2022-06-25
KHỔNG
TỬ thế gia
Tư
Mã Thiên
~
1. Thời niên thiếu của Khổng Tử
2. Những điều trải qua trước khi làm
quan nước Lỗ
3. Những việc Khổng Tử làm khi làm
quan ở Lỗ
4. Cuộc đời bôn ba của Khổng Tử
5. Cách giáo huấn của Khổng Tử về mặt
văn hóa
6. Khổng Tử chết và dòng dõi Khổng Tử
7. Nhận xét của tác giả
~
1.
Thời niên thiếu của Khổng Tử
Khổng
Tử sinh ở ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình nước Lỗ. Tổ tiên trước kia là người nước
Tống, tên là Khổng Phòng Thúc. Phòng Thúc sinh Bá Hạ, Bá Hạ sinh Thúc Lương Ngột.
Lương Ngột khi đã quá tuổi [Thúc Lương Ngột đã quá sáu mươi tư tuổi mới lấy
Nhan Thị. Đàn ông quá 64 tuổi lấy vợ, đàn bà quá 48 tuổi lấy chồng là quá tuổi.],
lấy Nhan Thị, hai người cầu tự ở núi Ni Khâu sinh Khổng Tử. Khổng Tử sinh ở nước
Lỗ năm thứ 22 đời Lỗ Tương Công (551 trước công nguyên). Khi sinh ra, trên đầu
gồ giữa lõm cho nên đặt tên là Khâu (tức là cái gò), tên tự là Trọng Ni, họ Khổng.
Khổng Khâu sinh thì Thúc Lương Ngột chết, chôn ở núi Phòng Sơn. Núi Phòng Sơn ở
phía đông nước Lỗ. Khổng Tử do đó, không biết mộ cha ở đâu, vì mẹ của ông kiêng
không nói điều đó. Khi còn nhỏ, Khổng Tử thích chơi trò bày các khay để cúng và
chơi trò tế lễ. Đến khi mẹ chết, Khổng Tử chôn tạm mẹ ở con đường Ngũ Phụ vì
ông cẩn thận [Phải chôn tạm để sau này biết mộ cha sẽ hợp táng, chôn tạm thì
dễ dời]. Mẹ của Văn Phụ, người đất Trâu, nói cho Khổng Tử biết nơi mộ của
cha, cho nên về sau Khổng Tử hợp táng cả cha và mẹ ở núi Phòng Sơn.
Trong
khi Khổng Tử còn để tang thì họ Quý thết đãi những kẻ sĩ, Khổng Tử cũng đến đấy.
Dương Hổ mắng Khổng Tử: - Họ Quý thết kẻ sĩ chứ không phải thết nhà ngươi đâu.
Khổng
Tử bèn rút lui.
Khi
Khổng Tử mười bảy tuổi có quan đại phu là Mạnh Ly Tử ốm sắp chết, dặn người con
cả sẽ thay mình là Ý Tử: "Khổng Khâu là con cháu của bậc thánh nhân [Chỉ
Thành Thang, vua đầu tiên nhà Ân.], tổ tiên bị giết ở Tống, người ông sáu đời
là Phất Phụ Hà lại được nối ngôi làm vua, nhưng nhường ngôi cho Lệ Công. Đến đời
Chính Khảo Phu giúp Đái Công, Vũ Công và Tuyên Công, ba lần được làm thượng
khanh, nhưng lại càng cung kính. Cho nên trên cái vạc của ông ta có khắc mấy chữ
"Được bổ lần thứ nhất thì ta cúi xuống, được bổ lần thứ hai thì ta khom
lưng, được bổ lần thứ ba thì ta cúi thấp xuống men theo tường mà chạy. Nhưng
cũng không ai dám khinh ta. Ta ăn cơm ở vạc này, nấu cháo ở vạc này để nuôi miệng
ta!" Ông ta là người cung kính như thế đấy. Ta nghe nói con cháu bậc thánh
nhân tuy không làm vua, nhưng về sau, thế nào cũng có người sáng suốt. Nay Khổng
Khâu ít tuổi, thích lễ, có lẽ là con người sáng suốt như người xưa nói. Khi ta chết
rồi thế nào cũng phải thờ ông ta làm thầy".
Đến
khi Ly Tử chết, Ý Tử và người nước Lỗ là Nam Cung Kính Thúc đến học lễ với Khổng
Tử. Năm ấy Quý Vũ Tử chết, Bình Tử lên thay.
-
2.
Những điều trải qua trước khi làm quan nước Lỗ
Khổng
Tử nghèo hèn, đến khi lớn lên làm lại cho họ Quý. Việc tính toán đo lường đứng
đắn cho nên được làm chức coi súc vật. Súc vật đông đúc sinh đẻ nhiều, nên được
làm tư không. Được ít lâu, Khổng Tử rời khỏi nước Lỗ, bị ruồng bỏ ở nước Tề, bị
đuổi ở nước Tống và nước Vệ, bị nguy khốn ở giữa miền nước Trần và nước Thái,
cuối cùng lại trở về nước Lỗ.
Khổng
Tử người cao chính thước sáu tấc, ai cũng cho là con người cao lớn và lấy làm lạ.
Vì nước Lỗ lại đối đãi với ông tử tế nên ông bỏ về Lỗ. Nam Cung Kính Thúc ở nước
Lỗ nói với vua Lỗ: -Xin nhà vua cho tôi cùng Khổng Tử đến đất Chu.
Vua
nước Lỗ cho ông ta một cỗ xe, hai con ngựa, một người đầy tớ, cùng Khổng Tử đến
đất Chu hỏi về lễ. Khổng Tử yết kiến Lão Tử ở đấy. Khi Khổng Tử cáo từ ra về,
Lão Tử tiễn Khổng Tử và nói: - Tôi nghe nói "người giàu sang lấy tiền bạc
để tiễn nhau, người nhân đức dùng lời nói để tiễn nhau". Tôi không thể làm
người giàu sang nhưng trộm lấy tiếng là người nhân đức, xin có lời này tiễn
ông: "Kẻ thông minh và sâu sắc là gần cái chết vì họ khen chê người ta một
cách đúng đắn. Kẻ giỏi biện luận, đầu óc sâu rộng làm nguy đến thân mình vì họ
nêu lên cái xấu của người khác. Kẻ làm con không có cách gì để giữ mình. Kẻ làm
tôi không có cách gì để giữ mình" [Lão Tử chống lại sự thông minh,
trung và hiếu là những nguyên lý của Khổng Tử. Có trí khôn thì dễ nguy, nếu cứ
theo trung và hiếu thì cứ hoàn toàn bị lệ thuộc vào cha vào vua, khó lòng sống.].
Khi
Khổng Tử ở Chu về nước Lỗ, học trò càng nhiều. Lúc bấy giờ Tấn Bình Công hoang
dâm, sáu khanh chuyên quyền, phía đông đánh các nước chư hầu. Quân của Sở Linh
Vương mạnh lấn át Trung Quốc. Nước Tề lớn, lại ở gần nước Lỗ. Lỗ thì nhỏ và yếu.
Nếu theo Sở thì nước Tấn nổi giận, theo nước Tấn thì nước Sở đến đánh. Nếu
không phòng bị nước Tề thì quân Tề xâm chiếm.
Năm
thứ hai mươi đời Lỗ Chiêu Công, Khổng Tử đã ba mươi tuổi. Vua Tề Cảnh Công cùng
Án Ánh đến nước Lỗ. Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử: - Ngày xưa Tần Mục Công nước nhỏ,
ở nơi hẻo lánh, nhưng tại sao lại làm được nghiệp bá?
Khổng
Tử đáp: - Nước Tần tuy nhỏ, nhưng chí của nó lớn. Tuy nó ở nơi hẻo lánh nhưng
chính trị của nó đúng đắn. Nhà vua thân hành cử Bách Lý Hề cho làm đại phu dùng
ông ta từ chỗ bị trói, nói chuyện với ông ta ba ngày rồi trao chính sự cho ông
ta. Nếu làm như thế thì nghiệp vương cũng có thể làm được, chứ nghiệp bá vẫn
còn nhỏ đấy.
Cảnh
Công bằng lòng.
Khi
Khổng Tử ba mươi lăm tuổi, thì Quý Binh Tử và Hậu Chiêu Bá vì việc chọi gà mà
có tội với Lỗ Chiêu Công. Lỗ Chiêu Công đem binh đánh Quý Bình Tử. Quý Bình Tử
cùng họ Mạnh và họ Thúc Tôn, cả ba nhà hợp lực đánh Lỗ Chiêu Công [Lúc bấy
giờ nước Lỗ có ba gia đình lớn, uy quyền lấn át nhà vua là họ Mạnh, họ Thúc
Tôn, họ Quý. Cả ba gia đình này là con cháu Hoàn Công. Ở đây nói gia đình họ Mạnh
tức là nói người cầm đầu gia đình họ Mạnh.]. Lỗ Chiêu Công thua chạy sang
nước Tề. Vua Tề cho Lỗ Chiêu Công ở ấp Can Hầu. Sau đó ít lâu, nước Lỗ có loạn.
Khổng Tử đến nước Tề làm tôi ở nhà họ Cao Chiêu Tử để được yết kiến Tề Cảnh
Công. Khổng Tử nói chuyện âm nhạc với quan thái sư (chức quan lo về nhạc -
N. D) nước Tề, nghe nhạc "thiều" và học nhạc ấy, say mê ba tháng
không biết đến mùi thịt. Người Tề khen ngợi.
Cảnh
Công hỏi Khổng Tử làm chính trị phải như thế nào. Khổng Tử đáp: - Vua phải theo
đúng đạo làm vua, tôi phải theo đúng đạo làm tôi, cha phải theo đúng đạo làm
cha, con phải theo đúng đạo làm con.
Tề
Cảnh Công nói: - Thật đúng lắm! Nếu như vua không theo đúng đạo làm vua, cha
không theo đúng đạo làm cha, tôi không theo đúng đạo làm tôi, con không theo
đúng đạo làm con thì tuy có thóc đấy, ta có thể ăn được không?
Một
hôm khác, Tề Cảnh Công lại hỏi Khổng Tử làm chính trị phải như thế nào. Khổng Tử
đáp: -Muốn làm chính trị thì phải lo tiết kiệm trong việc tiêu dùng.
Tề
Cảnh Công bằng lòng, lấy ruộng Ni Khê phong cho Khổng Tử. Án Ánh tiến lên nói:
- Bọn nhà nho chỉ là kẻ ba hoa mà không thể noi gương theo họ được. Họ kiêu ngạo,
tự cho mình là phải nên không thể để cho họ làm tôi. Họ chú trọng việc chôn cất,
thương xót, làm mất gia sản để chôn cất cho được đầy đủ, không thể cho điều đó
thành phong tục. Họ đi du thuyết hết nơi này đến nơi khác để kiếm ăn, không thể
cho họ trị nước được. Sau khi các bậc đại hiền ra đời, nhà Chu đã suy, lễ nhạc
thiếu sót. Nay Khổng Tử bày ra nhiều điều hình thức bên ngoài, ông ta làm cho
cái lễ đi lên đi xuống, thành phiền phức, bày chuyện đi rảo bước và đi giơ hai
tay, cứ như thế thì học mấy cũng không biết được lễ. Nếu nhà vua dùng ông ta để
thay đổi phong tục nước Tề thì đó không phải là điều lo lắng trước tiên đến dân
vậy.
Sau
đó, Tề Cảnh Công tiếp Khổng Tử một cách kính cẩn, nhưng không hỏi ý kiến của Khổng
Tử về lễ. Một hôm khác, Cảnh Công giữ Khổng Tử lại nói: - Tôi không thể tôn quý
ông như vua Lỗ tôn quý họ Quý mà chỉ được như giữa họ Quý và họ Manh mà thôi [Ý
nói vua Tề hậu đãi Khổng Tử, nhưng không thể trao chính quyền cho ông như vua Lỗ
đã làm đối với Quý Thị.].
Các
quan đại phu nước Tề muốn giết Khổng Tử. Khổng Tử nghe tin ấy. Tề Cảnh Công
nói: - Ta đã già rồi không thể dùng nhà ngươi được.
Khổng
Tử bèn ra đi, trở về nước Lỗ. Bấy giờ Khổng Tử bốn mươi hai tuổi. Vua Lỗ Chiêu
Công chết ở ấp Can Hầu. Lỗ Định Công lên ngôi. Năm thứ năm đời Lỗ Định Công
(506 TCN), mùa hạ, Quý Bình Tử chết, Hoàn Tử nối nghiệp. Quý Hoàn Tử đào giếng
được một cái vại bằng đất, trong đó có một con vật giống như con cừu. Quý Hoàn
Tử nói với Trọng Ni: - Tôi bắt được con chó.
Trọng
Ni nói: -Theo như Khâu này biết thì đó là con cừu. Khâu này nghe nói: quái vật
do gỗ và đá sinh ra là con "quỷ" và con "võng lưỡng", quái
vật do nước sinh ra là con "rồng" và con "vọng tượng", quái
vật do đất sinh ra là con "phần dương" [Quỷ trong Quốc Ngữ chỉ con
vật chỉ có một chân sống trên núi, con võng lưỡng thích bắt chước tiếng người.
Vọng tượng là thứ thú vật ăn thịt người. Phần dương hình con cửu do đất tự sinh
ra.].
Khi
nước Ngô đánh nước Việt, phá hủy Cối Kê, có người lấy được một cái xương, chở đầy
một xe. Vua Ngô sai sứ giả hỏi Trọng Ni: - Tại sao xương lại lớn như vậy?
Trọng
Ni nói: - Vua Hạ Vũ triệu tập những người làm chủ núi sông ở núi Cối Kê. Phòng
Phong đến sau bị vua Vũ giết phơi thây, mỗi cái xương của ông ta chở đầy một
xe. Xương này là của Phòng Phong cho nên lớn như vậy.
Người
khách nước Ngô nói: - Ai làm thần?
Trọng
Ni nói: - Thần của núi ông có thể làm giường mối cho thiên hạ [Vì có thể làm
mây và làm mưa.], lo việc thờ cúng thần núi thần sông là những người thầy
cúng, những người tế thần đất và thần mùa màng là các công hầu. Họ đều lệ thuộc
vào nhà vua.
Người
khách nói: - Phòng Phong cai quản việc gì? Trọng Ni đáp: -Ông ta là vua Uông Vọng
giữ nước Phong Ngu, họ Ly. Trong đời Ngu, đời Hạ đời Thương gọi là Uông Vọng,
trong thời Chu gọi là Trưởng Dịch, ngày nay gọi là Đại Nhân.
Người
khách nói: - Con người ta dài hay cao bao nhiêu?
Trọng
Ni đáp: - Họ Tiêu Nghiêu cao ba thước đó là hạng người thấp nhất, người lớn nhất
cũng không gấp mười lần ba thước.
Người
khách bèn nói: - Đúng lắm! Đây là một thánh nhân!
Người
tôi yêu của Quý Hoàn Tử là Trọng Lương Hoài có hiềm khích với Dương Hổ. Dương Hổ
muốn đuổi Trọng Lương Hoài, nhưng Công Sơn Phất Nữu ngăn lại. Mùa thu năm ấy,
Trọng Lương Hoài lại càng kiêu ngạo. Dương Hổ bắt Hoài Tử. Quý Hoài Tử nổi giận,
Dương Hổ liền bỏ tù Hoài Tử, ăn thề với ông ta, rồi tha ông ta ra. Dương Hổ do
đó càng khinh họ Quý. Họ Quý cũng lấn át nhà vua, các bồi thần [Người bầy
tôi hai lần.] cầm quyền chính trị trong nước. Do đó, nước Lỗ từ đại phu trở
xuống đều vượt quyền và rời khỏi con đường chính đạo. Cho nên Khổng Tử không
làm quan mà rút về nhà sửa lại thi, thư, lễ, nhạc. Học trò càng nhiều, có cả những
người từ phương xa đến. Năm thứ tám đời Lỗ Định Công (502 TCN) Công Sơn Phất Nữu
giận họ Quý, bèn theo Dương Hổ làm loạn. Hai người muốn bỏ con trưởng của ba
gia đình Hoàn Công để lập những người con thứ từ lâu quen thân với Dương Hổ.
Công Sơn Phất Nữu bèn bắt Quý Hoàn Tử. Quý Hoàn Tử lừa trốn được. Năm thứ chín
đời Định Công, Dương Hổ thua bỏ chạy sang Tề. Lúc bấy giờ Khổng Tử đã năm mươi
tuổi.
Công
Sơn Phất Nữu sau khi làm chủ thành Phí thì nổi lên chống lại họ Quý. Y sai người
mời Khổng Tử. Khổng Tử tuy từ lâu vẫn noi theo đạo, rất am hiểu việc chính trị
nhưng vẫn không có dịp thực hành cái học của mình vì không ai biết dùng mình.
Khổng Tử nói: - Văn Vương, Vũ Vương nhà Chu đều nổi lên từ đất Phong, đất Cảo
mà làm vua thiên hạ. Nay đất Phí tuy nhỏ, biết đâu cũng sẽ như vậy?
Khổng
Tử muốn đi. Tử Lộ không bằng lòng, giữ lại. Khổng Tử nói: - Người ta mời ta đến
có phải là vô cớ đâu? Nếu họ dùng ta, ta sẽ làm cho đất họ thành nhà Đông Chu
chăng?
Nhưng
rốt cuộc, Khổng Tử cũng không đi.
-
3.
Những việc Khổng Tử làm khi làm quan ở Lỗ
Sau
đó, Lỗ Định Công cho Khổng Tử làm quan cai trị thành Trung Đô. Được một năm, cả
bốn phương đều noi theo xem là mẫu mực. Từ chức quan cai trị thành Trung Đô, Khổng
Tử được thăng làm tư không, rồi được làm đại tư khấu [Tư không coi việc xây
dựng, tư khấu coi về pháp luật.].
Mùa
xuân năm thứ mười đời Lỗ Định Công (500 TCN), Lỗ giảng hòa với Tề. Mùa hạ, quan
đại phu nước Tề là Lê Sử nói với Tề Cảnh Công: - Nước Lỗ dùng Khổng Khâu thế
nào cũng nguy hại cho nước Tề.
Tề
Cảnh Công bèn sai sứ giả mời vua Lỗ lại họp ở Giáp Cốc. Lỗ Định Công sắp sửa
lên xe đến họp thân mật, Khổng Tử bây giờ giữ chức tướng quốc nói: -Tôi nghe
nói trong nước có làm việc văn thì thế nào cũng phải lo việc vũ, có việc vũ thì
thế nào cũng phải lo chuẩn bị việc văn [Khổng Tử nói trong khi lo việc giao
hiếu không thể xao nhãng việc chiến sự. Khổng Tử nghĩ nước Tề không thành thực.
Quả nhiên Tề Cảnh Công muốn nhân dịp hội họp để đâm chết Lỗ Định Công.].
Ngày xưa các chư hầu ra khỏi biên giới thế nào cũng có các quan võ đi theo. Xin
nhà vua mang theo các quan tả tư mã và hữu tư mã.
Định
Công nói: - Phải.
Bèn
mang theo tả tư mã và hữu tư mã, họp mặt với Tề Hoàn Công ở Giáp Cốc. Ở đấy dựng
lên một cái đàn có ba bậc tam cấp bằng đất và hai người gặp nhau theo nghi lễ.
Sau khi chào và nhường bước cho nhau, hai người lên đài rót rượu mời nhau theo
đúng lễ gặp gỡ, một viên quan nước Tề rảo bước tiến lên nói: - Xin tấu nhạc bốn
phương.
Cảnh
Công nói: - Được.
Và
ngay đó, những người cầm cờ lông thú và lông chim mang lông chim, sáo, giáo,
kích, kiếm và khiên bước ra trong tiếng trống và tiếng hò hét và bước lên đài [Cảnh
Công định nhân dịp ồn ào, huyên náo, giết Lỗ Định Công.]. Khổng Tử rảo bước
tiến ra, bước lên các bậc tam cấp, nhưng không qua bậc trên cùng, giơ ống tay
áo lên nói: - Vua hai nước chúng tôi hội họp nhau thân mật, chơi thứ nhạc Di, Địch
làm gì? Xin ra lệnh cho quan đương sự để họ đuổi những người kia đi.
Vì
những người múa không chịu đi, các quan hầu nhìn Án Ánh và Cảnh Công. Cảnh Công
lấy làm xấu hổ, giơ tay đuổi họ ra.
Một
lát sau, có một vị quan nước Tề rảo bước tiến ra nói: - Xin tấu nhạc trong
cung!
Cảnh
Công nói: - Được.
Bọn
con hát và bọn lùn nhún nhảy bước ra. Khổng Tử rảo bước tiến ra trước cái bậc
tam cấp, nhưng không quá bực trên cùng, nói: - Bọn thất phu chế nhạo chư hầu, tội
đáng giết! Xin ra lệnh cho các quan đương sự trị tội. Họ bèn bị chặt chân tay.
Cảnh Công run sợ, biết mình không làm theo nghĩa. Trở về, Cảnh Công lo sợ nói với
các quan: - Người Lỗ dùng đạo của người quân tử để bênh vực cho nhà vua của họ.
Trái lại, các người chỉ lấy cái đạo của bọn Di, Địch để dạy quả nhân, làm cho
quả nhân có lỗi với vua Lỗ. Bây giờ làm thế nào?
Một
viên quan tiến ra nói: - Người quân tử có lỗi thì dùng việc làm để xin lỗi, kẻ
tiểu nhân có lỗi thì dùng lời nói suông để xin lỗi. Nếu bệ hạ buồn về việc đó
thì nên dùng việc làm để xin lỗi.
Tề
Cảnh Công bèn trả cho nước Lỗ các thửa ruộng Vận, Vấn Dương, Quỳ Âm trước kia
đã lấy của Lỗ để xin lỗi.
Mùa
hạ năm thứ ba mươi đời Lỗ Định Công, Khổng Tử nói với Định Công: - Bầy tôi thì
không được tàng trữ binh khí, quan đại phu thì không được có cái thành một trăm
trĩ [Bề cao một trượng dài một trượng là một đổ, ba đổ là một trĩ. Đây nói
chu vi thành không được quá 3000 thước, nếu thành rộng quá thì sẽ thành cơ sở để
làm loạn.].
Khổng
Tử sai bọn Trọng Do (tức Tử Lộ, học trò Khổng Tử N. D) làm quan tể của họ
Quý, toan phá hủy ba thành lũy của ba họ. Vì vậy Thúc Tôn trước tiên phá thành
Hậu. Họ Quý sắp sửa phá thành Quý. Nhưng Công Sơn Phất Nữu và Thúc Tôn cầm đầu
những người thành Phí đánh úp nước Lỗ. Định Công cùng ba người cầm đầu ba họ
vào cung Quý Thị, lên đài của Vũ Tử. Người thành Phí đánh họ nhưng không được,
tuy có người đã tiến đến gần đài. Khổng Tử sai Thân Câu Tu và Nhạc Kỳ xông xuống
đài đánh, người đất Phí thua. Người nước Lỗ đuổi đánh họ thua to ở Cô Miệt.
Công Sơn Phất Nữu và họ Thúc Tôn chạy trốn sang Tề. Cuối cùng, thành Phí bị phá.
Khi sắp phá thành lũy đất Thành, Công Liễm Xử Phụ nói với Mạnh Tôn: - Nếu thành
bị phá thì quân Tề thế nào cũng đến cửa phía bắc. Vả lại thành này che chở cho
họ Mạnh, nếu không có nó tức là họ Mạnh không còn. Tôi sẽ không phá.
Tháng
12, Lỗ Định Công vây thành nhưng không lấy được. Năm thứ 14 đời Định Công, Khổng
Tử 56 tuổi, rời chức tư khấu, quyền giữ chức tướng quốc. Thấy Khổng Tử có vẻ mừng
rỡ, một người học trò nói: - Tôi nghe thầy nói "người quân tử khi tai họa
đến thì không sợ, khi phúc đến thì không mừng".
Khổng
Tử nói: - Câu nói ấy cũng có đấy. Nhưng chẳng có câu: "vui vì ở địa cị cao
quý mà khiêm tốn đối với mọi người" hay sao?
Khổng
Tử giết quan đại phu nước Lỗ làm rối loạn chính sự là Thiếu Chính Mão. Sau khi
tham dự chính quyền trong nước ba tháng, những người bán cừu bán lợn không dám
bán thách, con trai con gái ở trên đường đi theo hai phía khác nhau, trên đường
không nhặt của rơi. Những người khách ở bốn phương đến thành ấp không cần phải
nhờ đến các quan bởi vì người ta đều xem họ như người trong nhà.
Người
Tề nghe vậy sợ hãi nói: - Khổng Tử cầm đầu chính sự thì thế nào cũng làm bá chủ
chư hầu. Nếu Lỗ làm bá thì đất nước ta ở gần, sẽ đầu tiên bị thôn tính. Tại sao
ta không đem đất nộp cho Lỗ?
Lê
Sử nói: - Trước tiên xin hãy tìm cách cản trở, nếu không được thì nộp đất cũng
chưa muộn.
Vua
Tề bèn chọn tám mươi người con gái đẹp ở trong nước Tề, đều cho mặc quần áo đẹp,
tập múa điệu "khang nhạc" và ba mươi cỗ ngựa, mỗi cỗ bốn con rất đẹp
để đưa cho vua nước Sở. Vua Tề sai bày bọn con gái và những con ngựa đẹp ở
ngoài cửa cao phía nam kinh đô nước Lỗ. Quý Hoàn Tử ăn mặc thường dân đến xem
hai ba lần, toan thu nhận và nói với vua Lỗ đi một vòng để đến xem. Vua Lỗ đến
chơi xem đến trọn ngày. Vua Lỗ bỏ việc chính sự. Tử Lộ nói: - Thầy nên đi thôi.
Khổng
Tử nói: - Vua Lỗ sắp làm lễ tế giao, nếu nhà vua đem thịt tế đến cho các quan đại
phu thì ta còn có thể ở lại.
Cuối
cùng, Quý Hoàn Tử nhận nữ nhạc của Tề, ba ngày không nghe việc chính sự. Khi
làm lễ tế giao cũng không đưa thịt tế đến cho các quan đại phu. Khổng Tử bèn ra
đi.
Khổng
Tử ở đêm tại đất Đồn. Sư Dĩ tiễn Khổng Tử nói: - Thầy không có tội gì.
Khổng
Tử nói: - Tôi hát có được không?
Bèn
hát:
"Miệng
của bọn đàn bà kia có thể làm cho ta phải bỏ chạy.
Những
người đàn bà kia đến thăm, có thể làm cho nước mất, nhà tan!
Ta
đi lang thang phiêu bạt cho đến hết đời".
Khi
Sư Dĩ trở về, Quý Hoàn Tử hỏi: - Khổng Tử có nói gì với ông không?
Dĩ
kể lại tất cả. Hoàn Tử thở dài than: - Phu tử bắt tội ta vì bọn đàn bà hèn hạ
kia.
-
4.
Cuộc đời bôn ba của Khổng Tử
Khổng
Tử bèn đến nước Vệ ở trọ tại nhà Nhan Trọc Trâu, anh vợ của Tử Lộ. Vệ Linh Công
hỏi Khổng Tử: - Khi ông ở nước Lỗ, ông được hưởng Lộc bao nhiêu?
-
Tôi được sáu vạn đấu lúa.
Người
Vệ cũng cung cấp cho Khổng Tử sáu vạn đấu.
Khổng
Tử ở đấy được ít lâu, có người gièm Khổng Tử với Vệ Linh Công. Vệ Linh Công sai
Công Tôn Dư Giả luôn luôn đi theo Khổng Tử. Khổng Tử sợ mắc tội. Khổng Tử ở đấy
mười tháng, đoạn rời khỏi đất Vệ, định đi qua đất Khuông, để đến nước Trần.
Nhan Khắc làm người đánh xe cho Khổng Tử, ông ta cầm roi chỉ thành phố này và
nói: - Ngày xưa con đã vào thành này ở chỗ thành bị phá đằng kia!
Người
nước Khuông nghe vậy, tưởng Khổng Tử là Dương Hổ, người nước Lỗ, vì Dương Hổ đã
có lần xâm phạm đến họ. Người đất Khuông bèn giữ Khổng Tử lại vì Khổng Tử mặt
mày giống Dương Hổ. Năm ngày sau, Nhan Uyên mới đến. Khổng Tử nói: - Ta tưởng
là anh chết rồi!
Nhan
Uyên nói: - Thầy còn sống, con đâu dám chết!
Người
đất Khuông càng giữ Khổng Tử cẩn mật hơn trước. Các đệ tử đều sợ. Khổng Tử nói:
- Sau khi Văn Vương chết đi, cái "văn" không phải ở ta hay sao? Nếu
trời muốn làm mất cái "văn" ấy đi thì ta là người sinh sau đã không
được biết đến nó. Vì trời chưa muốn làm mất cái "văn" ấy thì người đất
Khuông làm gì được ta [Khổng Tử tin rằng mình có nhiệm vụ thực hiện một sứ mệnh
thiêng liêng nên không thể bị nguy khốn.]?
Khổng
Tử sai một người đi theo làm tôi của Ninh Vũ Tử ở nước Vệ, sau đó Khổng Tử mới
đi lọt. Khổng Tử đi qua đất Bồ, sau hơn một tháng lại trở về nước Vệ, ở trọ tại
nhà Cừ Bá Ngọc. Trong số những người vợ của Vệ Linh Công có Nam Tử. Nam Tử sai
người nói với Khổng Tử: - Những người quân tử bốn phương nếu không xấu hổ về việc
làm anh em với nhà vua thì thế nào cũng đến yết kiến tôi. Tôi muốn gặp mặt Khổng
Tử.
Khổng
Tử từ chối không được, đành phải yết kiến Phu nhân ở trong cái màn là. Khổng Tử
bước vào cửa ngoảnh mặt về phía bắc cúi lạy. Phu nhân ở trong màn lạy hai lạy.
Các vòng ngọc và những viên ngọc mang trên người kêu lanh tanh. Khổng Tử nói: -
Trước kia ta định không đến thăm. Nhưng khi đến thăm thấy tiếp đãi theo đúng lễ.
Tử
Lộ không bằng lòng [Vì Nam Tử có tiếng dâm loạn.]. Khổng Tử thề nói: - Nếu
ta làm sai thì trời bỏ ta! Trời bỏ ta!
Khổng
Tử ở Vệ hơn một tháng. Vệ Linh Công cùng phu nhân ngồi trên xe, viên hoạn quan
là Ung Cứ cùng ngồi đi ra, sai Khổng Tử ngồi trên cái xe đằng sau. Mấy người lượn
qua chợ trước mặt đông người. Khổng Tử nói: - Ta chưa hề thấy có người nào yêu
đức như yêu sắc đẹp.
Khổng
Tử cảm thấy xấu hổ về việc đó và rời khỏi nước Vệ, đi qua nước Tào. Năm ấy Lỗ Định
Công chết. Khổng Tử rời khỏi nước Tào đến nước Tống, cùng đệ tử tập lễ ở dưới một
gốc cây lớn. Quan tư mã của nước Tống tên là Hoàn Khôi muốn giết Khổng Tử, chặt
cây ấy đi. Khổng Tử ra đi, các đệ tử nói: - Phải đi nhanh đi!
Khổng
Tử nói: - Trời sinh đức ở ta. Hoàn Khôi làm gì được ta?
Khổng
Tử đến nước Trịnh, thầy trò lạc nhau. Khổng Tử đứng một mình ở phía đông cửa
thành. Có một người nước Trịnh bảo Tử Cống: - Ở cửa phía đông có một người trán
giống Nghiêu, cổ có vẻ Cao Dao, vai ông ta giống Tử Sản [Cao Dao là viên
quan giỏi của Thuấn, Tử Sản làm tướng quốc ở Trịnh rất có đạo đức.], nhưng
từ lưng trở xuống thì kém vua Vũ ba tấc, có vẻ băn khoăn lo lắng như con chó ở
nhà có tang.
Tử
Cống nói thực với Khổng Tử. Khổng Tử mừng rỡ cười mà rằng: - Hình dáng bên
ngoài là chuyện vụn vặt, nhưng nói "giống như con chó của nhà có
tang" thì đúng làm sao! Đúng làm sao!
Khổng
Tử bèn đến nước Trần, ở trọ tại nhà viên quan giữ thành là Trịnh Tử được hơn một
năm. Vua Ngô là Phù Sai đánh nước Trần lấy ba ấp, rồi rút lui. Triệu Ưởng đánh
Triều Ca, quân Sở vây đất Thái. Vua Thái sang Ngô. Nước Ngô đánh bại vua Việt
là Câu Tiễn ở Cối Kê.
Có
con cắt chết ở cung đình vua Trần, bị một mũi tên bằng gỗ hỗ đâm qua mình. Đầu
mũi tên bằng đá, dài một thước tám tấc. Trần Mẫn Công sai sứ giả hỏi Trọng Ni.
Trọng Ni đáp: - Con cắt từ nơi xa đến. Đó là mũi tên của người Túc Thận. Ngày
xưa vua Vũ Vương đánh nhà Thương, tiếng vang đến cả Cửu Di và Bách Man, họ đều
đem sản vật địa phương đến cống để không quên nhiệm vụ của mình. Người Túc Thận
bèn cống tên hỗ có mũi tên bằng đá, dài mỗi cái một thước tám tấc. Tiên Vương
muốn nêu tỏ cái đức sáng của mình cho nên chia những mũi tên này cho Đại Cơ [Đại
Cơ là con gái đầu của Vũ Vương.]. Đại Cơ lấy Hồ Công, Hồ Công được phong ở
đất Trần. Ngày xưa, người ta đưa ngọc quý cho những người cùng họ của mình để tỏ
lòng trọng người thân. Người ta chia cho những người khác họ những đồ cống từ
các nơi xa lạ để cho họ đừng quên phục tùng. Vì vậy cho nên nước Trần nhận được
tên của người Túc Thận.
Nhà
vua sai thử tìm xem ở trong kho cũ, quả nhiên tìm thấy có cái tên ấy. Khổng Tử ở
Trần ba năm. Lúc bấy giờ, các nước Tần, và Sở tranh cường với nhau và lần lượt
đánh bại Trần, nước Ngô cũng đánh Trần. Trần luôn luôn bị đánh phá. Khổng Tử
nói: - Ta về thôi, ta về thôi. Bọn học trò của ta hăng hái nhưng nông nổi, lo
tiến thủ nhưng không quên bản tính của mình.
Khổng
Tử bèn rời khỏi đất Trần, đi qua đất Bồ. Vừa lúc ấy họ Công Thúc cầm đầu người
đất Bồ nổi loạn. Người đất Bồ giữ Khổng Tử lại. Trong số học trò của Khổng tử
có Công Lương Nhu đem năm cỗ xe của mình đi theo Khổng Tử. Ông là người đứng tuổi,
tài giỏi, có sức mạnh. Ông ta nói: - Xưa kia con theo thầy gặp nạn ở đất
Khuông, nay lại gặp nạn ở đây, đó là mệnh. Con lại cùng thầy gặp nạn, con quyết
chiến đấu mà chết.
Ông
ta chiến đấu rất hăng. Người đất Bồ sợ hãi, bảo Khổng Tử: - Nếu ông không đến
nước Vệ thì chúng tôi sẽ cho ông đi.
Khổng
Tử cùng họ ăn thề. Họ cho Khổng Tử đi ra phía cửa đông. Khổng Tử liền đến đất Vệ.
Tử Cống hỏi: - Có thể phụ lời thề được sao?
Khổng
Tử nói: - Đó là vì ta bắt buộc phải thề cho nên quỷ thần không nghe.
Vệ
Linh Công nghe Khổng Tử đến, mừng rỡ ra ngoại ô đón hỏi: - Có thể đánh đất Bồ
được không?
Khổng
Tử nói: - Được.
Vệ
Linh Công nói: - Các quan đại phu của ta cho là không được. Nay đất Bồ là nơi
nước Vệ dùng để chống lại các nước Tần và Sở. Đem nước Vệ mà đánh Bồ có lẽ là
không nên chăng?
Khổng
Tử nói: - Đàn ông trong thành có chí quyết chết vì nhà vua. Đàn bà có chí bảo vệ
Tây Hà [Ý nói nhân dân đều theo nhà vua. Tây Hà là miếng đất trong ấy có
thành Bồ.]. Những người chúng ta phải đánh chẳng qua chỉ bốn năm người.
Vệ
Linh Công nói: - Phải đấy.
Tuy
vậy vẫn không đánh Bồ. Vệ Linh Công già, lười biếng việc chính sự, không dùng
Khổng Tử. Khổng Tử thở dài than: - Nếu có người dùng ta thì sau một tháng đã
kha khá, sau ba năm thì tốt.
Khổng
Tử ra đi. Phật Bật là quan cai trị đất Trung Mâu, Triệu Giản Tử đánh họ Phạm, họ
Trung Hàng, và đánh Trung Mâu. Phật Bật làm phản sai người mời Khổng Tử, Khổng
Tử muốn đến. Tử Lộ nói: - Do này nghe thầy nói: "người làm việc không phải
thì người quân tử không vào nước của họ". Nay chính Phật Bật làm quan cai
trị đất Trung Mâu làm phản, tại sao thầy lại muốn đến?
Khổng
Tử nói: - Ta có nói như vậy thật đấy. Nhưng chẳng phải ta có nói rằng "cái
mà thật cứng thì mài cũng không mòn, cái mà thật trắng thì bỏ vào thuốc nhuộm
cũng không đen". Ta không phải vỏ quả bầu, sao chỉ có thể treo lên mà
không thể ăn?
Khổng
Tử gõ khánh. Có người mang sọt đi qua cửa nói: - Con người gõ khánh kia thật là
có lòng suy nghĩ. Người sao mà ương ngạnh, không ai biết mình cả thì nên bỏ mà
đi thôi.
Khổng
Tử học đánh đàn cầm với thầy dạy nhạc là Tương Tử. Học mười ngày không tiến.
Tương Tử nói: - Ông có thể tiến nữa.
Khổng
Tử đáp: - Khâu đã quen khúc nhạc này rồi, nhưng chưa nắm được cái quan hệ về số.
Được
ít lâu, Tương Tử nói: - Ông đã nắm được quan hệ về số rồi đấy, có thể tiến hơn
nữa.
Khổng
Tử đáp: -Khâu chưa hiểu được ý nghĩa sâu sắc của nó.
Được
ít lâu, Tương Tử nói: -Ông đã nắm được ý nghĩa sâu sắc của nó rồi đấy! Có thể
tiến nữa.
Khổng
Tử đáp: - Khâu chưa biết người làm bản nhạc này là ai?
Được
ít lâu, Tương Tử nói: - Ông có vẻ oai nghiêm, suy nghĩ sâu, có hoài bão lớn và
cao xa.
Khổng
Tử nói: - Khâu này đã biết người ấy là ai rồi. Ông ta lặng lẽ mặt đen, người
cao. Mắt như con cừu nhìn xa, như con người làm vua bốn phương, nếu không phải
là Văn Vương thì ai có thể như vậy được.
Tương
Tử rời khỏi chiếu, lạy hai lạy nói: - Các vị thầy dạy nhạc vẫn nói điệu nhạc
này là do Văn Vương làm ra.
Vì
không được dùng ở nước Vệ, Khổng Tử định đi về phía tây yết kiến Triệu Giản Tử,
nhưng khi đến sông Hoàng Hà thì nghe tin Đậu Minh Độc và Thuấn Hoa đã chết. Khổng
Tử đến bờ Hoàng Hà than: - Nước sông mênh mông đẹp thay! Khâu không qua được
con sông này là do mệnh vậy.
Tử
Cống rảo bước tiến đến nói: - Xin hỏi tại sao lại nói như vậy?
Khổng
Tử nói: - Đậu Minh Độc và Thuấn Hoa là những quan đại phu tài giỏi ở nước Tấn.
Khi Triệu Giản Tử chưa thỏa mãn được ý chí của mình thì cần hai người này để nắm
được quyền chính. Nhưng khi đã đạt được ý nguyện của mình thì giết đi và lên cầm
quyền chính. Khâu nghe nói khi người ta mổ thai giết đứa trẻ trong bụng thì kỳ
lân không đến bờ cõi, khi người ta làm cho nước ao khô để bắt cá thì con giao
long không điều hòa âm dương [Giao Long có thể làm mây làm mưa cho nên điều
hòa được âm dương.], khi người ta lật đổ tổ chim thì phượng hoàng không bay
lượn. Tại sao lại thế? Đó là vì người quân tử tránh những người làm hại đến những
kẻ giống mình. Chim chó thú vật kia còn biết tránh những kẻ bất nghĩa huống gì Khâu?
Khổng
Tử bèn quay lại, nghỉ ở làng Trâu, làm bài ca "Làng Trâu" để tỏ nỗi
buồn của mình. Sau đó trở về đất Vệ, ở tại nhà Cừ Bá Ngọc.
Một
hôm Vệ Linh Công hỏi Khổng Tử về cách bài binh bố trận. Khổng Tử nói: - Việc tế
lễ thì tôi thường nghe, còn việc quân thì tôi chưa học.
Hôm
sau Vệ Linh Công đang nói chuyện với Khổng Tử, thấy con ngỗng trời bèn ngẩng đầu
lên nhìn, sắc mặt có vẻ không để ý gì đến Khổng Tử, Khổng Tử lại đi đến đất Trần.
Mùa
hạ năm ấy, Vệ Linh Công mất, lập người cháu tức là Xuất Công của nước Vệ. Tháng
sáu, Triệu Ưởng đưa thế tử vào thành Thích [Ngoại là con Vệ Linh Công, vì giết
Nam Tử nên bỏ trốn ở nước Tấn, được Triệu Ưởng che chở. Dương Hổ cũng ở đấy sau
khi bị đuổi khỏi nước Lỗ (xem đoạn 3). Thấy con của Ngoại là Xuất Công được làm
vua, Triệu Ưởng tìm cách đưa Khoái Ngoại vào thành Tích, để sau đó làm vua nước
Vệ. Dương Hổ bày mưu như vậy để tỏ ra thế tử được nhân dân mời về. Thái tử cũng
tỏ ra khóc lóc để nói rằng mình là người thừa kế chân chính.]. Dương Hổ sai
thế tử mang mũ trụ và tám người mặc đồ tang giả vờ đi từ nước Vệ đến đón thế tử,
khóc và vào thành Thích, rồi ở đấy. Mùa đông vua đất Thái dời đô đến Châu Lai.
Năm ấy là năm thứ ba đời Lỗ Ai Công, Khổng Tử 60 tuổi. Nước Tề giúp nước Vệ vây
đất Thích và thế tử nước Vệ là Khoái Ngoại ở đấy. Mùa hạ, ngôi miếu của Hoàn
Công và Ly Công ở nước Lỗ bị đốt cháy. Nam Cung Kinh Thúc cứu hỏa. Khổng Tử lúc
ấy đang ở đất Trần, nói: - Hỏa hoạn thế nào cũng đang xảy ra ở miếu của Hoàn
Công và Ly Công.
Sau
đó quả nhiên đúng.
Mùa
thu, Quý Hoàn Tử ốm, người ta chở ông ta trên một cái xe đi thăm thành nước Lỗ.
Quý Hoàn Tử thở dài than: -Xưa kia nước này đáng lẽ hưng thịnh. Vì ta có tội với
Khổng Tử cho nên nước mới suy đồi.
Quý
Hoàn Tử quay lại bảo người con nối nghiệp mình là Khang Tử: - Khi ta chết, thế
nào con cũng làm tể tướng nước Lỗ, nếu làm tể tướng nước Lỗ thế nào con cũng phải
mời Trọng Ni.
Sau
đó mấy ngày, Quý Hoàn Tử chết, Khang Tử lên thay. Sau khi chôn cất xong, Khang
Tử muốn mời Trọng Ni nhưng Công Chi Ngư nói: - Ngày xưa tiên quân của ta dùng
ông ta không trót cho nên bị chư hầu chê cười. Ngày nay, nếu ngài lại dùng ông
ta không trót thì sẽ bị chư hầu cười lần nữa.
Khang
Tử nói: - Như thế thì nên mời ai?
-
Thế nào cũng phải mời Nhiễm Cầu.
Khang
Tử bèn sai sứ mời Nhiễm Cầu. Nhiễm Cầu sắp ra đi, Khổng Tử nói: - Người Lỗ mời
anh Cầu không phải để dùng vào việc nhỏ mà sẽ dùng vào việc lớn.
Ngày
hôm ấy, Khổng Tử nói: - Về thôi! Về thôi! Bọn học trò của ta hăng hái nhưng
nông nổi, họ đã khá về mặt đạo đức, nhưng chưa biết giữ mình theo đúng đạo.
Tử
Cống biết Khổng Tử nghĩ đến việc trở về nước Lỗ, nên khi tiễn Nhiễm Cầu, nhân dặn
ông ta: - Khi anh được dùng thì phải làm thế nào cho nhà vua mời thầy.
Nhiễm
Cầu ra đi. Năm sau, Khổng Tử từ đất Trần đến đất Thái. Thái Chiêu Công đang định
đến đất Ngô vì vua Ngô mời. Trước đấy, Thái Chiêu Công lừa dối bầy tôi dời đô đến
Châu Lai. Sau đó, ông ta lại định đi. Các quan đại phu sợ ông ta dời đô lần thứ
hai. Vì vậy Công Tôn Phiên bắn Chiêu Công chết. Quân Sở xâm chiếm nước Thái.
Mùa
thu, vua Tề Cảnh Công chểt. Năm sau, Khổng Tử từ đất Thái đi đến đất Diệp. Diệp
Công hỏi Khổng Tử về chính sự. Khổng Tử nói: - Làm chính sự cốt ở chỗ làm cho
người ở xa đến và người ở gần theo mình.
Một
hôm, Diệp Công hỏi Tử Lộ: - Khổng Tử là người như thế nào?
Tử
Lộ không biết trả lời ra sao. Khổng Tử nghe vậy nói: - Này anh Do, tại sao anh
không trả lời như thế này: con người ấy học đạo không biết mỏi, dạy người không
biết chán. Khi chưa biết đạo thì phát phẫn đến nỗi quên ăn, khi biết đạo thì
vui đến nỗi quên lo, không biết tuổi già sắp đến.
Khổng
Tử rời bỏ đất Diệp trở về đất Thái. Trường Thư và Kiệt Nịch đánh đôi cùng cày.
Khổng Tử cho họ là những người ở ẩn, bèn sai Tử Lộ đến hỏi họ xem bến đò ở đâu.
Trường Thư nói: - Con người cầm dây cương ấy là ai thế?
Tử
Lộ đáp: - Khổng Khâu đấy.
Trường
Thư nói: - Khổng Khâu nước Lỗ đấy à?
Tử
Lộ đáp: - Phải.
Trường
Thư nói: - Thế thì ông ta biết bến đò rồi!
Kiệt
Nịch bảo Tử Lộ: - Anh là ai?
Tử
Lộ đáp: - Tôi là Trọng Do.
Kiệt
Nịch hỏi: - Anh là học trò Khổng Khâu phải không?
-
Vâng ạ.
Kiệt
Nịch nói: - Thiên hạ như nước chảy cuồn cuộn đều như thế cả, ai mà thay đổi được?
Vả lại ông theo một kẻ sĩ lo tránh người chi bằng theo một kẻ sĩ lo tránh đời [Ý
nói Khổng Tử muốn tìm vị vua hiền, tránh vị vua dở không bằng những người ở ẩn
trốn đời.].
Rồi
hai người cứ cày miết mà không nói. Tử Lộ nói lại với Khổng Tử. Khổng Tử bùi
ngùi nói: - Ta không thể cùng sống với chim muông. Nếu thiên hạ có đạo thì ta cần
sửa nó làm gì?
Một
hôm, Tử Lộ đi đường gặp một ông già đang mang trên lưng một cái sọt. Tử Lộ hỏi:
- Cụ thấy thầy của tôi không?
Ông
già nói: - Chân tay anh không lo làm lụng, ngũ cốc anh không phân biệt được, Ta
biết thầy của anh là ai?
Cụ
già cắm gậy xuống đất rồi cắt cỏ. Tử Lộ nói với Khổng Tử. Khổng Tử nói: -Đó là
một người ở ẩn.
Tử
Lộ quay lại thì cụ già đã đi mất.
Khổng
Tử dời đến ở đất Thái được ba năm. Nước Ngô đánh nước Trần, nước Sở cứu người
Trần, đóng quân ở Thành Phụ. Nghe tin Khổng Tử ở miền đất Trần, đất Thái, vua Sở
sai người đem lễ mời Khổng Tử đến nước Sở. Khổng Tử sắp đến chào sứ giả theo
đúng lễ. Các quan đại phu đất Trần và đất Thái bàn nhau: - Khổng Tử là người hiền.
Những điều ông ta chê bai đều nhằm đúng vào những chỗ xấu của chư hầu. Nay ông
ta ở lâu miền Trần, Thái mà những điều các quan đại phu làm đều sai trái không
đúng ý của ông ta. Nước Sở là một nước lớn đem lễ đến mời. Nếu ông ta được dùng
ở nước Sở thì các quan đại phu đang được dùng ở đất Trần, đất Thái sẽ nguy mất.
Họ
bèn bàn nhau cho bọn đầy tớ vây Khổng Tử ở ngoài đồng, không cho đi. Khổng Tử hết
lương ăn, những người đi theo đều ốm không ai dậy được, nhưng Khổng Tử vẫn giảng
giải, vẫn ngâm thơ, đánh đàn và ca hát không tỏ ra suy yếu. Tử Lộ có vẻ giận, đến
hỏi: - Người quân tử cũng có lúc cùng khốn ư?
Khổng
Tử nói: - Người quân tử trong lúc cùng khốn thì giữ vững, còn kẻ tiểu nhân
trong lúc cùng khốn thì làm bậy.
Tử
Cống mặt nổi nóng. Khổng Tử nói: - Này anh Tứ! Anh cho ta học nhiều mà biết phải
không?
Tử
Cống nói: - Dạ, đúng thế. Không phải thế hay sao?
Khổng
Tử nói: - Không phải đâu! Ta lấy một điều để quán triệt tất cả [Nhà triết học
khác người thường chính là ở đấy.].
Khổng
Tử biết học trò có vẻ tức tối, bèn gọi Tử Lộ đến hỏi: - Kinh Thi nói: "Chẳng
phải con trủy [Tức con Tê Ngưu.] chẳng phải con hổ ở ngoài đồng vắng".
Đạo của ta phải chăng là sai? Tại sao ta lại gặp phải cảnh này?
Tử
Lộ nói: - Theo ý của con, có lẽ vì chúng ta chưa "nhân" chăng nên người
ta chưa tin chúng ta. Có lẽ chúng ta chưa "trí" chăng nên người ta không
cho chúng ta đi [Ý trách Khổng Tử còn có khuyết điểm. Ở trên thấy Tử Lộ nhiều
lúc không phục Khổng Tử.]?
-
Nào phải thế đâu. Này anh Do, nếu như người nhân thế nào cũng được người ta tin
thì làm gì có chuyện Bá Di, Thúc Tề nữa, nếu như người trí gặp việc gì cũng
thông suốt thì làm gì có Vương Tử, Tỉ Can nữa [Bá Di, Thúc Tề can Vũ Vương đừng
đánh Trụ. Vũ Vương không nghe. Sau đó hai người nhịn đói chết. Tỷ Can can Trụ bị
Trụ giết.].
Tử
Lộ đi ra, Tử Cống vào yết kiến. Khổng Tử nói: - Này anh Tứ, Kinh Thi nói:
"Chẳng phải con trủy chẳng phải con hổ ở ngoài đồng vắng". Đạo của ta
phải chăng là sai? Tại sao ta lại gặp phải cảnh này?
Tử
Cống nói: - Đạo của thầy hết sức lớn cho nên thiên hạ không ai dung nạp được.
Thầy phải hạ thấp một chút.
-
Này anh Tứ, người giỏi nghề nông có thể biết vãi giống nhưng không chắc là gặt
được. Người thợ giỏi có thể làm khéo nhưng không thể làm cho người ta vừa lòng.
Người quân tử trau dồi đạo đức của mình theo những đường lối chính và giữ nó,
điều chỉnh nó mà không thể làm cho nó được người ta theo. Anh không lo trau dồi
đạo của mình mà chỉ lo người ta dung nạp mình. Cái chí của anh Tứ không phải là
xa.
Tử
Cống đi ra. Nhan Hồi vào yết kiến. Khổng Tử nói: - Này anh Hồi, Kinh Thi nói:
"Chẳng phải con trủy chẳng phải con hổ ở ngoài đồng vắng". Đạo của ta
phải chăng là sai? Tại sao ta lại gặp phải cảnh này?
Nhan
Hồi nói: - Đạo của phu tử hết sức lớn lao nên cả thiên hạ không ai dung nạp được.
Nhưng phu tử cứ theo đó mà làm, người ta không dung nạp thì có hại gì? Người ta
không dung nạp nhưng sau này người ta sẽ thấy phu tử là người quân tử. Đạo
không được trau dồi, đó là cái điều ta lấy làm xấu hổ. Đạo đã trau dồi mà vẫn
không được dung nạp thì đó là điều xấu hổ của kẻ làm vua một nước. Người ta
không dung nạp phu tử thì có hại gì? Về sau người ta sẽ thấy phu tử là người
quân tử?
Khổng
Tử hớn hở cười: - Đúng lắm! Hỡi người con họ Nhan, nếu nhà ngươi lắm của cải
thì ta sẽ làm người quản lý của cải cho nhà ngươi.
Sau
đó, Khổng Tử sai Tử Cống sang Sở. Sở Chiêu Vương đem binh đón Khổng Tử, kết quả
Khổng Tử mới được thoát. Chiêu Vương định phong cho Khổng Tử miếng đất trong sổ
sách có 700 lý [Lý ở đây là một nhóm gia đình gồm 25 nhà.]. Quan lệnh
doãn nước Sở là Tử Tây nói: - Trong số các sứ giả nhà vua phái đến các nước chư
hầu có ai bằng Tử Cống không?
-
Không.
-
Trong số những người giúp đỡ nhà vua có ai bằng Nhan Hồi không?
-
Không.
-
Trong số các tướng của nhà vua, có ai bằng Tử Lộ không?
-
Không.
-
Trong số các quan của nhà vua có ai bằng Tề Dư không?
-
Không.
-
Không những thế, tổ tiên nước Sở cũng chỉ được nhà Chu phong với cái tước hiệu
là "tử" và năm mươi dặm đất [Ý nói Sở trước kia chỉ có 50 dặm và
chỉ có tước "tử" thế mà sau thành lớn mạnh.]. Nay Khổng Khâu theo
phép tắc của Tam Vương, làm sáng cả cơ nghiệp của Chu Công, Thiệu Công. Nếu
dùng ông ta thì nước Sở làm thế nào mà được đời đời đường hoàng có đất vuông
ngàn dặm? Văn Vương ở đất Phong, Vũ Vương ở đất Cảo đều chỉ là những ông vua có
trăm dặm đất, thế mà rốt cục lại làm vương thiên hạ. Nay Khổng Khâu có được miếng
đất làm cơ sở, lại có bọn học trò giỏi giúp đỡ thì đó không phải là cái phúc của
nước Sở.
Chiêu
Vương bèn thôi. Mùa thu năm ấy, Sở Chiêu Công chết ở Thành Phụ.
Một
người cuồng nước Sở tên là Tiếp Dư đi qua trước mặt Khổng Tử hát:
Phượng
ơi, chim phượng kia ơi
Đạo
đức suy đồi còn biết tính sao?
Việc
qua can chẳng được nào
Việc
sau họa biết cách nào lần xoay
Thôi,
thôi chim hãy về ngay
Con
đường chính trị rắc đầy chông gai!
Khổng
Tử bước xuống xe muốn nói chuyện, nhưng Tiếp Dư đã rảo bước đi mất, không sao
nói chuyện được. Khổng Tử bèn rời nước Sở trở về nước Vệ. Năm ấy, Khổng Tử sáu
mươi ba tuổi và là năm thứ sáu đời Lỗ Ai Công. Năm sau, vua Ngô và vua Lỗ gặp
nhau ở huyện Tăng. Vua Ngô đòi một trăm con bò để tế. Quan thái tể là Phỉ mời
Quý Khang Tử, Quý Khang Tử sai Tử Cống đến, việc mới thu xếp xong. Khổng Tử nói
chính trị hai nước Lỗ và Vệ giống nhau như anh với em. Lúc bấy giờ người cha của
Thủ, vua nước Vệ vẫn chưa được làm vua, vẫn phải ở nước ngoài [Tức là Khoái
Ngoại vẫn ở thành Thích.]. Vua các nước chư hầu mấy lần trách vua Vệ. Học
trò Khổng Tử lại có nhiều người làm quan ở Vệ, nên vua Vệ muốn trao chính trị
cho Khổng Tử. Tử Lộ nói: - Nếu vua Vệ giao chính trị cho thầy thì thầy sẽ làm cái
gì trước?
Khổng
Tử nói: - Chắc chắn phải chính danh trước.
Tử
Lộ nói: - Sao thầy viển vông thế, chính danh để làm gì?
Khổng
Tử nói: - Anh rõ thực là quê mùa quá! Cái danh mà không chính thì lời nói không
đúng với sự thực, lời nói không đúng với sự thực thì việc không thành, việc
không thành thì không làm cho lễ, nhạc phồn thịnh, lễ nhạc không phồn thịnh thì
hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết đặt tay chân vào
đâu. Phàm người quân tử đã làm điều gì có thể nói tên cái việc đó, và nhất định
làm được việc đó. Người quân tử chớ cẩu thả trong lời nói của mình.
Năm
sau Nhiễm Hữu (tức Nhiễm Cầu) làm tướng quân của họ Quý mang quân đánh nhau với
quân Tề ở đất Lang và đánh bại quân Tề. Quý Khang Tử hỏi: - Cái tài cầm quân của
ông do ông học hay do bản tính mà có?
Nhiễm
Cầu nói: - Tôi học ở Khổng Tử.
Quý
Khang Tử hỏi: - Khổng Tử là người như thế nào?
Nhiễm
Cầu nói: - Nếu dùng ông ta thì có danh, nếu ông ta báo với trăm họ và hỏi quỷ
thần về việc ông ta đã làm thì không ai không bằng lòng. Điều ông ta mong muốn
là đạt đến cái đạo của người quân tử. Dù nhà vua có cho ông ta một nghìn xã [Mỗi
xã gồm 25 gia đình.], ông ta cũng không mưu lợi cho mình [Nhiễm Cầu bác
lại ý kiến của Tử Tây nói với vua Sở, sợ Khổng Tử sẽ được lòng dân chúng rồi
làm vương.].
Quý
Khang Tử hỏi: - Ta muốn mời ông ta có được không?
-
Muốn mời ông ta thì chớ đãi ông ta chật hẹp như đãi người hèn kém mới được.
Khổng
Văn Tử làm quan nước Vệ, sắp đánh Thái Thúc hỏi Trọng Ni về cách đánh. Trọng Ni
từ chối không biết. Khi rút lui, Khổng Tử cho đánh xe ra đi, nói: - Con chim có
thể chọn cây, chứ cây kia làm sao mà chọn chim được?
Khổng
Văn Tử nài ở lại. Gặp lúc Quý Khang Tử sai Công Hoa, Công Tân, Công Lâm mang lễ
vật đến đón Khổng Tử. Khổng Tử trở về nước Lỗ. Khổng Tử đi đã 14 năm, bây giờ mới
trở về nước Lỗ.
Lỗ
Ai Công hỏi Khổng Tử về chính sự. Khổng Tử đáp: - Làm chính sự cốt ở chỗ chọn bầy
tôi.
Quý
Khang Tử hỏi về chính sự. Khổng Tử đáp: - Chính sự cốt ở chỗ cử những người thẳng
và gạt bỏ những kẻ gian xảo. Làm như thế thì những kẻ gian xảo cũng sẽ thẳng.
Quý
Khang Tử lo lắng về bọn trộm cắp, Khổng Tử nói: - Nếu ngài không ham muốn thì
dù ngài thưởng cho họ, họ cũng không lấy trộm [Ý nói nếu người cai trị ngay
thẳng thì nhân dân noi theo và đều ngay thẳng.].
Tuy
vậy, nước Lỗ chung quy vẫn không dùng Khổng Tử. Khổng Tử cũng không xin làm
quan.
-
5.
Cách giáo huấn của Khổng Tử về mặt văn hóa
Trong
thời Khổng Tử, nhà Chu đã suy, lễ nhạc bị bỏ. Kinh Thi, Kinh Thư cũng thiếu
sót. Khổng Tử theo dấu vết của lễ thời Tam Đại, đề tựa Kinh Thư, kinh này chép
sự việc từ thời Đường, Ngu cho đến thời Tần Mục Công. Khổng Tử sắp đặt lại các
sự việc và nói: - Ta có thể nói về lễ nhà Hạ, nhưng nước Kỷ (con cháu nhà Hạ
- N. D) không đủ chứng minh những điều ta nói. Ta có thể nói về Lễ của nhà
Ân, nhưng nước Tống (con cháu của nhà Ân - N. D) không đủ để chứng minh
những điều ta nói, nếu họ có đủ thì ta đã có thể lấy ra làm dẫn chứng.
Khi
xem những điều nhà Ân thêm hay bớt về lễ của nhà Hạ, Khổng Tử nói: -Tuy một
trăm đời sau cũng có thể biết được: cứ thời trước chuộng văn hoa thì thời sau
chuộng thực chất. Nhà Chu noi gương hai triều đại trước, lễ nghi nhà Chu rực rỡ
làm sao! Ta theo nhà Chu.
Vì
thế, phần truyện trong Kinh Thư và Lễ Ký là do Khổng Tử làm.
Khổng
Tử nói chuyện với quan thái sư nước Lỗ: - Có thể biết phải chơi nhạc như thế
nào. Thoạt tiên thì dồn dập, khi đã bắt nhịp thì hòa hợp, rõ ràng, tiếp tục mà
đi đến kết thúc.
Khổng
Tử nói: - Ta sau khi rời nước Vệ về nước Lỗ thì mới chỉnh đốn được nhạc, Nhã và
Tụng mới được xếp đặt đâu vào đấy.
Ngày
xưa Kinh Thi có tất cả hơn ba ngàn thiên. Đến thời Khổng Tử, Khổng Tử bớt những
thiên trùng điệp, lấy những thiên có thể có ích cho lễ nghĩa. Những bài này bắt
đầu từ Tiết, Hậu Tắc [Tiết là tổ của nhà Ân. Hậu Tắc là tổ của nhà Chu.],
giữ thuật lại thời thịnh trị nhà Ân, Chu, cho đến thời U, Lệ kém cỏi. Kinh Thi
bắt đầu từ nơi giường chiếu cho nên người ta nói "Quan thư" nghiêm chỉnh
mở đầu "Phong", bài "Lộc minh" mở đầu "Tiểu nhã",
bài "Văn vương" mở đầu "Đại nhã", bài "Thanh miếu"
mở đầu "Tụng" [Phong, Tiểu nhã, Đại nhã, Tụng là những bộ phận
trong Kinh Thi.]. Tất cả ba trăm linh năm thiên này đều được Khổng Tử đánh
đàn và hát để làm cho nó phù hợp với điệu nhạc Thiều, Vũ, Nhã, Tụng. Từ đó người
ta mới có thể thuật lại lễ nhạc đời trước để làm cho vương đạo đầy đủ và lục nghệ
trọn vẹn. Về sau Khổng Tử thích Kinh Dịch, thích các phần tự, thoan, hệ, tượng,
thuyết quái, văn ngôn [Kinh Dịch có phần bổ sung gọi là thập dực tương truyền
là do Khổng Tử làm gồm có những mục: thoan, tượng, hệ từ, văn ngôn, thuyết
quái, tự quái, tập quái. Chú ý: ở đây không nói Khổng Tử làm Kinh Dịch và có lẽ
đúng sự thực.]. Khổng Tử đọc Kinh Dịch làm cho cái dây da để buộc các thẻ
tre đứt ba lần. Khổng Tử nói: - Nếu cho ta thêm vài năm nữa thì ta sẽ hiểu Kinh
Dịch một cách toàn vẹn.
Khổng
Tử lấy thi, thư, lễ, nhạc dạy học trò. Số học trò đến ba ngàn người. Có 72 người
thông thạo cả lục nghệ [Lục nghệ: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, Dịch. Ý nói
sáu môn học.]. Còn những người chỉ học một phần như Nhan Trọc Trâu thì rất
nhiều. Khổng Tử dạy bốn điều: văn học, đức hạnh, trung thành, tín nghĩa, bỏ bốn
điều: không có định kiến trước, không nhất thiết phải theo một mặt, không cố chấp,
không chỉ thiên về mình. Khổng Tử cẩn thận trong việc trai giới, chiến trận, ốm
đau, ít nói về lợi, mệnh và nhân. Khi người ta chưa cảm thấy tức tối muốn biết,
thì Khổng Tử chưa giảng, khi nêu một góc mà người ta chưa thấy cả ba góc kia
thì Khổng Tử chưa dạy. Lúc ở trong làng xóm thì có vẻ thận trọng như không nói
được. Lúc ở tôn miếu, triều đình nói với các quan thượng đại phu thì nghiêm
trang, nói với các quan dưới thì hòa nhã. Đi vào cửa công thì lom khom rảo bước,
hai tay dang ra như hai cánh. Khi nhà vua gọi đến để tiếp khách thì sắc mặt thay
đổi, khi nhà vua mời thì đi không đợi thắng xe. Cá ươn, thịt hôi, hay không cắt
ngay ngắn thì không ăn, chiếu trải không ngay ngắn thì không ngồi. Khi bên cạnh
có người có tang thì không bao giờ ăn no. Ngày nào khóc thì không ca hát, thấy
người để tang hay người mù thì tuy đó là trẻ em cũng tỏ ra kính trọng.
Khổng
Tử nói: - Trong ba người cùng đi thế nào cũng có người thầy của ta. Những người
không lo trau dồi đạo đức, lúc học không bàn bạc, nghe điều nghĩa không hướng về
điều nghĩa, nghe điều không hay không biết sửa đổi thì đó là điều ta lo.
Khổng
Tử sai người ta hát, nếu hát hay thì bảo hát lại và sau đó họa theo. Khổng Tử
không nói những điều quái đản, việc dùng sức mạnh, những người làm loạn và chuyện
quỷ thần. Tử Cống nói: -Văn chương của thầy tôi đã được nghe, nhưng tôi chưa hề
nghe thầy nói về đạo trời, bản tính của con người và số mạng.
Nhan
Uyên thở dài than: - Đạo của Phu Tử ngẩng lên nhìn thì nó càng cao, đào sâu thì
nó càng chắc. Đang nhìn nó ở đằng trước, chợt thấy nó ở đằng sau. Phu Tử khéo dạy
người ta một cách tuần tự, lấy văn chương để làm cho đầu óc ta mở rộng, lấy lễ
để ước thúc. Ta muốn bỏ không được, nhưng đem hết tài sức của mình ra học cũng
vẫn còn cái gì vòi vọi, đứng sừng sững trước mặt, dù có muốn vươn tới cũng
không sao đạt đến được.
Một
đứa trẻ trong làng Đạt Hạt nói: - Khổng Tử thực là to lớn! Khổng Tử học rộng,
nhưng không nổi tiếng chuyên về một mặt nào.
Khổng
Tử nghe vậy nói: - Ta biết chuyên về nghề gì? Vào nghề đánh xe chăng? Vào nghề
bắn tên chăng? Ta chuyên về nghề đánh xe vậy.
Tử
Lao nói: - Khổng Tử nói: Ta không được dùng cho nên lo về lục nghệ.
Năm
thứ 14 đời Lỗ Ai Công, mùa xuân săn ở ngoài đồng hoang, người đánh xe của Thúc
Tôn Thị là Sử Thương bắt được một con thú, anh ta cho đó là điềm không lành, Trọng
Ni thấy thế nói: - Đây là con lân.
Người
ta đem nó đi. Khổng Tử nói: - Sông Hà không thấy xuất hiện Hà Đồ [Theo truyền
thuyết, Hà Đồ là hình vẽ người ta thấy trên thân con long mã xuất hiện trên
sông Hoàng Hà, còn Lạc Thư là do một con rùa mang ở dưới sông Lạc lên. Hà Đồ và
Lạc Thư cũng như bát quái là những hình ảnh tượng trưng được dùng trong bói
toán.], sông Lạc không thấy xuất hiện Lạc Thư, ta thế là hết.
Nhan
Uyên chết. Khổng Tử nói: - Trời giết ta!
Đến
khi đi săn ở phía tây bắt được con lân, Khổng Tử nói: - Đạo ta hết rồi!
Thở
dài và than: - Không ai biết ta.
Tử
Cống nói: - Tại sao không ai biết thầy?
Khổng
Tử nói: - Không oán trời, không trách người, học điều thấp mà biết được điều
cao, biết ta chỉ có trời chăng? Những kẻ không hạ thấp cái chí của mình, không
làm nhục cái thân của mình đó là Bá Di, Thúc Tề. Liễu Hạ Huệ và Thiếu Liên, thì
hạ thấp cái chí của mình, làm nhục cái thân của mình. Ngu Trọng, Di Dật ở ẩn,
không nói gì về việc đời, khi làm quan thì giữ được sự thuần khiết, khi bị bỏ
thì theo đúng hoàn cảnh. Ta thì không phải như họ, ta không chủ trương cứng nhắc
phải thế này, hay không thể như thế này.
Khổng
Tử nói: - Không, không, người quân tử lo rằng mình chết rồi mà cái tên của mình
không được nhắc đến, nếu đạo của ta không được dùng thì ta biết lấy gì để làm đời
sau thấy ta.
Bèn
dựa vào Sử Ký làm ra Kinh Xuân Thu, chép từ thời Lỗ Ẩn Công (722-712 TCN) đến
năm thứ 14 đời Lỗ Ai Công (481 TCN) bao gồm mười hai đời vua. Căn cứ vào chỗ
vua Lỗ là họ với nhà Chu cho nên Khổng Tử đưa vào đấy những việc của thời Tam Đại.
Lời nó tuy ngắn, nhưng ý rộng. Các vua Sở và Ngô tự xưng là "vương",
nhưng Xuân Thu hạ thấp gọi là "tử". Thực ra là thiên tử nhà Chu bị gọi
đến dự hội nghị ở Tiễn Thổ, nhưng Xuân Thu che giấu lại nói là "Thiên
vương đi tuần ở Hà Dương". Căn cứ vào những thí dụ như vậy ta thấy một
phép tắc để ràng buộc những người làm vua ngày nay. Cái nghĩa của những lời
khen chê ở đấy [Phải chăng đây là ám chỉ thời Hán Vũ Đế vì lúc ấy việc
nghiên cứu ý nghĩa của Xuân Thu phát triển rất mạnh?] sẽ rõ khi có bậc
vương giả xuất hiện. Cái nghĩa của Kinh Xuân Thu được thi hành thì bọn bầy tôi
làm loạn và bọn làm giặc trong thiên hạ sợ. Khi Khổng Tử làm quan, những điều
người nói hay xét các vụ kiện cũng gần như lời nói chung của mọi người chứ
không có gì chỉ riêng một mình người mới có. Trái lại, khi làm Xuân Thu thì viết
cái gì phải viết, bỏ cái gì phải bỏ, những người như Tử Hạ [Học trò của Khổng
Tử, nổi tiếng học rộng.] không thể có một lời bàn góp. Học trò học Xuân
Thu, Khổng Tử nói: - Đời sau biết Khâu là căn cứ vào Xuân Thu, bắt tội Khâu
cũng căn cứ vào Xuân Thu.
-
6.
Khổng Tử chết và dòng dõi Khổng Tử
Năm
sau, Tử Lộ chết ở Vệ. Khổng Tử ốm, Tử Cống đến thăm, thấy Khổng Tử chống gậy đi
dạo ở trước cửa nói: - Anh Tứ, sao anh lại đến muộn thế?
Nhân
đấy hát: - Núi Thái Sơn sắp đổ, cột trụ nhà sắp gãy, kẻ triết nhân sắp tàn.
Trong
khi hát, nước mắt chảy ròng ròng. Khổng Tử bảo Tử Cống: - Thiên hạ không có đạo
đã lâu rồi, không ai biết theo ta. Người đời Hạ đặt cái hòm ở phía tây, người đời
Chu đặt cái hòm phía đông, người đời Ân đặt nó ở giữa hai cái cột. Đêm qua ta nằm
mơ thấy ngồi giữa hai cái cột. Chắc vì ta là con cháu nhà Ân.
Bảy
ngày sau Khổng Tử mất. Khổng Tử mất năm 73 tuổi ngày kỷ sửu, năm thứ 16 đời Lỗ
Ai Công (479 TCN). Ai Công thương viếng nói: - Trời xanh không thương ta, không
để lại cho ta cụ già duy nhất có thể che chở cho con người duy nhất như ta. Ta ở
ngôi vua bơ vơ, đau buồn. Ô hô! Thương thay! Mất ông Ni, ta không có ai để noi
theo.
Tử
Cống nói: - Nhà vua có lẽ không chết ở nước Lỗ chăng? Phu Tử nói: "Sai về
Lễ thì tỏ ra mờ tối, dùng chữ sai tức là lạm dụng. Sai về chí là mờ tối, sai về
việc làm là lạm dụng". Lúc Phu Tử sống thì nhà vua không biết dùng, đến
khi chết lại thương viếng. Thế là trái lễ, thương viếng lại nói "ta con
người duy nhất" thế là dùng chữ sai [Ý Tử Cống nói nhà vua ăn nói hồ đồ
nên việc làm cũng sẽ hồ đồ. Năm 468, Ai Công bị trục xuất, trốn sang Việt.].
Khổng
Tử chôn ở phía bắc kinh thành nước Lỗ, trên bờ sông Từ. Học trò đều để tang ba
năm. Sau khi để tang ba năm, họ khóc và từ giã nhau, ai cũng khóc hết sức đau
xót. Có người ở lại. Riêng Tử Cống làm nhà ở bên mộ sáu năm mới đi. Học trò và
những người nước Lỗ đến làm nhà bên mộ hơn một trăm nhà nên người ta gọi là
"làng Khổng".
Các
vua Lỗ đời đời nối tiếp nhau tế Khổng Tử theo những thời nhất định. Các nhà nho
cũng giảng lễ về lễ hương ẩm và lễ bắn tên ở bên mộ Khổng Tử. Mộ Khổng Tử rộng
khoảng một khoảnh, cái nhà trong đó ngày xưa học trò ở, đời sau dùng làm miếu
giữ áo mũ, đàn cầm, xe, sách của Khổng Tử. Việc tế tự kéo dài hơn hai trăm năm
đến đời Hán không hề dứt. Cao Tổ đi qua đất Lỗ dùng cỗ thái lao để tế Khổng Tử.
Chư hầu, khanh tướng đến nước Lỗ thường trước tiên đến thăm mộ rồi sau mới làm
việc chính sự.
Khổng
Tử sinh Lý tên tự là Bá Ngư. Bá Ngư thọ năm mươi tuổi chết trước Khổng Tử. Bá
Ngư sinh Cấp, tên tự là Tử Tư, thọ 62 tuổi, có lần bị khốn ở đất Tống, làm sách
Trung Dung. Tử Tư sinh Bạch, tên tự là Tử Thượng thọ 47 tuổi. Tử Thượng sinh Cầu,
tên tự là Tử Gia, thọ 45 tuổi. Tử Gia tên Cơ, tự là tử Kinh, thọ 46 tuổi. Tử
Kinh sinh Xuyên, tự là Tử Cao, thọ 51 tuổi. Tử Cao sinh Tử Thận, thọ 57 tuổi có
lần làm tướng quốc nước Ngụy. Tử Thận sinh Phụ, thọ 57 tuổi, làm bác sĩ của Trần
Vương là Thiệp, chết gần thánh Trần. Con trai của em trai Phụ là Tương Thọ, 57
tuổi, là bác sĩ thời Hiếu Huệ Đế, đổi đi làm thái thú Trường Sa, người cao chín
thước sáu tấc. Tử Tương sinh Trung, thọ 51 tuổi. Trung sinh Vũ, Vũ sinh Diên Niên
và An Quốc. An Quốc làm bác sĩ của đức kim thượng làm đến thái thú Lâm Hoài chết
sớm. An Quốc sinh Ngang, Ngang sinh Hoan.
-
7.
Nhận xét của tác giả
Thái
Sử Công nói: - Kinh Thi nói:
Núi
cao ta trông, đường rộng ta đi
Tuy
đích chưa đến, nhưng lòng hướng về.
Tôi
đọc sách của họ Khổng, tưởng tượng như thấy người. Đến khi đến Lỗ xem nhà thờ
Trọng Ni, nào xe cộ, nào áo, nào đồ tế lễ, học trò tập về nghi lễ ở nhà Khổng Tử
theo đúng từng mùa, tôi bồi hồi nán lại bỏ đi không dứt. Trong thiên hạ các vua
chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết.
Khổng Tử là một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn
làm thầy, từ thiên tử tới vương hầu ở Trung Quốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng
Tử làm tiêu chuẩn. Có thể gọi là bậc chí Thánh vậy.
Trong
số các sử gia thời cổ đại của tất cả các nước, Tư Mã Thiên gần như là người duy
nhất thấy tầm quan trọng của những sự kiện văn hóa tư tưởng. Ông xếp Khổng Tử
vào thế gia xem ngang một vị vua của chư hầu và dành cho Khổng Tử một tiểu sử rất
kỹ, rất công phu. Dưới con mắt ông, Khổng Tử không phải là một người thần kỳ,
làm những việc hoang đường, mà là một con người ôm một lý tưởng lớn, bôn ba suốt
đời để thực hành cái đạo của mình, bị chê bai, bị nhục, có những tình cảm, những
khuyết điểm của con người. Ông xây dựng được đứng đắn hình tượng Khổng Tử và thấy
rõ tác dụng của Khổng Tử đối với các dân tộc. Các sử gia đời sau có người như
Ban Cố trách ông xem nhẹ Nho giáo nhưng không đúng. Khổng Tử là người duy nhất
được xếp vào thế gia vì học thuật và được xếp thành một thiên riêng, còn tất cả
những người khác đều ở vào liệt truyện và ba bốn người gộp vào một truyện. Theo
tác giả, Khổng Tử là một thứ vua, một thứ vua về tinh thần. Ý kiến ấy rất táo bạo
và đúng khi nói đến Trung Quốc cổ. Trong bài này có nhiều câu trong Luận ngữ,
nhưng có một số chữ khác, có một vài câu nghĩa khó hiểu.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét