2022-09-17
Dế mèn
phiêu lưu ký (3, 4)
Tô
Hoài
~
Chương 3: Thoát khỏi cái lồng tù - Giữa
đường dẫu thấy bất bằng mà tha - Mẹ kính mến của con ơi.
Chương 4: Ông anh Cả và ông anh Hai của
Mèn - Tri âm không đợi mà gặp
~
Chương 3: Thoát khỏi cái lồng tù - Giữa đường dẫu thấy
bất bằng mà tha - Mẹ kính mến của con ơi.
Tôi
bồi hồi muốn đi ngay lúc ấy. Nằm trong lồng, tôi trông thấy cửa lồng chưa cài.
Thế là tôi bò ra luôn.
Nhưng
cũng ngay lúc ấy, Bé và Nhớn từ đâu chạy tới, kêu lên:
-
Á á!
Rồi
Bé nắm gáy tôi ném vào lồng. Không bao giờ tôi cảm thấy nhục nhã hơn! Từ lúc ấy,
tôi bị canh giữ khác hẳn mọi khi. Buổi tối, vẫn được lên giàn mồng tơi nhưng phải
nằm trong lồng, không ai cho nghênh ngáo ngoài trời như mọi khi - dù là nghênh
ngáo với sợi chỉ buộc vào bẹn.
Tôi
càng thấm thía nung nấu ý nghĩ trốn đi. Tôi chờ một dịp khác.
Trong
những ngày chờ đợi, buồn ơi là buồn. Tôi buồn lắm, buồn tưởng chết đi được. Phần
thì ăn năn tội lỗi. Phần thì ngao ngán đời mình. Cuộc đời đã nửa thời xuân mà
nay chưa làm nổi điều gì gọi là có ích. Chỉ những nay lầm mai lỗi. Tôi ủ rũ, chẳng
buồn ăn, chẳng buồn đi, đứng cũng không buồn đứng. Suốt ngày nằm phục vị, thở
dài.
Thấy
tôi đâm ra lù dù lả thế, bọn trẻ chỉ biết ra công săn sóc. Nhưng họ càng săn
sóc thì lòng tôi càng chán ngắt, càng cảm thấy họ nuôi béo thân mình để làm
chuyện mua vui. Tôi ăn đuểnh đoảng, nhấm nháp. Dần dần, bọn trẻ cũng chán tôi.
Trò
trẻ chơi cái gì cũng thường hay chóng chán. Vì không hiểu được cái ốm và đầu óc
nghĩ ngợi của tôi bấy giờ, chúng cho tôi là bệnh gì đấy, có lẽ bị đau dạ dày. Rồi,
cứ bỏ vào lồng toàn thứ cỏ thượng hạng mà chỉ thấy tôi đủng đỉnh, nhếch răng
thì sự săn sóc cũng nhạt dần. Họ lại xách ống, dao và que nứa, hì hục đúc dế, mải
tìm cuộc chơi khác.
Thế
rồi, cứ ốm nghĩ mãi. Tôi đâm ra ốm đau thật. Tôi cảm thấy khặc khừ rồi tôi ngạt
mũi, nhức đầu luôn. Mấy lần bị mang đánh nhau, tôi chỉ đứng yên. Anh dế bên lồng
kia sang cũng không dám đánh tôi, thế là nhạt trò. Nghĩa là tôi không còn hoạt
bát, khoẻ khoắn như trước nữa. Mấy ngày không nhớ ca hát, buổi sáng buổi chiều
không gáy chào hoàng hôn và bình minh.
Một
hôm, Nhớn thấy tôi nằm lử đử, bèn bảo Bé:
-
Không phải nó đau dạ dày đâu thằng dế này đánh nhau nhiều quá đến nỗi kiệt sức
nên bây giờ mắc bệnh ho lao. Chúng mình chả nên nuôi một thằng dế ốm. Thả nó
đi, Bé ạ.
Bé
gàn:
-
Thế thì phải đem ra ao cho vịt bầu ăn.
Tôi
lạnh đến tận hai chân răng:
-
Không, thế cũng phí. Ta sẽ đem nó làm cúp đá bóng. Cúp đá bóng là một dế cụ. Thế
mà oai!
Rồi
hai đứa kéo nhau đi rủ tất cả trẻ trong xóm hợp bọn lại đá bóng ăn giải thưởng.
Cái " cúp" ấy đúng là dế tôi vậy. Thân tôi lại thành cái giải thưởng,
nghĩ cực quá.
Không
đầy một lúc đã có một lũ đến mười, mười lăm đứa kéo đến. Chúng rủ nhau ra ngoài
bãi, đem theo tôi ra. Ðám trẻ chia làm hai phe. Một đứa đã nhặt được ở vườn nào
về một quả bưởi để làm bóng.
Tôi
được đặt trịnh trọng đứng trong cái nắp vỏ diêm mới, trên một hòn gạch. Nhớn
giao hẹn các bạn:
-
Bên nào được ba "gôn" trước thì ăn thưởng lão dế này. A
lê.........toe toe toe.....
Tôi
đứng thẳng, lấy vẻ mặt tươi tỉnh, vui như cũng đương xem đá bóng. Không ai nghi
ngờ gì cả. Cũng thật là bọn trẻ con thì mới sơ ý như thế. Cơ hội thoát ly có thể
sắp đến rồi. Ðôi bên tranh nhau đá quả bóng bưởi mỗi lúc một kịch liệt hơn. Ðám
này đá bóng cũng xoàng. Tôi nhận xét thế. Có cậu cứ giẫm vào bóng, ngã bổ chửng.
Có cậu biu vai chèn nhau rách toạc cả áo. Ấy vậy mà vẫn mải mê, hò hét vang góc
bãi.
Nhưng
tôi cũng vội nhận ra tôi đứng đây không phải để xem đá bóng, thế là trong khi bọn
trẻ đang xô đẩy kịch liệt trên bãi thì tôi len lén rời nắp bao diêm, bò khỏi bệ
gạch vỡ. Tôi lẻn ra đầu vườn, chui vào đám cỏ rậm, rồi chuồn thẳng đến tận bụi
dứa dại đằng xa. Xổ lồng một cái, khỏi ốm ngay, nhanh thế!
Chẳng
biết lúc tan cuộc bóng, thấy mất cái giải thưởng quí giá, bọn trẻ có cáu kỉnh
mà cãi nhau không.
Khi
đã được thảnh thơi đứng trong bụi dứa xanh mờ, tiếng hò reo của bọn trẻ nghe đã
xa lắm, không còn lo ngại gì nữa, tôi mới duỗi cánh vươn vai thở dài. Tôi gặm vội
tí cỏ cho đỡ đói. Mấy bữa nay, quả là tôi cũng vờ ốm thêm để đỡ phải đi chọi
nhau, cho nên nhịn ăn, có mệt mỏi đi thật. No rồi, tôi phủ phục xuống chụm
chân, đánh một giấc ngủ ngon.
Lúc
tỉnh dậy, xung quanh và đằng xa, chỉ có cái im lặng chập chờn buổi trưa. Lũ trẻ
chắc đã về trong xóm. Nghĩ xa, nghĩ gần trong bụng tôi phân vân. Nửa muốn một
phen đi chơi xa lại nửa muốn về thăm nhà. Dẫu sao, trong mấy ngày qua, tôi cũng
nảy ra một ý nghĩ rất đẹp là đã được thấy qua mặt đất này bao la, không phải chỉ
có cái bờ ruộng, cái đầm nước của quê mình. Có phải trong cảnh trói buộc lại
hay có những ao ước phóng khoáng chăng? Chỉ biết lũ trẻ kia giam giữ mình,
nhưng phong cảnh non nước thì bao giờ cũng chờ đón và thúc giục ta hãy vui chân
lên, hãy cố đi cho khắp thế gian. Ðời trai mà không biết bay nhảy, không biết
đó biết đây thì cuộc sống sẽ nhạt nhẽo lắm.
Sau
cùng, tôi quyết định trở lại nhà. Tôi nhớ từ ngày mình bị bắt, mình xa nhà đã
lâu, tôi chắc chắn ngày ấy có khi mẹ tôi lại thăm hang tôi, thấy giường màn tan
tành, hẳn người đã khóc không biết bao nhiêu nước mắt. Nghĩ thế thì tôi nhớ và
thương mẹ tôi lắm. Tôi là con út trong lứa sinh. Mẹ thương tôi, đã cho bao
nhiêu cỏ non, lúc đem tôi đến ở hang mới.
Tôi
trở về quê hương. Tôi cũng tính thêm rằng: sau khi về thăm mẹ, khi mẹ tôi nhìn
thấy mặt, mừng tôi còn sống, vẫn khoẻ, người an tâm rồi, bấy giờ tôi sẽ tính một
cuộc du lịch xa xôi.
Tôi
rẽ cỏ, tìm lối về...
Ðường
về xa lắc xa lơ...
Một
hôm, qua một vùng cỏ nước xanh dài, chợt nghe tiếng khóc tỉ tê. Tôi lắng tai,
đoán ra tiếng khóc quanh quẩn đâu đây. Vài bước nữa, tôi gặp chị Nhà Trò ngồi gục
đầu bên tảng đá cuội. Chị Nhà Trò bé nhỏ lại gầy gùa, yếu đuối quá, người bự những
phấn, như mới lột. Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh cô
nàng mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn. Hình như cánh yếu quá, chưa
quen mở, mà cho dù có khoẻ cũng chẳng bay được xa. Các chị Nhà Trò vốn họ bướm,
cả đời chỉ biết vởn vơ quanh quẩn trong bờ bụi mà thôi. Nhà Trò đương khóc.
Nghe
như có điều gì oan trái chi đây, tôi bèn hỏi:
-
Làm sao mà khóc đường khóc chợ thế kia em?
Chị
ngẩng đầu lên, nước mắt đầm đìa rồi cúi chào, lễ phép - các cô Nhà Trò bao giờ
cũng lịch sự và mềm mại.
-
Em chào anh, mời anh ngồi chơi.
Tôi
nói ngay:
-
Có gì mà ngồi! Làm sao khóc nào?
Thế
là chị ta bù lu bù loa:
-
Anh ơi! Anh ơi! Hu...hu...Anh cứu em... Hu...hu
-
Ðứa nào? Ðứa nào bắt nạt em?
-
Thưa anh, bọn Nhện. Anh cứu... Hu...hu...
Tôi
sốt ruột:
-
Nhện nào? Sao lại cứ khóc thế? Kể rõ đầu đuôi mới biết làm sao mà cứu được chứ!
Nhà
Trò kể:
-
Năm trước, phải khi trời làm đói kém, mẹ em phải vay lương ăn của Nhện. Sau đấy,
không may mẹ em mất đi, còn lại thui thủi có mình em. Mà em ốm yếu, kiếm bữa
cũng chẳng đủ, làm ăn chả ra thế nào, bao năm nghèo túng vẫn hoàn nghèo túng,
món nợ cũ chưa trả được. Nhện cứ nhất định bắt trả nợ. Mấy bận Nhện đã đánh em.
Hôm nay bọn Nhện chăng tơ ngang đường đe bắt em, vặt chân, vặn cánh ăn thịt em.
Tôi
xoè hai càng ra, bảo Nhà Trò:
-
Em đừng sợ. Hãy trở về cùng với tôi đây. Ðứa độc ác không thể cậy khoẻ ăn hiếp
kẻ yếu. Ðời này không phải như thế.
Tôi
dắt Nhà Trò đi.
Một
quãng, tới chỗ mai phục của bọn Nhện.
Bọn
nhện đã công phu chăng bên đường nọ sang bên kia, chằng chịt biết bao nhiêu tơ
nhện, trùng trùng điệp điệp, một chú Muỗi Mắt nhỏ nhất loài muỗi cũng không
chui lọt. Lại thêm, sừng sững giữa lối đi, một anh Nhện canh gác. Ý hễ thấy
bóng Nhà Trò là làm hiệu cho lũ Nhện nấp hai bên đường kéo ra.
Khi
tôi gần tới mạng lưới, nhìn vào các khe đá xung quanh đã thấy lủng củng những
nhện là nhện: Nhện mẹ, Nhện con, Nhện già, Nhện trẻ, Nhện nước, Nhện tường, Nhện
võng, Nhện cây, Nhện đá, Nhện ma...đủ họ nhà Nhện. Chúng đứng im như đá, mà coi
vẻ hung dữ.
Tôi
cất tiếng hỏi lớn:
-
Ai đứng chóp bu bọn mày? Ra đây cho tao nói chuyện.
Từ
trong hốc đá, một mụ nhện cái to nhất, cong chân nhảy ra, hai bên có hai Nhện
vách nhảy kèm. Dáng đây là vị chúa trùm nhà Nhện. Nom cũng đanh đá, nặc nô lắm.
Vậy thì đầu tiên, tôi hãy ra cái oai của tôi. Tôi quay phắt lưng, phóng càng đạp
mạnh vào đầu mụ Nhện cái một đạp. Mụ nọ hoảng hốt, co dúm lại hãi ngay. Rồi thế
là mụ cứ rập đầu xuống đất như cái chày giã gạo, tỏ ý hối hận và sợ hãi một điều
gì đó - điều gì đó có lẽ mụ ta cũng chưa biết.
Tôi
thét:
-
Cớ sao dám kéo bè kéo cánh ra bắt nạt em Nhà Trò yếu ớt thế kia? Chúng mày có của
ăn của để, đứa nào cũng béo múp mông đít cả lượt như thế kia mà tính đòi nó một
tí tẹo nợ đã mấy đời rồi là không được. Ta cấm từ giờ không được đòi nợ Nhà Trò
nữa. Nó bé bỏng, làm chưa đủ nuôi thân, phải thương nó, xuý xoá công nợ cho nó.
Ở đời, thù hằn, độc ác làm gì. Thử trông đấy, bay bắt nạt nó, nhưng còn có ta
khoẻ hơn, ta mới thử gió mấy cái đá hậu, mà xem ra chúng mày đã thấy đáng nghĩ
lắm rồi phải không?
Bọn
Nhện núp phía trong cũng dạ vang và lao xao nói "nghe rồi ạ" rối rít
khe đá.
Tôi
ra lệnh:
-
Phá các vòng vây đi. Ðốt hết văn tự đi.
Lũ
Nhện nghe ngay lời tôi. Cả họ nhanh nhẹn chạy ngang chạy dọc, phá các dây tơ
chăng lưới. Con đường về tổ Nhà Trò trên cành lá mua có một chiếc hoa tím phút
chốc đã quang hẳn. Rồi vô số Nhện nhấp nhô, tung tăng đến, chân nắm chân ả Nhà
Trò mà nhảy múa, hát ầm ĩ rất vui.
Họ
nhà Nhện còn định mở tiệc thết tôi. Ðược cái họ nhà Nhện thì lúc nào cũng khéo
trữ lắm thức ăn ngon. Nhưng tôi từ chối, nói rằng phải vội đi. Hẹn dịp khác sẽ
qua chơi.
Tôi
từ giã bọn Nhện và Nhà Trò. Chị Nhà Trò ôm vai tôi cảm động, không nỡ ly biệt,
cứ theo tiễn một quãng đường dài. Còn tôi, trong lòng hoan hỉ vì đã làm được việc
đầu tiên có ích cho đời.
Mấy
hôm sau, về tới quê nhà.
Cái
hang bỏ hoang của tôi, cỏ và rêu xanh đã kín lối vào. Nhưng đằng cuối bãi, mẹ
tôi vẫn mạnh khoẻ. Hai mẹ con gặp nhau, mừng quá, cứ vừa khóc vừa cười. Tôi kể
lại từ đầu chí cuối những ngày qua trong may rủi và thử thách mà bấy lâu tôi trải.
Bắt đầu từ chuyện anh Dế Choắt khốn khổ bên hàng xóm.
Nghe
xong, mẹ tôi ôm tôi vào lòng, y như người ôm ẵm khi mới sinh tôi và bảo rằng:
-
Con ơi, mẹ mừng cho con đã qua nhiều nỗi hiểm nguy mà trở về. Nhưng mẹ mừng nhất
là con đã rèn được tấm lòng chín chắn thật đáng làm trai. Bây giờ con muốn ở
nhà mấy ngày với mẹ, rồi con đi du lịch xa mẹ cũng bằng lòng, mẹ không áy náy
gì về con đâu. Thế là con của mẹ đã lớn rồi. Con đã khôn lớn rồi. Mẹ chẳng phải
lo gì nữa.
Mẹ
tôi nói thế rồi chan hoà hàng nước mắt sung sướng và cảm động. Tôi nhìn ra cửa
hang, nơi mới ngày nào còn trứng nước ở đây và cũng cảm thấy nay mình khôn lớn.
Tôi
ở lại với mẹ:
-
Mẹ kính yêu của con! Không bao giờ con quên được lời mẹ. Rồi mai đây con lên đường,
con sẽ hết sức tu tỉnh được như mẹ mong ước cho con của mẹ.
➖➖➖
Chương 4: Ông anh Cả và ông anh Hai của Mèn - Tri âm
không đợi mà gặp
Bạn
đọc hẳn đã biết mục đích tôi về quê chuyến này, vừa thăm mẹ và vừa có ý tìm bạn
cùng nhau đi du lịch. Việc hỏi thăm mẹ, thế là đã xong.
Giờ
tôi đi tìm bạn. Ðất này biết mấy ai kẻ tri âm? Tìm bạn đã khó, huống chi lại là
sự đánh bạn với nhau trong cuộc lên đường lâu dài. Lên đường! Lên đường! Mỗi bước
chân sẽ thấy một đổi thay. Mỗi sớm mỗi chiều ta lại gặp cảnh vật mới. Lúc nào
cũng đi tới một nơi xa lạ. Không ai có thể mong ước hơn. Mới tưởng đến cũng đủ
nao nức, bồi hồi.
Hỡi
ôi! Còn chi buồn bằng, tuổi thì trẻ, gân thì cứng, máu thì cuồn cuộn với trái
tim và lòng thiết tha mà đành sống theo khuôn khổ bằng phẳng: ngày hí húi đào bới
đất làm tổ, đêm thì đi ăn uống và tụ tập chúng bạn nhảy múa dông dài. Tôi không
muốn cho đến lúc nhắm mắt vẫn phải ân hận chẳng biết là cuối cánh đồng mênh
mông kia còn những gì lạ và cuộc đời ở đấy ra sao.
Tôi
có hai anh một lứa sinh, và ba anh em tôi đã được mẹ tôi cùng đưa đi ở hang
riêng năm trước. Trong cuộc đi tìm bạn, tôi nghĩ đến ông anh hai tôi đầu tiên.
Tôi
đến thăm anh hai tôi.
Thoạt
nhìn cửa hang của anh, tôi đã hơi thất vọng. Cửa hang bé và nham nhở, bẩn như lỗ
giun đùn, lúc chui vào thì có từng đám rễ cỏ quệt xuống đầu, y như vào một hang
hoang, càng sâu càng ẩm mốc, lạnh tanh.
Trông
thấy anh, tôi giật mình. Trong bóng tối âm thầm, tôi phải chú ý mãi mới nhìn thấy
và nhận ra được mặt anh. Anh tôi gầy kheo như đến nỗi tưởng sức tôi mà đá thì
chỉ phách một cái cũng đủ khiến anh tôi bắn xa mười lăm trượng.
Nghe
tiếng chân tôi bước thình thịch, anh hoảng hốt, luống cuống, bối rối cả càng lẫn
râu rồi cứ quanh quẩn chạy vòng tròn, không biết chạy đi đâu. Tôi phải đánh tiếng
mãi, anh mới nhận ra tôi, bấy giờ anh tôi mới yên lòng và đứng im, chỉ còn hơi
rung râu. Dáng chừng tôi khoẻ mạnh, cứng cáp và đen bóng như cột nhà cháy bôi mỡ,
anh còn sợ. Thế là đôi râu cứ rung mạnh dần lên. Thật đáng cười và đáng thương!
Tôi
hỏi:
-
Anh ơi! Anh ốm hay thế nào mà còm nhỏm vậy?
Anh
nhăn mặt:
-
Chú nói be bé chứ không có anh váng cả đầu. Không anh không ốm. Tạng người anh
thế. Bấy lâu chú đi làm ăn đâu mà những đứa độc mồm độc miệng bảo chú chết rồi.
Tôi
cười:
-
Em chết làm sao được! Ði xa thích lắm. Em về chuyến này, trước thăm mẹ và các
anh, sau rủ anh cùng đi xa.
Anh
hoảng hốt hỏi lại:
-
Ði đâu?
Tôi
đùa, quát to:
-
Ði xa! Đi xa!
Thế
là ông anh tôi thất kinh, trễ cả hai râu mũi xuống. Anh khuỵu chân ngã giụi và
nói lảm nhảm: "Ði...xa...chết...nó...chết".
Thảm
hại quá! Vì đâu anh tôi mắc bệnh sợ đến như vậy, cái gì cũng sợ, chưa chi đã sợ,
sợ đến chết ngất. Không phải bệnh ấy có từ bẩm sinh đâu. Lúc bé, anh em chúng
tôi đều khoẻ mạnh như nhau. Câu chuyện bệnh sợ của anh tôi như sau:
Ra
ở hang riêng ít lâu, một hôm anh đi chơi tha thẩn vào vườn rau. Anh đứng dưới
chân một cây cải xanh. Trên mép lá, một chim Chích đang nhặt sau. Có thể là vô
ý, chim Chích ỉa toẹt một bãi trúng lưng anh. Anh giũ cánh, lẩm bẩm chửi đứa
nào bậy bạ, mà anh không biết đứa nào, bởi vì lúc ấy chim Chích làm xong công
việc vô ý ấy rồi điềm nhiên cong đuôi chui vào khều con sâu trong kẽ chiếc lá cải
to.
Nghe
tiếng chửi, chim Chích quay ra, Chim và Dế đâm chuyện cãi nhau. Một bên thì chửi
đứa ỉa xuống lưng tao. Một bên thì bảo mày vu oan cho ông. (Vì anh tôi đã giũ sạch
ngay bãi cứt chim trên lưng rồi).
Không
ai chịu nhau thì phải đến đánh nhau vậy. Thằng chim Chích kia thì bằng hạt mít,
chân nó leo kheo như cái tăm hương và cái mỏ oặt như sợi bún, còn anh tôi thì
nào răng sắc, nào có ngạnh vênh rất hiểm, cứ dấn mạnh lên thì choảng cho nó vỡ
mày vỡ mặt ra chứ. Thế mà đù đờ đến nỗi anh tôi thua. Anh tôi co cổ chạy. Nó đuổi
theo. Anh chạy thục mạng, nó cứ bay trên đầu, nó mổ xuống. Anh tôi sợ quá, vấp
ngã ngửa, nó cũng không tha, nó vẫn đuổi đánh, có lúc anh tưởng chết dọc đường.
Rồi phải lê dần, chạy lê thế mà nó vẫn mổ, vẫn đánh, nó đuổi đến khi lẩn được
vào trong hang thì khắp người máu me, hai cánh ngoài rách nát cả và nằm chết ngất.
Không
biết mấy hôm mới tỉnh. Từ đấy, nghe tiếng gió thổi ngoài cửa hang cũng sợ, tưởng
thằng chim Chích lại đến đuổi đánh trên đầu. Không dám đi đâu nữa. Ðói lắm mà đến
khuya mới dám ra cửa lôi vội mấy cái cỏ già vào nhấm nháp. Thế là ốm dần. Cứ thế
này rồi thì mai kia cũng đến chết vùi thân trong hang mà thôi.
Một
lúc sau, anh tôi mới dần dần tỉnh. Tôi cũng chẳng muốn nói thêm lời nào. Càng
không dám đùa nữa. Ngại anh tôi có thể chết ngất mà chết hẳn chăng.
Tôi
ra ngoài bãi, hái mớ cỏ non và tươi nhất đêm vào biếu anh. Tôi lựa nói mấy câu
an ủi. Ðến lúc anh tôi tỉnh táo như thường rồi tôi mới khéo trách sao hồi đó
anh không ngửa mặt giơ càng lên vừa đánh vừa đỡ vừa lùi vào hang, phỏng thử thằng
Chích láo lếu đã làm chi nổi! Anh tôi cũng chẳng tỏ vẻ gì ngẫm nghĩ để hoạ may
còn nhớ lại được chút mạnh bạo nào không, anh chỉ lắc đầu.
Tôi
lặng lẽ ra khỏi hang anh. Cũng không có một ý nghĩ rõ rệt. Còn nghĩ sao nữa,
khi anh ấy đã run rẩy hèn đớn đến nỗi ai nói to cũng giật mình thì có gì mà hy
vọng rủ anh đi được.
Tôi
đến thăm anh trưởng tôi.
Hang
anh trưởng tôi rất khang trang. Coi vẻ phong lưu. Tôi đã biết tính anh thích ăn
ngon, ưu phép tắc tôn ti trật tự, hay bắt bẻ vặn. Tôi chào. Mặt anh hằm hằm
đương tức tối điều gì. Tôi phải thưa với anh rằng bao nhiêu lâu anh em xa cách,
em đã trải những phút gian nan, tính mệnh treo đầu sợi râu, anh có biết không,
em lặn lội từ xa về đây để gặp anh, sao trông thấy em, mặt anh cứ lạnh như đá
thế kia?
Anh
tôi nói mát:
-
Chả dám! Chú còn nhớ phép lịch sự đến thăm anh. Xin chả dám.
Tôi
đáp:
-
Thưa anh, đi đâu thì em vẫn nhớ anh em ta cùng lứa mẹ sinh ra.
Anh
cười nhạt:
-
Hừ, chú bảo chú nhớ anh mà lại vào nhà thằng hai trước khi đến đây, thế thì phỏng
thử chú coi gia giáo nhà ta ra cái gì, đuôi lộn lên đầu hử?
Thế
ra anh tính giận tôi đã quên tôn ti thứ bậc. Thảo nào, mặt anh nặng như cái bị.
Tôi định cãi lại một câu. Chẳng gì thì tôi đã đi đây đi đó, tôi không thể cung
kính theo được cái thói trên dưới thứ bậc và cái việc chấp nhặt nhỏ mọn này.
Nhưng chợt nhớ đến đây để rủ anh cùng đi, tôi đã quên tức và từ tốn trình bày:
-
Thưa anh, em cũng biết thế, nhưng vì anh hai đau yếu, lại tiện em đi qua nhà,
thấy nên vào thăm anh ấy trước. Thế đấy, chắc anh vui lòng rồi.
Anh
tôi không vui lòng, anh tôi vẫn to tiếng, hỏi giật giọng:
-
Mấy năm nay chú đi đâu?
-
Em đi du lịch.
-
Du lịch? Ði du lịch, đi buôn bán?
Tôi
cười:
-
Chẳng buôn bán gì đâu. Du lịch là xem xét các nơi cho mở mang trí óc ra.
Anh
tôi cười khẩy:
-
Ði không kiếm được món ngon thì chỉ đi mỏi chân, có động dại mới đi như thế. Ði
lang thanh thất thểu thì ai ở nhà trông nom phần mộ tổ tiên, ai đèn hương cúng
giỗ các cụ? Thời bây giờ đứa nào cũng nống lên với đi! Quân bất mục bất hiếu là
chú, chú biết không?
Tôi
giận lắm, nhưng chỉ cười thầm. Ðáng lẽ mẹ tôi nói những câu ấy mới phải. Nhưng
mẹ hiểu, mẹ đã vui mừng thấy con bay nhảy sông hồ. Tôi lại nghĩ giá tổ tiên tôi
mà biết được việc này hẳn các cụ cũng phát chán cái thằng con cháu cứ khư khư
ôm miếng đất đến mòn đời, chẳng làm được gì để lấy tiếng thơm cho cha ông. Anh
này mới dúm tuổi mà lụ khụ hơn cả người già lẫn cẫn.
Ðằng
nào tôi cũng cần nói rõ ý kiến của tôi. Tôi nói:
-
Thưa anh, em cũng biết rằng trên đời này muốn mở mang trí óc thì phải bước chân
đi ra bốn phương "một ngày đàng một sàng khôn", tổ tiên ta dạy thế chứ
các cụ không khuyên ta ngồi xó đâu. Cho nên em về đây, trước thăm anh, sau muốn
rủ anh cùng đi phiêu lưu với em.
Anh
tôi hét to:
-
Mày chửi tao à? Mày chửi tao.
Rồi
xông đến trước mặt tôi. Nhưng tôi biết dù nổi nóng thế, anh cũng chẳng dám động
đến tôi. Bởi tôi lực lưỡng to gấp mấy anh. Quả thế, cáu lắm anh cũng chỉ dám cụng
trán tôi và dừng lại, trừng mắt thế thôi.
Tôi
bực mình, song vẫn cố làm vẻ bình tĩnh. Cái bình tĩnh lạnh lùng ngụ ý khinh
khi.
Tôi
nghênh mặt lên, không chào, lặng lẽ quay ra. Ðuôi cánh tôi quay chổng vào mặt
anh một cách kinh thường. Tôi đã từ giã ông anh cổ hủ của tôi một cách ngạo mạn
như vậy. Ðể mặc ông anh tức tím ruột. Tuy vậy anh cũng không dám đuổi đánh tôi,
đành ôm mối căm hờn vì có đứa em hỗn láo dám đi phiêu lưu!
Tôi
còn đi tìm vài anh em quen nữa. Song xem ra chỉ phường giá áo túi cơm thì lắm lắm.
Có anh cũng như anh trưởng đã nói rằng nhà mình con một, không thể nhất đán rời
quê hương. Có anh mới nghe tôi nói đu du lịch đã xanh mặt lại và vái tôi. Có
anh ngẩn ngơ hỏi:"Ði xa thế độ mấy hôm thì về được?" Tôi chẳng buồn
trả lời.
Một
buổi chiều, tôi đứng bờ đầm nước, trông ra. Khi hoàng hôn xuống, mặt nước trời
bỗng sáng lên trong giây lát, đượm vẻ bao la khêu gợi vô hạn lòng giang hồ.
Bỗng
sau lưng có tiếng ồn ào. Quay lại, tôi thấy một Dế Trũi đương đánh nhau với hai
mụ Bọ Muỗm. Hai mụ Bọ Muỗm vừa xông vào vừa kêu om sòm. Ai đã nói rằng "vừa
đánh trống vừa ăn cướp", lúc ấy tôi đã thấy tận mắt cái cảnh thật đúng câu
ví vậy. Hai mụ giơ chân, nhe cặp răng dài nhọn, đánh tới tấp. Trũi bình tĩnh,
dùng càng gạt đòn rồi bổ sang. Hai càng Trũi móc toẽ đằng trước, khi hươi lên,
coi oai như cặp chuỳ đồng.
Tôi
đứng ngắm và khen thầm. Xưa nay tôi vẫn có ý coi thường các cậu Dế Trũi - Dế
Trũi quê kệch, mình dài thuồn thuỗn, bốn mùa mặc ái gi-lê trần. Nhưng bây giờ,
nhìn anh Trũi nhanh nhẹn này, tôi hiểu rằng không nên chỉ xem bề ngoài mà coi
thường ai một cách hồ đồ như vậy.
Trũi
gan góc, một chống với đôi mà mà địch thủ vẫn luôn luôn bị cú đòn đau. Nhưng
hai mụ Bọ Muỗm cứ vừa đánh vừa kêu, làm cho họ nhà Bọ Muỗm ở ruộng lúa gần đấy
nghe tiếng. Thế là cả một bọn Bọ muỗm lốc nhốc chạy ra. Trũi biết thế nguy, lủi
khỏi vòng chiến nhảy bòm xuống dòng nước, bơi sang bên này. Cách nước rồi, yên
trí, Trũi lại nghênh ngang đứng hướng về bên kia, giơ chân, giơ càng doạ lại bọn
Bọ Muỗm vừa kéo tới. Thấy thế, bọn Bọ Muỗm tức, bật lên một cử chỉ bất ngờ là
chúng bay ào sang rợp cả mặt nước.
Trũi
ta không dè bọn Bọ Muỗm bay mau thế. Anh ta chỉ kịp giơ hai cái càng răng cưa
tròn xoe lên thì đã thấy không biết bao nhiêu răng, móc đánh, chém tới tấp xuống.
Trũi ngã quay. Lũ kia xô cưỡi lên. Nhất định có án mạng phen này.
Tôi
vội nhẩy tới. Bọn Bọ Muỗm hốt hoảng bay đi hết. Trũi nằm chỏng gọng, bất tỉnh
nhân sự. Tôi vực về cửa hang, lấy nước phun vào mặt Trũi.
Một
lát, Trũi tỉnh, còn rên hừ hừ. Bị nhiều đòn đau thâm tím cả mình.
Trũi
kể tôi nghe. Vốn trước kia hang Trũi xóm xa bên cánh đồng khác. Một lần sang
bên sông, thấy cỏ tốt quá bèn đến ở bên đó. Xóm ấy có Bọ Muỗm trú ngụ nhiều. Bọn
Bọ Muỗm thấy tự dưng có kẻ lông bông ở đâu đến, không ngày nào không có Bọ Muỗm
đến sinh sự. Chúng cắt lượt nhau suốt ngà vào cà khịa, làm cho Trũi không chịu
được. Nhưng Trũi vẫn gan lì. Có khi chúng dọa đánh chết Trũi.
Trũi
rất ngang, không sợ. Ðứa nào chửi thế nào, Trũi chửi lại thế ấy. Ðứa nào muốn
đánh nhau, Trũi đánh nhau. Tiếng Bọm Muỗm bắng nhắng thế, nhưng dù thế cũng phải
kiềng kẻ gan dạ, nên cũng mới chỉ có những cuộc xô xát xoàng thôi. Trận ẩu đả
hôm nay là to nhất. Bọn bọ muỗm định đánh chết Trũi thật. Chúng cho hai mụ ra
sinh sự, lấy cớ rồi kéo cả lò ra. Ðây là trận đòn thù chứ không phải cuộc ẩu đả
tình cờ như tôi tưởng lúc mới đầu.
Trũi
rối rít tạ ơn. Tôi khuyên Trũi nên ở lại hang tôi mà chữa bệnh cho tới khi khỏi
hẳn mới về.
Ðược
ít lâu, các vết thương của Trũi lành dần.
Mấy
hôm trò truyện cùng Trũi, tôi biết tính Trũi rất vui, hay nói pha trò và yêu đời.
Nhưng tôi thích nhất Trũi cũng ưa sự đi đây đi đó, Trũi thường khoe rằng tuy
Trũi còn ít tuổi nhưng đã từng đi xa. Tôi ngỏ ý rủ Trũi sẽ cùng đi du lịch. Tôi
bảo rằng ở phía chân trời xa kia chắc có nhiều cái lạ, không nên về đồng cỏ cũ
nữa. Trũi reo lên, nhận lời ngay.
Chúng
tôi kết làm anh em.
Từ
hôm ấy, Trũi ở luôn hang tôi và Trũi tôn tôi là anh. Còn tôi gọi Trũi là em. Thề
rằng từ đây sinh tử có nhau.
Chúng
tôi sửa soạn.
Một
ngày cuối thu, tôi và Trũi lên đường. Hôm ấy nước đầm trong xanh. Những áng cỏ
mượt rời rợi. Trời đầy mây trắng. Gió hiu hiu thổi như giục lòng kẻ ra đi. Thế
là tôi rời quê hương lần thứ hai.
➖➖➖
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét