2022-01-29
Tiếng
gọi nơi hoang dã (VII)
Jack
London
Biên dịch: Nguyễn Công Ái và Vũ Tuấn
Phương.
Tiếng Anh: “The Call of the Wild” được
lấy từ dự án “The Project Gutenberg EBook”.
Đào,
Mai dịu dàng khoe sắc tươi thắm
Bel-Union
nhàn nhã đón xuân bình an
Chương VII.
Tiếng gọi
Với
một nghìn sáu trăm đôla mà Bấc kiếm được cho Giôn Thoóctơn chỉ trong vòng năm
phút, Bấc đã giúp cho chủ mình trang trải xong một số nợ nần và mở được cuộc
hành trình cùng với các bạn phường đi về phía Đông để tìm một cái mỏ vàng mất
tăm tích chỉ còn lại trong truyền thuyết, mà sự tích cũng xa xăm như chính sự
tích cái xứ sở này vậy. Trước kia, đã có nhiều người săn tìm cái mỏ vàng ấy; ít
người tìm ra được nó; mà số người đi tìm rồi chả bao giờ trở về nữa cũng không
phải là ít. Tình tiết về cái mỏ vàng mất tăm tích ấy đầy rẫy chuyện đau thương
và ẩn kín sau một bức màn thần bí. Không kẻ nào biết được người đầu tiên phát
hiện ra nó là ai. Những lời truyền miệng từ xa xưa nhất cũng đã dừng lại trước
khi phanh ra mối, lần ngược đến tung tích người đó. Mở đầu câu chuyện truyền
thuyết, người ta kể lại về một túp lều cổ đổ nát, nó là vật đánh dấu nơi có cái
mỏ vàng bí ẩn. Những kẻ thiệt mạng vì cuộc săn tìm này trong giờ phút hấp hối
đã thề thốt là túp lều ấy có thực, là cái mỏ vàng ấy có thực và để làm bằng cho
lời nói của họ, họ đã đưa ra cho xem những thỏi vàng thật là tuyệt vời, không
có bất kỳ loại vàng nào ở các độ tuổi mà người ta đã thấy tại vùng đất phương Bắc
này có thể sánh kịp.
Nhưng
trong những người đang sống, chẳng có ai mang được thứ của quý ấy về nhà, mà
người chết thì đã chết mất xác rồi. Do đó, Giôn Thoóctơn, Piti và Hendơ, cùng với
Bấc và nửa tá chó khác nữa, đã xông pha vào vùng phía Đông theo một con đường
mòn họ chưa từng biết đến, để hòng thực hiện cái điều mà những đoàn người và
chó khác trước họ, cũng giỏi giang như họ, đã thất bại không làm nổi. Họ đi xe
trượt tuyết băng qua bảy mươi dặm đường ngược dòng I-u-con, rồi ngoặt sang trái
đi vào sông Xtiu-át, vượt qua Mayê và Mắcquêxơn, và cứ tiếp tục ngược dòng cho
đến khi bản thân con sông Xtiu-át chỉ còn là một dòng suối nhỏ xíu, len lỏi qua
sườn những ngọn núi dựng dứng đánh dấu cột xương sống của lục địa Bắc Mỹ.
Giôn
Thoóctơn không yêu cầu gì mấy ở con người hoặc ở thiên nhiên. Anh không sợ
hoang dã. Với một vốc muối và một cây súng, anh có thể lao vào cõi hoang vu và
có thể làm ăn được ở bất cứ nơi nào và lâu đến bao nhiêu cũng được, tuỳ theo sở
thích. Không có gì phải vội, anh cứ theo phong cách của người thổ dân da đỏ,
hàng ngày vừa đi đường vừa săn bắn để kiếm cái ăn; và nếu không tìm ra cái ăn,
thì cũng giống như người da đỏ, anh cứ tiếp tục đi tới, biết chắc chắn rằng chẳng
chóng thì chầy thế nào anh cũng tìm ra. Vậy là trong cuộc hành trình lớn lao
này vào vùng phía Đông, thực đơn là thịt cá chén ngay tại trận khi vừa săn bắn
được, vật chở trên xe chủ yếu là đạn và dụng cụ, còn chương trình kế hoạch thì
vạch ra thực hiện trong tương lai không hạn định.
Đối
với Bấc cuộc sống như thế này thật là khoái vô cùng tận, được săn thú nhé, được
bắt cá nhé, rồi lại còn được ngao du vô định qua bao miền đất lạ. Có những thời
gian hằng mấy tuần liền đoàn người và chó cứ đi miết, ngày này qua ngày khác. Lại
có lúc hàng mấy tuần liền họ cắm trại tại chỗ ở một nơi nào đó, đàn chó xả hơi
đi chơi rong, còn người thì đốt lửa cho bùn và sỏi tan băng ra rồi moi thành lỗ,
và cạnh hơi nóng của ngọn lửa, họ cặm cụi đãi không biết cơ man nào đất cát để
tìm vàng. Có những lúc họ bị đói, nhưng có những lúc họ lại ăn uống thịnh soạn
bừa mứa, mọi sự tuỳ thuộc vào số lượng thú săn nhiều hay ít và công việc săn bắt
gặp may hay không. Mùa hè tới, người và chó đeo đồ lề lên lưng, dùng bè vượt
qua những hồ nước xanh biếc giữa đồi núi, và khi xuôi khi ngược dọc các dòng
sông chưa hề quen biết, trên những chiếc thuyền thoi do họ đốn gỗ trong rừng tự
đẽo khoét lấy.
Ngày
tháng trôi qua, đoàn người và chó cứ miệt mài dấn bước, vòng vèo khi tới khi
lui xuyên qua cõi đất mênh mông chưa hề được đồ hoạ, chưa ai từng đặt chân tới
hay biết đâu đã có người đến, nếu như câu chuyện về Túp Lều Mất Tích là có thực.
Họ đi qua những đường phân thuỷ, giữa những trận bão tuyết mùa hè dữ dội, họ
run cầm cập dưới ánh mặt trời nửa đêm trên những ngọn núi trọc nằm xen giữa bìa
rừng và vùng tuyết vĩnh cửu, họ tụt xuống những thung lũng giữa tiết hè tràn ngập
ruồi muỗi, và dưới bóng những núi băng, họ dừng lại hái những quả dâu chín mọng
và những bông hoa tươi đẹp chẳng thua kém bất kỳ loại hoa quả nào mà miền đất
phương Nam có thể tự hào. Mùa thu năm ấy họ lọt vào một vùng hồ kỳ ảo, buồn tẻ
và tĩnh mịch, nơi đây xưa kia đã từng có chim trời trú ngụ, nhưng nay thì không
còn sự sống, đến cả dấu vết của sự sống cũng không còn - chỉ có luồng gió ớn lạnh
thổi qua, băng đang dần đóng lại ở những nơi bị che khuất, và tiếng sóng rì rào
buồn man mát vỗ nhẹ vào những bãi bờ hiu quạnh.
Rồi
họ lang thang suốt một mùa đông nữa, mò theo hướng những người đã đi qua trước
đây mà dấu vết đã bị xoá sạch. Một lần họ chợt bắt gặp một lối đi mở xuyên qua
rừng, một lối mòn rất cũ, và tưởng chừng như Túp Lều Mất Tích đã ở đâu đây rất
gần. Nhưng lối mòn ấy bắt đầu từ chỗ không đâu ra đâu và tận cùng ở một chỗ
cũng không đâu ra đâu cả. Kết cục, nó vẫn là một điều bí ẩn, cũng như ai đã mở
ra lối đi ấy và mở ra để làm gì, đều vẫn là điều bí ẩn. Một lần khác, họ lại
tình cờ phát hiện thấy một chiếc lán của người đi săn, từ một thời xa xưa, nay
đã đổ nát, và giữa những mảnh chăn đã mục, Giôn Thoóctơn tìm thấy một khẩu súng
kíp nòng dài. Anh nhận ra đó là một thứ súng của Công ty Vịnh Hâtxơn trong thời
kỳ han sơ ở Vùng Tây Bắc, vào cái thời mà một cây súng như thế này xứng đáng với
vị trí cao quý được đóng hộp bọc da hải ly đàng hoàng. Nhưng tất cả chỉ có thế
- không có một dấu vết nào mách bảo về con người trong một ngày xa xưa nào đó
đã đựng lên chiếc lán này và còn để lại khẩu súng trong đống chăn.
Một
mùa xuân nữa lại đến, và sau khi đã lang thang mãi hết nơi này đến nơi nọ, cuối
cùng họ đã tìm thấy, không phải là Túp Lều Mất Tích, mà là một bãi sỏi cát nông
có vàng giữa một thung lũng rộng, trên bãi này vàng hiện ra như một lớp bơ nằm
dưới đáy của chiếc giần đãi. Họ không đi tìm đâu xa nữa. Mỗi ngày làm việc đem
lại cho họ hàng ngàn đôla vàng cốm và vàng cục đã đãi sạch, và ngày nào họ cũng
làm. Vàng được đóng gói vào những chiếc túi bằng da nai, mỗi túi chứa năm mươi
pao. Họ xếp những túi ấy thành chồng như xếp củi bên ngoài chiếc lán làm bằng
cành cây bách. Như những người khoẻ phi thường, họ làm việc quần quật không mệt
mỏi, ngày nối ngày vùn vụt trôi qua như những giấc mơ trong khi đống vàng của họ
cứ chất cao thêm mãi.
Lũ
chó chả có gì để làm ngoài việc thỉnh thoảng kéo về lán những con thú do
Thoóctơn săn được, và Bấc có những buổi nằm dài trầm ngâm hàng giờ bên đống lửa.
Bây giờ đây, khi công việc chả có bao nhiêu, thì cảnh mộng về con người lông lá
chân ngắn lại hiện về với Bấc thường xuyên hơn; và thường thường, giữa lúc nằm
yên chớp mắt nhìn ánh lửa, Bấc lại mơ thấy mình lang thang cùng con người ấy
trong cái thế giới bên kia mà Bấc hồi tưởng lại.
Đặc
điểm nổi bật của cái thế giới kia hình như là nỗi sợ hãi. Khi Bấc để ý nhìn con
người lông lá ấy ngủ bên đống lửa, đầu đặt giữa hai gối và cái bàn tay đan lại
trên đầu Bấc thấy gã ngủ không yên, nhiều lần giật mình tỉnh dậy, và những lúc ấy
gã thường sợ hãi nhìn chằm chằm vào bóng tối và ném thêm củi vào ngọn lửa. Nếu
gã cùng Bấc đi dọc bờ biển nơi gã thường nhặt sỏi hến, nhặt đâu ăn đấy, thì gã
vừa đi vừa đảo mắt nhìn khắp mọi chốn dè chừng những mối đe doạ ẩn nấp đâu đó,
và đôi chân sẵn sàng vắt lên cổ chạy tháo thân ngay khi vừa thấy mối đe doạ ấy
ló ra. Những khi xuyên qua rừng rậm, gã cùng Bấc bước rón rén không một tiếng động,
Bấc bám gót gã: cả hai đều cảnh giác, tỉnh táo, đề phòng, đôi tai vểnh lên, giần
giật, lỗ mũi phập phồng, bởi con người này nghe và đánh hơi cũng thính chả kém
gì Bấc. Con người lông lá này có thể nhún mình nhảy tót lên cây, và chuyền cành
đi tới phía trước cũng nhanh như đi trên mặt đất, hai cánh tay đánh đu tung người
từ cành này sang cành khác có khi cách nhau đến mươi bộ, thoăn thoắt buông chỗ
này bắt chỗ nọ, không bao giờ rơi ngã, không bao giờ bắt hụt. Trên thực tế,
hình như gã ở trên cây cũng thoải mái chả kém gì ở trên mặt đất; và Bấc mường
tượng ra trong ký ức những đêm Bấc thức trắng nằm chờ dưới gốc cây, bên trên là
con người lông lá đang bám chặt vào cành cây nằm ngủ.
Và
có một thứ luôn gắn chặt với cảnh mộng về con người lông lá ấy là tiếng gọi,
cái tiếng gọi cứ vang lên trong rừng thẳm. Mỗi lần nghe tiếng gọi ấy là lòng Bấc
tràn ngập một nỗi xao xuyến bồi hồi và những ham muốn kỳ lạ. Nó mang đến cho Bấc
một niềm vui mơ hồ mà thú vị, và Bấc nhận thấy trong lòng mình sôi lên cuồng
nhiệt bao nỗi khát khao mong muốn những điều mà Bấc không rõ là điều gì. Thỉnh
thoảng Bấc vùng dậy chạy vào rừng đuổi theo tiếng gọi, sục tìm nó như thể nó là
một vật có thể sờ mó được, vừa chạy vừa sủa nhẹ từng tiếng nhỏ hoặc sủa với vẻ
thách thức, tuỳ theo tâm trạng thay đổi từng lúc. Có lúc Bấc thọc mũi vào các tảng
rêu mát lạnh bám trên thân cây hay vào lớp đất đen dưới bãi cỏ ống, và khịt khịt
với vẻ vui sướng khi ngửi thấy mùi đất mỡ màng; hoặc có lúc nó nằm thu mình
hàng giờ sau những thân cây đổ đầy nấm mọc, như để ẩn nấp, rình mồi, giương mắt
giỏng tai theo dõi mọi sự chuyển động và mọi tiếng thóc thách xung quanh nó. Có
thể bằng cách nằm rình như vậy, nó hy vọng sẽ bất chợt bắt gặp được cái tiếng gọi
mà nó không hiểu nổi đó. Nhưng không, nó không biết tại sao nó lại làm mọi điều
như vậy. Có một cái gì đó buộc nó phải làm thế, và nó tuyệt nhiên không lý giải
được.
Nó
chịu tác động của những lực thôi thúc không thể cưỡng lại nổi. Có những khi
đang nằm dài vô tích sự trong khu đóng trại ngủ gà ngủ gật dưới ánh nắng ấm áp
ban ngày, nó đột nhiên cất đầu, vểnh tai chăm chú lắng nghe, rồi bật dậy và lao
đi, và cứ thế lao tới, lao tới mãi, hàng mấy tiếng liền, theo những lối hở giữa
cây rừng và qua những bãi trống đầy những cụm cỏ lác. Nó thích chạy xuôi những
dòng suối khô cạn, và thích rón rén theo dõi cuộc sống của chim chóc trong rừng.
Có khi cả ngày liền nó nằm trong bụi rậm, từ nơi ẩn nấp này nó có thể quan sát
những chú gà gô gõ nhịp liên hồi và khệnh khạng đi đi lại lại. Nhưng nó đặc biệt
thích chạy trong bóng tối lờ mờ vào lúc nửa đêm mùa hạ, giỏng tai nghe tiếng rì
rầm lắng dịu và buồn ngủ của núi rừng, đọc những tín hiệu và những âm thanh như
con người đọc cuốn sách, và sục tìm cái vật huyền bí nào đó đã cất lên tiếng gọi
- gọi nó đến, gọi vào mọi lúc, cả lúc đang thức, cả lúc đang ngủ.
Rồi
một đêm nọ, nó đang ngủ bỗng giật nảy mình bật dậy, đôi mắt rực lên háo hức,
cánh mũi rung động phập phồng đánh hơi, bờm lông dựng lên từng hồi như sóng cuộn.
Từ trong rừng sâu vẳng tới tiếng gọi (hay có thể nói là một âm tiết của nó, bởi
tiếng gọi có nhiều âm tiết khác nhau), minh bạch và rõ ràng hơn bao giờ hết - một
tiếng hú kéo dài, nghe giống nhưng lại cũng không giống bất kỳ tiếng kêu nào của
loài chó mà nó đã từng nghe thấy thuở trước. Bấc vọt ra khỏi khu trại đang yên
giấc lặng lẽ lao vun vút đi qua các khu rừng. Tiếng hú càng gần lại, Bấc giảm dần
tốc độ, thận trọng trong từng cử động, nó nhìn ra, thì kìa, trước mắt nó một vật
ngồi chồm hổm, một con sói xám thân dài, gầy guộc, đang rướn thẳng mình, ghếch
mõm lên trời.
Bấc
tới đây không hề gây ra một tiếng động, ấy thế mà con vật kia ngừng bặt tiếng
hú và đánh hơi cố tìm cách phát hiện ra nó. Bấc rón rén bước ra bãi trống, hơi
rún mình xuống, toàn thân thu hết lại thành một khối chắc nịch, đuôi duỗi thẳng
cứng đờ, chân khuỵu xuống trong tư thế thận trọng khác thường. Mọi cử động của
Bấc biểu hiện một thái độ vừa đe doạ, vừa tỏ ý muốn làm thân. Chính đó là cái
kiểu hoà hoãn tạm thời nhưng chứa đựng sự đe doạ, nó là dấu hiệu đặc trưng của
những cuộc chạm trán giữa những con dã thú trên đường đi săn mồi. Nhưng con chó
sói vội vàng bỏ chạy khi vừa trông thấy Bấc, Bấc phóng theo, nhảy những bước
dài điên cuồng quyết ra sức đuổi kịp hắn. Bấc dồn hắn vào một cái lối cụt, giữa
lòng một nhánh suối con, nơi có những gốc cây ken nhau dày chi chít chặn nghẽn
đường. Con sói quay ngoắt lại, trụ trên hai chân sau để xoay mình theo kiểu của
Jô và mọi con chó étkimô khác khi bị cùng đường, gầm thét và lông dựng đứng, hai
hàm răng vập nhanh vào nhau liên tiếp.
Bấc
không tiến công, chỉ lượn vòng bao quanh hắn đón chặn hắn lại với thái độ tỏ ý
muốn làm thân. Con sói nghi hoặc và sợ hãi: bởi Bấc to gấp ba hắn, đầu hắn chỉ
vừa chấm vai Bấc. Nhè lúc Bấc sơ hở, hắn vọt ra ngoài phóng đi. Thế là cuộc săn
đuổi lại tiếp tục. Hết lần này đến lần khác, hắn lại bị Bấc đuổi dồn vào nơi
cùng đường, rồi sự việc lại cứ diễn đi diễn lại như cũ, mặc dù hắn ở trong tình
trạng yếu thế, mà nếu hắn không yếu thế thì Bấc cũng không dễ gì đuổi kịp hắn.
Hắn cứ chạy cho đến khi thấy đầu của Bấc nhô lên đến ngang sườn hắn là hắn quay
ngoắt lại giữ không cho Bấc chạm vào hắn, để rồi lại vọt ra bỏ chạy ngay khi chớp
được cơ hội đầu tiên.
Nhưng
cuối cùng, cuộc đuổi bám dai dẳng của Bấc đã được đền đáp. Con chó sói thấy đối
phương không có ý gì muốn hại hắn, rốt cuộc đã hít mũi với Bấc. Thế là chúng
đánh bạn với nhau, và đùa giỡn bên nhau với cái vẻ hay hốt hoảng và có phần rụt
rè mà thú dữ thường biểu hiện ra bên ngoài, làm người ta có thể nhầm không rõ bản
chất hung dữ của chúng. Sau khi nó đùa với nhau một lát, con chó sói bỏ đi, ung
dung chạy những bước dài nhún nhẩy nhịp nhàng với một cung cách tỏ ra hắn đang
nhằm đi tới một nơi nào đó. Hắn lại tỏ ý với Bấc là hắn muốn Bấc cùng đến nơi
đó với hắn, và chúng chạy bên nhau trong bóng tối mờ mờ, ngược suốt theo lòng
suối, đi vào hẻm núi nơi con suối chảy ra, và vượt qua đường phân thuỷ hoang vắng
nơi con suối bắt nguồn.
Qua
sườn dốc bên kia đường phân thuỷ, chúng xuống một vùng bằng phẳng, có những dải
rừng lớn và nhiều khe suối, và cứ thế mải miết chạy qua các dải rừng ấy hết giờ
này sang giờ khác. Mặt trời lên cao và khí trời ấm dần. Bấc vui sướng như ngây
như dại. Nó biết thế là cuối cùng nó đã đáp lại tiếng gọi, nó đang chạy bên cạnh
kẻ anh em ruột thịt chốn núi rừng, và phía mà chắc chắn là nơi xuất xứ của tiếng
gọi. Nhưng ký ức tự thuở cổ xưa đang kéo về với nó nhanh chóng và lòng nó đang
náo nức với những ký ức ấy, cũng giống những điều thực tại mà chính các ký ức
xa xưa ấy là cái bóng lồng theo. Nó đã sống những giây phút như thế này thuở
trước, đâu đó trong cái thế giới kia mà nó đang lờ mờ hồi tưởng lại, và giờ đây
nó lại được sống những giây phút như vậy, tự do chạy thênh thênh giữa cõi thiên
nhiên khoáng đãng, dưới chân là mặt đất còn tinh khôi nguyên vẹn, và trên đầu
là bầu trời mở rộng bao la.
Chúng
dừng lại bên một dòng suối róc rách chảy để uống nước. Và khi dừng lại, Bấc sực
nhớ tới Giôn Thoóctơn. Nó ngồi xuống tại chỗ, con sói tiếp tục đi tới trước, lại
quay lại với Bấc, hít mũi với Bấc và làm những động tác như để khuyến khích Bấc.
Nhưng Bấc quay đằng sau và từ từ lui trở về theo lối cũ. Trong gần một tiếng đồng
hồ, con chó hoang anh em chạy lui theo bên cạnh Bấc, vừa chạy vừa khe khẽ kêu ư
ử, rồi hắn ngồi xuống hếch mõm lên trời, tru lên một tiếng dài. Tiếng tru sao
mà thê thảm, Bấc cứ tiếp tục mải miết chạy trở về không quay lại, nó nghe tiếng
hú kia mỗi lúc một nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hút ở phía sau xa.
Giôn
Thoóctơn đang ăn bữa tối thì Bấc lao vào khu trại và nhảy bổ vào anh trong một
cơn lốc thương yêu như điên như dại, đẩy anh lật nhào, trèo lên người anh liếm
mặt anh, ngoạm lấy bàn tay anh - chơi cái trò ông tướng ngốc, như Giôn Thoóctơn
thường mệnh danh cho lối biểu thị ấy - còn Thoóctơn thì ôm lấy nó lắc, đảo tới
đảo lui và rủa yêu nó.
Trong
suốt hai ngày đêm, Bấc không rời khu trại đến nửa bước, không hề để Giôn
Thoóctơn rời khỏi tầm mắt của nó. Nó quấn quít quanh anh trong khi anh làm việc,
chăm chú quan sát anh khi anh ăn, đưa mắt trông theo anh chui vào chăn đi ngủ,
và chờ đón nhìn anh buổi sáng thức dậy từ trong chăn chui ra.
Nhưng
sau hai ngày ấy, tiếng gọi trong rừng sâu lại bắt đầu vang lên thúc giục khẩn
thiết hơn bao giờ hết, Bấc lại bồn chồn trở lại, đầu óc lại tơ tưởng đến hình ảnh
con chó hoang anh em, đến vùng đất tươi đẹp đầy sức quyến rũ bên kia đường phân
thuỷ, và đến cái buổi chạy sóng đôi bên nhau qua những dải rừng rộng lớn. Thế
là lần nữa, nó lại lao vào rừng lang thang hết nơi này đến nơi khác, nhưng kẻ
anh em chốn hoang dã không trở lại với nó nữa, và mặc dù có chú ý lắng tai nghe
suốt nhiều đêm dài thao thức, tiếng hú não nùng kia không còn bao giờ cất lên
trở lại.
Nó
bắt đầu ngủ đêm ngoài rừng và có khi đến mấy ngày liền nó bỏ đi khỏi khu trại. Một
lần nó vượt qua đường phân thuỷ ở đầu nguồn nước và chạy xuống vùng đất có nhiều
cây to, và nhiều khe suối, tại đó nó lang thang trong suốt một tuần để tìm kiếm
dấu vết của kẻ anh em nơi hoang dã, nhưng vô vọng. Nó vừa đi vừa săn mồi để ăn,
và trên đường nay đây mai đó nó khoan thai chạy những bước dài nhún nhẩy nhịp
nhàng hình như không bao giờ biết mệt. Nó săn bắt cá hồi trong một dòng suối rộng
đang trút ra đâu đây nơi biển cả, và cạnh dòng suối này nó giết chết một con gấu
đen to lớn. Con gấu này cũng đang bắt cá như nó thì bị muỗi xúm lại đốt mù cả mắt,
và giữa lúc này thì bị Bấc tấn công. Gấu ta đã gầm thét dữ dội phóng qua rừng rậm
bỏ chạy, nom thật khủng khiếp nhưng hoàn toàn bất lực. Mặc dù vậy, cuộc chiến đấu
cũng khá gay go, và trận đánh quyết liệt này đã khơi dậy hết những tàn dư tiềm
tàng cuối cùng của tính hung dữ truyền lại bên trong Bấc. Và hai ngày sau, khi
Bấc trở lên bên con vật nó đã giết chết, nhìn thấy khoảng chục con chồn gulô
đang tranh giành nhau ăn xác con mồi, nó đã xông vào đánh lũ chồn chạy tan tác
bỏ lại hai con gục xuống đấy không còn bao giờ biết tranh giành gì nữa.
Tính
thèm khát máu tươi đã trỗi dậy bên trong Bấc mạnh hơn bao giờ hết. Nó đã thành một
kẻ chuyên giết chóc, một vật săn mồi, sống bằng thịt những vật sống đang đi lẻ
loi và cô thế, nhờ ở chính sức mạnh và sự dũng cảm của bản thân mình, tồn tại
oanh liệt bằng chiến thắng trong một môi trường cứu địch, mà ở đó chỉ có kẻ mạnh
mới tồn tại. Do tất cả những điều ấy, trong lòng nó phát sinh một niềm kiêu
hãnh lớn lao về bản thân mình, niềm kiêu hãnh này truyền lan như một sự nhiễm
lây sang phần vật chất của cơ thể nó. Niềm kiêu hãnh ấy tự phô bày trong mọi động
tác của nó, thể hiện rõ ràng trong lối vận động của từng cơ bắp, diễn đạt minh
bạch như lời nói trong cung cách đi đứng của nó, và làm cho bộ lông dày lộng lẫy
của nó như có phần thêm lộng lẫy. Nếu không có mấy đốm nâu lạc lõng ở mõm nó và
phía trên đôi mắt, và cái vệt lông trắng chạy dọc ở chính giữa ức nó, thì người
ta rất có thể nhầm tưởng nó là một con chó sói khổng lồ, lớn hơn cả con nhất của
dòng họ nhà sói. Nó kế thừa được cái vóc và trọng lượng của bố nó thuộc nòi
Xanh Bécna nhưng chính là mẹ nó, thuộc nòi chó chăn cừu, đã di truyền lại cái
hình dáng cho tầm vóc ấy và trọng lượng ấy. Mõm nó là cái mõm dài của nòi sói,
chỉ khác là nó lớn hơn mõm của bất kỳ con chó sói nào; và cái đầu của nó đích
thị là hình dạng một cái đầu chó sói phóng đại.
Cái
khôn ranh của nó là cái khôn ranh của loài sói, một thứ khôn ranh man rợ; cái
thông minh của nó là cái thông minh của nòi chó chăn cừu kết hợp với cái thông
minh của nòi Xanh Bécna; và tất cả những cái đó cộng với kinh nghiệm đã thu lượm
được trong trường đời hung bạo nhất, đã biến nó thành một sinh vật cũng ghê gớm
như bất kỳ thứ sinh vật nào lang thang giữa nơi hoang dã. Là một nòi ăn thịt,
ngày ngày sống bằng thịt ăn sống nuốt tươi ngay khi săn bắt được, Bấc đang
trong thời kỳ phát triển rực rỡ nhất, ở ngọn triều cao của cuộc đời mình, tràn
trề sức mạnh và khí thế. Mỗi khi Giôn Thoóctơn lướt bàn tay vuốt ve dọc sống
lưng nó, thì từng sợi lông đã tích đầy từ điện bị chạm vào liền phóng điện phát
ra những tiếng tanh tách nhỏ theo bàn tay vuốt tới. Mỗi một bộ phận, từ bộ não
đến cơ thể, từ mô thần kinh đến thớ thịt, đều được làm cho thích ứng với độ nhạy
bén cao nhất; và giữa tất cả các bộ phận ấy, có một sự cân bằng và điều chỉnh
cho ăn ý đến mức hoàn hảo. Khi bắt gặp một cảnh tượng, tiếng động hoặc sự việc
gì đòi hỏi phải phản ứng, nó lập tức phản ứng nhanh như chớp. Để chống lại một
cuộc tấn công hoặc để tấn công, một con chó étkimô bật nhảy nhanh là thế, vậy
mà Bấc còn bật nhảy nhanh gấp đôi. Thời gian để nó nhìn thấy một chuyển động hoặc
để nghe thấy một tiếng gì đó, rồi phản ứng, tất cả chỉ trong chớp mắt, còn ngắn
hơn cả thời gian cần thiết cho bất kỳ con chó nào khác để cho kịp nhìn thấy hoặc
nghe thấy. Nó vừa nhận thức, vừa quyết định, vừa phản ứng cùng một lúc. Thực ra
thì ba hoạt động nhận thức, quyết định và phản ứng là kế tiếp nhau; thế nhưng
khoảng cách thời gian giữa các việc ấy đều vô cùng ngắn ngủi nên có vẻ như ba
việc diễn ra đồng thời. Các bắp thịt của nó thừa ứ sinh lực, sẵn sàng bật nảy
lao vào hành động, nhạy như những lò xo thép. Sự sống trào dâng trong mình nó
như một ngọn triều tưng bừng, hân hoan, sôi sục, dâng lên mãi đến mức tưởng chừng
như có thể làm nó vỡ tung ra từng mảnh trong trạng thái ngây ngất thoát bung ra
khỏi bản thân mình, để dòng sinh lực kia tuôn trào tràn trề hào phóng ra khắp mọi
nẻo của cõi đời.
-Chưa
bao giờ có một con chó như nó! - một hôm Giôn Thoóctơn đã phải thốt lên như vậy,
trong khi anh cùng các bạn phường dõi theo Bấc đang bước ra khỏi khu trại.
-Khi
ông Tạo đúc ra nó thì cái khuôn bị vỡ - Piti tiếp lời.
-Ôi
lạy Chúa! Tôi cũng nghĩ như các anh vậy đó - Hendơ xác nhận.
Họ
nhìn thấy nó bước ra khỏi khu trại, nhưng họ không nhìn thấy sự biến đổi đột ngột
và ghê gớm đã diễn ra ngay khi nó vừa khuất trong màn bí mật của núi rừng. Đến
nơi đó là nó không bước ra nữa. Ngay tức khắc nó biến thành một vật của hoang
dã, len lén luồn tới nhẹ nhàng, bước chân êm như mèo, trở thành một cái bóng
đen thấp thoáng lướt qua, khi ẩn khi hiện giữa nhứng bóng đen khác. Nó biết
cách lợi dụng mọi vật che khuất, trườn sát bụng xuống đất như con rắn, và cũng
như con rắn, nó biết cách xuất kỳ bất ý bật nhảy vọt lên tấn công. Nó có thể
lôi cổ một chú gà gô từ trong tổ ra, giết chết một con thỏ đang ngủ, và chộp gọn
giữa lưng chừng không khí những chàng sóc chuột bé nhỏ đang vọt lên nhưng chỉ
vì chậm chân có một tích tắc nên chưa kịp bám được vào thân cây leo lên chạy
thoát. Cả cá lội trong vũng trống không phải là quá nhanh đối với nó; mà hải ly
luôn be bờ đắp đập cũng không phải là quá cảnh giác đề phòng đến nỗi nó không
tóm được. Nó giết các thú vật khác là để ăn thịt, chứ không phải để đùa giỡn;
nhưng ăn những vật gì tự nó giết được thì nó vẫn thích hơn. Do vậy, có một thứ
tinh nghịch ngấm ngầm trong hành động của nó, và nó rất khoái cái trò lên tới
sát nách những chú sóc, rồi đến khi chắc chắn là nó chộp được chúng ngon ơ,
chúng không tài nào thoát được thì nó lại tha cho chúng, làm cho các chú sóc hoảng
sợ hết hồn hết vía leo tót lên ngọn cây, chí chóc mãi.
Mùa
thu đã tới, nai sừng Bắc Mỹ xuất hiện nhiều hơn, chuyển dần xuống phía dưới để
đón mùa đông ở những thung lũng thấp, nơi khí hậu đỡ khắc nghiệt hơn. Bấc đã hạ
được một con nai choai lạc đàn. Nhưng nó lại hết sức thèm muốn những con mồi to
hơn và ghê gớm hơn, và một hôm nó đã bắt gặp được một con đúng như nó mong ước
tại đường phân thuỷ ở đầu ngọn suối. Một đàn hai mươi con nai sừng đã từ vùng đất
có nhiều cây to và khe suối kéo sang, và chúa tể đầu đàn là một gã nai đực to lớn.
Gã này đang trong cơn thịnh nộ dữ tợn, và với thân hình sừng sững đứng cao hơn
sáu bộ, gã quả là một đối thủ ghê gớm mà Bấc có thể mơ ước. Gã nai hất tới hất
lui bộ sừng to lớn xoè thành hình chân vịt, chĩa ra mười bốn mũi và dang rộng đến
bảy bộ từ mút bên này sang mút bên kia. Khi nhìn thấy Bấc, đôi mắt ti hí của gã
rực lên một ánh lửa ác độc và quyết liệt; và gã rống lên giận dữ.
Ở
một bên thân của gã, ngay phía trước sườn, thòi ra đoạn đuôi của một mũi tên cắm
lông chim, thì ra chính vì cái này mà gã sinh ra điên giận đến như vậy.
Được
sự dắt dẫn của cái bản năng truyền lại từ những ngày săn bắt trong thế giới
nguyên thuỷ xa xưa, Bấc tìm cách tách con nai đực kia ra khỏi đàn. Đó không phải
là việc dễ. Bấc vừa sủa vừa nhảy nhót quanh quẩn trước mặt gã nai đực, vừa vặn
ngoài tầm của bộ sừng to lớn và bộ móng loe kinh khủng chỉ cần bổ cho nó một
đòn thôi là đủ làm nó đi đứt. Không thể nào dứt ra khỏi cái vật tai tác nguy hiểm
có răng nanh kia để mà tiếp tục đi, gã nai đực nổi những cơn điên giận đến cực
điểm. Những lúc nổi điên lên, gã lao vào tấn công Bấc, nhưng Bấc láu cá rút
lui, dù gã leo theo bằng cách giả vờ làm ra vẻ như không thể nào chạy thoát nổi.
Nhưng mỗi khi gã nai vì vậy mà tách ra xa khỏi đàn, thì lại có hai ba con nai đực
khác trẻ hơn quay lui xông vào tấn công Bấc, giúp cho gã nai đực bị thương có
thể trở lại theo đàn.
Có
một thứ tính kiên nhẫn của hoang dã - rất bền bỉ không biết mệt mỏi, gan lì như
chính bản thân sự sống vậy - thứ tính kiên nhẫn đã giữ cho con vật chờ mồi im
phăng phắc từ giờ này sang giờ khác như trong thời gian vô tận: con nhện giữa
cái mạng tơ, con rắn trong tư thế cuộn vòng, con báo tại nơi mai phục; cái thứ
kiên nhẫn này là thuộc tính của sự sống khi sự sống săn bắt một sự sống khác
làm thức ăn cho mình; và thứ kiên nhẫn này cũng là thuộc tính của Bấc khi Bấc
bám riết bên sườn đàn nai, cản trở làm chậm cuộc hành quân của chúng, chọc tức
những con nai đực trẻ, quấy rầy những con nai cái với lũ nai choai lẽo đẽo theo
sau, và làm cho gã nai đực bị thương kia phát điên lên trong cơn thịnh nộ bất lực.
Trong suốt nửa ngày trời, sự việc cứ thế tiếp diễn, Bấc tăng cường độ của mình
lên gấp bội, tấn công từ mọi phía, vây bọc lấy đàn nai trong một cơn lốc đe doạ,
tìm cách tách nạn nhân của nó ra khỏi đàn mỗi khi gã vừa kịp trở lại nhập bọn với
lũ nai đàn, làm hao kiệt dần sự kiên nhẫn của những sinh vật bị săn vốn không bền
bỉ được bằng sự kiên nhẫn của những sinh vật đi săn.
Ngày
tàn dần và ông mặt trời tụt xuống nơi yên nghỉ của mình phía chân trời Tây Bắc
(mấy hôm nay bóng tối đã lại quay về nơi đây, và đêm mùa thu kéo dài sáu tiếng).
Những chàng nai đực trẻ mỗi lúc một miễn cưỡng hơn trong việc quay lui hỗ trợ
cho gã nai đầu đàn bị vây hãm. Mùa đông đang lan xuống dần, thúc chúng mau chân
đi tới những rẻo đất thấp hơn, vả lại chúng thấy hình như chúng không bao giờ
có thể tống khứ đi được cái sinh vật không hề biết mệt mỏi kia đang kìm chân
chúng lại. Hơn nữa không phải là tính mệnh của cả đàn hay tính mệnh của lũ nai
đực trẻ bị đe doạ, mà chỉ có một thành viên của đàn bị đòi nộp mạng, điều đó
không đáng quan tâm bằng chính cái mạng của chúng, và thế là cuối cùng chúng bằng
lòng nộp món tiền mãi lộ ấy.
Khi
bóng hoàng hôn trùm xuống, gã nai đực già đứng lặng, đầu cúi thấp, đưa mắt dõi
theo những bạn cùng đàn - những nàng nai cái mà gã đã thân thuộc, những bé nai
con mà gã đã sinh ra, những chàng nai trẻ mà gã đã thống lĩnh - trong khi chúng
lóng ngóng bước gấp trong ánh chiều đang mờ dần. Gã không thể chạy theo bởi vì
trước mũi gã cái mối đe doạ khủng khiếp có răng nanh không thương xót kia vẫn cứ
nhảy nhót, không chịu buông tha gã. Gã nặng đến hơn sáu trăm ký, gã đã sống một
cuộc đời dài và dũng mãnh, đầy chiến đấu và vật lộn, thế mà cuối cùng gã lại đối
mặt với cái chết nơi hàm răng của một sinh vật mà cái đầu vượt chưa quá khuỷu đầu
gối to lớn của gã.
Từ
lúc đó, suốt đêm suốt ngày, Bấc không bao giờ rời khỏi con mồi của mình, không
bao giờ cho nó một giây phút nào nghỉ ngơi, không bao giờ để cho nó gặm được tí
lá cây nào hoặc tí chồi non nào của những cây bulô và liễu mới mọc. Bấc cũng
không để cho gã nai bị thương có một cơ hội nào để làm dịu cơn khát cháy họng.
Trong tình cảnh tuyệt vọng, gã nai thường đột nhiên vùng chạy những thoi dài.
Những lúc ấy Bấc không tìm cách chặn gã lại, mà cứ ung dung chạy những bước dài
nhún nhảy nhịp nhàng bám sát gót gã, hài lòng với kiểu chơi cái trò ấy, rồi khi
gã nai đứng lặng thì nó nằm xuống nghỉ, khi gã cố gắng tìm cách để ăn hoặc uống
thì nó tấn công gã ác liệt.
Cái
đầu to tướng mỗi lúc một gục xuống thấp hơn dưới bộ ngực đồ sộ, và bước chạy
lóng ngóng mỗi lúc một yếu dần đi. Gã đã phải đứng lặng hồi lâu, mũi chúc xuống
đất, đôi tai chán nản cụp xuống ủ rũ; và Bấc nhờ đó có thêm thời gian để bản
thân mình kiếm nước uống và nghỉ xả hơi. Giữa những lúc này, trong khi nằm thở
hổn hển, chiếc lưỡi đỏ tươi thè dài và đôi mắt đan chặt vào con nai đực to lớn,
Bấc bỗng cảm thấy hình như có một sự thay đổi nào đó đang diễn ra trên bộ mặt của
mọi vật. Nó cảm thụ được một sự xáo động mới lạ truyền lan qua miền này. Trong
thời gian lũ nai sừng kéo đến nơi đây, có những loài khác của sự sống cũng đang
kéo đến. Cả rừng cây, khe suối, và cả không khí nữa, hình như đều đang phập phồng
vì sự có mặt của những loài đó. Bấc hoàn toàn tin vào các tín hiệu mách bảo rằng
những loài đó đã xuất hiện, không phải bằng mắt nhìn, hay tai nghe, hay mũi ngửi
mà bằng một thứ giác quan khác tinh tế hơn. Quả là nó chẳng nghe thấy gì, chẳng
nhìn thấy gì, thế nhưng nó vẫn nhận ra là miền đất này có cái gì khang khác, có
những vật lạ đang hoạt động và đang đi lùng khắp nẻo; và nó quyết định sẽ tìm
hiểu xem sao sau khi kết thúc cái việc đang làm dở.
Cuối
cùng, đến hết ngày thứ tư, nó hạ được con nai to lớn đổ gục. Suốt một ngày và một
đêm, nó ở lại đó bên con mồi nó đã giết được, ăn thịt nai rồi ngủ, quanh đi quẩn
lại tại chỗ. Thế rồi, sau khi đã được nghỉ ngơi, tỉnh táo khoan khoái và sung sức,
nó quay đầu trở về khu trại với Giôn Thoóctơn. Nó sải chân, nhảy những bước dài
nhịp nhàng thoải mái, cứ thế chạy miết từ giờ này sang giờ khác, không bao giờ
phải lúng túng tìm lối đi giữa tầng tầng lớp lớp rối rắm phức tạp của núi rừng,
nhằm thẳng hướng về trại qua mọi miền đất lạ, xác định phương hướng với một sự
tin chắc chính xác đáng để cho con người và chiếc kim nam châm của mình phải lấy
làm hổ thẹn.
Càng
đi tới, Bấc mỗi lúc một nhận thấy rõ hơn sự xáo động mới lạ trong miền này. Khắp
nơi đang có một sự sống nào đó khác với sự sống đã từng có ở đây trong suốt mùa
hè qua. Không còn chỉ là tin vào sự kiện đó qua một sự cảm thụ tinh tế và huyền
bí nữa. Kìa lũ chim chóc đang bàn tán về điều đó, những chú sóc đang kháo nhau
xôn xao và cả làn gió nhẹ nữa cũng đang thì thào mách bảo. Đã mấy lần Bấc dừng
lại, hít những hơi dài giữa luồng không khí tươi mát buổi sáng, và đọc thấy một
tín hiệu truyền đến khiến nó càng vọt tới gấp bước nhanh hơn. Trong lòng nó nặng
trĩu một cảm giác là có một mối tai hoạ sắp xảy ra; và khi nó vượt qua đường
phân nước cuối cùng rồi tụt xuống khoảng thung lũng dẫn về phia khu trại, nó tiến
tới một cách thận trọng hơn.
Cách
khu trại ba dặm, nó chợt thấy một lối mòn mới, khiến cho lông cổ nó cuộn lên
như sóng và dựng ngược. Cái lối mòn ấy dẫn thẳng tới phía trại, tới phía Giôn
Thoóctơn, Bấc hối hả chạy, vừa phóng nhanh vừa lén lút giấu mình, mọi dây thần
kinh căng thẳng, cảnh giác chú ý đến vô vàn chi tiết đang thuật lại một câu
chuyện - gần như đến lúc kết thúc. Giác quan của mũi nó tường thuật cho nó một
bước đi qua của cái sự sống mới lạ mà nó đang bám đuổi theo sát gót. Nó để ý thấy
sự im lặng đầy ý nghĩa của núi rừng. Cuộc sống của chim chóc đã vắng teo. Những
chú sóc đã lẩn trốn đi đâu cả. Nó chỉ thấy có mỗi một chú - một chú sóc xám mượt
mà, nằm bẹp gí dán mình vào một cành cây khô cũng màu xám, trông chú như là một
phần của cành cây ấy, như một cái bướu gỗ nhô lên trên thân gỗ.
Trong
khi Bấc lướt tới âm thầm như một cái bóng mũi nó bỗng nhiên bị giật mạnh sang một
bên như thể có một lực thực sự nào đó đã chộp lấy và kéo sang. Nó vội bám theo
cái mùi mà nó vừa đánh hơi thấy, lần vào một bụi rậm và nhìn thấy Ních. Ních đã
chết sau khi lết được vào đó, xác nằm nghiêng, một mũi tên xuyên qua thòi cả đầu
và đoạn đuôi cắm lông chim ra hai bên mình nó.
Chạy
thêm độ được khoảng một trăm mã, Bấc bắt gặp một trong những con chó kéo xe mà
Thoóctơn đã mua ở Đoxân. Con chó này đang vật vã trong cơn giẫy chết ngay trên
vệt đường mòn. Bấc chạy vòng qua bên nó không dừng lại. Từ phía khu trại vẳng đến
tiếng lao xao của nhiều giọng người, khi trầm khi bổng trong một điệu hát đều đều
ê a. Trườn lên phia trước đến rìa bãi trống, Bấc chợt thấy Hendơ nằm sấp mặt xuống
đất, trên mình tua tủa những mũi tên trông như con chim. Ngay lập tức, Bấc đảo
mắt về phía vốn có chiếc lán làm bằng cành bách, và thốt nhìn thấy một cảnh tượng
khiến cho lông trên cổ và vai nó bật thẳng lên dựng đứng. Một cơn điên giận
không thể nén nổi bùng lên trong đầu nó. Nó gầm lên một tiếng hung tợn và khủng
khiếp, mà bản thân không hay biết là mình đã để bật ra tiếng gầm như vậy. Đây
là lần cuối cùng trong đời nó Bấc đã để cho xúc cảm lấn lát mất khôn ranh và lý
trí. Chính vì lòng thương yêu nồng cháy của nó đối với Giôn Thoóctơn nên nó
không tự chủ nổi.
Bọn
người da đỏ thuộc bộ tộc Yhét đang nhảy múa quanh đống đổ nát của chiếc làn làm
bằng cành bách bỗng nghe một tiêng rống ghê rợn và nhìn thấy một con vật đâm bổ
vào chúng, một loại thú vật chúng chưa từng nhìn thấy bao giờ. Đó là Bấc, một
luồng bão tố giận dữ biểu hiện thành sự sống, lao mình vào chúng trong một cơn
cuồng loạn chỉ quyết huỷ diệt. Nó nhảy xổ vào một tên mà nó thấy là nổi bật nhất
(đó chính là thủ lĩnh của đám người Yhét), cắn rách toang cổ họng y cho đến khi
máu ùng ục tuôn ra như suối từ mạch máu cổ bị xé nát. Bấc không dừng lại để tiếp
tục nhay xé tên này, mà cứ vọt tới, vừa phóng qua vừa cắn xé, thêm một bước nữa
là xé rạch toang họng thêm một tên thứ hai. Không có gì chống lại được nó. Nó cứ
thế nhào lộn ngay giữa bọn chúng, cắn toạc, xé nát, huỷ diệt, chuyển động vùn vụt,
khủng khiếp, bất chấp những mũi tên mà chúng bắt loạn xạ vào nó. Thực tế là vì
những động tác của Bấc nhanh đến mức không thể lường được và vì bọn người da đỏ
dồn đống lại túm tụm với nhau rối bời cả lên, nên những mũi tên chúng phóng ra
đều bắn cả vào người nhau; và một ngọn giáo trong tay một gã trai trẻ nhắm
phóng vào Bấc, trong khi Bấc đang lao giữa không trung lại cắm phập vào ngực một
tên khác, mũi giáo đâm mạnh đến nỗi nó xuyên hẳn qua thòi ra sau lưng tên này.
Thế là bọn người Yhét rú lên khiếp đảm, kinh hoàng tháo chạy vào rừng, vừa chạy
vừa kêu ầm lên là Hung Thần hiện hình.
Và
quả thực Bấc là quỷ dữ hiện thân, điên giận bám sát gót chúng và quật ngã chúng
như quật ngã hươu nai trong khi chúng chạy bán sống bán chết qua giữa rừng cây.
Thật là một ngày thảm khốc đối với bọn người Yhét. Chúng bỏ chạy tan tác ra khắp
nơi trong miền, mãi đến một tuần sau bọn sống sót mới tập hợp lại được trong một
thung lũng thấp hơn và điểm xem ai còn ai mất. Còn Bấc, sau khi truy đuổi đến
chán chê mệt mỏi, nó quay trở về khu trại tiêu điều hoang vắng. Nó tìm thấy xác
Piti bị giết ngay trong giây phút bất ngờ đầu tiên giữa lúc anh còn nằm trong
chăn. Dấu vết của cuộc vật lộn tuyệt vọng của Thoóctơn còn in rành rành trên mặt
đất, và Bấc đánh hơi theo từng chi tiết của cuộc vật lộn ấy cho đến tận mép một
cái nơ sâu. Ven bờ ao là xác của Xkít, đầu và hai chân trước chúi ngập trong nước
trung thành với chủ cho đến phút cuối cùng. Chính trong cái ao này đây, làn nước
lầy bùn và vẩn đục vì đất gột ra từ các máng đãi vàng chắc chắn đang che kín
cái mà nó chứa đựng, và chính nó đang chứa đựng Giôn Thoóctơn không sai. Bởi vì
Bấc đánh hơi theo vết của anh đến tận mặt nước này, và đến đây là hết, không
còn một dấu vết nào từ đây đi chỗ khác nữa.
Suốt
ngày Bấc ủ ê thẫn thờ bên bờ ao hoặc bồn chồn đi lang thang quanh quẩn giữa khu
trại. Cái chết, một sự ngừng cử động, một sự mất đi khỏi cuộc sống của vật đang
sống, Bấc biết như vậy, và Bấc biết là Giôn Thoóctơn đã chết. Cái chết đó để lại
một nỗi trống trải lớn trong lòng nó, phần nào giống như cơn đói, nhưng là một
nỗi trống trải gây đau đớn, đau đớn mãi, mà thức ăn nuốt vào bao nhiêu cũng
không lấp kín được. Đôi lúc, khi nó đứng lại lặng ngắm những xác chết của bọn
người Yhét, nó quên được nỗi đau đớn đi; những lúc ấy nó cảm thấy một niềm tự hảo
lớn về bản thân mình - lớn hơn bất kỳ niềm tự hào nào mà nó đã từng cảm thấy.
Xưa nay, nó đã giết chết con người, loại con thịt cao quý hơn tất cả, và nó đã
giết được mặc dầu có luật của dùi cui và răng nanh. Nó tò mò hít hít các xác chết.
Chúng chết sao mà dễ dàng thế! Giết một con chó étkimô còn khó hơn giết chúng.
Chúng chẳng xứng là đối thủ của Bấc tí nào cả, nếu không có những mũi tên ngọn
giáo, dùi cui của chúng. Từ nay trở đi nó sẽ không sợ gì chúng nữa, trừ khi
chúng cầm trong tay những mũi tên, những ngọn giáo, những dùi cui.
Màn
đêm buông xuống, một mặt trăng tròn vành vạch nhô cao vượt khỏi vòm cây lên giữa
bầu trời, ánh trăng trải dần xuống cho đến khi mặt đất chan hoà một ánh bạc ma
quái. Cùng với bóng đêm vừa đến, trong khi quanh quẩn thẫn thờ đau buồn cạnh bờ
ao, Bấc bỗng nhận thấy một thứ xáo động khác của sự sống mới lạ trong rừng,
khác với sự xáo động của bọn người Yhét. Nó đứng dậy, lắng nghe và đánh hơi. Từ
xa văng vẳng vọng lại một tiếng kêu lanh lảnh, rồi một loạt tiếng kêu cũng lanh
lảnh như vậy đồng thanh nối theo. Trong giây lát, những tiếng kêu đó dần dần gần
lại và to lên. Một lần nữa, Bấc lại nhận ra ngay, đó là những tiếng mà Bấc đã từng
nghe trong cái thế giới trước kia, cái thế giới vẫn còn dai dẳng bám riết lấy
ký ức của nó. Nó bước ra chính giữa bãi trống và lại lắng tai nghe. Đúng rồi,
chính là cái tiếng gọi ấy, cái tiếng gọi có nhiều âm tiết đang vang lên với một
sức quyến rũ và bức bách mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Và cũng hơn bao giờ hết, Bấc
sẵn sàng tuân theo tiếng gọi, Giôn Thoóctơn đã chết rồi. Mối dây ràng buộc cuối
cùng đã đứt. Con người và những đòi hỏi của con người không còn giữa nó lại được
nữa.
Trên
đường săn đuổi món mồi sống, cùng trong lúc bọn người Yhét cũng đang săn đuổi
món mồi thịt ấy bầy sói bám theo bên sườn đàn nai di trú, cuối cùng đã từ vùng
đất có nhiều cây to và nhiều khe suối kéo sang rồi tràn vào thung lũng của Bấc.
Như một dòng nước lũ màu ánh bạc, chúng đổ vào bãi trống chan hoà ánh trăng.
Chính giữa bãi trống, Bấc đứng yên lặng như một pho tượng, chờ chúng đến. Chúng
kính sợ, bởi Bấc đứng đấy trông sừng sững im lặng quá, to lớn quá. Một giây lát
ngập ngừng chững lại, cho đến khi một con táo tợn nhất trong lũ sói chồm thẳng
vào Bấc. Nhanh như chớp Bấc đón đánh, cắn gẫy cổ đối thủ. Rồi nó lại đứng yên
như cũ, không mảy may cử động, con sói bị hạ lăn lộn giẫy chết đằng sau nó. Ba
con sói khác liên tiếp dồn dập cố xông vào; nhưng con này tiếp con khác lại phải
lùi ra, máu tuôn xối xả từ những vết toạc ở họng hoặc ở vai chúng.
Thế
là đủ để kích động cả bầy sói ồ ạt lao tới, hỗn loạn, dồn đống lại, lộn xộn
ngáng trở nhau vì cả bầy đều hăm hở muốn hạ con mồi. Sự nhanh nhẹn và lạ lùng kỳ
diệu của Bấc thật là lợi hại cho Bấc lúc này. Trụ vào hai chân sau, liên tục
táp, liên tục xé, nó đối phó với khắp mọi phía cùng một lúc, dàn ra một thế trận
rõ ràng là không bị phá vỡ, bởi nó quay lộn và phóng giữ hết bên này sang bên nọ
nhanh như chớp. Nhưng để ngăn không cho chúng đến phía sau nó, nó buộc phải lùi
dần, xuống quá bờ ao rồi vào lòng một con suối, cho đến khi đứng lại sát một
vách sỏi cao. Nó men vách sỏi dịch đến một cái góc vuông do những người trong
đoàn của Thoóctơn đào ra trong lúc tìm vàng và trong cái góc ấy nó bám trụ lại
để chống giữ, ba phía đều được che đỡ, chỉ còn phải đương đầu với phía trước.
Và
nó đã đương đầu giỏi đến nỗi chỉ sau nửa tiếng đồng hồ, lũ sói phải chịu thua
lùi lại. Những cái lưỡi thè dài, những chiếc nanh nhe ra trắng nhởn đầy vẻ hung
ác dưới ánh trăng. Một số con nằm xuống, ngẩng đầu, tai vểnh về phía trước; một
số con khác đứng thẳng quan sát Bấc; lại có những con xuống tớp nước uống ở dưới
ao. Bỗng một con sói thân dài, gầy guộc lông xám, thận trọng tiếng lên với một
dáng bộ thân thiện, và Bấc nhận ra kẻ anh em nơi hoang dã đã cùng chạy sóng đôi
với Bấc suốt một đêm và một ngày hôm nọ. Hắn khe khẽ kêu ư ử, và khi Bấc cũng ư
ử đáp lại, chúng hít mũi nhau.
Rồi
một con sói già, có vẻ dữ tợn và đầy vết sẹo chiến đấu, bước tới. Bấc nhếch mép
chuẩn bị lên tiếng gầm gừ, nhưng lại thôi, và hít mũi với gã. Thế là gã sói già
ngồi xuống, ngếch mõm lên vừng trăng, cất cao tiếng hú dài của loài sói. Những
con sói khác cũng ngồi xuống và hú theo. Bây giờ thì tiếng gọi đến với Bấc đã
rõ ràng, với những âm sắc không thể nào nhầm lẫn được Bấc cũng như chúng, ngồi
xuống và cất tiếng hú. Dứt tiếng, Bấc bước ra khỏi cái góc của mình. Bầy sói
xúm lại quanh nó, hít hít nó với thái độ nửa thân thiện, nửa dữ tợn. Rồi những
con đầu bầy cất cho tiếng gọi bầy, và bật dậy, phóng vào rừng. Cả bầy sói đồng
thanh kêu lên, cất bước nhịp nhàng nối theo sau. Và Bấc chạy theo chúng, sóng
đôi bên con sói hoang anh em, vừa chạy vừa cất tiếng kêu theo.
Đến
đây, câu chuyện về Bấc đáng ra có thể kết thúc. Năm tháng trôi qua chưa nhiều lắm
thì bỗng những người Yhét nhận ra một sự đổi thay ở loài soi xám trong rừng cho
thấy một số con có những đốm nâu trên đầu và mõm, có một vệt lông trắng chạy dọc
xuống giữa ức. Nhưng có một điều còn đáng chú ý hơn, là những người Yhét kháo
nhau về một con Chó Thần luôn chạy dẫn đầu bầy sói. Họ kinh sợ con Chó Thần
này, vì nó khôn ranh hơn họ, ăn trộm các thứ ở các lán trại của họ trong những
mùa đông khắc nghiệt, đánh cắp những đồ dùng của họ, giết chết chó của họ, và
coi thường cả những người thợ săn dũng cảm nhất của họ.
Chưa
hết, câu chuyện còn diễn biến xấu hơn. Thợ săn có kẻ ra đi rồi không trở về trại
nữa, mà thợ săn cũng đã có kẻ mà bà con trong bộ lạc tìm thấy xác giữa rừng, họng
bị xé rách toang một cách thảm khốc, và trên mặt tuyết xung quanh các xác chết
còn hằn những vết chân sói to hơn bất kỳ vết chân sói nào mà họ đã từng thấy. Mỗi
độ thu về, khi những người Yhét bám theo bước chân di trú của đàn nai, thì có
cái thung lũng nọ là họ không bao giờ dám bén mảng tới. Và đàn bà có kẻ đã mặt ủ
mày châu khi quanh bếp lửa người ca truyền miệng về sự thể làm sao mà Hung Thần
đã chọn cái thung lũng kia làm nơi trú ngụ.
Tuy
nhiên, vào những ngày hè, vẫn có một kẻ đến thăm cái thung lũng ấy người Yhét
không hay biết. Đó là một gã sói to lớn, khoác bộ áo lông đẹp lộng lẫy trông gã
giống mà lại cũng không giống tất cả những con sói khác. Gã đi một mình, từ
vùng đất tươi đẹp có nhiều cây to sang đây, rồi chạy xuống một cái bãi trống giữa
rừng. Nơi đây có một dòng suối màu vàng chảy ra từ những chiếc túi da nai đã mục
nát rồi biến hút vào lòng đất, cỏ dài mọc đan qua và rêu xanh lan đầy che kín
màu vàng của nó khuất dưới ánh mặt trời, và nơi đây gã trầm ngâm đứng lặng hồi
lâu, rồi rú lên một tiếng hú dài và thảm thiết, trước khi gã ra đi.
Nhưng
không phải bao giờ gã cũng đi một mình. Khi những đêm đông dài kéo về và lũ sói
bám theo mồi thịt xuống những thung lũng thấp, người ta có thể nhìn thấy gã chạy
dẫn đầu bầy dưới ánh trăng nhợt nhạt hoặc trong ánh bắc cực quáng mờ ảo, nhảy
những bước dài phi thường vượt hẳn bạn cùng bầy từ cổ họng to lớn của gã phát
ra âm thanh vang dội khi gã hát lên một bài ca của thế giới hoang sơ, bài ca của
bầy sói.
➖➖➖
Chapter VII.
The Sounding of the Call
When
Buck earned sixteen hundred dollars in five minutes for John Thornton, he made
it possible for his master to pay off certain debts and to journey with his
partners into the East after a fabled lost mine, the history of which was as
old as the history of the country. Many men had sought it; few had found it;
and more than a few there were who had never returned from the quest. This lost
mine was steeped in tragedy and shrouded in mystery. No one knew of the first
man. The oldest tradition stopped before it got back to him. From the beginning
there had been an ancient and ramshackle cabin. Dying men had sworn to it, and
to the mine the site of which it marked, clinching their testimony with nuggets
that were unlike any known grade of gold in the Northland.
But
no living man had looted this treasure house, and the dead were dead; wherefore
John Thornton and Pete and Hans, with Buck and half a dozen other dogs, faced
into the East on an unknown trail to achieve where men and dogs as good as
themselves had failed. They sledded seventy miles up the Yukon, swung to the
left into the Stewart River, passed the Mayo and the McQuestion, and held on
until the Stewart itself became a streamlet, threading the upstanding peaks
which marked the backbone of the continent.
John
Thornton asked little of man or nature. He was unafraid of the wild. With a
handful of salt and a rifle he could plunge into the wilderness and fare
wherever he pleased and as long as he pleased. Being in no haste, Indian
fashion, he hunted his dinner in the course of the day’s travel; and if he
failed to find it, like the Indian, he kept on travelling, secure in the
knowledge that sooner or later he would come to it. So, on this great journey
into the East, straight meat was the bill of fare, ammunition and tools
principally made up the load on the sled, and the time-card was drawn upon the
limitless future.
To
Buck it was boundless delight, this hunting, fishing, and indefinite wandering
through strange places. For weeks at a time they would hold on steadily, day
after day; and for weeks upon end they would camp, here and there, the dogs
loafing and the men burning holes through frozen muck and gravel and washing
countless pans of dirt by the heat of the fire. Sometimes they went hungry,
sometimes they feasted riotously, all according to the abundance of game and
the fortune of hunting. Summer arrived, and dogs and men packed on their backs,
rafted across blue mountain lakes, and descended or ascended unknown rivers in
slender boats whipsawed from the standing forest.
The
months came and went, and back and forth they twisted through the uncharted
vastness, where no men were and yet where men had been if the Lost Cabin were
true. They went across divides in summer blizzards, shivered under the midnight
sun on naked mountains between the timber line and the eternal snows, dropped
into summer valleys amid swarming gnats and flies, and in the shadows of
glaciers picked strawberries and flowers as ripe and fair as any the Southland
could boast. In the fall of the year they penetrated a weird lake country, sad
and silent, where wildfowl had been, but where then there was no life nor sign
of life—only the blowing of chill winds, the forming of ice in sheltered
places, and the melancholy rippling of waves on lonely beaches.
And
through another winter they wandered on the obliterated trails of men who had
gone before. Once, they came upon a path blazed through the forest, an ancient
path, and the Lost Cabin seemed very near. But the path began nowhere and ended
nowhere, and it remained mystery, as the man who made it and the reason he made
it remained mystery. Another time they chanced upon the time-graven wreckage of
a hunting lodge, and amid the shreds of rotted blankets John Thornton found a
long-barrelled flint-lock. He knew it for a Hudson Bay Company gun of the young
days in the Northwest, when such a gun was worth its height in beaver skins
packed flat, And that was all—no hint as to the man who in an early day had
reared the lodge and left the gun among the blankets.
Spring
came on once more, and at the end of all their wandering they found, not the
Lost Cabin, but a shallow placer in a broad valley where the gold showed like
yellow butter across the bottom of the washing-pan. They sought no farther.
Each day they worked earned them thousands of dollars in clean dust and
nuggets, and they worked every day. The gold was sacked in moose-hide bags,
fifty pounds to the bag, and piled like so much firewood outside the
spruce-bough lodge. Like giants they toiled, days flashing on the heels of days
like dreams as they heaped the treasure up.
There
was nothing for the dogs to do, save the hauling in of meat now and again that
Thornton killed, and Buck spent long hours musing by the fire. The vision of
the short-legged hairy man came to him more frequently, now that there was
little work to be done; and often, blinking by the fire, Buck wandered with him
in that other world which he remembered.
The
salient thing of this other world seemed fear. When he watched the hairy man
sleeping by the fire, head between his knees and hands clasped above, Buck saw
that he slept restlessly, with many starts and awakenings, at which times he
would peer fearfully into the darkness and fling more wood upon the fire. Did
they walk by the beach of a sea, where the hairy man gathered shellfish and ate
them as he gathered, it was with eyes that roved everywhere for hidden danger
and with legs prepared to run like the wind at its first appearance. Through
the forest they crept noiselessly, Buck at the hairy man’s heels; and they were
alert and vigilant, the pair of them, ears twitching and moving and nostrils
quivering, for the man heard and smelled as keenly as Buck. The hairy man could
spring up into the trees and travel ahead as fast as on the ground, swinging by
the arms from limb to limb, sometimes a dozen feet apart, letting go and
catching, never falling, never missing his grip. In fact, he seemed as much at
home among the trees as on the ground; and Buck had memories of nights of vigil
spent beneath trees wherein the hairy man roosted, holding on tightly as he
slept.
And
closely akin to the visions of the hairy man was the call still sounding in the
depths of the forest. It filled him with a great unrest and strange desires. It
caused him to feel a vague, sweet gladness, and he was aware of wild yearnings
and stirrings for he knew not what. Sometimes he pursued the call into the
forest, looking for it as though it were a tangible thing, barking softly or
defiantly, as the mood might dictate. He would thrust his nose into the cool
wood moss, or into the black soil where long grasses grew, and snort with joy
at the fat earth smells; or he would crouch for hours, as if in concealment,
behind fungus-covered trunks of fallen trees, wide-eyed and wide-eared to all
that moved and sounded about him. It might be, lying thus, that he hoped to
surprise this call he could not understand. But he did not know why he did
these various things. He was impelled to do them, and did not reason about them
at all.
Irresistible
impulses seized him. He would be lying in camp, dozing lazily in the heat of
the day, when suddenly his head would lift and his ears cock up, intent and
listening, and he would spring to his feet and dash away, and on and on, for
hours, through the forest aisles and across the open spaces where the
niggerheads bunched. He loved to run down dry watercourses, and to creep and
spy upon the bird life in the woods. For a day at a time he would lie in the
underbrush where he could watch the partridges drumming and strutting up and
down. But especially he loved to run in the dim twilight of the summer
midnights, listening to the subdued and sleepy murmurs of the forest, reading
signs and sounds as man may read a book, and seeking for the mysterious something
that called—called, waking or sleeping, at all times, for him to come.
One
night he sprang from sleep with a start, eager-eyed, nostrils quivering and
scenting, his mane bristling in recurrent waves. From the forest came the call
(or one note of it, for the call was many noted), distinct and definite as
never before,—a long-drawn howl, like, yet unlike, any noise made by husky dog.
And he knew it, in the old familiar way, as a sound heard before. He sprang
through the sleeping camp and in swift silence dashed through the woods. As he
drew closer to the cry he went more slowly, with caution in every movement,
till he came to an open place among the trees, and looking out saw, erect on
haunches, with nose pointed to the sky, a long, lean, timber wolf.
He
had made no noise, yet it ceased from its howling and tried to sense his
presence. Buck stalked into the open, half crouching, body gathered compactly
together, tail straight and stiff, feet falling with unwonted care. Every
movement advertised commingled threatening and overture of friendliness. It was
the menacing truce that marks the meeting of wild beasts that prey. But the
wolf fled at sight of him. He followed, with wild leapings, in a frenzy to
overtake. He ran him into a blind channel, in the bed of the creek where a
timber jam barred the way. The wolf whirled about, pivoting on his hind legs
after the fashion of Joe and of all cornered husky dogs, snarling and
bristling, clipping his teeth together in a continuous and rapid succession of
snaps.
Buck
did not attack, but circled him about and hedged him in with friendly advances.
The wolf was suspicious and afraid; for Buck made three of him in weight, while
his head barely reached Buck’s shoulder. Watching his chance, he darted away,
and the chase was resumed. Time and again he was cornered, and the thing
repeated, though he was in poor condition, or Buck could not so easily have
overtaken him. He would run till Buck’s head was even with his flank, when he
would whirl around at bay, only to dash away again at the first opportunity.
But
in the end Buck’s pertinacity was rewarded; for the wolf, finding that no harm
was intended, finally sniffed noses with him. Then they became friendly, and
played about in the nervous, half-coy way with which fierce beasts belie their
fierceness. After some time of this the wolf started off at an easy lope in a
manner that plainly showed he was going somewhere. He made it clear to Buck
that he was to come, and they ran side by side through the sombre twilight,
straight up the creek bed, into the gorge from which it issued, and across the
bleak divide where it took its rise.
On
the opposite slope of the watershed they came down into a level country where
were great stretches of forest and many streams, and through these great
stretches they ran steadily, hour after hour, the sun rising higher and the day
growing warmer. Buck was wildly glad. He knew he was at last answering the
call, running by the side of his wood brother toward the place from where the
call surely came. Old memories were coming upon him fast, and he was stirring
to them as of old he stirred to the realities of which they were the shadows.
He had done this thing before, somewhere in that other and dimly remembered
world, and he was doing it again, now, running free in the open, the unpacked
earth underfoot, the wide sky overhead.
They
stopped by a running stream to drink, and, stopping, Buck remembered John
Thornton. He sat down. The wolf started on toward the place from where the call
surely came, then returned to him, sniffing noses and making actions as though
to encourage him. But Buck turned about and started slowly on the back track.
For the better part of an hour the wild brother ran by his side, whining
softly. Then he sat down, pointed his nose upward, and howled. It was a
mournful howl, and as Buck held steadily on his way he heard it grow faint and
fainter until it was lost in the distance.
John
Thornton was eating dinner when Buck dashed into camp and sprang upon him in a
frenzy of affection, overturning him, scrambling upon him, licking his face,
biting his hand—“playing the general tom-fool,” as John Thornton characterized
it, the while he shook Buck back and forth and cursed him lovingly.
For
two days and nights Buck never left camp, never let Thornton out of his sight.
He followed him about at his work, watched him while he ate, saw him into his
blankets at night and out of them in the morning. But after two days the call
in the forest began to sound more imperiously than ever. Buck’s restlessness
came back on him, and he was haunted by recollections of the wild brother, and
of the smiling land beyond the divide and the run side by side through the wide
forest stretches. Once again he took to wandering in the woods, but the wild
brother came no more; and though he listened through long vigils, the mournful
howl was never raised.
He
began to sleep out at night, staying away from camp for days at a time; and
once he crossed the divide at the head of the creek and went down into the land
of timber and streams. There he wandered for a week, seeking vainly for fresh
sign of the wild brother, killing his meat as he travelled and travelling with
the long, easy lope that seems never to tire. He fished for salmon in a broad
stream that emptied somewhere into the sea, and by this stream he killed a
large black bear, blinded by the mosquitoes while likewise fishing, and raging
through the forest helpless and terrible. Even so, it was a hard fight, and it
aroused the last latent remnants of Buck’s ferocity. And two days later, when
he returned to his kill and found a dozen wolverenes quarrelling over the
spoil, he scattered them like chaff; and those that fled left two behind who
would quarrel no more.
The
blood-longing became stronger than ever before. He was a killer, a thing that
preyed, living on the things that lived, unaided, alone, by virtue of his own
strength and prowess, surviving triumphantly in a hostile environment where
only the strong survived. Because of all this he became possessed of a great
pride in himself, which communicated itself like a contagion to his physical
being. It advertised itself in all his movements, was apparent in the play of
every muscle, spoke plainly as speech in the way he carried himself, and made
his glorious furry coat if anything more glorious. But for the stray brown on
his muzzle and above his eyes, and for the splash of white hair that ran
midmost down his chest, he might well have been mistaken for a gigantic wolf,
larger than the largest of the breed. From his St. Bernard father he had
inherited size and weight, but it was his shepherd mother who had given shape
to that size and weight. His muzzle was the long wolf muzzle, save that it was
larger than the muzzle of any wolf; and his head, somewhat broader, was the
wolf head on a massive scale.
His
cunning was wolf cunning, and wild cunning; his intelligence, shepherd
intelligence and St. Bernard intelligence; and all this, plus an experience
gained in the fiercest of schools, made him as formidable a creature as any
that roamed the wild. A carnivorous animal living on a straight meat diet, he
was in full flower, at the high tide of his life, overspilling with vigor and
virility. When Thornton passed a caressing hand along his back, a snapping and
crackling followed the hand, each hair discharging its pent magnetism at the
contact. Every part, brain and body, nerve tissue and fibre, was keyed to the
most exquisite pitch; and between all the parts there was a perfect equilibrium
or adjustment. To sights and sounds and events which required action, he
responded with lightning-like rapidity. Quickly as a husky dog could leap to
defend from attack or to attack, he could leap twice as quickly. He saw the
movement, or heard sound, and responded in less time than another dog required
to compass the mere seeing or hearing. He perceived and determined and
responded in the same instant. In point of fact the three actions of
perceiving, determining, and responding were sequential; but so infinitesimal
were the intervals of time between them that they appeared simultaneous. His
muscles were surcharged with vitality, and snapped into play sharply, like
steel springs. Life streamed through him in splendid flood, glad and rampant,
until it seemed that it would burst him asunder in sheer ecstasy and pour forth
generously over the world.
“Never
was there such a dog,” said John Thornton one day, as the partners watched Buck
marching out of camp.
“When
he was made, the mould was broke,” said Pete.
“Py
jingo! I t’ink so mineself,” Hans affirmed.
They
saw him marching out of camp, but they did not see the instant and terrible
transformation which took place as soon as he was within the secrecy of the
forest. He no longer marched. At once he became a thing of the wild, stealing
along softly, cat-footed, a passing shadow that appeared and disappeared among
the shadows. He knew how to take advantage of every cover, to crawl on his
belly like a snake, and like a snake to leap and strike. He could take a
ptarmigan from its nest, kill a rabbit as it slept, and snap in mid air the
little chipmunks fleeing a second too late for the trees. Fish, in open pools,
were not too quick for him; nor were beaver, mending their dams, too wary. He
killed to eat, not from wantonness; but he preferred to eat what he killed
himself. So a lurking humor ran through his deeds, and it was his delight to
steal upon the squirrels, and, when he all but had them, to let them go,
chattering in mortal fear to the treetops.
As
the fall of the year came on, the moose appeared in greater abundance, moving
slowly down to meet the winter in the lower and less rigorous valleys. Buck had
already dragged down a stray part-grown calf; but he wished strongly for larger
and more formidable quarry, and he came upon it one day on the divide at the
head of the creek. A band of twenty moose had crossed over from the land of
streams and timber, and chief among them was a great bull. He was in a savage
temper, and, standing over six feet from the ground, was as formidable an
antagonist as even Buck could desire. Back and forth the bull tossed his great
palmated antlers, branching to fourteen points and embracing seven feet within
the tips. His small eyes burned with a vicious and bitter light, while he
roared with fury at sight of Buck.
From
the bull’s side, just forward of the flank, protruded a feathered arrow-end,
which accounted for his savageness. Guided by that instinct which came from the
old hunting days of the primordial world, Buck proceeded to cut the bull out
from the herd. It was no slight task. He would bark and dance about in front of
the bull, just out of reach of the great antlers and of the terrible splay
hoofs which could have stamped his life out with a single blow. Unable to turn
his back on the fanged danger and go on, the bull would be driven into
paroxysms of rage. At such moments he charged Buck, who retreated craftily,
luring him on by a simulated inability to escape. But when he was thus
separated from his fellows, two or three of the younger bulls would charge back
upon Buck and enable the wounded bull to rejoin the herd.
There
is a patience of the wild—dogged, tireless, persistent as life itself—that
holds motionless for endless hours the spider in its web, the snake in its
coils, the panther in its ambuscade; this patience belongs peculiarly to life
when it hunts its living food; and it belonged to Buck as he clung to the flank
of the herd, retarding its march, irritating the young bulls, worrying the cows
with their half-grown calves, and driving the wounded bull mad with helpless
rage. For half a day this continued. Buck multiplied himself, attacking from
all sides, enveloping the herd in a whirlwind of menace, cutting out his victim
as fast as it could rejoin its mates, wearing out the patience of creatures
preyed upon, which is a lesser patience than that of creatures preying.
As
the day wore along and the sun dropped to its bed in the northwest (the
darkness had come back and the fall nights were six hours long), the young
bulls retraced their steps more and more reluctantly to the aid of their beset
leader. The down-coming winter was harrying them on to the lower levels, and it
seemed they could never shake off this tireless creature that held them back.
Besides, it was not the life of the herd, or of the young bulls, that was
threatened. The life of only one member was demanded, which was a remoter
interest than their lives, and in the end they were content to pay the toll.
As
twilight fell the old bull stood with lowered head, watching his mates—the cows
he had known, the calves he had fathered, the bulls he had mastered—as they
shambled on at a rapid pace through the fading light. He could not follow, for
before his nose leaped the merciless fanged terror that would not let him go.
Three hundredweight more than half a ton he weighed; he had lived a long,
strong life, full of fight and struggle, and at the end he faced death at the
teeth of a creature whose head did not reach beyond his great knuckled knees.
From
then on, night and day, Buck never left his prey, never gave it a moment’s
rest, never permitted it to browse the leaves of trees or the shoots of young
birch and willow. Nor did he give the wounded bull opportunity to slake his
burning thirst in the slender trickling streams they crossed. Often, in
desperation, he burst into long stretches of flight. At such times Buck did not
attempt to stay him, but loped easily at his heels, satisfied with the way the
game was played, lying down when the moose stood still, attacking him fiercely
when he strove to eat or drink.
The
great head drooped more and more under its tree of horns, and the shambling
trot grew weak and weaker. He took to standing for long periods, with nose to
the ground and dejected ears dropped limply; and Buck found more time in which
to get water for himself and in which to rest. At such moments, panting with
red lolling tongue and with eyes fixed upon the big bull, it appeared to Buck
that a change was coming over the face of things. He could feel a new stir in
the land. As the moose were coming into the land, other kinds of life were
coming in. Forest and stream and air seemed palpitant with their presence. The
news of it was borne in upon him, not by sight, or sound, or smell, but by some
other and subtler sense. He heard nothing, saw nothing, yet knew that the land
was somehow different; that through it strange things were afoot and ranging;
and he resolved to investigate after he had finished the business in hand.
At
last, at the end of the fourth day, he pulled the great moose down. For a day
and a night he remained by the kill, eating and sleeping, turn and turn about.
Then, rested, refreshed and strong, he turned his face toward camp and John
Thornton. He broke into the long easy lope, and went on, hour after hour, never
at loss for the tangled way, heading straight home through strange country with
a certitude of direction that put man and his magnetic needle to shame.
As
he held on he became more and more conscious of the new stir in the land. There
was life abroad in it different from the life which had been there throughout
the summer. No longer was this fact borne in upon him in some subtle,
mysterious way. The birds talked of it, the squirrels chattered about it, the
very breeze whispered of it. Several times he stopped and drew in the fresh
morning air in great sniffs, reading a message which made him leap on with
greater speed. He was oppressed with a sense of calamity happening, if it were
not calamity already happened; and as he crossed the last watershed and dropped
down into the valley toward camp, he proceeded with greater caution.
Three
miles away he came upon a fresh trail that sent his neck hair rippling and
bristling, It led straight toward camp and John Thornton. Buck hurried on,
swiftly and stealthily, every nerve straining and tense, alert to the
multitudinous details which told a story—all but the end. His nose gave him a
varying description of the passage of the life on the heels of which he was
travelling. He remarked the pregnant silence of the forest. The bird life had
flitted. The squirrels were in hiding. One only he saw,—a sleek gray fellow,
flattened against a gray dead limb so that he seemed a part of it, a woody
excrescence upon the wood itself.
As
Buck slid along with the obscureness of a gliding shadow, his nose was jerked
suddenly to the side as though a positive force had gripped and pulled it. He
followed the new scent into a thicket and found Nig. He was lying on his side,
dead where he had dragged himself, an arrow protruding, head and feathers, from
either side of his body.
A
hundred yards farther on, Buck came upon one of the sled-dogs Thornton had
bought in Dawson. This dog was thrashing about in a death-struggle, directly on
the trail, and Buck passed around him without stopping. From the camp came the
faint sound of many voices, rising and falling in a sing-song chant. Bellying
forward to the edge of the clearing, he found Hans, lying on his face,
feathered with arrows like a porcupine. At the same instant Buck peered out
where the spruce-bough lodge had been and saw what made his hair leap straight
up on his neck and shoulders. A gust of overpowering rage swept over him. He
did not know that he growled, but he growled aloud with a terrible ferocity.
For the last time in his life he allowed passion to usurp cunning and reason,
and it was because of his great love for John Thornton that he lost his head.
The
Yeehats were dancing about the wreckage of the spruce-bough lodge when they
heard a fearful roaring and saw rushing upon them an animal the like of which
they had never seen before. It was Buck, a live hurricane of fury, hurling
himself upon them in a frenzy to destroy. He sprang at the foremost man (it was
the chief of the Yeehats), ripping the throat wide open till the rent jugular
spouted a fountain of blood. He did not pause to worry the victim, but ripped
in passing, with the next bound tearing wide the throat of a second man. There
was no withstanding him. He plunged about in their very midst, tearing,
rending, destroying, in constant and terrific motion which defied the arrows
they discharged at him. In fact, so inconceivably rapid were his movements, and
so closely were the Indians tangled together, that they shot one another with
the arrows; and one young hunter, hurling a spear at Buck in mid air, drove it
through the chest of another hunter with such force that the point broke
through the skin of the back and stood out beyond. Then a panic seized the
Yeehats, and they fled in terror to the woods, proclaiming as they fled the
advent of the Evil Spirit.
And
truly Buck was the Fiend incarnate, raging at their heels and dragging them
down like deer as they raced through the trees. It was a fateful day for the
Yeehats. They scattered far and wide over the country, and it was not till a
week later that the last of the survivors gathered together in a lower valley
and counted their losses. As for Buck, wearying of the pursuit, he returned to
the desolated camp. He found Pete where he had been killed in his blankets in
the first moment of surprise. Thornton’s desperate struggle was fresh-written
on the earth, and Buck scented every detail of it down to the edge of a deep
pool. By the edge, head and fore feet in the water, lay Skeet, faithful to the
last. The pool itself, muddy and discolored from the sluice boxes, effectually
hid what it contained, and it contained John Thornton; for Buck followed his
trace into the water, from which no trace led away.
All
day Buck brooded by the pool or roamed restlessly about the camp. Death, as a
cessation of movement, as a passing out and away from the lives of the living,
he knew, and he knew John Thornton was dead. It left a great void in him,
somewhat akin to hunger, but a void which ached and ached, and which food could
not fill, At times, when he paused to contemplate the carcasses of the Yeehats,
he forgot the pain of it; and at such times he was aware of a great pride in
himself,—a pride greater than any he had yet experienced. He had killed man,
the noblest game of all, and he had killed in the face of the law of club and
fang. He sniffed the bodies curiously. They had died so easily. It was harder
to kill a husky dog than them. They were no match at all, were it not for their
arrows and spears and clubs. Thenceforward he would be unafraid of them except
when they bore in their hands their arrows, spears, and clubs.
Night
came on, and a full moon rose high over the trees into the sky, lighting the
land till it lay bathed in ghostly day. And with the coming of the night,
brooding and mourning by the pool, Buck became alive to a stirring of the new
life in the forest other than that which the Yeehats had made, He stood up,
listening and scenting. From far away drifted a faint, sharp yelp, followed by
a chorus of similar sharp yelps. As the moments passed the yelps grew closer
and louder. Again Buck knew them as things heard in that other world which
persisted in his memory. He walked to the centre of the open space and
listened. It was the call, the many-noted call, sounding more luringly and
compellingly than ever before. And as never before, he was ready to obey. John
Thornton was dead. The last tie was broken. Man and the claims of man no longer
bound him.
Hunting
their living meat, as the Yeehats were hunting it, on the flanks of the
migrating moose, the wolf pack had at last crossed over from the land of
streams and timber and invaded Buck’s valley. Into the clearing where the
moonlight streamed, they poured in a silvery flood; and in the centre of the
clearing stood Buck, motionless as a statue, waiting their coming. They were
awed, so still and large he stood, and a moment’s pause fell, till the boldest
one leaped straight for him. Like a flash Buck struck, breaking the neck. Then
he stood, without movement, as before, the stricken wolf rolling in agony
behind him. Three others tried it in sharp succession; and one after the other
they drew back, streaming blood from slashed throats or shoulders.
This
was sufficient to fling the whole pack forward, pell-mell, crowded together,
blocked and confused by its eagerness to pull down the prey. Buck’s marvellous
quickness and agility stood him in good stead. Pivoting on his hind legs, and
snapping and gashing, he was everywhere at once, presenting a front which was
apparently unbroken so swiftly did he whirl and guard from side to side. But to
prevent them from getting behind him, he was forced back, down past the pool
and into the creek bed, till he brought up against a high gravel bank. He
worked along to a right angle in the bank which the men had made in the course
of mining, and in this angle he came to bay, protected on three sides and with
nothing to do but face the front.
And
so well did he face it, that at the end of half an hour the wolves drew back
discomfited. The tongues of all were out and lolling, the white fangs showing
cruelly white in the moonlight. Some were lying down with heads raised and ears
pricked forward; others stood on their feet, watching him; and still others
were lapping water from the pool. One wolf, long and lean and gray, advanced
cautiously, in a friendly manner, and Buck recognized the wild brother with
whom he had run for a night and a day. He was whining softly, and, as Buck
whined, they touched noses.
Then
an old wolf, gaunt and battle-scarred, came forward. Buck writhed his lips into
the preliminary of a snarl, but sniffed noses with him, Whereupon the old wolf
sat down, pointed nose at the moon, and broke out the long wolf howl. The
others sat down and howled. And now the call came to Buck in unmistakable
accents. He, too, sat down and howled. This over, he came out of his angle and
the pack crowded around him, sniffing in half-friendly, half-savage manner. The
leaders lifted the yelp of the pack and sprang away into the woods. The wolves
swung in behind, yelping in chorus. And Buck ran with them, side by side with
the wild brother, yelping as he ran.
And
here may well end the story of Buck. The years were not many when the Yeehats
noted a change in the breed of timber wolves; for some were seen with splashes
of brown on head and muzzle, and with a rift of white centring down the chest.
But more remarkable than this, the Yeehats tell of a Ghost Dog that runs at the
head of the pack. They are afraid of this Ghost Dog, for it has cunning greater
than they, stealing from their camps in fierce winters, robbing their traps,
slaying their dogs, and defying their bravest hunters.
Nay,
the tale grows worse. Hunters there are who fail to return to the camp, and
hunters there have been whom their tribesmen found with throats slashed cruelly
open and with wolf prints about them in the snow greater than the prints of any
wolf. Each fall, when the Yeehats follow the movement of the moose, there is a
certain valley which they never enter. And women there are who become sad when
the word goes over the fire of how the Evil Spirit came to select that valley
for an abiding-place.
In
the summers there is one visitor, however, to that valley, of which the Yeehats
do not know. It is a great, gloriously coated wolf, like, and yet unlike, all
other wolves. He crosses alone from the smiling timber land and comes down into
an open space among the trees. Here a yellow stream flows from rotted
moose-hide sacks and sinks into the ground, with long grasses growing through
it and vegetable mould overrunning it and hiding its yellow from the sun; and
here he muses for a time, howling once, long and mournfully, ere he departs.
But
he is not always alone. When the long winter nights come on and the wolves
follow their meat into the lower valleys, he may be seen running at the head of
the pack through the pale moonlight or glimmering borealis, leaping gigantic
above his fellows, his great throat a-bellow as he sings a song of the younger
world, which is the song of the pack.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét