood
still. Charles and Hal begged her to get off and walk, pleaded with her,
entreated, the while she wept and importuned Heaven with a recital of their
brutality.
On
one occasion they took her off the sled by main strength. They never did it
again. She let her legs go limp like a spoiled child, and sat down on the
trail. They went on their way, but she did not move. After they had travelled
three miles they unloaded the sled, came back for her, and by main strength put
her on the sled again.
In
the excess of their own misery they were callous to the suffering of their
animals. Hal’s theory, which he practised on others, was that one must get
hardened. He had started out preaching it to his sister and brother-in-law.
Failing there, he hammered it into the dogs with a club. At the Five Fingers
the dog-food gave out, and a toothless old squaw offered to trade them a few
pounds of frozen horse-hide for the Colt’s revolver that kept the big
hunting-knife company at Hal’s hip. A poor substitute for food was this hide,
just as it had been stripped from the starved horses of the cattlemen six
months back. In its frozen state it was more like strips of galvanized iron,
and when a dog wrestled it into his stomach it thawed into thin and
innutritious leathery strings and into a mass of short hair, irritating and
indigestible.
And
through it all Buck staggered along at the head of the team as in a nightmare.
He pulled when he could; when he could no longer pull, he fell down and
remained down till blows from whip or club drove him to his feet again. All the
stiffness and gloss had gone out of his beautiful furry coat. The hair hung
down, limp and draggled, or matted with dried blood where Hal’s club had
bruised him. His muscles had wasted away to knotty strings, and the flesh pads
had disappeared, so that each rib and every bone in his frame were outlined
cleanly through the loose hide that was wrinkled in folds of emptiness. It was
heartbreaking, only Buck’s heart was unbreakable. The man in the red sweater
had proved that.
As
it was with Buck, so was it with his mates. They were perambulating skeletons.
There were seven all together, including him. In their very great misery they
had become insensible to the bite of the lash or the bruise of the club. The
pain of the beating was dull and distant, just as the things their eyes saw and
their ears heard seemed dull and distant. They were not half living, or quarter
living. They were simply so many bags of bones in which sparks of life
fluttered faintly. When a halt was made, they dropped down in the traces like
dead dogs, and the spark dimmed and paled and seemed to go out. And when the
club or whip fell upon them, the spark fluttered feebly up, and they tottered
to their feet and staggered on.
There
came a day when Billee, the good-natured, fell and could not rise. Hal had
traded off his revolver, so he took the axe and knocked Billee on the head as
he lay in the traces, then cut the carcass out of the harness and dragged it to
one side. Buck saw, and his mates saw, and they knew that this thing was very
close to them. On the next day Koona went, and but five of them remained: Joe,
too far gone to be malignant; Pike, crippled and limping, only half conscious
and not conscious enough longer to malinger; Sol-leks, the one-eyed, still
faithful to the toil of trace and trail, and mournful in that he had so little
strength with which to pull; Teek, who had not travelled so far that winter and
who was now beaten more than the others because he was fresher; and Buck, still
at the head of the team, but no longer enforcing discipline or striving to
enforce it, blind with weakness half the time and keeping the trail by the loom
of it and by the dim feel of his feet.
It
was beautiful spring weather, but neither dogs nor humans were aware of it.
Each day the sun rose earlier and set later. It was dawn by three in the
morning, and twilight lingered till nine at night. The whole long day was a
blaze of sunshine. The ghostly winter silence had given way to the great spring
murmur of awakening life. This murmur arose from all the land, fraught with the
joy of living. It came from the things that lived and moved again, things which
had been as dead and which had not moved during the long months of frost. The
sap was rising in the pines. The willows and aspens were bursting out in young
buds. Shrubs and vines were putting on fresh garbs of green. Crickets sang in
the nights, and in the days all manner of creeping, crawling things rustled
forth into the sun. Partridges and woodpeckers were booming and knocking in the
forest. Squirrels were chattering, birds singing, and overhead honked the
wild-fowl driving up from the south in cunning wedges that split the air.
From
every hill slope came the trickle of running water, the music of unseen
fountains. All things were thawing, bending, snapping. The Yukon was straining
to break loose the ice that bound it down. It ate away from beneath; the sun
ate from above. Air-holes formed, fissures sprang and spread apart, while thin
sections of ice fell through bodily into the river. And amid all this bursting,
rending, throbbing of awakening life, under the blazing sun and through the
soft-sighing breezes, like wayfarers to death, staggered the two men, the
woman, and the huskies.
With
the dogs falling, Mercedes weeping and riding, Hal swearing innocuously, and
Charles’s eyes wistfully watering, they staggered into John Thornton’s camp at
the mouth of White River. When they halted, the dogs dropped down as though
they had all been struck dead. Mercedes dried her eyes and looked at John
Thornton. Charles sat down on a log to rest. He sat down very slowly and
painstakingly what of his great stiffness. Hal did the talking. John Thornton
was whittling the last touches on an axe-handle he had made from a stick of
birch. He whittled and listened, gave monosyllabic replies, and, when it was
asked, terse advice. He knew the breed, and he gave his advice in the certainty
that it would not be followed.
“They
told us up above that the bottom was dropping out of the trail and that the
best thing for us to do was to lay over,” Hal said in response to Thornton’s
warning to take no more chances on the rotten ice. “They told us we couldn’t
make White River, and here we are.” This last with a sneering ring of triumph
in it.
“And
they told you true,” John Thornton answered. “The bottom’s likely to drop out
at any moment. Only fools, with the blind luck of fools, could have made it. I
tell you straight, I wouldn’t risk my carcass on that ice for all the gold in
Alaska.”
“That’s
because you’re not a fool, I suppose,” said Hal. “All the same, we’ll go on to
Dawson.” He uncoiled his whip. “Get up there, Buck! Hi! Get up there! Mush on!”
Thornton
went on whittling. It was idle, he knew, to get between a fool and his folly;
while two or three fools more or less would not alter the scheme of things.
But
the team did not get up at the command. It had long since passed into the stage
where blows were required to rouse it. The whip flashed out, here and there, on
its merciless errands. John Thornton compressed his lips. Sol-leks was the
first to crawl to his feet. Teek followed. Joe came next, yelping with pain.
Pike made painful efforts. Twice he fell over, when half up, and on the third
attempt managed to rise. Buck made no effort. He lay quietly where he had
fallen. The lash bit into him again and again, but he neither whined nor
struggled. Several times Thornton started, as though to speak, but changed his
mind. A moisture came into his eyes, and, as the whipping continued, he arose
and walked irresolutely up and down.
This
was the first time Buck had failed, in itself a sufficient reason to drive Hal
into a rage. He exchanged the whip for the customary club. Buck refused to move
under the rain of heavier blows which now fell upon him. Like his mates, he was
barely able to get up, but, unlike them, he had made up his mind not to get up.
He had a vague feeling of impending doom. This had been strong upon him when he
pulled in to the bank, and it had not departed from him. What of the thin and
rotten ice he had felt under his feet all day, it seemed that he sensed
disaster close at hand, out there ahead on the ice where his master was trying
to drive him. He refused to stir. So greatly had he suffered, and so far gone
was he, that the blows did not hurt much. And as they continued to fall upon
him, the spark of life within flickered and went down. It was nearly out. He
felt strangely numb. As though from a great distance, he was aware that he was
being beaten. The last sensations of pain left him. He no longer felt anything,
though very faintly he could hear the impact of the club upon his body. But it
was no longer his body, it seemed so far away.
And
then, suddenly, without warning, uttering a cry that was inarticulate and more
like the cry of an animal, John Thornton sprang upon the man who wielded the
club. Hal was hurled backward, as though struck by a falling tree. Mercedes
screamed. Charles looked on wistfully, wiped his watery eyes, but did not get
up because of his stiffness.
John
Thornton stood over Buck, struggling to control himself, too convulsed with
rage to speak.
“If
you strike that dog again, I’ll kill you,” he at last managed to say in a
choking voice.
“It’s
my dog,” Hal replied, wiping the blood from his mouth as he came back. “Get out
of my way, or I’ll fix you. I’m going to Dawson.”
Thornton
stood between him and Buck, and evinced no intention of getting out of the way.
Hal drew his long hunting-knife. Mercedes screamed, cried, laughed, and
manifested the chaotic abandonment of hysteria. Thornton rapped Hal’s knuckles
with the axe-handle, knocking the knife to the ground. He rapped his knuckles
again as he tried to pick it up. Then he stooped, picked it up himself, and
with two strokes cut Buck’s traces.
Hal
had no fight left in him. Besides, his hands were full with his sister, or his
arms, rather; while Buck was too near dead to be of further use in hauling the
sled. A few minutes later they pulled out from the bank and down the river.
Buck heard them go and raised his head to see, Pike was leading, Sol-leks was
at the wheel, and between were Joe and Teek. They were limping and staggering.
Mercedes was riding the loaded sled. Hal guided at the gee-pole, and Charles
stumbled along in the rear.
As
Buck watched them, Thornton knelt beside him and with rough, kindly hands
searched for broken bones. By the time his search had disclosed nothing more
than many bruises and a state of terrible starvation, the sled was a quarter of
a mile away. Dog and man watched it crawling along over the ice. Suddenly, they
saw its back end drop down, as into a rut, and the gee-pole, with Hal clinging
to it, jerk into the air. Mercedes’s scream came to their ears. They saw
Charles turn and make one step to run back, and then a whole section of ice
give way and dogs and humans disappear. A yawning hole was all that was to be
seen. The bottom had dropped out of the trail.
John
Thornton and Buck looked at each other.
“You
poor devil,” said John Thornton, and Buck licked his hand.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét