2022-07-16
Belgian
Nobel Prize Laureates liệt truyện

Lê
Văn Lợi tổng hợp từ trang https://www.nobelprize.org/
~
①
Viện Luật Quốc tế (Institut de Droit International) – Nô ben Hòa bình năm 1904.
②
Auguste Beernaert – Nô ben Hòa bình năm 1909
③
Maurice Maeterlinck – Nô ben Văn học năm 1911
④
Henri La Fontaine – Nô ben Hòa bình năm 1913
⑤
Jules Bordet – Nô ben Y Sinh năm 1919
⑥
Corneille Heymans – Nô ben Y Sinh năm 1938
⑦
Georges Pire – Nô ben Hòa bình năm 1958
⑧
Christian de Duve – Nô ben Y Sinh năm 1974
⑨
Albert Claude – Nô ben Y Sinh năm 1974
⑩
Ilya Prigogine – Nô ben Hóa học năm 1977
⑪
François Englert – Nô ben Vật lý năm 2013
~
Lời
tựa:
Nhân
kỷ niệm 191 năm ngày Quốc khánh Vương quốc Bỉ (21/07/1831 – 21/07/2022) - ngày
Đức vua Leopold Đệ nhất, vị quốc vương đầu tiên lên ngôi – “Tiểu thuyết
chiều thứ Bảy” trân trọng gửi đến nhân dân Bỉ, các thành viên BelUnion cùng gia
đình, bạn bè thân hữu những lời chúc tốt đẹp nhất, sức khỏe, hạnh phúc và an
lành!
Nhân
dịp này, “Tiểu thuyết chiều thứ Bảy” biên soạn và trân trọng giới thiệu đến
anh/chị bài “Belgian Nobel Prize Laureates liệt truyện”. Một cách
nôm na thì đây là danh mục các cá nhân, tổ chức Bỉ đã đoạt giải Nô ben. Tiêu đề
này tôi mạo muội nhại và bắt chước cách viết sử của sử gia huyền thoại Tư Mã
Thiên nhằm mang đến cho người đọc cảm giác “sử liệu” nhưng vẫn có cái gì đó man
mác lãng mạn của tiểu thuyết 😊. Tài liệu tham chiếu chủ yếu tôi lấy
từ trang có địa chỉ là https://www.nobelprize.org/.
Ngoài ra tôi cũng tham khảo thêm trang Wikipedia và một số trang khác.
Một
cách tổng quan, Bỉ có 10 người và 1 tổ chức đoạt giải Nô ben, bao gồm 4 giải
Hòa bình (Peace), 4 giải Y Sinh (Physiology or Medicine), 1 giải
Văn học (Literature), 1 giải Hóa học (Chemistry) và 1 giải Vật lý
(Physics). Chú ý rằng theo một số thống kê trên Internet, người ta chỉ
tính “người” đoạt giải. Theo cách tính này Bỉ có 10 người đoạt giải.
Vị
trí của Bỉ so với các nước khác trên thế giới là như thế nào? Theo nhiều cách xếp
hạng khác nhau, Bỉ thường được xếp hạng thứ 19 hoặc 20 của thế giới.
· Nếu nói về số lượng cá nhân, tổ chức đoạt giải
Nô ben thì Bỉ xếp thứ 20. Xếp đầu tiên gồm có Hoa Kỳ (398), Vương quốc Anh
(137), Đức (112), Pháp (70).
· Nếu nói về số lượng đoạt giải Nô ben trên đầu
người (per capita) thì Bỉ xếp thứ 19. Xếp đầu tiên gồm các nước có dân số
nhỏ như Faroe Islands, Saint Lucia, Luxembourg, rồi đến
các nước Bắc Âu như Thụy Sỹ, Thụy Điển, Iceland, Áo, Na Uy.
· Nếu nói về số lượng đoạt giải “Nô ben khoa học”
trên đầu người (per capita) thì Bỉ xếp thứ 20.
Một
đất nước non trẻ với lịch sử 191 năm mà đạt được như thế là rất đáng tự hào! Đến
đây nếu anh/chị thấy thỏa mãn với các con số thì anh/chị có thể dừng đọc, chuyển
sang các chủ đề khác như Showbiz, Politics 😊.
Phần tiếp theo là các “sử liệu khô khan” mà tôi lược dịch nhanh, theo đánh giá
của cá nhân tôi thì không hấp dẫn lắm, chỉ mang tính chất tra cứu.
-
① Viện Luật Quốc tế (Institut de Droit International)
– Nô ben Hòa bình năm 1904.
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì nỗ lực của tổ chức này trong
luật công để phát triển mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia và làm cho luật
chiến tranh nhân đạo hơn” (nguyên bản tiếng Anh: “for its striving in public
law to develop peaceful ties between nations and to make the laws of war more
humane”).
-
Lịch sử hình thành
Viện
Luật Quốc tế (IDI: Institut de Droit International) ra đời vào ngày
8/9/1873 theo sáng kiến của ông Gustave
Rolin-Jaequemyns (luật sư, nhà ngoại giao, Bộ trưởng Nội vụ
người Bỉ) tại Tòa thị chính thành phố Ghent (xem ảnh). Đây là một tổ chức tư
nhân, phi chính phủ (non-government).

Tòa thị chính TP.
Ghent, xây dựng từ thời Phục hưng (tổng cộng 51 sảnh).
Những
người sáng lập năm 1873 là:
· Pasquale Stanislao Mancini (từ Rome - Ý), Chủ tịch;
· Emile de Laprisye (từ Liege – Bỉ);
· Tobias Michael Carel Asser (từ Amsterdam – Hà Lan);
· James Lorimer (từ Edinburgh – Scotland);
· Wladimir Besobrassof (từ Saint-Petersburg – Nga);
· Gustave Moynier (từ
Geneva – Thụy Sĩ);
· Jean Gaspar Bluntschli (từ Heidelberg – Đức);
· Augusto Pierantoni
(từ Naples – Ý);
· Carlos Calvo (từ Buenos Aires – Argentina);
· Gustave Rolin-Jaequemyns (từ Ghent – Bỉ);
· David Dudley Field
(từ New York – Hoa Kỳ)
Chú
ý rằng, ngay từ thời điểm sáng lập, IDI đã có tính chất quốc tế (11 người đến từ
11 thành phố tại 9 quốc gia khác nhau).
-
Sứ mệnh
Sứ
mệnh của IDI? Đơn giản là cụm từ: “Justitia et pace” - Justice and peace
– Công lý và Hòa bình – một sứ mệnh thiêng liêng! Ngay từ nửa cuối của thế kỷ
19, IDI đã cho rằng mối quan hệ giữa các quốc gia định hướng bằng luật pháp quốc
tế chứ không phải là chiến tranh và bạo lực.
IDI
đã đưa vào nhiều điều khoản về trọng tài được Hội nghị La Hay thông qua vào năm
1899. Trong thời gian chiến tranh, các công trình của IDI trở thành rất quan trọng
đối với tổ chức League of Nations (tổ chức này tương tự như Liên hiệp quốc
ngày nay). Kể từ năm 1945, Liên hợp quốc đã công nhận các báo cáo và diễn giải
pháp lý do IDI ban hành là rất hữu ích.
Cơ cấu tổ chức IDI
Để
thực hiện được mục tiêu và sứ mệnh của mình Viện IDI hẳn phải có một cách tổ chức
hoạt động đặc biệt chứ!?
Viện
IDI là một tổ chức tư nhân, bao gồm các cộng sự (associates), thành
viên (members) và thành viên danh dự (honorary members). Quy chế quy
định thành viên và cộng sự có tuổi không quá 80 và tổng số thành
viên không được quá 132.
Thành
viên của IDI là ai? Có 2 tiêu chí chính:
Các
học giả về luật pháp quốc tế có tiếng tăm (thông qua các công trình của họ), ít
bị áp lực về chính trị.
Phân
bố rộng khắp trên thế giới – nghĩa là họ có xuất xứ từ nhiều quốc gia, vùng
lãnh thổ, từ các thể chế chính trị khác nhau.
Các
thành viên hiện tại của Viện bao gồm các luật sư nổi tiếng, học giả pháp lý, thẩm
phán của Tòa án Công lý Quốc tế, Tòa án Quốc tế về Luật Biển và Tòa án Hình sự
Quốc tế.
Cách
tổ chức của IDI giống như một hội đoàn của các luật sư: có Chủ tịch, các Phó chủ
tịch, Tổng thư ký, Chủ tịch Ủy ban Chương trình.
Việc
bầu các chức danh này được thực hiện theo quy chế của IDI, thông qua các kỳ họp
(session).
Hoạt động của IDI
IDI
tổ chức họp định kỳ 6 tháng một lần để nghiên cứu luật quốc tế và thông qua các
nghị quyết đề xuất sửa đổi luật quốc tế. IDI không bình luận về các vụ tranh chấp
cụ thể.
Mặc
dù các khuyến nghị của IDI bao gồm luật pháp quốc tế dưới nhiều hình thức phổ
quát, một số nghị quyết quan trọng của IDI chủ yếu liên quan đến luật nhân quyền
và giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình.
Các
nghị quyết gần đây của IDI bao gồm nhiều lĩnh vực quan trọng như quyền tài phán
phổ quát, các biện pháp tạm thời, chế độ xác tàu, quyền miễn trừ, môi trường, sử
dụng vũ lực, v.v.
IDI
xuất bản Niên giám, bao gồm các báo cáo của các ủy ban, các cuộc thảo luận của
các phiên họp toàn thể, và bất kỳ tuyên bố và nghị quyết kết quả nào. Hồ sơ của
các phiên họp hành chính bao gồm các cuộc bầu cử cũng được lưu trong Niên giám.
Trang
web của Viện IDI có một thư viện thông tin trực tuyến, bao gồm các tuyên bố,
nghị quyết và một số hoạt động đang được tiến hành để đưa vào Niên giám trong
tương lai.
🥇
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì vị trí nổi bật của họ trong
phong trào quốc tế vì hòa bình và vai trò trọng tài phân xử” (nguyên bản tiếng
Anh: “for their prominent position in the international movement for peace
and arbitration”).
-
Thủ tướng và Nghị sĩ liên nghị viện
Auguste
Beernaert là một trong những luật sư giàu kỹ năng nhất của Bỉ. Năm 1873, ông trở
thành thành viên của Chính phủ, và từ năm 1884 đến năm 1894, ông là Thủ tướng dưới
triều đại của Vua Leopold Đệ nhị. Tuy nhiên, sau khi rời khỏi Chính phủ, ông lại
phản đối Nhà vua vì chính sách tàn bạo áp đặt ở Congo, nhưng ông vẫn là thành
viên quốc hội suốt cuộc đời. Chính nhờ công việc liên nghị viện và tại các hội
nghị hòa bình quốc tế tại La Hay năm 1899 và 1907, ông được biết đến như một
người bạn của Hòa bình. Tại La Hay, trong số các nhiệm vụ ông đảm đương, ông đứng
đầu ủy ban giải quyết các luật lệ và phong tục của chiến tranh trên bộ, và liên
quan đến vấn đề trung lập, ông làm biện hộ cho các vụ tranh tụng của các nhà nước,
tiểu bang yếu thế.
Khi
vụ án đầu tiên được đưa ra trước Tòa án Quốc tế tại La Hay vào năm 1902 (Hoa Kỳ
chống lại Mexico), Beernaert đã hành động biện hộ cho Mexico. Cho đến cuối đời,
Beernaert luôn luôn nỗ lực ngăn chặn các cuộc chiến trên không. Vài ngày trước
khi mất, ông đã đệ trình một đề xuất chống lại cuộc chiến như vậy.
🥇
③ Maurice Maeterlinck – Nô ben Văn học năm 1911
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì được đánh giá cao các hoạt động
văn học đa sắc diện của ông, và đặc biệt là các tác phẩm kịch giàu tưởng tượng,
đầy thi vị, được thể hiện, lúc thì dẫn dụ bằng một câu chuyện cổ tích, lúc thì bằng
một nguồn cảm hứng sâu thẳm, trong khi vẫn giữ phong cách bí ẩn, lôi cuốn và
kích thích trí tưởng tượng của độc giả” (nguyên bản tiếng Anh: “in
appreciation of his many-sided literary activities, and especially of his
dramatic works, which are distinguished by a wealth of imagination and by a
poetic fancy, which reveals, sometimes in the guise of a fairy tale, a deep
inspiration, while in a mysterious way they appeal to the readers' own feelings
and stimulate their imaginations”).
-
Cuộc đời
Maurice
Maeterlinck sinh tại Ghent trong một gia đình Pháp khá giả, bố làm công chứng,
mẹ là con gái một luật sư giàu có. Sau khi tốt nghiệp luật tại Đại học Ghent
vào năm 1885, Maeterlinck đi Paris. Năm 1886, ông gia nhập Đoàn Luật sư Ghent,
viết thơ, ký, phê bình cho các báo và tạp chí như La Jeune Belgique, La
Wallonie... Năm 1886 ông in truyện ngắn đầu tiên Le massacre des
innocénts (Cuộc tàn sát những kẻ vô tội); năm 1889 ông xuất bản tập thơ đầu
tiên và vở kịch đầu tiên, được nhà phê bình Octave Mirbeau của báo Le Figaro
hết lời khen ngợi. Từ đó ông bỏ nghề luật sư. Trong những năm tiếp theo, ông viết
hàng loạt vở kịch cổ tích, tượng trưng, kịch rối... Năm 1895 Maeterlinck cưới vợ
là Leblan - diễn viên tham gia đóng các vở kịch của ông và năm 1896 sang Paris
sinh sống. Maeterlinck ủng hộ nghệ thuật thuần túy, là một trong những đại diện
tiêu biểu của trường phái tượng trưng cả trong thơ ca lẫn sân khấu, trong các
tác phẩm của mình mở ra một thế giới đầy màu sắc, mộng ảo chống lại số phận khắc
nghiệt. Năm 1909 ông viết xong vở kịch L'Oiseau Bleu (Con chim xanh), một
kiệt tác của sân khấu kể về những cuộc phiêu lưu kiếm tìm hạnh phúc qua hình tượng
con chim xanh và đã trở thành một điển cố văn học biểu tượng cho hạnh phúc tình
yêu cũng như đã được dựng lên trong nhiều phim.
Maurice
Maeterlinck được trao giải Nobel năm 1911 nhờ những tác phẩm kịch mang nội dung
phong phú, giàu tưởng tượng đầy thi vị. Kịch của ông thể hiện những hệ thống
triết lý hình thành một cách trực giác. Mô típ cái chết thường xuyên hiện diện
trong tác phẩm của ông ở giai đoạn cuối mang thêm màu sắc của chủ nghĩa thần
bí. Maeterlinck được coi là một trong những người khởi đầu của sân khấu kịch
phi lí; các vở kịch của ông đến ngày nay vẫn được dàn dựng ở nhiều nước trên thế
giới.
Trong
Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông xin vào dân quân nhưng không được chấp nhận
vì quá tuổi và nhà văn đã thể hiện lòng yêu nước bằng hàng loạt cuộc nói chuyện
tuyên truyền ở châu Âu và Mỹ. Năm 1939 Đức quốc xã đe dọa chiếm cả châu Âu,
Maeterlinck chạy sang Bồ Đào Nha và khi cảm thấy Bồ Đào Nha cũng sẽ bị chiếm,
ông cùng với vợ sang Mỹ. Năm 1947 ông trở về Nice, Pháp.
Ngoài
giải Nobel, Maeterlinck được vua Leopold Đệ tam của Bỉ tặng huân chương Đại thập
tự (1920), huân chương Thanh kiếm của Bồ Đào Nha (1939) và được vua Albert Đệ
nhất của Bỉ phong tước hiệu Bá tước (1932). Ông mất tại Nice, Pháp.
Tác phẩm
· Le massacre des innocénts (Cuộc tàn sát những kẻ vô tội, 1886), truyện
· Serres chaudes (Vườn kính, 1889), tập thơ
· La princesse Maleine (Công chúa Maleine, 1889), kịch
· L'intruse (Người đàn bà đột nhập, 1890), kịch
· Les aveugles (Những người mù, 1890), kịch
· Les sept princesses (Bảy nàng công chúa, 1891), kịch
· Pelléas et Mélisande (Pelléas và Mélisande, 1892), kịch
· Alladine et Palomides (Alladine và Palomides, 1894), kịch
· La mort de Tintagiles (Cái chết của Tintagiles, 1894), kịch
· Le trésor des humbles (Kho báu của những kẻ nhẫn nhục, 1896), luận
văn mĩ học
· Douze chansons (Mười hai khúc ca, 1896), thơ
· Quinze Chansons (Mười lăm Khúc ca), thơ
· Aglavaine et Selysette (Aglavaine và Selysette, 1896), kịch cổ tích
· Le sagesse et la destinée (Khôn ngoan và định mệnh, 1898), khảo luận triết
học
· La vie des abeilles (Đời sống loài ong, 1900), khảo luận
· Ariane et Barbe-Bleue (Ariane và gã Râu Xanh, 1901), kịch
· Monna Vanna (1902), kịch
· Le temple enseveli (Ngôi đền vùi lấp, 1902), tiểu luận
· Joyselle
(1903), kịch
· Le miracle de Saint-Antoine (Điều kì diệu của thánh Antoine, 1903), kịch
· L'intelligence des fleurs (Trí tuệ của hoa, 1907), khảo luận
· L'oiseau bleu (Con chim xanh, 1909), kịch
· Bourgmestre de Stilemonde (Thị trưởng Stilemonde, 1919), kịch
· La grande féerie (Miền tiên cảnh lớn, 1924), tiểu luận
· Le malheur passe (Tai họa đã qua, 1925), kịch
· La vie des termites (Đời sống của mối, 1926), tiểu luận
· La vie de l'espase (Đời sống không gian vũ trụ, 1928), tiểu luận
· La vie des fourmis (Đời sống loài kiến, 1930), tiểu luận
· La grande loi (Quy luật vĩ đại, 1933), tiểu luận
· Devant Dieu (Trước mặt Chúa, 1937), tiểu luận
· L'autre monde ou le cardan stellaire (Thế giới khác, hay khớp vũ trụ, 1942), tiểu
luận
Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt
· Con chim xanh (L'oiseau bleu) (kịch),
Nguyễn Trường Lịch dịch, Nhà xuất bản Giáo dục, 1997
· Nếu ngày kia anh trở lại (thơ), Phạm Nguyên Phẩm
dịch, in trong tập 100 bài thơ Pháp, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998
· Chiếc mũ trí tuệ (truyện ngắn), Dương Thu Ái dịch,
in trong Tuyển tập truyện nổi tiếng thế giới, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin,
2004
🥇
④ Henri La Fontaine – Nô ben Hòa bình năm 1913
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì sự đóng góp vô song của ông ấy
trong việc gây dựng chủ nghĩa quốc tế hòa bình” (nguyên bản tiếng Anh: “for
his unparalleled contribution to the organization of peaceful internationalism”).
Tiểu sử
La
Fontaine sinh ngày 22.4.1854 tại Bruxelles, trong một gia đình tư sản. Ông học
luật học ở Đại học tự do Bruxelles (nay chia thành 2 trường Université Libre
de Bruxelles và Vrije Universiteit Brussel).
Ông
gia nhập đoàn luật sư Bỉ năm 1877 và nổi tiếng là một người có thẩm quyền về Luật
quốc tế. Năm 1893, ông làm giáo sư môn luật quốc tế ở Đại học tự do Bruxelles.
Sự nghiệp
Năm
1895 ông được bầu vào thượng nghị viện Bỉ, nhân danh đảng Xã hội. Từ năm 1919 tới
1932, ông là Phó chủ tịch Thượng nghị viện Bỉ.
La
Fontaine đã sớm quan tâm tới Phòng Hòa bình Quốc tế - thành lập năm 1882 - và
đã có ảnh hưởng tới những nỗ lực của Phòng để mang lại các Hội nghị Hòa bình La
Hay năm 1899 và 1907. Ông là thành viên của phái đoàn Bỉ tham dự Hội nghị Hòa
bình Paris vào năm 1919 và Hội nghị Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên hiệp quốc)
(1920-1921). Trong các nỗ lực khác để thúc đẩy hòa bình thế giới, ông thành lập
"Trung tâm Trí tuệ thế giới" (Centre Intellectuel Mondial, sau
này sáp nhập vào "Viện Hợp tác trí tuệ của Hội Quốc Liên") và đề xuất
các tổ chức này như là một trường học và đại học trên thế giới, một nghị viện
thế giới, và một tòa án công lý quốc tế.
Cùng
với Paul Otlet (1868-1944), ông là đồng tác giả của tác phẩm "Essai de
bibliographie de la Paix" (1890), dự án Mundaneum (Hệ thống phân loại
thập phân sách xuất bản), sáng lập ra "Viện Thư mục Quốc tế" (Institut
International de Bibliographie, sau này trở thành Liên đoàn Quốc tế Thông
tin và Tài liệu).
Ngoài
ra, ông cũng là tác giả của nhiều sổ tay pháp luật và một tài liệu lịch sử về
trọng tài quốc tế. Ông cũng là người sáng lập tạp chí "La Vie
Internationale". Năm 1916, ông xuất bản tác phẩm "The great
solution: magnissima charta", trong đó ông đưa ra ý tưởng về một Tổ chức
quốc tế lao động trí óc.
Henri
La Fontaine là hội viên Hội Tam điểm, thuộc chi hội Les Amis Philanthropes ở
Bruxelles.
Ông
từ trần ngày 14.5.1943.
🥇
⑤ Jules Bordet – Nô ben Y Sinh năm 1919
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì các khám phá của ông liên
quan đến khả năng miễn dịch” (nguyên bản tiếng Anh: “for his discoveries
relating to immunity”).
Cuộc đời và Sự nghiệp
Ông
đậu bằng bác sĩ y khoa năm 1892 ở Đại học tự do Bruxelles (Bruxelles, Bỉ) và bắt
đầu làm việc ở Viện Pasteur tại Paris năm 1894, trong phòng thí nghiệm của Elie
Metchnikoff, nơi mà ông mô tả sự thực bào (phagocytosis) của vi khuẩn bởi
bạch cầu. Năm 1898 ông mô tả sự tiêu máu (hemolysis) gây ra bởi sự phơi nhiễm
huyết thanh cho các huyết cầu xa lạ.
Năm
1900, ông rời Paris để về thành lập Viện Pasteur ở Bruxelles, và khám phá ra là
hiệu quả tiêu vi khuẩn của kháng thể đặc thù đạt được tăng lên đáng kể trong ống
nghiệm bởi sự hiện diện của các thành phần huyết thanh bẩm sinh, cái mà ông đặt
tên là alexine (nhưng nay gọi là bổ thể). Cơ cấu này trở thành nền
tảng cho các phương pháp thử complement-fixation [phương pháp thử miễn
dịch để xem có kháng thể hoặc kháng nguyên đặc thù trong huyết tương của bệnh
nhân], phương pháp cho phép việc khai triển các việc thử huyết thanh để xem
có bị bệnh giang mai hay không (đặc biệt, sự phát triển phương pháp thử Wassermann
của August von Wassermann). Cùng một kỹ thuật như vậy ngày nay được sử dụng
trong việc thử huyết thanh cho vô số các bệnh khác.
Cùng
với Octave Gengou ông đã cách ly vi khuẩn Bordetella pertussis bằng nuôi
cấy thuần túy năm 1906 và thừa nhận nó là nguyên nhân của chứng ho gà. Ông trở
thành giáo sư khoa Vi sinh học ở Đại học tự do Bruxelles năm 1907.
Bordet
từ trần năm 1961 và được an táng tại Nghĩa trang Ixelles ở Bruxelles. Ông là một
hội viên Hội Tam Điểm thuộc chi bộ Les Amis Philanthropes của Grand
Orient of Belgium ở Bruxelles.
Giải thưởng và danh dự khác
Vào
tháng 3 năm 1916, ông được bầu làm Thành viên nước ngoài của Hiệp hội Hoàng gia
Luân Đôn về Xúc tiến Kiến thức Tự nhiên và vào năm 1930, thuyết trình bài giảng
Croonian Lecture. Trong bài giảng này, Bordet cũng kết luận rằng thực
khuẩn thể, "vi rút vô hình" tiêu diệt vi khuẩn được phát hiện bởi
Felix d'Herelle không tồn tại và vi khuẩn tự tiêu diệt bằng cách sử dụng quá
trình tự phân. Lý thuyết này sụp đổ vào năm 1941 với việc Ruska công bố những bức
ảnh chụp bằng kính hiển vi điện tử đầu tiên về thực khuẩn.
· 1919: Thành viên Viện Hàn lâm Khoa học, Văn học
và Mỹ thuật Hoàng gia Bỉ.
· 1921: Được trao giải Cameron về Trị liệu của Đại
học Edinburgh.
· Ga đường sắt Bordet ở Brussels được đặt theo
tên của ông.
· Bệnh viện ung thư Institut Jules Bordet
cũng được đặt theo tên ông.
🥇
⑥ Corneille Heymans – Nô ben Y Sinh năm 1938
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì khám phá vai trò của các cơ
chế xoang và động mạch chủ trong việc điều hòa hô hấp” (nguyên bản tiếng Anh: “for
the discovery of the role played by the sinus and aortic mechanisms in the
regulation of respiration”).
-
Học nghiệp
Corneille
Jean François Heymans sinh tại Ghent, Bỉ, vào ngày 28 tháng 3 năm 1892. Cha của
ông là J. F. Heymans, trước đây là Giáo sư Dược học và Hiệu trưởng Đại học
Ghent, người đã thành lập Viện Dược lý và Trị liệu J. F. Heymans nằm trong trường
đại học này.
Corneille
học trung học tại St. Lievenscollege (Ghent), St. Jozefscollege (Turnhout), và
St. Barbaracollege (Ghent). Ông đã học y khoa tại Đại học Ghent, nơi ông lấy bằng
bác sĩ năm 1920. Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại Collège de France, Paris
(Giáo sư E. Gley), Đại học Lausanne (Giáo sư M. Arthus), Đại học Vienna (Giáo
sư H. H. Meyer), Đại học Cao đẳng London (Giáo sư E. H. Starling) và Trường Y tế
Western Reserve (Giáo sư C. F. Wiggers).
Năm
1922, ông trở thành Giảng viên Dược lực học tại Đại học Ghent. Năm 1930, ông kế
vị cha mình là Giáo sư Dược học, ông cũng được bổ nhiệm làm Trưởng Bộ môn Dược
lý, Dược lực học và Độc chất học; đồng thời trở thành Giám đốc Viện J. F.
Heymans. Ông là Giáo sư Danh dự từ năm 1963.
Nghiên cứu, biên tập, giảng dạy
Các
nghiên cứu khoa học được thực hiện tại Viện Heymans chủ yếu hướng đến sinh lý học
và dược lý học của hô hấp, tuần hoàn máu, chuyển hóa và nhiều vấn đề dược lý. Đặc
biệt, những nghiên cứu này đã dẫn đến việc phát hiện ra các thụ thể hóa học, nằm
trong các khu vực xoang động mạch chủ và động mạch chủ tim, cũng như những đóng
góp liên quan đến việc điều hòa huyết áp động mạch và tăng huyết áp. Trên hết,
việc khám phá ra vai trò sinh phản xạ của các vùng xoang động mạch chủ và động
mạch chủ tim trong việc điều hòa hô hấp đã mang lại cho C. Heymans giải Nobel
năm 1938.
Một
loạt các nghiên cứu khác của Heymans và các cộng sự của ông đã được dành cho
sinh lý học của tuần hoàn não và sinh lý bệnh của tăng huyết áp động mạch có
nguồn gốc thần kinh và thận; cũng để nghiên cứu về lưu thông máu khi tập thể dục
cơ bắp; đối với sinh lý học và dược lý học của động vật hoàn toàn được giao cảm
hóa; nghiên cứu về sự tồn tại và hồi sinh của các trung tâm thần kinh khác nhau
sau khi ngừng lưu thông máu; dược lý của các chất kích thích chuyển hóa tế bào,
dược lý của phổi và nhiều vấn đề khác.
Là
một tác giả sung mãn, Heymans từ năm 1920 đã phát hành khoảng 800 bài báo, được
xuất bản trong các tạp chí định kỳ khác nhau. Các kết quả điều tra của ông chủ
yếu được ông báo cáo trong các ấn phẩm chung sau đây: Le Sinus Caroprisen et
les autres Zones vasosensibles réflexogènes (1920); Le Sinus Caroprisen
et la Zone Homologue Cardio-aortique, với J. J. Bouckaert và P. Regniers
(1933); Sensibilité réflexogène des vaisseaux aux excitants chimiques, với
J. J. Bouckaert (1934); «Le center Breatratoire», với D. Cordier ở Ann.
Physiol. Physicochim., II (1935) 335; «Sự tồn tại và hồi sinh của các trung
tâm thần kinh sau khi ngừng tuần hoàn», Physiol. Rev., 30 (1950) 375; «Các
khía cạnh mới của điều hòa huyết áp», với G. van den Heuvel, Circulation, 4
(1951) 581; «Pharmakologische Wirkungen auf die Selbststeuerung des
Blutdruckes», Arch. Exp. Pathol. Pharmakol., 216 (1952) 114; «Tác dụng của
thuốc trên xoang động mạch cảnh và cơ thể», Pharmacol. Rev., 7 (1955) 119; Các
khu vực phản xạ của hệ thống tim mạch, với E. Neil (1958), «Kiểm soát vận
mạch và điều hòa huyết áp», với B. Folkow, trong bài Tuần hoàn máu đàn
ông và ý tưởng, do A. P. Fishman và D. W. Richards biên tập.
Heymans
là người phát hành và là Tổng biên tập của Archives Internationales de
Pharmacodynamie et de Thérapie, được thành lập vào năm 1895 bởi cha ông và
Giáo sư E. Gley, Paris.
Từ
năm 1945 đến năm 1962 Heymans đã giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Châu Âu,
Bắc và Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Năm 1934, ông là «Giảng viên Herter» tại Đại
học New York; và vào năm 1937, ông là «Giảng viên của Tổ chức Tưởng niệm
Dunham» tại Đại học Harvard, cũng như «Giảng viên Tổ chức Hanna» tại Đại học
Western Reserve, và «Giảng viên Tưởng niệm Greensfelder» tại Đại học Chicago.
Năm 1939, ông là «Giảng viên của Quỹ Tưởng niệm Người theo đuổi» tại Trường Cao
đẳng Trinity, Đại học Dublin.
Được
Chính phủ Bỉ, Liên minh Khoa học Sinh lý Quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới giao
các nhiệm vụ đặc biệt, ông đã đến Iran và Ấn Độ (1953), Ai Cập (1955), Congo
thuộc Bỉ (1957), Mỹ Latinh (1958), Trung Quốc (1959), Nhật Bản (1960), Iraq
(1962), Tunisia (1963), Cameroun (1963).
Ông
đã từng là Chủ tịch của Liên minh Khoa học Sinh lý Quốc tế và của Hội đồng Dược
sĩ Quốc tế và đã chủ trì Đại hội Sinh lý học Quốc tế lần thứ 20 được tổ chức tại
Brussels năm 1956. Kiến thức rộng lớn về dược lý của ông đã chứng minh cho việc
ông được đề cử là Thành viên của Ủy ban Chuyên gia của Dược điển Quốc tế của Tổ
chức Y tế Thế giới. Tại đất nước của mình, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc
gia về Chính sách Khoa học.
Heymans
là Thành viên hoặc Thành viên danh dự của một số lượng lớn các hiệp hội khoa học
hàng đầu liên quan đến sinh lý học hoặc y học ở Châu Âu và ở Bắc và Nam Mỹ, bao
gồm cả Pontificia Academia Scientiarum, Hiệp hội Nghệ thuật Hoàng gia
Anh, Académie des Sciences de Paris (Institut de France), Académie
de Médecine de Paris, Heidelberger Akademie für Wissenschaosystem,
và Học viện Khoa học New York. Ông đã được bổ nhiệm làm Giáo sư danh dự của Đại
học Montevideo, và Tiến sĩ danh dự của Đại học Utrecht, Louvain, Montpellier,
Torino, Santiago de Chile, Lima, Bogotá, Rio de Janeiro, Algiers, Paris,
Montpellier, Münster, Bordeaux, Toulouse, và Đại học Georgetown, Washington.
Bên
cạnh giải Nobel, các giải thưởng khoa học của ông bao gồm Giải thưởng Alvarenga
của Académie Royale de Médicine de Belgique, Giải thưởng Vinh quang của Académie
Royale des Sciences de Belgique, Giải thưởng Quinquennial (1931-1935) cho Y
học của Chính phủ Bỉ, giải thưởng « Cựu sinh viên » - Giải thưởng về Y học của
Tổ chức Đại học Bỉ, Giải thưởng Bourceret của Académie de Médecine de Paris
(1930), Giải thưởng Monthyon của Institut de France (1934), Giải thưởng
Pius XI của Pontificia Academia Scientiarum (1938), Giải thưởng Burgi của
Đại học Bern và Giải thưởng de Cyon (1931) của Đại học Bologna, v.v.
Giáo
sư Heymans kết hôn với Berthe May, M. D. vào năm 1921. Cuộc hôn nhân có bốn người
con: Marie-Henriette, Pierre, Jean, và Berthe; và 18 cháu. Ông yêu thích hội họa
và rất quan tâm đến văn học cổ đại liên quan đến lịch sử y học; ông cũng là một
thợ săn cừ khôi.
Ông
mất ngày 18/7/1968 ở Knokke vì một cơn đột quỵ.
🥇
⑦ Georges Pire – Nô ben Hòa bình năm 1958
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì những nỗ lực của ông giúp những
người tị nạn rời khỏi trại, trở lại với cuộc sống tự do và phẩm giá” (nguyên bản
tiếng Anh: “for his efforts to help refugees to leave their camps and return
to a life of freedom and dignity”).
Dominique
Pire tên khai sinh là Georges Charles Clement Ghislain Pire, sinh ngày
10.2.1910 tại Dinant, từ trần ngày 30.1.1969 tại Leuven, là một linh mục dòng
Đa Minh người Bỉ, đã làm việc giúp đỡ các người tị nạn châu Âu sau Thế chiến thứ
hai. Ông đã được nhận giải Nobel Hòa bình năm 1958.
Cuộc đời và sự nghiệp
Ông
là con trưởng của Georges Pire, Sr. và bà Berthe (Ravet) Pire. Ông học môn cổ
ngữ và triết học tại trường Collège de Bellevue. Năm 18 tuổi, ông vào tu
trong tu viện dòng Đa Minh La Sarte ở Huy, Bỉ. Ông khấn trọn ngày 23.9.1932, lấy
tu danh là Dominique [tiếng Việt phiên âm là Đa Minh], theo tên vị thánh
sáng lập dòng tu này. Sau đó ông sang học thần học và khoa học xã hội tại Đại học
giáo hoàng thánh Thomas Aquinas (Pontifical University of St. Thomas Aquinas
(Angelicum) ở Roma, và đậu bằng tiến sĩ thần học năm 1936 với luận án
"L’Apatheia ou insensibilité irréalisable et destructrice" (Apatheia
hay tính vô cảm không thực hiện được và phá hoại).
Ông
trở về tu viện La Sarte, ở Huy, nơi ông hiến thân vào việc giúp đỡ các gia đình
nghèo sống theo phẩm giá của họ. Trong Thế chiến thứ hai, ông làm linh mục
tuyên úy cho Phong trào kháng chiến Bỉ, tích cực tham gia các hoạt động của
phong trào này như che giấu và giúp các phi công Đồng Minh bị bắn rơi, trốn ra
khỏi nước Bỉ. Sau chiến tranh, ông đã nhận được nhiều huy chương cho việc làm
này.
Năm
1949, ông bắt đầu nghiên cứu các vấn đề liên quan tới các người tị nạn sau chiến
tranh [những người bị buộc phải di cư đi nơi khác để sinh sống, gọi là
Displaced Person, viết tắt là DP] và viết một quyển sách về những người
này, nhan đề Du Rhin au Danube avec 60,000 D. P. (Từ sông Rhin tới sông
Danube với 60.000 người di cư). Ông lập một tổ chức để giúp đỡ họ. Tổ chức này
lập ra sự đỡ đầu cho các gia đình di cư và trong thập niên 1950 đã xây dựng nhiều
ngôi làng cho họ ở Áo và Đức. Dù là tu sĩ dòng Đa Minh, Dominique Pire không
bao giờ trộn lẫn đức tin cá nhân của mình với việc làm nhân danh sự công bằng
xã hội, một quyết định không phải lúc nào bề trên dòng tu của ông cũng thông cảm
cho ông.
Sau
khi nhận giải Nobel Hòa bình, Pire cũng giúp thành lập "Đại học Hoà
bình" ("Peace University") để tạo sự thông cảm toàn cầu.
Sau đó, ông nhận thức được là hoà bình không thể đạt được nếu không diệt trừ được
sự nghèo khó, nên ông đã lập "Quần đảo Hòa bình" (Islands of Peace),
một tổ chức phi chính phủ giúp đỡ cho sự phát triển dài hạn của dân cư nông
thôn trong các nước đang phát triển. Các dự án đã được bắt đầu ở Bangladesh và Ấn
Độ.
Ông
từ trần tại Bệnh viện Công giáo Louvain ngày 30.1.1969, do biến chứng của phẫu
thuật.
Hơn
30 năm sau khi ông qua đời, 4 tổ chức do ông thành lập vẫn còn hoạt động. Năm
2008 một chương trình vinh danh việc làm của ông đã được lập tại Viện Las Casas
ở Blackfriars Hall, Đại học Oxford.
Các tổ chức do Dominique Pire thành lập
· Service d'Entraide Familiale (Dịch vụ hỗ trợ gia đình): hỗ trợ các gia đình
có hoành cảnh khó khăn tái hòa nhập vào xã hội.
· Aide
aux Personnes Déplacées (Hỗ
trợ người di cư): hoạt động trong phạm vi cộng đồng di cư ở Bỉ và bảo trợ trẻ
em ở các nước đang phát triển.
· Université
de Paix (Đại học
Hòa bình): chuyên tập trung vào việc ngăn ngừa xung đột trong gia đình và tại
nơi làm việc.
· Iles
de Paix (Quần đảo
Hòa bình): các dự án phát triển dài hạn cho dân cư ở Burkina Faso, Bénin, Mali,
Guinea Bissau, Ecuador, Bolivia và Peru.
Các tác phẩm
· Bâtir la paix (Gây dựng hòa bình), Bruxelles, 1966.
· Vivre ou mourir ensemble (Sống chết cùng nhau), Bruxelles, 1969.
🥇
⑧ Christian de Duve – Nô ben Y Sinh năm 1974 (chia sẻ với
Albert Claude và George E. Palade)
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì các khám phá của họ liên
quan đến cấu trúc và chức năng của tế bào” (nguyên bản tiếng Anh: “for their
discoveries concerning the structural and functional organization of the cell”).
-
Christian
René, burgrave de Duve (2.10.1917 - 4.5.2013) là một nhà tế bào học và nhà hóa
sinh người Bỉ, đoạt Giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1974. Ông đã phát hiện và
nghiên cứu hai bào quan của tế bào: peroxisome (thể peroxi) và lysosome
(tiêu thể), 2 nghiên cứu này giúp ông đạt giải Nobel năm 1974. Ngoài ra ông còn
phát hiện và nghiên cứu các hiện tượng: tự thực bào, nhập bào, xuất bào - những
hoạt động tối quan trọng của tế bào.
Cuộc đời và sự nghiệp
De
Duve là con của Alphonse de Duve (1883-1961) và Madeleine Pungs (1884-1977) ở
Antwerpen, Bỉ. Ông sinh tại Thames Ditton, Surrey, Vương quốc Anh, khi gia đình
này chạy sang Anh trong thời Thế chiến thứ nhất. Gia đình ông trở lại Bỉ năm
1920. De Duve học ở trường Onze-Lieve-Vrouwe college ở Antwerp của dòng Tên, rồi
vào học ở Đại học Công giáo Louvain, ông muốn nghiên cứu kỹ về hoạt động nội tiết
nên đã gia nhập phòng thí nghiệm của Tiến sĩ Joseph P. Bouckaert.
Năm
1940, khi đang học năm cuối tại trường Y, Đức xâm lược Bỉ. Ông đi nghĩa vụ cho
quân đội Bỉ và phục vụ ở chiến trường miền Nam nước Pháp với vai trò là sĩ quan
quân y. Ở đây, ông bị quân Đức bắt và coi là "tù nhân chiến tranh".
May mắn thay, nhờ thông thạo tiếng Đức, ông lừa kẻ bắt giam và trốn về Bỉ (sau
này, ông miêu tả cuộc chạy trốn "buồn cười hơn là anh dũng"). Ông
ngay lập tức bắt tay vào học Y tiếp và có bằng Tiến sĩ Y khoa năm 1941 ở
Leuven.
Sau
khi tốt nghiệp, nghiên cứu chính của Duve về insulin và vai trò của nó trong
quá trình chuyển hóa glucose. Ông đã tiên phong phát hiện rằng một chế phẩm
insulin trên thị trường đã bị nhiễm bởi một hormon tụy khác, glucagon đối
kháng. Tuy nhiên, các nguồn cung cấp phòng thí nghiệm tại Leuven đang thiếu,
nên ông đã tham gia một chương trình để đạt được bằng trong hóa học tại Viện
Ung thư. Nghiên cứu insulin của ông được tổng kết trong một cuốn sách có tiêu đề
Glucose, Insuline và Diabète (Glucose, Insulin and Diabetes) xuất bản năm 1945,
đồng thời ở Brussels và Paris. Cuốn sách đã giúp ông có bằng Ph.D - học vị cao
nhất. Sau đó, ông lấy bằng ThS về hóa học vào năm 1946, và làm công việc tinh
chế penicillin. Để nâng cao kỹ năng hóa sinh của mình, ông đã được huấn luyện
trong phòng thí nghiệm của Hugo Theorell (người sau này đoạt giải Nobel Sinh lý
học và Y học năm 1955) tại Viện Y học Nobel ở Stockholm trong 18 tháng trong suốt
những năm 1946-1947. Năm 1947, ông nhận được hỗ trợ tài chính từ quỹ
Rockefeller và làm việc 6 tháng với Carl và Gerti Cori tại Đại học Washington ở
St. Louis (chồng và vợ là những người đoạt giải Nobel Sinh lý học và Y học năm
1947).
Nghiên cứu
Về
glucogon
Glucagon
đã được C. P. Kimball và John R. Murlin phát hiện từ những năm 1923 và được gọi
là "chất tăng đường huyết" ở dọc theo các chiết xuất tụy. Tầm quan trọng
sinh học thực sự của hoocmon không được biết đến và thậm chí còn không đặt tên
cho nó. Vào thời điểm Duve gia nhập phòng thí nghiệm Bouckaert tại trường đại học
Leuven để nghiên cứu về insulin, "chất tăng đường huyết" vẫn là một
bí ẩn. Insulin là thuốc hóc-môn thương mại đầu tiên do Eli Lilly và Công ty sản
xuất từ năm 1921, nhưng trong quá trình sản xuất đã bị tạp chất làm gây ra
tăng đường huyết nhẹ, trong khi đáng nhẽ đường huyết phải giảm.
Tháng
5 năm 1944, de Duve nhận ra rằng tạp chất insulin có thể được loại bỏ bằng cách
kết tinh. Ông đã chứng minh rằng insulin sản xuất của ELi Lilly đã bị nhiễm bởi
tạp chất, trong khi đó insulin của hãng Novo Đan Mạch thì không. Insulin của
Eli Lilly gây tăng đường huyết khi mới tiêm vào chuột, nhưng insulin Novo thì
không. Các thí nghiệm của ông đã được xuất bản vào năm 1947, sau đó Eli Lilly
đã cải tiến phương pháp sản xuất để thu insulin tinh khiết.
Lúc
đó ông đã gia nhập phòng thí nghiệm Carl và Gerti Cori tại Đại học Washington ở
St. Louis, nơi ông làm việc với một nhà nghiên cứu đồng nghiệp Earl Wilbur
Sutherland, Jr. (người sau này đã giành giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm
1971). Sutherland đã nghiên cứu chất tạp nhiễm insulin và đã đặt tên cho nó là
"yếu tố tăng đường huyết" -glycogenolytic (HG). Ông và Duve ngay lập
tức phát hiện ra rằng dù HG được tổng hợp bởi tuyến tụy nhưng đáng ngạc nhiên
là niêm mạc dạ dày và một số bộ phận khác của đường tiêu hóa cũng tổng hợp được.
Họ tiếp tục phát hiện ra rằng hoóc-môn này được tạo ra từ các đảo tụy bởi các tế
bào khác với các tế bào beta sản xuất insulin, có lẽ là các tế bào alpha. De
Duve đã nhận ra rằng yếu tố HG của Sutherland là glucagon, và hoocmon từ nay đã
có tên, mà ông đã giới thiệu "lại" vào năm 1951. Họ cho thấy glucagon
là hóc- môn chính ảnh hưởng đến sự phân hủy glycogen (glycogenolysis) trong
gan, khiến đường giải phóng vào máu. Giả thuyết ban đầu của Duve rằng glucagon
được tạo ra bởi các tế bào alpha trong tuyến tụy đã được chứng minh là đúng khi
hủy chọn lọc tế bào alpha bằng cobalt làm cho ngừng sản xuất glucagon ở chuột
lang. Glucagon đã được cô lập dưới dạng hoocmon tinh chế từ chim vào năm 1953.
De
Duve là người đầu tiên đưa ra giả thuyết rằng sản xuất insulin để giảm lượng đường
trong máu, kích thích sự hấp thu glucose trong gan, và có sự tiết insulin và
glucagon cân bằng để duy trì mức đường trong máu bình thường. Ý tưởng của ông
đã bị chế nhạo vào thời điểm đó. Nhưng khám phá lại glucagon đã khẳng định ý tưởng
của ông. Năm 1953 ông thí nghiệm chứng minh rằng glucagon đã ảnh hưởng đến sản
xuất và do đó là cả hấp thu glucose.
Nghiên cứu tế bào
Ông
chuyên nghiên cứu hóa sinh phân bào và sinh học tế bào. Ông đã phát hiện ra thể
peroxi, tiêu thể, các bào quan tế bào.
Tìm
ra lysosome
De
Duve tiếp tục nghiên cứu về cơ chế hoạt động insulin trong tế bào gan. Ông và
nhóm của ông tập trung vào enzyme glucose 6-phosphatase, enzyme chính trong quá
trình phân giải đường (glycolysis) và tế bào đích của insulin. Họ phát hiện ra
rằng nó là enzym chính trong việc điều chỉnh lượng đường trong máu. Tuy nhiên,
họ không thể tinh sạch và cô lập các enzyme từ các chiết xuất tế bào ngay cả
sau khi thử nghiệm lặp đi lặp lại.
Do
đó, họ đã thử một quy trình phân loại tế bào cầu kì hơn, nhờ đó họ có thể tìm
ra hoạt tính của enzyme. Đây là thời khắc của khám phá. Để ước tính hoạt động của
enzyme chính xác, họ sử dụng một enzyme acid phosphatase tiêu chuẩn, và thấy rằng
hoạt tính này khá thấp (chỉ 10% giá trị dự kiến). Một ngày, đo được hoạt tính của
các phân đoạn tế bào đã được làm sạch đã được làm lạnh trong 5 ngày. Họ ngạc
nhiên rằng hoạt động của enzyme đã tăng trở lại với mẫu tươi. Họ nhận được những
kết quả tương tự cho dù họ lặp lại thí nghiệm nhiều lần. Điều này đã dẫn đến một
giả thuyết rằng một màng ngăn cản sự tiếp cận của enzyme với cơ chất của nó,
nên enzyme chỉ có thể khuếch tán sau vài ngày. Họ mô tả rào cản màng như là một
"cấu trúc túi bao quanh bởi một màng và có chứa axit phosphatase". Rõ
ràng là enzyme từ các phân đoạn tế bào chắc chắn được đựng trong một cấu trúc
màng, chắc chắn là một bào quan, và năm 1955 de Duve đặt tên cho chúng là
"lysosomes". Cùng năm đó, Alex B. Novikoff từ Đại học Vermont
đã thăm phòng thí nghiệm của Duve và đã thành công trong việc tạo ra bằng chứng
xác đáng đầu tiên bằng cách sử dụng kính hiển vi điện tử. Sử dụng một phương
pháp nhuộm cho phosphatase axit, de Duve và Novikoff tiếp tục khẳng định vị trí
của các enzyme thủy phân (acid hydrolases) của lysosome.
Tìm
ra peroxisome
Sau
khi xác định lysosome, nhóm của Duve đã gặp rắc rối do sự tồn tại của một
enzyme urê oxidase khác trong tế bào gan của chuột. Ông tin rằng nó không thuộc
về lysosome bởi vì nó không phải là một enzim thủy phân trong môi trường acid,
điển hình của enzyme lysosome, nhưng vẫn có phân bố tương tự như acid
phosphatase. Năm 1960, ông phát hiện thêm rằng các enzyme khác như catalase và
oxidase D-amino acid cũng được phân bố tương tự trong phân đoạn tế bào, và
chúng được cho là các enzym ty thể. de Duve phát hiện ra rằng ba enzyme này có
cùng tính chất hóa học và tương tự như các peroxide khác - tạo ra oxidaza. Ông
gợi ý rằng các enzyme này thuộc cùng một cơ quan tế bào, nhưng khác với các bào
quan đã biết trước đây. Nhưng phải mất vài năm trước khi ông công khai giả thuyết
của mình, vì những bằng chứng mạnh mẽ vẫn còn thiếu. Năm 1955, nhóm nghiên cứu
của ông đã chứng minh các phân đoạn tế bào tương tự có cùng tính chất sinh hóa
từ Tetrahymena pyriformis - do đó, người ta chỉ ra rằng các hạt là bào
quan tế bào chưa được mô tả không liên quan đến ti thể. Ông đã trình bày phát
hiện của mình tại một cuộc họp của Hiệp hội Sinh học Tế bào Hoa Kỳ năm 1955 và
được chính thức công bố năm 1966, trong đó ông tạo ra tên peroxisome cho các cơ
quan khi họ tham gia vào các phản ứng peroxidase (phân giải peroxide hydro).
Vào năm 1968, ông đã đạt được bước tiến dài đầu tiên về peroxisome, xác nhận rằng
oxidase l-α hydroxyacid, oxidaza d-amino acid và catalase là tất cả các enzyme
độc nhất của peroxisome.
De
Duve và nhóm nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng peroxisome đóng vai trò trao đổi
chất quan trọng, bao gồm oxy hóa β của axit béo chuỗi dài bởi một con đường
khác với các ty thể, và rằng chúng là thành viên của một họ lớn có liên quan đến
tiến hoá có trong các tế bào đa dạng bao gồm thực vật và động vật đơn bào, nơi
chúng thực hiện các chức năng riêng biệt và được đặt tên cụ thể, ví dụ như
glyoxysomes và glycosome.
Nguồn
gốc tế bào
Tác
phẩm De Duve đã góp phần vào sự đồng thuận đang nổi lên rằng lý thuyết nội cộng
sinh là chính xác; ý tưởng đề xuất rằng tế bào quan của tế bào nhân thực có nguồn
gốc từ các tế bào prokaryote (nhân sơ), đang sống trong tế bào eukaryote và là
những thể nội cộng sinh. Theo phiên bản của ông, tế bào eukaryote với cấu trúc
và tính chất của chúng, bao gồm khả năng nắm bắt thực phẩm bằng nhập bào và
tiêu hóa nội bào, đã được phát triển trước tiên. Các tế bào prokaryote sau đó
được kết hợp để tạo thành các bào quan.
De
Duve đề xuất rằng peroxisome có thể là những thể nội cộng sinh đầu tiên, cho
phép các tế bào chịu đựng được lượng oxy phân tử tự do ngày càng tăng trong khí
quyển của Trái Đất. Vì peroxisome không có DNA của riêng mình, đề xuất này có
ít bằng chứng hơn các tuyên bố tương tự về ty thể và lạp lục. Những năm cuối của
ông chủ yếu dành cho nguồn gốc của các nghiên cứu về cuộc sống, mà ông thừa nhận
như một lĩnh vực suy đoán.
***
Trong
số các đề tài khác, De Duve nghiên cứu việc phân bố các enzym trong các tế bào
gan chuột. Việc làm của De Duve về phân đoạn tế bào đã đem đến sự hiểu biết tường
tận về chức năng của các cấu trúc tế bào.
Năm
1960, De Duve được thưởng giải Francqui [giải thưởng Khoa học cao quý của Bỉ
dành cho các nhà khoa học trẻ (dưới 50 tuổi) với số tiền thưởng trị giá 150.000
euro] về Sinh học và Y học. Năm 1974, ông đoạt giải Nobel Sinh lý và Y khoa
chung với Albert Claude và George E. Palade, cho việc mô tả cấu trúc và chức
năng của các bào quan (lysosome và peroxisome) trong tế bào sinh học.
Công
trình của ông đã đóng góp vào sự đồng thuận cho rằng thuyết nội cộng sinh là
đúng; thuyết này cho rằng các ti thể, các lục lạp và có lẽ cả các bào quan khác
của các tế bào sinh vật nhân chuẩn có nguồn gốc như các sinh vật nội cộng sinh,
đến sống trong các tế bào sinh vật nhân sơ.
De
Duve cho rằng các thể peroxi có thể là những sinh vật nội cộng sinh đầu tiên,
đã cho phép các tế bào chịu đựng được các lượng oxy không phân tử gia tăng
trong khí quyển Trái Đất. Vì các thể peroxi không có DNA riêng, nên ý tưởng này
còn ít bằng chứng hơn là lập luận tương tự về ti thể và các lục lạp.
Ông
được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm giáo hoàng về Khoa học [Viện Hàn lâm Giáo
hoàng về Khoa học viết tắt theo chữ Latin là PAS là viện hàn lâm khoa học của
Tòa Thánh Vatican, được giáo hoàng Piô XI thành lập năm 1936. Viện được đặt dưới
sự bảo trợ của giáo hoàng.] năm 1970, hội viên nước ngoài của Hội Hoàng gia
Luân Đôn năm 1988.
Hoạt động nhân quyền
Là
người theo chủ nghĩa nhân bản, ông đã cùng các người đoạt giải Nobel khác ký
tên vào một bản kêu gọi Ủy ban quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc cử một phái đoàn
tới xem xét tình trạng của Gendhun Choekyi Nyima - một bé trai người Tây Tạng
được Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 Tenzin Gyatso công nhận là Ban-thiền Lạt-ma thứ 11 -
bị chính quyền Trung quốc quản thúc tại gia từ năm 1995.
Đời tư
Ông
kết hôn với Janine Herman năm 1943. Họ có bốn người con: (Thierry (1944), Anne
(1946), Francoise (1951) et Alain (1953)). Ông qua đời ngày 4.5.2013 tại nhà
riêng ở Nethen, Bỉ, do bị ung thư và rối loạn tim.
Tác phẩm
· A Guided Tour of the Living Cell (1984) ISBN 0-7167-5002-3
· Blueprint For a Cell: The Nature and Origin of
Life (1991) ISBN 0-89278-410-5
· Vital Dust: Life As a Cosmic Imperative (1996) ISBN 0-465-09045-1
· Life Evolving: Molecules, Mind, and Meaning (2002) ISBN 0-19-515605-6
· Singularities: Landmarks on the Pathways of
Life (2005) ISBN 978-0-521-84195-5
· La cellule vivante, une visite guidée, Pour la Science, 1987 ISBN 978-2902918522
· Construire une cellule, Dunod, 1990 ISBN 978-2729601812
· Poussière de vie, Fayard, 1995 ISBN 978-2213595603
· Oberflächen-Lexikon, Drw Verlag, 2003 ISBN 978-3871813382
· À l’écoute du vivant, éditions Odile Jacob, Paris, 2002 ISBN
2738111661.
· Singularités: Jalons sur les chemins de la vie, éditions Odile Jacob, 2005 ISBN
978-2738116215
· Science et quête de sens, collectif, Presses de la Renaissance, 2005
ISBN 978-2750901257
· Génétique du péché originel. Le poids du passé
sur l’avenir de la vie,
éditions Odile Jacob, 2009 ISBN 978-2738122186
🥇
⑨ Albert Claude – Nô ben Y Sinh năm 1974 (chia sẻ với
Christian de Duve và George E. Palade)

Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì các khám phá của họ liên
quan đến cấu trúc và chức năng của tế bào” (nguyên bản tiếng Anh: “for their
discoveries concerning the structural and functional organization of the cell”).
-
Cuộc đời và Sự nghiệp
Ông
học Y khoa ở trường Đại học Liège (Bỉ). Trong mùa đông 1928-1929 ông làm việc ở
Berlin, lúc đầu tại "Institut für Krebsforschung" (Viện nghiên
cứu Ung thư), sau đó ở Kaiser Wilhelm Institute for Biology (Viện Sinh học
hoàng đế Wilhelm) ở Dahlem trong phòng thí nghiệm cấy mô của giáo sư Albert
Fischer.
Trong
mùa hè năm 1929 ông gia nhập Viện Rockefeller (Hoa Kỳ). Khi làm việc ở Đại học
Rockefeller trong thập niên 1930 và 1940, ông đã sử dụng kính hiển vi điện tử để
nghiên cứu các tế bào nhằm hiểu biết cách khoa học về cấu trúc và chức năng của
chúng. Ông đã phát hiện ra lục lạp trong tế bào.
Năm
1930, Claude khám phá ra quá trình phân đoạn tế bào (cell fractionation),
một khám phá tiên phong trong thời đó. Quá trình này gồm có việc nghiền các tế
bào để phá vỡ màng và làm cho nội chất của tế bào thoát ra. Sau đó Claude lọc
các màng tế bào và đặt tế bào chất còn lại vào trong một máy ly tâm để tách
chúng ra theo khối lượng. Ông chia nội dung được ly tâm thành các phần nhỏ, mỗi
phần thuộc khối lượng đặc trưng, và khám phá ra là các phần nhỏ đặc biệt đảm
trách các chức năng đặc biệt của tế bào.
Năm
1938, lần đầu tiên ông xác định và tinh chế thành phần của virus Rous sarcoma,
tác nhân gây ung thư biểu mô, là "ribose nucleoprotein" (sau này được
đặt tên là RNA). Ông là người đầu tiên sử dụng kính hiển vi điện tử để nghiên cứu
tế bào sinh học. Trước đây, kính hiển vi điện tử chỉ được sử dụng trong nghiên
cứu vật lý. Nghiên cứu bằng kính hiển vi điện tử đầu tiên của ông là về cấu
trúc của ti thể vào năm 1945. Ông được nhập quốc tịch Mỹ vào năm 1941. Ông phát
hiện ra rằng ty thể là "ngôi nhà năng lượng" của tất cả các tế bào.
Ông cũng phát hiện ra các hạt tế bào chất chứa đầy RNA và đặt tên cho chúng là
"microsome", sau này được đổi tên thành ribosome, bộ
máy tổng hợp protein của tế bào. Cùng với cộng sự của mình, Keith Porter, ông
đã tìm ra một cấu trúc " lace-work"
mà cuối cùng đã được chứng minh là đặc điểm cấu trúc chính của bên trong tất cả
các tế bào nhân thực. Đây là sự phát hiện ra lưới nội chất (tiếng Latinh có
nghĩa là "lưới cá").
Năm
1949, ông trở thành giám đốc Viện Jules Bordet (Trung tâm nghiên cứu khối u) của
Đại học tự do Bruxelles (Université libre de Bruxelles, viết tắt là ULB)
ở Bruxelles cho tới năm 1970.
Năm
1970, ông được Đại học Columbia thưởng Giải Louisa Gross Horwitz [Giải
Louisa Gross Horwitz là một giải thưởng khoa học được Đại học Columbia trao
hàng năm cho một người hoặc một nhóm người nghiên cứu có đóng góp quan trọng
vào công cuộc nghiên cứu cơ bản trong các lãnh vực Sinh học và Hóa sinh] cùng
với George Palade và Keith Porter.
Về
công trình khám phá liên quan tới việc tổ chức theo cấu trúc và chức năng của tế
bào, Claude đoạt Giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1974 cùng với George Palade
và Christian de Duve.
🥇
⑩ Ilya Prigogine – Nô ben Hóa học năm 1977
Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì những đóng góp của ông cho
nhiệt động lực học không cân bằng, đặc biệt là lý thuyết về cấu trúc tiêu tán”
(nguyên bản tiếng Anh: “for his contributions to non-equilibrium
thermodynamics, particularly the theory of dissipative structures”).
-
Ilya
Romanovich Prigogine (1917-2003) là nhà hóa học người Bỉ gốc Nga và có sự nghiệp
phát triển tại Mỹ. Ông đoạt Giải Nobel Hóa học năm 1977 nhờ có những đóng góp về
nhiệt động học các hệ không cân bằng và lý thuyết của cấu trúc. Tác phẩm của
ông về lĩnh vực này đã làm tiền đề cho sự nghi ngờ lý thuyết cái chết nóng. Ông
còn là đồng tác giả của cuốn sách “Trật tự bên ngoài sự hỗn loạn” (người còn lại
là Isabelle Stengers).
Nghiên cứu
Lý
thuyết cấu trúc phân tán
Lý
thuyết cấu trúc phân tán đã dẫn đến nghiên cứu tiên phong trong các hệ thống tự
tổ chức, cũng như các nghiên cứu triết học về sự hình thành sự phức tạp trên
các thực thể sinh vật và tìm kiếm vai trò sáng tạo và không thể đảo ngược của
thời gian trong khoa học tự nhiên.
Cùng
với giáo sư Robert Herman, ông cũng đã phát triển cơ sở của mô hình hai chất lỏng,
một mô hình lưu lượng trong kỹ thuật giao thông cho các mạng đô thị, tương tự
như mô hình hai chất lỏng trong cơ học thống kê cổ điển.
Khái
niệm chính thức của Prigogine về tự tổ chức cũng được sử dụng như một "cầu
nối bổ sung" giữa Lý thuyết Hệ thống Tổng quát và nhiệt động lực học, kết
hợp dung hòa giữa “tính mờ” của một số khái niệm lý thuyết hệ thống quan trọng
với sự nghiêm ngặt của khoa học.
Công
trình về các vấn đề chưa được giải quyết trong vật lý
Trong
những năm cuối đời, công trình của ông tập trung vào vai trò cơ bản của thuyết
bất định trong các hệ thống phi tuyến ở cả cấp độ cổ điển và lượng tử.
Prigogine và các đồng nghiệp đã đề xuất một phần mở rộng không gian Liouville của
cơ học lượng tử. Không gian Liouville là không gian vectơ được hình thành bởi tập
hợp các toán tử tuyến tính (tự liền kề), được trang bị tích bên trong, hoạt động
trên không gian Hilbert. Tồn tại một ánh xạ của mỗi toán tử tuyến tính vào
không gian Liouville, nhưng không phải mọi toán tử tự liền kề của không gian
Liouville đều có một đối số trong không gian Hilbert, và theo nghĩa này, không
gian Liouville có cấu trúc phong phú hơn không gian Hilbert. Đề xuất mở rộng
không gian Liouville của Prigogine và các đồng nghiệp nhằm giải quyết vấn đề thời
gian của nhiệt động lực học và vấn đề đo lường của cơ học lượng tử.
Prigogine
là đồng tác giả của một số cuốn sách với Isabelle Stengers, bao gồm The End
of Certainty và La Nouvelle Alliance (Order out of Chaos).
The
End of Certainty
Trong
cuốn sách năm 1996 của ông, La Fin des certitude, được viết với sự cộng
tác của Isabelle Stengers và được xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 1997 với tên
gọi Sự kết thúc của sự chắc chắn: Thời gian, Sự hỗn loạn và Quy luật Tự nhiên Mới,
Prigogine cho rằng thuyết xác định không còn là một niềm tin khoa học khả thi:
"Chúng ta càng biết nhiều về vũ trụ, thì càng khó tin vào thuyết xác định."
Đây là một sự khác biệt lớn so với cách tiếp cận của Newton, Einstein và
Schrödinger, tất cả đều diễn đạt lý thuyết của họ dưới dạng các phương trình
xác định. Theo Prigogine, thuyết xác định mất đi sức mạnh giải thích khi đối mặt
với quá trình không thể đảo ngược và quá trình bất ổn định.
Prigogine
lần theo dấu vết tranh biện về thuyết xác định trở lại với Darwin, người đã nỗ
lực giải thích sự biến thiên của từng cá thể theo các quần thể đang tiến hóa đã
truyền cảm hứng cho Ludwig Boltzmann để giải thích hành vi của chất khí dưới dạng
các quần thể hạt thay vì các hạt riêng lẻ. Điều này dẫn đến lĩnh vực cơ học thống
kê và nhận ra rằng các chất khí trải qua các quá trình không thể đảo ngược.
Trong vật lý xác định, tất cả các quá trình đều có thể đảo ngược thời gian,
nghĩa là chúng có thể tiến lùi cũng như tiến theo trục thời gian. Như Prigogine
giải thích, thuyết xác định về cơ bản là sự phủ nhận mũi tên thời gian. Không
còn mũi tên thời gian, không còn khoảnh khắc đặc quyền được gọi là "hiện tại",
theo sau một "quá khứ" đã xác định và đi trước một "tương
lai" không xác định. Tất cả thời gian chỉ đơn giản là cho trước, với tương
lai được xác định hoặc không được xác định như quá khứ. Với quá trình không thể
đảo ngược, mũi tên thời gian lại được đưa vào vật lý học. Prigogine ghi nhận
nhiều ví dụ về quá trình không thể đảo ngược, bao gồm khuếch tán, phân rã phóng
xạ, bức xạ mặt trời, thời tiết và sự xuất hiện và tiến hóa của sự sống. Giống
như các hệ thống thời tiết, các sinh vật là những hệ thống không ổn định tồn tại
ở xa trạng thái cân bằng nhiệt động lực học. Tính không ổn định chống lại sự giải
thích xác định tiêu chuẩn. Thay vào đó, do sự nhạy cảm với các điều kiện ban đầu,
các hệ thống không ổn định chỉ có thể được giải thích về mặt thống kê, nghĩa là
giải thích theo xác suất.
Prigogine
khẳng định rằng vật lý Newton hiện đã được "mở rộng" ba lần: đầu tiên với sự ra đời của không-thời gian (spacetime)
trong thuyết tương đối rộng, sau đó với việc sử dụng hàm sóng trong cơ học lượng
tử, và cuối cùng là sự công nhận thuyết không xác định của các hệ thống không ổn
định (lý thuyết hỗn loạn).
Ấn phẩm
· Prigogine, I.; Defay, R. (1954). Chemical
Thermodynamics. (Nhiệt động lực học hóa học.) London: Longmans Green
and Co.
· Prigogine, I. (1955). Introduction to
Thermodynamics of Irreversible Processes. (Giới thiệu về Nhiệt động lực
học của các quá trình không thể đảo ngược.) Springfield, Illinois: Charles
C. Thomas Publisher.
· Prigogine, Ilya (1957). The Molecular Theory
of Solutions. (Lý thuyết phân tử của các giải pháp.) Amsterdam:
North Holland Publishing Company.
· Prigogine, Ilya (1961). Introduction to
Thermodynamics of Irreversible Processes (Second ed.). (Giới thiệu về
Nhiệt động lực học của các quá trình không thể đảo ngược. Xuất bản lần 2)
New York: Interscience. OCLC 219682909.
· Defay, R. & Prigogine, I. (1966). Surface
tension and adsorption. (Sức căng bề mặt và sự hấp phụ.) Longmans,
Green & Co. LTD.
· Glansdorff, Paul; Prigogine, I. (1971). Thermodynamics
Theory of Structure, Stability and Fluctuations. (Lý thuyết nhiệt động lực
học về cấu trúc, ổn định và dao động.) London: Wiley-Interscience.
· Prigogine, Ilya; Herman, R. (1971). Kinetic
Theory of Vehicular Traffic. (Lý thuyết động học của giao thông phương
tiện.) New York: American Elsevier. ISBN 0-444-00082-8.
· Prigogine, Ilya; Nicolis, G. (1977). Self-Organization
in Non-Equilibrium Systems. (Tự tổ chức trong các hệ thống không cân bằng.)
Wiley. ISBN 0-471-02401-5.
· Prigogine, Ilya (1980). From Being To
Becoming. (Từ hiện hữu đến tác thành.) Freeman. ISBN 0-7167-1107-9.
· Prigogine, Ilya; Stengers, Isabelle (1984). Order
out of Chaos: Man's new dialogue with nature. (Trật tự từ Hỗn loạn: Cuộc
đối thoại mới của con người với thiên nhiên.) Flamingo. ISBN 0-00-654115-1.
· Prigogine, I. The Behavior of Matter under
Nonequilibrium Conditions: Fundamental Aspects and Applications in
Energy-oriented Problems, (Hành vi của Vật chất trong Điều kiện Không
cân bằng: Các khía cạnh và ứng dụng cơ bản trong các vấn đề theo định hướng
năng lượng,) United States Department of Energy, Progress Reports:
o
September
1984 – November 1987, (7 October 1987). Department of Physics at the University
of Texas-Austin
o
15 April
1988 – 14 April 1989, (January 1989), Center for Studies in Statistical
Mathematics at the University of Texas-Austin.
o
15 April
1990 – 14 April 1991, (December 1990), Center for Studies in Statistical
Mechanics and Complex Systems at the University of Texas-Austin.
· Nicolis, G.; Prigogine, I. (1989). Exploring
complexity: An introduction. (Khám phá sự phức tạp: Nhập môn.) New
York, NY: W. H. Freeman. ISBN 0-7167-1859-6.
· Prigogine, I. "Time, Dynamics and
Chaos: Integrating Poincare's 'Non-Integrable Systems'" ("Thời
gian, Động lực học và Sự hỗn loạn: Tích hợp 'Các Hệ thống Không thể Tích hợp'"
của Poincare), Center for Studies in Statistical Mechanics and Complex
Systems at the University of Texas-Austin, United States Department of
Energy-Office of Energy Research, Commission of the European Communities
(October 1990).
· Prigogine, Ilya (1993). Chaotic Dynamics and
Transport in Fluids and Plasmas: Research Trends in Physics Series. (Động
lực học và di chuyển hỗn loạn trong chất lỏng và plasmas: Xu hướng nghiên cứu
trong loạt bài vật lý.) New York: American Institute of Physics. ISBN
0-88318-923-2.
· Prigogine, Ilya; Stengers, Isabelle (1997). The
End of Certainty. The Free Press. ISBN 978-0-684-83705-5.
· Kondepudi, Dilip; Prigogine, Ilya (1998). Modern
Thermodynamics: From Heat Engines to Dissipative Structures. (Nhiệt động
lực học hiện đại: Từ động cơ nhiệt đến cấu trúc tiêu tán.) Wiley. ISBN
978-0-471-97394-2.
· Prigogine, Ilya (2002). Advances in Chemical
Physics. (Những tiến bộ trong Vật lý Hóa học.) New York: Wiley
InterScience. ISBN 978-0-471-26431-6. Archived from the original on 17 December
2012. Retrieved 29 July 2008.
· Editor (with Stuart A. Rice) of the Advances in
Chemical Physics book series
(Chủ biên (cùng với Stuart A. Rice) của loạt sách Những tiến bộ trong Vật lý
Hóa học) published by John Wiley & Sons (presently over 140 volumes)
· Prigogine I, (papers and interviews) Is
future given? ((bài báo và phỏng vấn) Tương lai có được ban tặng không?),
World Scientific, 2003. ISBN 9789812385086 (145p.)
🥇
⑪ François Englert – Nô ben Vật lý năm 2013 (chia sẻ với Peter Higgs)

Lý
do được giải thưởng (Prize motivation): “vì khám phá lý thuyết về một cơ
chế góp phần vào sự hiểu biết của chúng ta về nguồn gốc khối lượng của các hạt
hạ nguyên tử, và gần đây đã được xác nhận thông qua việc khám phá ra hạt cơ bản
được dự đoán từ trước, bằng các thí nghiệm ATLAS và CMS tại Máy Large Hadron
Collider của CERN” (nguyên bản tiếng Anh: “for the theoretical discovery of
a mechanism that contributes to our understanding of the origin of mass of
subatomic particles, and which recently was confirmed through the discovery of
the predicted fundamental particle, by the ATLAS and CMS experiments at CERN's
Large Hadron Collider”).
Đời sống
François
Englert sinh ra ở Etterbeek, Bỉ. Gia đình ông có nguồn gốc Do Thái và trong thời
gian Đức chiếm đóng Bỉ trong Thế chiến thứ hai, Englert đã che giấu nguồn gốc
Do Thái của mình và ẩn náu tại các trại trẻ mồ côi khác nhau. Đầu tiên ông được
đào tạo như một kỹ sư cơ điện và sau đó nhận bằng Tiến sĩ về vật lý năm 1959 từ
Đại học Tự do Bruc-xen. Sau hai năm học tại Đại học Cornell ở Hoa Kỳ, Englert
trở lại Đại học Tự do Bruc-xen, nơi ông tiếp tục công việc của mình. François
Englert đã kết hôn với năm người con.
Công trình
Theo
vật lý hiện đại, vật chất bao gồm một tập hợp các hạt đóng vai trò như các khối
tạo thành. Giữa các hạt này là các lực hút trung gian bởi một tập hợp các hạt
khác. Đặc tính cơ bản của phần lớn các hạt là chúng có khối lượng. Một cách
hoàn toàn độc lập với nhau, vào năm 1964, cả Peter Higgs và nhóm của François
Englert và Robert Brout đã đề xuất một lý thuyết về sự tồn tại của một hạt giải
thích tại sao các hạt khác có khối lượng. Năm 2012, hai thí nghiệm được tiến
hành tại phòng thí nghiệm CERN đã xác nhận sự tồn tại của hạt Higgs.
Giải thưởng chính
· 1978: Giải Nhất trong Cuộc thi Trọng lực Quốc
tế (với R. Brout và E. Gunzig), được trao bởi Quỹ Nghiên cứu Trọng lực cho bài
luận "Vũ trụ Nhân quả".
· 1982: Giải thưởng Francqui năm 1982, do Quỹ
Francqui trao tặng bốn năm một lần trong các ngành khoa học chính xác "Vì
đóng góp của ông vào sự hiểu biết lý thuyết về sự phá vỡ đối xứng tự phát trong
vật lý của các tương tác cơ bản, nơi cùng với Robert Brout, ông là người đầu
tiên chỉ ra rằng việc phá vỡ tính đối xứng tức thời mang lại khối lượng cho các
hạt đo, vì những đóng góp sâu rộng của ông trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn
như vật lý trạng thái rắn, cơ học thống kê, lý thuyết trường lượng tử, thuyết
tương đối rộng và vũ trụ học, vì tính nguyên bản và tầm quan trọng cơ bản của
những thành tựu này".
· 1997: Giải thưởng Vật lý Hạt và Năng lượng
Cao năm 1997 (cùng với R. Brout và P.W. Higgs), được trao bởi Hiệp hội Vật lý
Châu Âu "Lần đầu tiên công thức một lý thuyết tự nhất quán về các boson
vectơ tích điện khối lượng lớn đã trở thành nền tảng của lý thuyết hạt cơ bản lực
điện tử yếu".
·
2004: Giải
thưởng Wolf về Vật lý năm 2004 (cùng với R. Brout và P.W. Higgs), do Wolf
Foundation trao tặng "Vì công trình tiên phong đã dẫn đến cái nhìn sâu sắc
về việc tạo ra khối lượng, bất cứ khi nào một phép đối xứng đo cục bộ được nhận
ra một cách bất đối xứng trong thế giới của các hạt hạ nguyên tử".
· 2010: Giải thưởng J. J. Sakurai dành cho Vật
lý Hạt lý thuyết (cùng với Guralnik, Hagen, Kibble, Higgs và Brout) do Hiệp hội
Vật lý Hoa Kỳ trao tặng "Vì đã làm sáng tỏ các tính chất của sự phá vỡ đối
xứng tự phát trong lý thuyết thước đo tương đối tính bốn chiều và cơ chế của thế
hệ nhất quán của khối lượng boson vectơ".
· 2013: Theo Nghị định của Hoàng gia ngày 8
tháng 7 năm 2013 François Englert đã được Vua Albert II của Bỉ phong tước vị
nam tước.
· 2013: Giải
Nobel Vật lý năm 2013, chia sẻ với Peter Higgs "vì khám phá lý thuyết về một
cơ chế góp phần vào sự hiểu biết của chúng ta về nguồn gốc khối lượng của các hạt
hạ nguyên tử, và gần đây đã được xác nhận thông qua việc phát hiện ra hạt cơ bản
được dự đoán, bởi ATLAS và Phòng thí nghiệm CMS tại Máy va chạm Hadron Lớn của
CERN".
· 2013: Giải thưởng Prince of Asturias 2013 về
Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật (cùng với Peter Higgs và CERN) "cho dự
đoán lý thuyết và phát hiện thực nghiệm của boson Higgs".
🥇
➖➖➖