2022-01-22
Tiếng
gọi nơi hoang dã (VI)
Jack
London
Biên dịch: Nguyễn Công Ái và Vũ Tuấn
Phương.
Tiếng Anh: “The Call of the Wild” được
lấy từ dự án “The Project Gutenberg EBook”.
Chương VI.
Vì tình yêu thương đối với một con người
Khi
Giôn Thoóctơn bị cóng liệt chân hồi tháng chạp vừa qua, bạn phường của anh đã sắp
xếp cho anh chỗ nghỉ ngơi thoải mái và để anh ở lại chờ hồi phục, còn họ cứ tiếp
tục ngược dòng sông để kiếm một bè gỗ sẽ đưa đi Đoxân bán. Vào lúc Thoóctơn cứu
Bấc, anh vẫn còn hơi khập khiễng, nhưng nhờ thời tiết tiếp tục ấm áp, nay anh
đã khỏi hẳn.
Và
tại nơi đây, nằm cạnh bờ sông qua suốt những ngày xuân dài, dõi theo dòng nước
chảy, nhàn nhã lắng nghe tiếng chim hót và tiếng rì rầm của thiên nhiên, Bấc dần
lấy lại được sức lực.
Thật
không còn gì bằng được nghỉ ngơi sau một cuộc hành trình những ba nghìn dặm, và
cũng phải thú thật là Bấc đã đâm ra lười nhác trong khi những vết thương của nó
kín miệng dần, các cơ bắp nở ra và thịt lại đẩy lên che kín xương cốt nó. Nói
cho đúng ra, tất cả đều ngồi dưng chả làm gì - Bấc, Giôn Thoóctơn, Xkít và Ních
- trong khi chờ chiếc bè đến chở họ xuôi dòng đi Đoxân. Xkít là một con chó săn
lông xù nhỏ nhắn gốc Ailen, đã sớm đánh bạn với Bấc vào lúc Bấc đang trong tình
trạng dở sống dở chết không còn hơi sức nào cự lại những động tác làm thân ban
đầu của cô ả. Cô nàng Xkít có cái nét đặc sắc của thầy thuốc mà người ta thường
thấy ở một số con chó. Giống như một con mèo mẹ liếm lông cho con, cô nàng đã
liếm và làm sạch những vết thương của Bấc. Theo một nếp đều đặn, mỗi buổi sáng
sau khi Bấc ăn xong, cô nàng lại thực hiện cái nhiệm vụ mà cô nàng đã tự giao
cho mình, cho đến khi Bấc quen đi đâm ra mong ngóng sự chăm sóc của Xkít chả
khác gì mong ngóng sự chăm sóc của Thoóctơn vậy. Còn Ních, một con chó đen to lớn,
là giống chó dò thú, lai chó săn Xcôtlen, có đôi mắt tươi cười và tính tình dễ
thương vô hạn, cũng thân mật với Bấc như Xkít mặc dù không bộc lộ bằng.
Điểm
làm cho Bấc phải ngạc nhiên là những con chó này không tỏ ra ghen tị với Bấc
chút nào. Chúng hình như cùng chia sẻ lòng tốt và sự rộng lượng của Giôn
Thoóctơn. Khi Bấc đã cứng cáp lên, chúng lôi kéo nó vào đủ loại trò chơi ngộ
nghĩnh mà chính Thoóctơn cũng lao vào tham gia không nhịn được. Cứ như vậy, Bấc
vượt qua một cách dễ dàng thời kỳ hồi phục và bước vào một cuộc sống mới.
Tình
yêu thương, một tình yêu thương thực sự và nồng nàn, lần đầu tiên phát sinh ra
bên trong nó. Trước kia nó chưa hề cảm thấy một tình yêu thương như vậy lúc ở tại
nhà Thẩm phán Milơ giữa thung lũng Xanto Clara mơn man ánh nắng. Với những cậu
con trai của ông Thẩm. Trong những buổi đi săn hoặc đi lang thang đây đó, tình
cảm của Bấc chỉ là thứ tình bạn làm ăn cùng hội cùng phường. Với những đứa cháu
nhỏ của ông Thẩm, đó là một thứ trách nhiệm hộ vệ trong niềm kiêu hãnh tự cao tự
đại. Còn đối với bản thân ông Thẩm thì đó là thứ tình bạn trịnh trọng và đường
hoàng. Nhưng, tình thương yêu sôi nổi, nồng cháy, thương yêu đến mức tôn thờ, thương
yêu đến cuồng nhiệt, thì phải đến Giôn Thoóctơn mới khơi dậy lên được trong
lòng Bấc.
Con
người này đã cứu sống nó, đó là một lẽ: nhưng hơn thế nữa, con người này là một
ông chủ lý tưởng. Những người khác trông nom chó của họ xuất phát từ một ý thức
về nghĩa vụ và về lợi ích, kinh doanh; còn Giôn Thoóctơn thì chăm sóc chó của
mình như thể chúng là con cái của anh vậy, là bởi vì anh không thể nào dừng được.
Và anh còn chăm sóc nhiều hơn nữa kia. Anh không bao giờ quên chào chúng bằng một
cử chỉ thân ái hoặc một lời hớn hở. Ngồi xuống nói chuyện lâu với chúng (mà anh
gọi là "tầm phào") là điều mà cả anh và chúng đều thích thú. Anh có
cái thói quen túm chặt lấy đầu Bấc rồi dựa đầu anh vào đầu nó, hoặc lắc nó đảo
qua đảo lại, vừa lắc vừa khe khẽ thốt lên những tiếng rủa mà đối với nó lại là
những lời nói nựng âu yếm. Bấc thấy không có gì vui sướng bằng được cái ôm ghì
mạnh mẽ ấy và những rủa rủ rỉ bên tai ấy, và theo mỗi cái lắc đảo qua đảo lại,
nó tưởng chừng như quả tim mình muốn nhảy tung ra khỏi lồng ngực vì quá ngây ngất
rạo rực. Khi được buông ra, nó bật dậy đứng thẳng lên, miệng cười, mắt hùng hồn
diễn cảm, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời, và cứ như vậy trong
tư thế đứng yên bất động. Những lúc ấy Giôn Thoóctơn lại kêu lên, trân trọng:
"Trời đất! Mày hầu như biết nói đấy!"
Bấc
có một kiểu biểu lộ tình thương yêu gần giống như làm đau người ta. Nó thường
hay há miệng ra cắn lấy tay Thoóctơn rồi ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hằn
vào da thịt một lúc sau mới mất. Và cũng như Bấc hiểu những tiếng rủa là những
lời nói nựng, con người cũng hiểu cái cắn vờ ấy là một cử chỉ âu yếm yêu
thương.
Tuy
nhiên, tình thương yêu của Bấc phần lớn được diễn đạt bằng sự tôn thờ. Mặc dù
nó sung sướng đến cuồng lên mỗi khi Thoóctơn vuốt ve hoặc nói chuyện với nó, nó
không săn đón những biểu hiện tình cảm đó. Bấc khác với Xkít mà cũng khác với
Ních, Xkít có thói quen thọc cái mũi của nó vào dưới bàn tay của Thoóctơn rồi
hích, hích mãi cho đến khi được vỗ về. Ních thì thường hiên ngang bước tới rồi
tựa cái đầu to lớn của nó lên đầu gối của Thoóctơn. Còn Bấc thì bằng lòng với
việc đứng cách một quãng mà tôn thờ anh. Nó thường nằm phục ở chân Thoóctơn
hàng giờ, mắt hau háu, tỉnh táo linh lợi, ngước nhìn thẳng vào mặt anh, chăm
chú vào đấy, xem xét kỹ nét mặt, theo dõi với một mối quan tâm đặc biệt từng biểu
hiện thoáng qua, mọi cử động hoặc đổi thay trên thần sắc. Hoặc, cũng có lúc do
tình cờ, nó nằm xa ra hơn, về một bên hoặc đằng sau anh, quan sát hình dáng của
anh và dõi theo những cử động từng lúc của con người anh. Và thường thường, do
mối giao cảm giữa chó và người, sức mạnh của cái nhìn của Bấc làm cho Giôn Thoóctơn
quay đầu sang, và nhìn trở lại nó không nói năng gì, nhưng đôi mắt anh toả rạng
linh cảm tự đáy lòng, trong khi tình cảm của Bấc cũng ánh ngời lên qua đôi mắt
nó.
Trong
một thời gian dài sau khi được cứu sống, Bấc không muốn rời Thoóctơn ra một bước.
Từ lúc anh bước ra khỏi lán cho đến lúc anh lại trở vào đấy, khi nào Bấc cũng
bám gót anh. Việc thay thầy đổi chủ xoành xoạch kể từ khi nó vào vùng đất
phương Bắc đã làm nảy sinh ra trong lòng nó nỗi lo sợ không có người chủ nào có
thể gắn bó lâu dài cả. Nó sợ Thoóctơn cũng lại biến khỏi cuộc đời của nó như
Perôn và Phrăngxoa và anh chàng người lai Xcôtlen đã đi qua rồi biến mất trước
đây. Ngay cả ban đêm, trong giấc mơ, nó cũng bị nỗi lo sợ này ám ảnh. Những lúc
ấy nó vội vùng dậy không ngủ nữa, trườn qua giá lạnh đến tận mép chiếc lều, rồi
đứng ở đấy lắng tai nghe tiếng thở đều đều của chủ.
Nhưng
mặc dù Bấc mang mối tình cảm sâu nặng như vậy đối với Giôn Thoóctơn - mà điều
này hình như chứng tỏ ảnh hưởng hiền hoà của sự văn minh hoá - nhưng huyết thống
của nguyên thuỷ mà vùng đất phương Bắc đã khơi dậy bên trong nó, vẫn tồn tại và
sống động. Nó vẫn có sự trung thành và lòng tận tuỵ, những đức tính nảy sinh ra
từ bếp lửa và mái nhà; thế nhưng nó còn giữ lại bản tính man rợ và quỷ quyệt.
Nó là một vật của hoang dã, từ cõi hoang dã đến đây ngồi cạnh bếp lửa của Giôn
Thoóctơn, đúng hơn là một con chó của vùng đất phương Nam dịu dàng mang dấu ấn
của bao nhiêu thế hệ văn minh. Do tình thương yêu sâu nặng của nó, nó không thể
nào đánh cắp của con người này, nhưng đối với bất kỳ người nào khác, tại bất kỳ
khu vực lán trại nào khác, nó đã không hề ngần ngại một giây phút nào, trong
khi nó lại đủ khôn ranh để xoáy trộm mà không bị phát hiện.
Mặt
mũi và thân mình nó đầy vết răng của nhiều con chó nó vẫn đánh nhau dữ tợn như
trước và lại có nhiều mưu mẹo hơn. Xkít và Ních thì lành nết quá nên không phải
là đối tượng để gây chuyện - hơn nữa, chúng lại là của Giôn Thoóctơn. Nhưng bất
cứ con chó lạ nào, dù thuộc nòi gì hoặc dũng mãnh đến đâu đi nữa, đều phải
nhanh chóng thừa nhận quyền uy tối cao của Bấc, nếu không sẽ buộc phải giao
tranh một mất một còn với một đối thủ ghê gớm. Và Bấc không hề thương hại. Nó
đã học được sâu sắc luật của dùi cui và răng nanh, và nó không bao giờ từ bỏ một
lợi thế hoặc lùi bước trước một kẻ thù mà nó đã đẩy vào con đường dẫn đến cõi của
Thần Chết. Nó đã học được những bài học ở Xpít và ở những con chó chiến đấu đầu
đàn của cảnh sát và ngành bưu điện, nó biết được là không có con đường trung
dung. Nó phải thống trị hoặc bị thống trị: mà tỏ lòng thương hại là dấu hiệu của
sự mềm yếu. Lòng thương hại không tồn tại trong cuộc sống nguyên thuỷ. Lòng
thương hại dễ bị hiểu lầm là sự sợ hãi, mà những thứ hiểu lầm như vậy dẫn đến
cái chết. Giết hoặc bị giết, ăn thịt hoặc bị ăn thịt, đó là quy luật; và đối với
mệnh lệnh ấy, truyền xuống đến nó từ những nơi sâu thẳm của thời gian, nó đã
tuân theo.
Nó
già đời hơn số nhưng năm tháng mà nó đã trải qua và số những hơi thở của lồng
ngực nó. Nó là mối dây nối liền quá khứ với hiện tại và cõi vĩnh cửu ngàn xưa
phía đằng sau nó vẫn rộn ràng truyền qua nó một nhịp đập đầy uy lực mà nó dao động
hoà theo, giống như sóng triều lên xuống và bốn mùa tuần hoàn vẫn bằng dao động.
Nó ngồi cạnh bếp lửa của Giôn Thoóctơn, nó đấy, con chó ức nở rộng, nanh trắng,
và lông mao dài rậm: nhưng đằng sau nó là bóng dáng của một loại chó, nửa sói
hoang, hoặc sói hoang chính cống như thúc giục, như nhắc nhở, thưởng thức mùi vị
miếng thịt nó ăn, thèm khát hớp nước nó uống, cùng nó đánh hơi làn gió, cùng nó
lắng tai nghe và mách cho nó xác định những tiếng động của sự sống hoang vu
trong rừng thẳm, chỉ đạo tâm tính của nó, điều khiển hành vi của nó, cùng nằm
xuống ngủ với nó khi nó nằm xuống cùng mơ với nó và mơ còn xa hơn về kiếp sau của
nó, và bản thân chúng còn trở thành những hình ảnh hiện lên ngay trong giấc mơ
của nó.
Những
bóng dáng hiển hiện ấy đã ra hiệu, vẫy gọi nó với một sức mạnh bức bách đến nỗi
ngày trôi qua, loài người và những đòi hỏi của loài người cứ tuột ra xa khỏi
nó. Từ một nơi sâu thẳm trong rừng hoang một tiếng gọi thường cất lên, xốn xang
và quyến rũ một cách huyền bí. Và do nó luôn luôn nghe thấy cái tiếng gọi đó,
nó cảm thấy buộc phải quay lưng lại ngọn lửa của con người và nền đất đã được
chân người nện chặt ở chung quanh, để lao vào rừng sâu, và cứ lao tới, lao tới
tới nơi nào và tại sao như vậy nó cũng không biết nữa. Mà nó cũng không tự hỏi
là từ nơi nào và tại sao tiếng gọi kia lại đang vang lên khẩn thiết như vậy, ở
đâu đó sâu thẳm trong rừng hoang. Nhưng những khi nó chạy ra đến nơi đất hoang
còn mềm chưa ai đặt chân tới dưới bóng rừng xanh, thì tình yêu thương đối với
Giôn Thoóctơn lại kéo nó trở lui về bên bếp lửa.
Chỉ
vì mỗi một mình Thoóctơn mà nó còn ở lại. Toàn bộ những kẻ khác của loài người
không còn ý nghĩa gì. Những du khách ngẫu nhiên gặp nó có thể ngợi khen hoặc vỗ
về nó, nhưng đối với tất cả những điều đó nó đều lạnh lùng, và khi gặp phải một
người quá vồ vập quấn quít thì nó thường đứng dậy và bỏ đi. Khi những bạn phường
của Thoóctơn là Henđơ và Phiti đưa chiếc bè lâu nay mong đợi đến nơi này, Bấc
phớt lờ họ cho đến khi nó biết được là họ thân cận với Thoóctơn; khi đó nó mới
chịu khoan thứ với họ theo một kiểu thụ động chấp nhận những sự chiếu cố của họ
như thể chính vì nó chiếu cố họ và chấp nhận đấy thôi. Họ cũng thuộc loại người
rộng lượng hào phóng như Thoóctơn, sống sát với thực tế, suy nghĩ đơn giản
nhưng đầu óc sáng suốt, minh mẫn. Và qua một thực tế thời gian, trước khi họ
lái chiếc bè gỗ ngoặt vào vũng nước xoáy lớn bên cạnh nhà máy cưa ở Đoxân, họ
đã hiểu được Bấc và tính nết của nó, nên họ không cố đòi Bấc phải thân thiết với
họ như Xkít hay Ních.
Tuy
nhiên, đối với Thoóctơn, tình yêu thương của nó hình như cứ ngày càng tăng lên,
tăng lên mãi. Trong những con người, duy nhất chỉ có anh là có thể đặt được một
túi hành lý trên lưng Bấc trong cuộc hành trình ngày hè. Khi Thoóctơn ra lệnh
thì không có công việc gì là quá khó khăn đối với Bấc. một hôm (sau khi họ đã
kiếm được một số lương thực và vốn liếng nhờ bán chiếc bè gỗ và rời Đoxân ngược
nguồn sông Tanana), người và chó đang ngồi trên chỏm một vách đá dựng đứng bên một
cái vực sâu đến ba trăm bộ, đáy vực là nền đá trần trụi, Giôn Thoóctơn ngồi gần
mép vực, Bấc tựa vào vai anh, Thoóctơn chợt nảy ra một ý nghĩ nông nổi, anh lưu
ý Hendơ và Piti hãy xem anh thử một điều vừa thoáng qua trong óc:
-Nhảy
đi, Bấc! - anh vung tay ra trên vực sâu, ra lệnh.
Trong
khoảnh khắc, anh đã phải ôm ghì lấy Bấc ở mép đá cheo leo trong khi Hendơ và
Piti đang gò người kéo cả anh và Bấc trở lui vào nơi an toàn.
-Thật
là dại dột! - Piti thốt lên, sau khi sự việc đã xong xuôi và họ đã hoàn hồn.
Thoóctơn
lắc đầu:
-Không!
Thật là tuyệt vời, mà cũng thật là khủng khiếp. Các cậu có biết không, đôi khi
nó làm cho tớ phát sợ.
-Vô
phúc cho kẻ nào dám chạm vào anh trong khi nó ở quanh quẩn bên anh. Tôi thì chả
dám - Piti tuyên bố như để kết luận, hất đầu chỉ về phía Bấc.
-Lạy
Chúa! - Hendơ góp thêm ý mình - Cả tôi nữa tôi cũng chả dám.
Chính
tại thị trấn Xớccơn, vào một ngày cuối năm, điều lo sợ đó của Piti đã được thực
tế chứng minh là đúng. Bớctơn "Đen", một con người xấu tính và hiểm độc,
đang gây sự với một anh chàng mới đến lạ nước lạ cái ở bên quầy bán rượu, thì
Thoóctơn bước vào giữa hai người, ôn tồn can ngăn. Bấc, theo thói quen đang nằm
trong một góc phòng, đầu đặt trên hai chân, đưa mắt theo dõi từng cử chỉ của chủ,
Bớctơn chẳng nói chẳng rằng, giáng bốp ngay một quả vào mặt Thoóctơn. Anh lảo đảo,
suýt nữa thì ngã vật xuống nếu không kịp bấu vào song sắt của quầy rượu.
Những
người đứng đấy chứng kiến sự việc lúc bấy giờ bỗng nghe một tiếng không phải là
tiếng sủa, cũng không phải là tiếng ré, mà đúng hơn là một tiếng gầm, và họ
nhìn thấy thân hình của Bấc từ nền nhà bay lên lao vút qua không trung, nhằm thẳng
vào cổ họng Bớctơn phóng tới. Tên này thoát chết nhờ hắn kịp vung cánh tay ra
theo bản năng, nhưng bị hất nhào và đằng sau ngã ngửa ra sàn nhà, Bấc đè lên
người hắn. Bấc nhả cánh tay của hắn ra rồi lại nhè vào họng hắn mà cắn. Lần này
hắn chỉ che đỡ được phần nào, và họng của hắn bị xé toạc. Đám đông vội xô vào Bấc
và đánh đuổi nó ra. Nhưng khi một viên thầy thuốc băng bó vết thương cho Bớctơn,
Bấc cứ quanh quẩn lượn tới lượn lui, gầm rít hung tợn, cứ chực xông vào, nhưng
bị một loạt những chiếc dùi cui thù địch đẩy lùi. Một "cuộc hội ý của những
người khai mỏ" được triệu tập ngay tại chỗ, đã phán xử rằng cuộc tấn công
của con chó có lý do chính đáng, vì bị khiêu khích đến mức phải phản ứng, và Bấc
được tha miễn.
Ấy
thế là Bấc bắt đầu nổi tiếng, và từ hôm đó tên tuổi của Bấc được truyền tụng từ
trại này sang trại khác khắp vùng Alaxen.
Sau
sự việc ấy, vào mùa thu năm đó, Bấc lại có một hành động theo cách thức khác, cứu
sống được Giôn Thoóctơn. Một hôm ba người bạn phường đang giòng một chiếc thuyền
thoi xuôi một đoạn thác ghềnh hiểm trở trên nhánh sông Bốn mươi Dặm. Hendơ và
Piti men theo bờ, dùng một chiếc dây thừng nhỏ bện bằng dây chuối sợi buộc neo
thuyền từ gốc cây này sang gốc cây khác, còn Thoóctơn thì đứng trên vừa chống vừa
hò hét chỉ dẫn cho người trên bờ. Bấc ở trên bờ lo lắng bồn chồn, tiến lên theo
ngang với chiếc thuyền, đôi mắt không bao giờ rời khỏi chủ.
Đến
một nơi đặc biệt hiểm trở vì một gò đá ngầm mấp mé mặt nước nhô ra ngoài sông.
Hendơ tháo dây néo ra khỏi cây, và trong khi Thoóctơn chống thuyền tránh ra giữa
dòng. Hendơ dọc theo bờ chạy xuống phía dưới, tay nắm chặt đầu dây để sẵn sàng
néo lại khi nào thuyền vượt qua khỏi gờ đá. Vào lúc con thuyền đã vượt qua được
và đang băng băng lao xuống theo một luồng nước chảy xiết. Hendơ níu dây kìm
thuyền lại, nhưng anh kìm quá đột ngột. Chiếc thuyền giật mạnh rồi lật úp, bị
lôi vào bờ ngửa bụng lên trời, còn Thoóctơn thì văng ra khỏi thuyền và bị nước
cuốn xuôi và phía nguy hiểm nhất của dòng thác, nơi có vùng nước cuộn dữ dội mà
không có kẻ nào có thể thoát chết được.
Ngay
lập tức Bấc lao xuống dòng nước. Bơi được ba trăm mã, giữa vùng nước xoáy điên
cuồng, Bấc đuổi kịp Thoóctơn. Khi nó cảm thấy anh đã nắm được đuôi nó, Bấc nhằm
thẳng vào bờ bơi vào với tất cả sức lực tuyệt vời của nó. Nhưng sự chuyển động
tiến vào bờ thì chậm, mà sự chuyển động xuôi dòng thì lại nhanh lạ lùng. Từ bên
dưới vọng lên tiếng gầm rít ghê người ở nơi mà dòng nước điên cuồng xoáy cuộc
càng dữ dội và bị xé nát vụn ra tung toé thành bụi nước giữa những mỏm đá lô
nhô thọc qua như những chiếc răng của một cái lược khổng lồ; sức hút của nước
khi bắt đầu đổ xuống đoạn dốc cuối cùng thật là khủng khiếp, và Thoóctơn biết rằng
bơi vào bờ là một điều không thể nào thực hiện nổi. Anh vật lộn quyết liệt để
bám vào một tảng đá, nhưng bị trượt, sượt qua một tảng đá thứ hai, rồi đâm sầm
vào một tảng thứ ba như bị giáng một đòn búa tạ. Anh buông Bấc ra, dùng cả hai
tay bíu chặt lấy cái chỏm trơn tuột của tảng đá, và thét to đè át tiếng gầm của
luồng nước cuộn tung toé: "Vào bờ đi, Bấc! Đi đi!".
Bấc
không thể nào trụ lại nổi, nó bị cuốn theo dòng nước, vật lộn một cách tuyệt vọng
nhưng không tài nào quay lại được. Khi nó nghe tiếng Thoóctơn nhắc lại mệnh lệnh,
nó chồm một phần thân mình lên khỏi mặt nước, cất cao đầu như để nhìn anh lần
cuối, rồi ngoan ngoãn quay vào bờ. Nó bơi mãnh liệt, và được Piti cùng Hendơ
kéo vào bờ đúng ngay tại nơi không còn có thể bơi tiếp được nữa mà chỉ có đâm đầu
vào cõi huỷ diệt.
Piti
và Hendơ biết là thời gian một con người có thể bám vào một tảng đá trơn trước một
sức nước cuốn mạnh như vậy chỉ còn tính từng phút, nên họ dốc hết sức chạy thật
nhanh ngược lên phía trên, đến một chỗ cách xa nơi Thoóctơn đang bám trụ. Họ
dùng chiếc gậy mà họ vừa néo thuyền lúc nãy buộc vào cổ và vai Bấc cẩn thận
tránh không để sợi dây làm nghẹt cổ Bấc và làm nó vướng khi bơi, rồi tung nó xuống
dòng nước. Bấc dũng cảm lao vút ra, nhưng tiếc thay không ra thật đúng thẳng giữa
dòng. Khi nó thấy ra được sai lầm của mình thì đã quá muộn, vị trí của Thoóctơn
đã nằm ngang với nó, cách nó ít nhất là sáu nhịp hơi, trong khi nó bị tiếp tục
cuốn trôi qua không làm sao lại cưỡng lại được.
Hendơ
nhanh chóng néo sợi dây, như thể Bấc là một chiếc thuyền vậy. Do sợi dây kéo
căng ra níu nó lại giữa dòng nước đang cuộn ào xuống, nên nó bị giúi mạnh xuống
dưới mặt nước, và cứ thế bị nhận chìm nghỉm cho đến khi thân mình nó húc vào bờ
và được kéo lên Bấc gần như chết đuối, và Hendơ cùng Piti vội lao vào cứu nó,
làm hô hấp nhân tạo và dốc cho nước chảy ra. Nó loạng choạng đứng dậy rồi lại
ngã xuống. Vừa lúc ấy, tiếng kêu của Thoóctơn vẳng đến tai họ. Mặc dù họ không
nghe ra được Thoóctơn đang nói gì, nhưng họ biết là anh đã kiệt sức. Tiếng gọi
của chủ tác động đến Bấc như một luồng điện giật. Nó bật dậy và chạy trước hai
người, ngược bờ sông lên đến điểm xuất phát của nó lúc nãy.
Lần
nữa, sợi dây lại được buộc vào, nó được tung xuống nước, và nó lại lao vút ra.
Nhưng lần này nó lao ra đúng thẳng giữa dòng. Nó đã tính nhầm một lần, nay quyết
không phạm sai lầm lần thứ hai. Hendơ thả dây cố giữ không để cho dây chùng,
còn Piti thì cố đảm bảo cho đến khi nó ra tới một điểm chiếu xuống Thoóctơn
theo một đường thẳng; lúc đó nó mới ngoặc xuống, và với tốc độ của một con tàu
tốc hành, nó lao thẳng vào anh. Thoóctơn nhìn thấy nó lao đến, và khi thân Bấc
đâm sầm vào anh như một cái chuỳ phá thành, với toàn bộ sức mạnh của luồng nước
xô đằng sau nó, anh vội vờ tới và quẳng cả hai tay ôm chặt lấy cái cổ xồm xoàm
của nó. Hendơ néo sợi dây vào một thân cây. Bấc cùng Thoóctơn liền bị giúi mạnh
xuống dưới mặt nước. Cổ họng nghẹn tắc, ngạt thở, lộn lên lộn xuống giúi giụi,
khi thì Bấc nằm đè lên trên, khi thì Thoóctơn nằm đè lên trên, cả hai bị kéo xệt
dưới đáy sông lởm chởm, thân thể bị va đập vào những tảng đá và những gốc cây gẫy,
và cuối cùng được kéo lên bờ.
Thoóctơn
hồi tỉnh thấy mình đang được đặt nằm sấp vắt ngang lên một khúc gỗ trên bờ, và
Hendơ cùng Piti đang kéo cò cưa người anh, đẩy lui đẩy tới cật lực. Anh lập tức
nhìn sang phía Bấc. Bên thân hình mềm rũ và có vẻ như không còn sự sống của Bấc,
Ních đang đứng tru dài, còn Xkít thì đang liếm bộ mặt ướt sũng và đôi mắt nhắm
nghiền của Bấc. Bản thân Thoóctơn cũng bị những vết thương thâm tím vì bị va đập
mạnh. Khi Bấc được cứu cho tỉnh lại, Thoóctơn cẩn thận sờ nắn khắp mình nó thì
tìm thấy ba xương sườn bị gẫy.
-Thôi,
không cần phải bàn nữa - anh tuyên bố - Chúng ta cắm trại ngay tại đây.
Và
thế là họ ở lại đó, chờ cho đến khi xương của Bấc liền lại và nó có thể lên đường
được.
Mùa
đông năm ấy, tại Đoxân, Bấc lại lập nên một kỳ công khác, có lẽ không được anh
hùng như vậy, nhưng là một kỳ công đã tôn tên tuổi của Bấc lên thêm nhiều nấc
trên cột Tô-tem lưu truyền danh tiếng giữa miền Alaxken. Kỳ công đặc biệt làm
hài lòng ba người bởi vì nhờ nó mà họ sắm được những thứ đồ lề họ đang cần, nhờ
nó họ có thể mở một cuộc hành trình họ hằng ao ước từ lâu: đi vào miền Đông
hoang vu, nơi những người khai mỏ vàng chưa bao giờ bén mảng tới. Sự kiện ấy đã
bắt đầu từ một buổi chuyện trò tại quán rượu Enđôrađô, giữa lúc những người ngồi
đấy đang bốc lên huyên hoang khoác lác về những con chó cưng của họ. Bấc, do những
thành tích của nó, trở thành mục tiêu của mọi người, và Thoóctơn bị dồn vào chỗ
phải nói cứng để bảo vệ cho thanh danh của Bấc. Sau nửa tiếng sôi nổi, một người
tuyên bố là con chó của ông ta có thể khởi động một chiếc xe trượt tuyết chở năm
trăm pao hàng và kéo nó đi được; một người thứ hai khoe là chó của mình có thể
làm được như vậy với một chiếc xe chở sáu trăm pao; và một người thứ ba, bảy
trăm pao.
-Mèng!
Mèng! - Giôn Thoóctơn nói - Bấc có thể khởi động một nghìn pao.
-Chuyển
dịch được xe? Và kéo đi được một trăm mã? - Mátthinxơn, một tay cự phú cỡ bự, kẻ
vừa khoe chó mình kéo được bảy trăm pao, hỏi vặn Thoóctơn.
-Đúng!
Chuyển dịch được xe, và kéo đi được một trăm mã. - Giôn Thoóctơn điềm tĩnh đáp
lại.
-Được
rồi! - Mátthiuxơn nói chậm rãi khoan thai cốt để cho mọi người nghe rõ - Đánh
cuộc một nghìn đôla là nó không làm như vậy được. Tiền đây!
Nói
đoạn, gã ném phịch xuống mặt quầy rượu một túi vàng cốm lớn bằng một cái xúc
xích bôlônhơ.
Không
ai hé răng nói nửa lời. Sự phét lác của Thoóctơn, nếu quả là phét lác, đã bị
thách đấu. Anh cảm thấy máu dồn lên mặt nóng bừng. Cái lưỡi của anh đã chơi xỏ
anh rồi. Anh không hề biết là liệu Bấc có thể khởi động được một nghìn pao hay
không. Những nửa tấn! Khối lượng khổng lồ đó làm anh kinh hoảng. Anh vốn rất
tin vào sức lực của Bấc và đã thường nghĩ là Bấc có thể khởi động được một khối
nặng như thế. Nhưng chưa bao giờ như lúc này, anh bị đặt vào tình thế phải suy
xét giữa khả năng và hiện thực, trước những con mắt của hơn chục con người chằm
chằm nhìn anh, yên lặng và chờ đợi. Hơn nữa, anh không có một nghìn đôla, Hendơ
và Piti cũng chẳng có.
-Tôi
có một chiếc xe trượt tuyết đang nằm ngoài kia, chở đúng hai mươi bao bột mì mỗi bao năm mươi pao - Mátthiuxơn
nói tiếp với thái độ thẳng thừng đến tàn nhẫn - Vậy xin mời cứ tự nhiên cho!
Thoóctơn
không trả lời. Anh biết nói thế nào bây giờ? Anh đảo mắt nhìn qua hết bộ mặt
này đến bộ mặt khác với cái vẻ ngơ ngác của một người đã mất khả năng suy nghĩ
và đang tìm kiếm ở đâu đó một điều gì có thể giúp phục hồi lại khả năng ấy. Đôi
mắt anh chợt bắt gặp bộ mặt của Jim Ôbrien, cũng là một phú ông giàu sụ và là bạn
cũ của anh. Bộ mặt ấy như một tín hiệu đối với anh, nó như khích động anh phấn
chấn làm cái điều mà lẽ ra anh không hề bao giờ mơ tưởng có thể làm được.
-Anh
có thể cho tôi vay một nghìn được không? - Anh hỏi, hầu như thầm thì.
-Được
lắm chứ! - Ôbrien trả lời và đặt mạnh xuống quầy một cái túi nặng chứa ngàn
đôla có dư bên cạnh cái túi của Mátthiuxơn - Mặc dù tớ chẳng tin mấy là con vật
có thể làm được cái trò ấy, Giôn ạ!
Khách
khứa trong quán Enđôrađô đổ hết ra đường xem cuộc thử thách. Các bàn rượu vắng
tanh, những người ham mê cờ bạc và những tay ga bạc đều ùa cả ra để xem kết cục
ra sao và để đánh cuộc với nhau. Mấy trăm con người trong những bộ áo lông và
găng tay dày cộm xúm đông xúm đỏ quanh chiếc xe trượt tuyết, cách xe một quãng
vừa phải để có thể nhìn thoải mái. Chiếc xe trượt của Mátthiuxơn chở một pao bột
đã đứng đấy từ vài giờ rồi, và trong cái lạnh ghê gớm (lúc này là sáu mươi độ
âm) các càng xe đã bị gắn chặt vào lớp băng tuyết đông cứng. Người ta đánh cuộc
hai ăn một rằng Bấc không thể nào làm cho xe nhúc nhích được. Một câu hỏi hắc
búa được đặt ra về chữ "chuyển dịch". Ôbrien cho rằng Thoóctơn được
quyền phá cho càng trượt bung ra khỏi băng tuyết, rồi để cho Bấc "chuyển dịch
chiếc xe" từ vị trí đứng yên. Nhưng Mátthiuxơn thì cứ khăng khăng là chữ
"chuyển dịch" bao hàm cả việc làm sao cho càng xe bung ra được khỏi lớp
băng tuyết gắn chặt vào nó. Đa số những người chứng kiến việc thách đố lúc này
đều ủng hộ ý kiến của Mátthiuxơn, và do đó liền đánh cuộc lập tức tăng lên ba
ăn một, cho rằng Bấc sẽ thất bại.
Không
người nào dám nhận đánh cuộc tin rằng Bấc có thể làm được kỳ công đó, Thoóctơn
bị ép nhận cuộc một cách vội vàng, lòng anh trĩu nặng mối hoài nghi; và bây giờ
đây lúc anh tận mắt nhìn vào chính chiếc xe trượt ấy, cái sự vật cụ thể rành
rành, với một đàn chó kéo xe mười con (số lượng theo thường lệ) đang nằm co
tròn trên mặt tuyết phía trước xe, anh lại càng thấy là công việc này có vẻ
không thể làm nổi. Còn Mátthiuxơn thì càng trở nên hớn hở.
-Ba
ăn một đây! - gã tuyên bố - Này Thoóctơn tôi đặt cược thêm 1000 đôla thách ba
ăn một. Ý anh thế nào?
Mối
hoài nghi của Thoóctơn lộ rõ trên nét mặt, nhưng tinh thần tranh đấu của anh
đang được khuấy động - cái tinh thần tranh đấu bất chấp mọi sự chênh lệch,
không hề cam chịu bó tay trước điều không thể làm nổi, và không thèm để tai đến
gì ngoài tiếng la hét xung trận, anh gọi Hendơ và Piti đến bên anh. Các túi tiền
của họ đều lép kẹp, và cùng với cái túi của anh, cả ba chỉ góp lại được có hai
trăm đôla. Giữa lúc họ lâm vào tình cảnh khó khăn, tất cả vốn liếng của họ chỉ
còn có bấy nhiêu; ấy thế nhưng họ dốc tuột ra không một chút do dự, đặt cược với
sáu trăm đôla của Mátthiuxơn.
Người
ta tháo đàn chó mười con ra khỏi chiếc xe, và đưa Bấc trong bộ đai cương của nó
vào thay thế. Không khí kích động xung quanh đã lây sang cả Bấc, và nó cảm thấy
là nó sẽ phải làm như thế nào đó để thực hiện được một điều rất lớn lao của
Giôn Thoóctơn. Hình dáng tuyệt vời của Bấc vừa xuất hiện thì những tiếng rì rầm
thán phục nổi lên trong đám đông. Thể trạng của Bấc đang giữa lúc hoàn hảo,
không có lấy một lạng thịt thừa nào, và toàn bộ một trăm năm mươi pao trọng lượng
của nó là bấy nhiêu pao can trường và sức mạnh. Bộ lông dày của nó sáng bóng
lên ánh mượt mà của tơ lụa. Dọc cổ và trên đôi vai, lớp lông bờm của nó tuy
đang lúc nằm yên nhưng vẫn hơi nghểnh lên chênh chếch, và hình như cứ dựng đứng
lên theo mỗi cử động của thân mình nó, như thể là sức lực thừa ứ của nó đã làm
cho từng sợi lông riêng lẻ đều có sự sống và tính năng động. Tấm ức rộng và đôi
chân trước vạm vỡ không to quá khổ mà thật là cân đối với phần còn lại của toàn
thân, và trên cơ thể Bấc những bắp thịt nổi lên thành từng cuộn bó chặt hằn rõ
dưới làn da. Người ta đưa tay sờ nắn thử các cơ bắp ấy rồi kháo nhau là nó rắn
như sắt, và thế là nước bạc đặt cược tụt xuống hai ăn một.
-Ch-chà-chà,
t-tuyệt quá, thưa ngài! T-tuyệt quá! - bên tai Thoóctơn lập cập tiếng nói lắp của
một gã cóc vàng thuộc nhóm phú ông mới phất lên gần đây nhất (nhóm Xcucum
Bensơ) - Ng-ngài để lại cho tôi con ch-chó, tôi x-xin nộp ngài tám trăm,
th-thưa ngài, ngay trước khi vào cuộc thử thách, thưa ngài! T-tám trăm ngay khi
nó còn đứng đấy, th-thưa ngài.
Thoóctơn
lắc đầu, anh bước đến bên cạnh Bấc:
-Ông
đứng xa ra nhé! - Mátthiuxơn phản đối - Cuộc thi tự lực, không ai nhúng vào,
thiếu gì nơi đứng.
Đám
đông im bặt. Chỉ còn có tiếng những gã máu mê tao đánh cuộc hai ăn một nhưng chả
ai hưởng ứng. Mọi người thừa nhận Bấc là một con vật tuyệt vời, nhưng hai mươi
bao bột, mỗi bao năm mươi pao, lù lù ra đó thành một đống quá lớn trước mặt họ,
khiến họ không dám thò tay cởi hầu bao.
Thoóctơn
quỳ xuống bên Bấc. Anh giữ đầu Bấc giữa hai bàn tay anh và kề má anh vào má nó.
Anh không lắc nó theo lối đùa nghịch như thường lệ, hoặc nhỏ nhẻ rủa yêu nó, mà
anh thì thầm vào tai nó:
-Đã
thương ta thì cố lên, Bấc! Hãy vì ta, cố lên!
Bấc
rên lên ư ử, với giọng háo hức nén lại trong cổ họng.
Đám
đông tò mò ngắm nhìn theo dõi. Sự việc đang trở thành bí ẩn. Có vẻ như một sự
phù phép. Khi Thoóctơn đứng lên, Bấc ngoạm lấy bàn tay đeo găng của anh, từ từ
cắn vào rồi nhả dần, có phần không muốn rời ra. Đó là sự đáp lại, không phải bằng
lời, mà bằng tình cảm thương yêu, Thoóctơn lùi hẳn ra xa.
-Nào,
Bấc! - anh nói.
Bấc
kéo căng bộ dây cương, rồi lại thả chúng ra khoảng vài inch. Đó là cách thức mà
nó đã được huấn luyện.
-Ji-i!
- tiếng Thoóctơn vang lên sắc nhọn, xói vào bầu không khí im lặng căng thẳng.
Bấc
đâm bổ sang bên phải, kết thúc động tác bằng một cái chúi mạnh căng hẳn phần
chung của dây cương, và cả sức nặng một trăm năm mươi pao của nó bổ nhào tới bị
chặn sững lại thành một cú thúc mạnh đột ngột. Đống hàng đồ sộ rung động, và từ
bên dưới đôi càng trượt phát ra tiếng rạn nứt tanh tách.
-Hô-ô!
- Thoóctơn lại ra lệnh.
Bấc
lặp lại động tác như cũ, nhưng lần này sang bên trái. Tiếng rạn nứt chuyển
thành tiếng gẫy răng rắc chiếc xe trượt tuyết xoay tại chỗ và đôi càng xe nghiến
kèn kẹt trượt đi mấy inch về một bên. Chiếc xe đã bung ra được khỏi băng giá. Mọi
người chăm chú theo dõi, hoàn toàn không hay biết là mình đang nín thở.
-Nào!
Mơt-s!
Lệnh
của Thoóctơn phát ra đanh như một phát súng lục. Bấc lao bổ về đằng trước, những
sợi dây cương bị giật tới đột ngột rung động mạnh và căng thẳng. Sức mạnh toàn
thân Bấc thu hết lại thành một khối rắn chắc trong một nỗ lực ghê gớm ấy. Các bắp
thịt cuộn lên và nổi thành nút như những vật có sự sống đang chuyền nó rạp xuống
thấp, đầu nó vươn về phía trước và cúi xuống, trong khi bốn chân cào bới như
điên như cuồng, những vuốt sắc rạch trên lớp băng tuyết đông cứng thành những vạch
song song.
Chiếc
xe trượt tuyết lắc lư và rung chuyển, gần như di dịch được về phía trước. Bỗng một
chân Bấc bị trượt và có tiếng ai đó rú lên lo lắng. Nhưng rồi chiếc xe lảo đảo
dịch tới, nhích dần theo một loạt những cái giật nhanh liên tiếp, dường như
không bao giờ dừng lại. Nửa inch... một inch... hai inch... Những cái giật giảm
đi trông thấy khi xe đã lấy được đà. Bấc bắt kịp từng cái giật để dấn tới vượt
qua, cho đến khi chiếc xe lướt đều tiến lên phía trước theo một đà trượt vững
chắc không còn giật nữa.
Người
đứng xem thở hắt một cái mạnh và bắt đầu lấy lại hơi thở bình thường, không nhận
thấy là trong những phút vừa qua họ đã ngừng thở. Thoóctơn chạy theo sau xe,
khích lệ Bấc bằng những tiếng ngắn, hân hoan. Khoảng cách đã được đo sẵn, và
khi Bấc tiến đến gần đống củi đánh dấu cái đích của đoạn đường một trăm mã, thì
tiếng reo hò cổ vũ nổi lên mạnh dần, mạnh dần, rồi phá lên thành một tiếng hoan
hô như sấm dậy khi Bấc vượt qua đống củi và dừng lại theo mệnh lệnh. Mọi người
nhẩy cẫng lên vì khoái chí, ngay cả Mátthiuxơn cũng vậy. Người ta tung mũ và
găng tay lên trời. Người ta bắt tay nhau, bắt tay với bất kỳ ai không cần phân
biệt và nháo nhác trao đổi với nhau những cân hoan hỉ rộn lên thành một mớ tiếng
nói hỗn độn chả đâu vào đâu.
Trong
khi đó thì Thoóctơn quỳ xuống bên cạnh Bấc. Đầu anh áp vào đầu nó, anh lắc mình
nó đảo qua đảo lại. Những người chạy vội lên đến bên anh nghe thấy tiếng anh rủa
Bấc, anh rủa rất lâu và rất nồng nàn, rủa với giọng dịu dàng và thương yêu.
-Ôi!
Tuyệt quá! Tuyệt quá, thưa ngài! - lại tiếng nói lắp bắp của tay cóc vàng
Xcucum Bensơ bên tai anh - Tôi xin nộp ngài một nghìn, ngài để nó cho tôi thưa
ngài, một nghìn, thưa ngài, một nghìn hai, thưa ngài.
Thoóctơn
đứng dậy. Đôi mắt anh ướt đầm. Những giọt nước ứa ra, không cần giấu giếm, chảy
ròng ròng xuống má anh.
-Thưa
ngài! - anh nói với gã phú ông - Không được đâu, thưa ngài! Xin ngài hãy bước
đi cho rảnh. Tôi chỉ có thể đáp lại ngài như vậy thôi, thưa ngài!
Bấc
ngoạm lấy bàn tay của Thoóctơn, Thoóctơn lắc mình nó đảo lui đảo tới. Những người
đứng nhìn, như cùng chia sẻ niềm vui chung sôi nổi, đã lùi ra xa một quãng, tỏ
vẻ tôn trọng, họ giữ ý không còn ai khiếm nhã cắt ngang một lần nữa những giây
phút ân tình giữa anh với Bấc.
➖➖➖
Chapter VI.
For the Love of a Man
When
John Thornton froze his feet in the previous December his partners had made him
comfortable and left him to get well, going on themselves up the river to get
out a raft of saw-logs for Dawson. He was still limping slightly at the time he
rescued Buck, but with the continued warm weather even the slight limp left
him. And here, lying by the river bank through the long spring days, watching
the running water, listening lazily to the songs of birds and the hum of
nature, Buck slowly won back his strength.
A
rest comes very good after one has travelled three thousand miles, and it must
be confessed that Buck waxed lazy as his wounds healed, his muscles swelled
out, and the flesh came back to cover his bones. For that matter, they were all
loafing,—Buck, John Thornton, and Skeet and Nig,—waiting for the raft to come
that was to carry them down to Dawson. Skeet was a little Irish setter who
early made friends with Buck, who, in a dying condition, was unable to resent
her first advances. She had the doctor trait which some dogs possess; and as a
mother cat washes her kittens, so she washed and cleansed Buck’s wounds.
Regularly, each morning after he had finished his breakfast, she performed her
self-appointed task, till he came to look for her ministrations as much as he
did for Thornton’s. Nig, equally friendly, though less demonstrative, was a
huge black dog, half bloodhound and half deerhound, with eyes that laughed and
a boundless good nature.
To
Buck’s surprise these dogs manifested no jealousy toward him. They seemed to
share the kindliness and largeness of John Thornton. As Buck grew stronger they
enticed him into all sorts of ridiculous games, in which Thornton himself could
not forbear to join; and in this fashion Buck romped through his convalescence
and into a new existence. Love, genuine passionate love, was his for the first
time. This he had never experienced at Judge Miller’s down in the sun-kissed
Santa Clara Valley. With the Judge’s sons, hunting and tramping, it had been a
working partnership; with the Judge’s grandsons, a sort of pompous
guardianship; and with the Judge himself, a stately and dignified friendship.
But love that was feverish and burning, that was adoration, that was madness,
it had taken John Thornton to arouse.
This
man had saved his life, which was something; but, further, he was the ideal
master. Other men saw to the welfare of their dogs from a sense of duty and
business expediency; he saw to the welfare of his as if they were his own
children, because he could not help it. And he saw further. He never forgot a
kindly greeting or a cheering word, and to sit down for a long talk with them
(“gas” he called it) was as much his delight as theirs. He had a way of taking
Buck’s head roughly between his hands, and resting his own head upon Buck’s, of
shaking him back and forth, the while calling him ill names that to Buck were
love names. Buck knew no greater joy than that rough embrace and the sound of
murmured oaths, and at each jerk back and forth it seemed that his heart would
be shaken out of his body so great was its ecstasy. And when, released, he
sprang to his feet, his mouth laughing, his eyes eloquent, his throat vibrant
with unuttered sound, and in that fashion remained without movement, John
Thornton would reverently exclaim, “God! you can all but speak!”
Buck
had a trick of love expression that was akin to hurt. He would often seize
Thornton’s hand in his mouth and close so fiercely that the flesh bore the
impress of his teeth for some time afterward. And as Buck understood the oaths
to be love words, so the man understood this feigned bite for a caress.
For
the most part, however, Buck’s love was expressed in adoration. While he went
wild with happiness when Thornton touched him or spoke to him, he did not seek
these tokens. Unlike Skeet, who was wont to shove her nose under Thornton’s
hand and nudge and nudge till petted, or Nig, who would stalk up and rest his
great head on Thornton’s knee, Buck was content to adore at a distance. He
would lie by the hour, eager, alert, at Thornton’s feet, looking up into his
face, dwelling upon it, studying it, following with keenest interest each
fleeting expression, every movement or change of feature. Or, as chance might
have it, he would lie farther away, to the side or rear, watching the outlines
of the man and the occasional movements of his body. And often, such was the
communion in which they lived, the strength of Buck’s gaze would draw John
Thornton’s head around, and he would return the gaze, without speech, his heart
shining out of his eyes as Buck’s heart shone out.
For
a long time after his rescue, Buck did not like Thornton to get out of his
sight. From the moment he left the tent to when he entered it again, Buck would
follow at his heels. His transient masters since he had come into the Northland
had bred in him a fear that no master could be permanent. He was afraid that
Thornton would pass out of his life as Perrault and François and the Scotch
half-breed had passed out. Even in the night, in his dreams, he was haunted by
this fear. At such times he would shake off sleep and creep through the chill
to the flap of the tent, where he would stand and listen to the sound of his
master’s breathing.
But
in spite of this great love he bore John Thornton, which seemed to bespeak the
soft civilizing influence, the strain of the primitive, which the Northland had
aroused in him, remained alive and active. Faithfulness and devotion, things
born of fire and roof, were his; yet he retained his wildness and wiliness. He
was a thing of the wild, come in from the wild to sit by John Thornton’s fire,
rather than a dog of the soft Southland stamped with the marks of generations
of civilization. Because of his very great love, he could not steal from this
man, but from any other man, in any other camp, he did not hesitate an instant;
while the cunning with which he stole enabled him to escape detection.
His
face and body were scored by the teeth of many dogs, and he fought as fiercely
as ever and more shrewdly. Skeet and Nig were too good-natured for
quarrelling,—besides, they belonged to John Thornton; but the strange dog, no
matter what the breed or valor, swiftly acknowledged Buck’s supremacy or found
himself struggling for life with a terrible antagonist. And Buck was merciless.
He had learned well the law of club and fang, and he never forewent an
advantage or drew back from a foe he had started on the way to Death. He had
lessoned from Spitz, and from the chief fighting dogs of the police and mail,
and knew there was no middle course. He must master or be mastered; while to
show mercy was a weakness. Mercy did not exist in the primordial life. It was
misunderstood for fear, and such misunderstandings made for death. Kill or be
killed, eat or be eaten, was the law; and this mandate, down out of the depths
of Time, he obeyed.
He
was older than the days he had seen and the breaths he had drawn. He linked the
past with the present, and the eternity behind him throbbed through him in a
mighty rhythm to which he swayed as the tides and seasons swayed. He sat by
John Thornton’s fire, a broad-breasted dog, white-fanged and long-furred; but
behind him were the shades of all manner of dogs, half-wolves and wild wolves,
urgent and prompting, tasting the savor of the meat he ate, thirsting for the
water he drank, scenting the wind with him, listening with him and telling him
the sounds made by the wild life in the forest, dictating his moods, directing
his actions, lying down to sleep with him when he lay down, and dreaming with
him and beyond him and becoming themselves the stuff of his dreams.
So
peremptorily did these shades beckon him, that each day mankind and the claims
of mankind slipped farther from him. Deep in the forest a call was sounding,
and as often as he heard this call, mysteriously thrilling and luring, he felt
compelled to turn his back upon the fire and the beaten earth around it, and to
plunge into the forest, and on and on, he knew not where or why; nor did he
wonder where or why, the call sounding imperiously, deep in the forest. But as
often as he gained the soft unbroken earth and the green shade, the love for
John Thornton drew him back to the fire again.
Thornton
alone held him. The rest of mankind was as nothing. Chance travellers might
praise or pet him; but he was cold under it all, and from a too demonstrative
man he would get up and walk away. When Thornton’s partners, Hans and Pete,
arrived on the long-expected raft, Buck refused to notice them till he learned
they were close to Thornton; after that he tolerated them in a passive sort of
way, accepting favors from them as though he favored them by accepting. They
were of the same large type as Thornton, living close to the earth, thinking
simply and seeing clearly; and ere they swung the raft into the big eddy by the
saw-mill at Dawson, they understood Buck and his ways, and did not insist upon
an intimacy such as obtained with Skeet and Nig.
For
Thornton, however, his love seemed to grow and grow. He, alone among men, could
put a pack upon Buck’s back in the summer travelling. Nothing was too great for
Buck to do, when Thornton commanded. One day (they had grub-staked themselves
from the proceeds of the raft and left Dawson for the head-waters of the
Tanana) the men and dogs were sitting on the crest of a cliff which fell away,
straight down, to naked bed-rock three hundred feet below. John Thornton was
sitting near the edge, Buck at his shoulder. A thoughtless whim seized
Thornton, and he drew the attention of Hans and Pete to the experiment he had
in mind. “Jump, Buck!” he commanded, sweeping his arm out and over the chasm.
The next instant he was grappling with Buck on the extreme edge, while Hans and
Pete were dragging them back into safety.
“It’s
uncanny,” Pete said, after it was over and they had caught their speech.
Thornton
shook his head. “No, it is splendid, and it is terrible, too. Do you know, it
sometimes makes me afraid.”
“I’m
not hankering to be the man that lays hands on you while he’s around,” Pete
announced conclusively, nodding his head toward Buck.
“Py
Jingo!” was Hans’s contribution. “Not mineself either.”
It
was at Circle City, ere the year was out, that Pete’s apprehensions were
realized. “Black” Burton, a man evil-tempered and malicious, had been picking a
quarrel with a tenderfoot at the bar, when Thornton stepped good-naturedly
between. Buck, as was his custom, was lying in a corner, head on paws, watching
his master’s every action. Burton struck out, without warning, straight from
the shoulder. Thornton was sent spinning, and saved himself from falling only
by clutching the rail of the bar.
Those
who were looking on heard what was neither bark nor yelp, but a something which
is best described as a roar, and they saw Buck’s body rise up in the air as he
left the floor for Burton’s throat. The man saved his life by instinctively
throwing out his arm, but was hurled backward to the floor with Buck on top of
him. Buck loosed his teeth from the flesh of the arm and drove in again for the
throat. This time the man succeeded only in partly blocking, and his throat was
torn open. Then the crowd was upon Buck, and he was driven off; but while a
surgeon checked the bleeding, he prowled up and down, growling furiously,
attempting to rush in, and being forced back by an array of hostile clubs. A
“miners’ meeting,” called on the spot, decided that the dog had sufficient
provocation, and Buck was discharged. But his reputation was made, and from
that day his name spread through every camp in Alaska.
Later
on, in the fall of the year, he saved John Thornton’s life in quite another
fashion. The three partners were lining a long and narrow poling-boat down a
bad stretch of rapids on the Forty-Mile Creek. Hans and Pete moved along the
bank, snubbing with a thin Manila rope from tree to tree, while Thornton
remained in the boat, helping its descent by means of a pole, and shouting
directions to the shore. Buck, on the bank, worried and anxious, kept abreast
of the boat, his eyes never off his master.
At
a particularly bad spot, where a ledge of barely submerged rocks jutted out
into the river, Hans cast off the rope, and, while Thornton poled the boat out
into the stream, ran down the bank with the end in his hand to snub the boat
when it had cleared the ledge. This it did, and was flying down-stream in a
current as swift as a mill-race, when Hans checked it with the rope and checked
too suddenly. The boat flirted over and snubbed in to the bank bottom up, while
Thornton, flung sheer out of it, was carried down-stream toward the worst part
of the rapids, a stretch of wild water in which no swimmer could live.
Buck
had sprung in on the instant; and at the end of three hundred yards, amid a mad
swirl of water, he overhauled Thornton. When he felt him grasp his tail, Buck
headed for the bank, swimming with all his splendid strength. But the progress
shoreward was slow; the progress down-stream amazingly rapid. From below came
the fatal roaring where the wild current went wilder and was rent in shreds and
spray by the rocks which thrust through like the teeth of an enormous comb. The
suck of the water as it took the beginning of the last steep pitch was
frightful, and Thornton knew that the shore was impossible. He scraped
furiously over a rock, bruised across a second, and struck a third with
crushing force. He clutched its slippery top with both hands, releasing Buck,
and above the roar of the churning water shouted: “Go, Buck! Go!”
Buck
could not hold his own, and swept on down-stream, struggling desperately, but
unable to win back. When he heard Thornton’s command repeated, he partly reared
out of the water, throwing his head high, as though for a last look, then
turned obediently toward the bank. He swam powerfully and was dragged ashore by
Pete and Hans at the very point where swimming ceased to be possible and
destruction began.
They
knew that the time a man could cling to a slippery rock in the face of that
driving current was a matter of minutes, and they ran as fast as they could up
the bank to a point far above where Thornton was hanging on. They attached the
line with which they had been snubbing the boat to Buck’s neck and shoulders,
being careful that it should neither strangle him nor impede his swimming, and
launched him into the stream. He struck out boldly, but not straight enough
into the stream. He discovered the mistake too late, when Thornton was abreast
of him and a bare half-dozen strokes away while he was being carried helplessly
past.
Hans
promptly snubbed with the rope, as though Buck were a boat. The rope thus
tightening on him in the sweep of the current, he was jerked under the surface,
and under the surface he remained till his body struck against the bank and he
was hauled out. He was half drowned, and Hans and Pete threw themselves upon
him, pounding the breath into him and the water out of him. He staggered to his
feet and fell down. The faint sound of Thornton’s voice came to them, and
though they could not make out the words of it, they knew that he was in his
extremity. His master’s voice acted on Buck like an electric shock, He sprang
to his feet and ran up the bank ahead of the men to the point of his previous
departure.
Again
the rope was attached and he was launched, and again he struck out, but this
time straight into the stream. He had miscalculated once, but he would not be
guilty of it a second time. Hans paid out the rope, permitting no slack, while
Pete kept it clear of coils. Buck held on till he was on a line straight above
Thornton; then he turned, and with the speed of an express train headed down
upon him. Thornton saw him coming, and, as Buck struck him like a battering
ram, with the whole force of the current behind him, he reached up and closed
with both arms around the shaggy neck. Hans snubbed the rope around the tree,
and Buck and Thornton were jerked under the water. Strangling, suffocating,
sometimes one uppermost and sometimes the other, dragging over the jagged
bottom, smashing against rocks and snags, they veered in to the bank.
Thornton
came to, belly downward and being violently propelled back and forth across a
drift log by Hans and Pete. His first glance was for Buck, over whose limp and
apparently lifeless body Nig was setting up a howl, while Skeet was licking the
wet face and closed eyes. Thornton was himself bruised and battered, and he
went carefully over Buck’s body, when he had been brought around, finding three
broken ribs.
“That
settles it,” he announced. “We camp right here.” And camp they did, till Buck’s
ribs knitted and he was able to travel.
That
winter, at Dawson, Buck performed another exploit, not so heroic, perhaps, but
one that put his name many notches higher on the totem-pole of Alaskan fame.
This exploit was particularly gratifying to the three men; for they stood in
need of the outfit which it furnished, and were enabled to make a long-desired
trip into the virgin East, where miners had not yet appeared. It was brought
about by a conversation in the Eldorado Saloon, in which men waxed boastful of
their favorite dogs. Buck, because of his record, was the target for these men,
and Thornton was driven stoutly to defend him. At the end of half an hour one
man stated that his dog could start a sled with five hundred pounds and walk
off with it; a second bragged six hundred for his dog; and a third, seven
hundred.
“Pooh!
pooh!” said John Thornton; “Buck can start a thousand pounds.”
“And
break it out? and walk off with it for a hundred yards?” demanded Matthewson, a
Bonanza King, he of the seven hundred vaunt.
“And
break it out, and walk off with it for a hundred yards,” John Thornton said
coolly.
“Well,”
Matthewson said, slowly and deliberately, so that all could hear, “I’ve got a
thousand dollars that says he can’t. And there it is.” So saying, he slammed a
sack of gold dust of the size of a bologna sausage down upon the bar.
Nobody
spoke. Thornton’s bluff, if bluff it was, had been called. He could feel a
flush of warm blood creeping up his face. His tongue had tricked him. He did
not know whether Buck could start a thousand pounds. Half a ton! The
enormousness of it appalled him. He had great faith in Buck’s strength and had
often thought him capable of starting such a load; but never, as now, had he
faced the possibility of it, the eyes of a dozen men fixed upon him, silent and
waiting. Further, he had no thousand dollars; nor had Hans or Pete.
“I’ve
got a sled standing outside now, with twenty fiftypound sacks of flour on it,”
Matthewson went on with brutal directness; “so don’t let that hinder you.”
Thornton
did not reply. He did not know what to say. He glanced from face to face in the
absent way of a man who has lost the power of thought and is seeking somewhere
to find the thing that will start it going again. The face of Jim O’Brien, a
Mastodon King and old-time comrade, caught his eyes. It was as a cue to him,
seeming to rouse him to do what he would never have dreamed of doing.
“Can
you lend me a thousand?” he asked, almost in a whisper.
“Sure,”
answered O’Brien, thumping down a plethoric sack by the side of Matthewson’s.
“Though it’s little faith I’m having, John, that the beast can do the trick.”
The
Eldorado emptied its occupants into the street to see the test. The tables were
deserted, and the dealers and gamekeepers came forth to see the outcome of the
wager and to lay odds. Several hundred men, furred and mittened, banked around
the sled within easy distance. Matthewson’s sled, loaded with a thousand pounds
of flour, had been standing for a couple of hours, and in the intense cold (it
was sixty below zero) the runners had frozen fast to the hard-packed snow. Men
offered odds of two to one that Buck could not budge the sled. A quibble arose
concerning the phrase “break out.” O’Brien contended it was Thornton’s
privilege to knock the runners loose, leaving Buck to “break it out” from a
dead standstill. Matthewson insisted that the phrase included breaking the
runners from the frozen grip of the snow. A majority of the men who had
witnessed the making of the bet decided in his favor, whereat the odds went up
to three to one against Buck.
There
were no takers. Not a man believed him capable of the feat. Thornton had been
hurried into the wager, heavy with doubt; and now that he looked at the sled
itself, the concrete fact, with the regular team of ten dogs curled up in the
snow before it, the more impossible the task appeared. Matthewson waxed
jubilant.
“Three
to one!” he proclaimed. “I’ll lay you another thousand at that figure,
Thornton. What d’ye say?”
Thornton’s
doubt was strong in his face, but his fighting spirit was aroused—the fighting
spirit that soars above odds, fails to recognize the impossible, and is deaf to
all save the clamor for battle. He called Hans and Pete to him. Their sacks
were slim, and with his own the three partners could rake together only two
hundred dollars. In the ebb of their fortunes, this sum was their total
capital; yet they laid it unhesitatingly against Matthewson’s six hundred.
The
team of ten dogs was unhitched, and Buck, with his own harness, was put into
the sled. He had caught the contagion of the excitement, and he felt that in
some way he must do a great thing for John Thornton. Murmurs of admiration at
his splendid appearance went up. He was in perfect condition, without an ounce
of superfluous flesh, and the one hundred and fifty pounds that he weighed were
so many pounds of grit and virility. His furry coat shone with the sheen of
silk. Down the neck and across the shoulders, his mane, in repose as it was,
half bristled and seemed to lift with every movement, as though excess of vigor
made each particular hair alive and active. The great breast and heavy fore
legs were no more than in proportion with the rest of the body, where the
muscles showed in tight rolls underneath the skin. Men felt these muscles and
proclaimed them hard as iron, and the odds went down to two to one.
“Gad,
sir! Gad, sir!” stuttered a member of the latest dynasty, a king of the Skookum
Benches. “I offer you eight hundred for him, sir, before the test, sir; eight
hundred just as he stands.”
Thornton
shook his head and stepped to Buck’s side.
“You
must stand off from him,” Matthewson protested. “Free play and plenty of room.”
The
crowd fell silent; only could be heard the voices of the gamblers vainly
offering two to one. Everybody acknowledged Buck a magnificent animal, but
twenty fifty-pound sacks of flour bulked too large in their eyes for them to
loosen their pouch-strings.
Thornton
knelt down by Buck’s side. He took his head in his two hands and rested cheek
on cheek. He did not playfully shake him, as was his wont, or murmur soft love
curses; but he whispered in his ear. “As you love me, Buck. As you love me,”
was what he whispered. Buck whined with suppressed eagerness.
The
crowd was watching curiously. The affair was growing mysterious. It seemed like
a conjuration. As Thornton got to his feet, Buck seized his mittened hand
between his jaws, pressing in with his teeth and releasing slowly,
half-reluctantly. It was the answer, in terms, not of speech, but of love.
Thornton stepped well back.
“Now,
Buck,” he said.
Buck
tightened the traces, then slacked them for a matter of several inches. It was
the way he had learned.
“Gee!”
Thornton’s voice rang out, sharp in the tense silence.
Buck
swung to the right, ending the movement in a plunge that took up the slack and
with a sudden jerk arrested his one hundred and fifty pounds. The load
quivered, and from under the runners arose a crisp crackling.
“Haw!”
Thornton commanded.
Buck
duplicated the manœuvre, this time to the left. The crackling turned into a
snapping, the sled pivoting and the runners slipping and grating several inches
to the side. The sled was broken out. Men were holding their breaths, intensely
unconscious of the fact.
“Now,
MUSH!”
Thornton’s
command cracked out like a pistol-shot. Buck threw himself forward, tightening
the traces with a jarring lunge. His whole body was gathered compactly together
in the tremendous effort, the muscles writhing and knotting like live things
under the silky fur. His great chest was low to the ground, his head forward
and down, while his feet were flying like mad, the claws scarring the
hard-packed snow in parallel grooves. The sled swayed and trembled,
half-started forward. One of his feet slipped, and one man groaned aloud. Then
the sled lurched ahead in what appeared a rapid succession of jerks, though it
never really came to a dead stop again...half an inch...an inch... two
inches... The jerks perceptibly diminished; as the sled gained momentum, he
caught them up, till it was moving steadily along.
Men
gasped and began to breathe again, unaware that for a moment they had ceased to
breathe. Thornton was running behind, encouraging Buck with short, cheery
words. The distance had been measured off, and as he neared the pile of
firewood which marked the end of the hundred yards, a cheer began to grow and
grow, which burst into a roar as he passed the firewood and halted at command.
Every man was tearing himself loose, even Matthewson. Hats and mittens were
flying in the air. Men were shaking hands, it did not matter with whom, and
bubbling over in a general incoherent babel.
But
Thornton fell on his knees beside Buck. Head was against head, and he was
shaking him back and forth. Those who hurried up heard him cursing Buck, and he
cursed him long and fervently, and softly and lovingly.
“Gad,
sir! Gad, sir!” spluttered the Skookum Bench king. “I’ll give you a thousand
for him, sir, a thousand, sir—twelve hundred, sir.”
Thornton
rose to his feet. His eyes were wet. The tears were streaming frankly down his
cheeks. “Sir,” he said to the Skookum Bench king, “no, sir. You can go to hell,
sir. It’s the best I can do for you, sir.”
Buck
seized Thornton’s hand in his teeth. Thornton shook him back and forth. As
though animated by a common impulse, the onlookers drew back to a respectful
distance; nor were they again indiscreet enough to interrupt.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét