2022-10-29
Lều
Chõng (5, 6)
Ngô
Tất Tố
Chương
5
Một
hồi gà gáy âm ô, làm cho Vân Hạc giật mình thức giấc. Ngọn đèn trên quang lù mù
sắp tắt, đọi dầu đã gần cạn khô. Không muốn làm phiền thằng nhỏ, chàng tự đứng
lên rót dầu vào đèn, và dụi cái tàn đỏ ối ở đầu sợi bấc. Rồi chàng mở cửa ra
sân.
Trăng
chưa lặn. Ánh vàng chênh chếch nhòm vào giàn hoa. Những bóng cây nhài, cây mộc
dương leo lên thềm. Mặt thềm khoang khua như một bức tranh thủy mặc.
Trời
hãy còn sớm. Trống ngoài điếm mới điểm canh tư. Các nhà láng giềng vẫn im phăng
phắc.
Chàng
toan vào phòng ngủ thêm. Sực nhớ hôm nay là kỳ bình văn, phải đến trường sớm
hơn mọi ngày, ngủ nữa, e rằng quá giấc, quá trưa, thì đi không kịp. Chàng bèn
súc miệng, rửa mặt, rồi một mình đủng đỉnh dạo dưới bóng trăng.
Trong
đám ánh trăng trong vắt, thỉnh thoảng điểm một luồng gió hiu hiu, hết thảy bóng
cây trước sân đều bị rung động. Chàng bỗng tưởng đến cái cảnh Trương Sinh đợi
Thôi Oanh Oanh trong truyện Tây Sương liền ngâm:
“Đãi
nguyệt Tây sương hạ.
Nghênh
phong hộ bán khai.
Cách
tường hoa ảnh động.
Nghi
thị ngọc nhân lai”. ①
Thế
rồi hình ảnh cô Ngọc tức thì hiện ra trong óc. Chàng khen ông đồ Vân Trình cũng
khéo tìm chữ đặt tên cho con. Với cái nước da trắng nõn, với cái khuôn mặt trái
xoan và cái dáng bộ yểu điệu, nàng thật đáng gọi là ngọc nhân lắm. Chàng nhớ những
hôm qua chợ Kim Bảng, tình cờ nhìn hàng nàng, bao giờ nàng cũng tươi như bông
hoa, và không bao giờ mà nàng có vẻ ngoa ngoắt, trai lơ như bọn con gái kẻ chợ.
Chàng tự cho rằng mình lấy được nàng, tức là danh sĩ sánh với giai nhân, chẳng
kém gì những cặp vợ chồng trong tiểu thuyết.
Nhưng
chàng lại băn khoăn rằng trước kia nàng đã đính hôn với Trần Đằng Long, thì với
chàng, nàng đã là vợ chưa cưới của một người bạn. Bây giờ nếu chàng kết duyên với
nàng, hoặc giả cũng bị thiên hạ chê cười. Rồi chàng tự an ủi rằng việc này do ở
cụ bảng ép chàng, không phải tự chàng mà ra. Một người đạo mạo nghiêm nghị và
yêu chàng, quý chàng như cụ bảng Tiên Kiều, không lẽ lại dạy học trò làm điều
trái với danh giáo? Song chàng vẫn không hiểu vì sao cụ bảng lại cố ghép nàng với
chàng, vì sao hôm nọ, trong khi khuyên chàng lấy nàng, cụ lại bảo rằng nếu
chàng bằng lòng cưới nàng làm vợ, tức là cứu cái đời nàng, tức là làm ơn cho Trần
Đằng Long? “Hay là nàng với nghè Long ngày xưa đã có gì ám muội?” Chàng nghĩ
như thế, rồi chàng lại tự hối hận, cho là mình đã vô lễ với nàng. Chàng tin
nàng là con nhà gia giáo, không khi nào lại làm những việc bất chính.
Mặt
trăng từ từ luồn vào bóng mây, bầu trời dần dần vẩn đục. Chàng bèn lững thững
bước vào trong phòng. Vừa đi, chàng vừa lẩm bẩm một mình. “Có lẽ vợ chồng là
duyên số thật. Ừ, xưa kia mình tuy biết nàng, nhưng vẫn chẳng hề nghĩ đến nàng.
Thế mà từ bữa nghe đồ Mẫn nói, nhất là từ bữa nghe cụ bảng nói đến giờ, không
phút nào mà ta quên nàng. Cái đó mới lạ cho chứ! Không biết trong những lúc
này, nàng có nghĩ gì đến ta không? Chắc có! Ta nhớ nàng, tất nhiên nàng cũng nhớ
ta, nếu như cụ bảng đã ngỏ cho nàng biết cái ý định của cụ.”
Trời
sáng, Vân Hạc cắp nón vừa ra đến cổng, thì gặp Khắc Mẫn. Hai chàng liền sánh
vai cùng tới trường học.
Trong
các lò “rèn đúc nhân tài” bấy giờ, trường của cụ bảng Tiên Kiều là lớn hơn hết.
Trừ ra mươi cậu đồng sinh là những con cháu trong nhà, học trò cụ bảng chỉ có
hai lớp đại tập và trung tập. Trung tập hàng ngày phải đến nghe sách, hàng tuần
phải học làm văn. Còn đại tập thì mỗi tháng tập văn hai kỳ. Kể cả đại tập và
trung tập, học trò trong trường có tới gần ba trăm người. Vân Hạc và Khắc Mẫn
đi đến cửa trường thì các cậu học trò trung tập cũng vừa kéo đến.
Sau
những chiếc nón sơn quai chuỗi lần lượt úp lên các tường, cả mấy trăm người
nghiêm trang ngồi sắp hàng ở các dãy ghế. Cụ bảng còn ở nhà trong chưa ra. Một
cậu học trò bé con chạy đến rỉ tai Vân Hạc:
-
Thầy bảo anh bình văn xong rồi, phải ở lại đây, để thầy còn dặn gì đấy.
Rồi
thì học trò đại tập lục tục đến dần. Rồi thì, năm gian tiền tế thênh thang như
năm gian đình dần dần hiện ra quang cảnh chật hẹp, kẻ ngồi người đứng lố nhố khắp
trong nhà ngoài thềm.
Trống
cái thong thả điểm một hồi ba tiếng.
Học
trò trên các phản ghế hết thảy trở lại hàng lối nghiêm chỉnh. Hai cậu nhỏ tuổi
lễ mễ bưng điếu bưng tráp và mang giỏ ấm, khay chén đặt lên án thư.
Những
tiếng thì thầm xôn xao nhất tề im bặt. Cụ bảng từ nhà trong ra với một bộ khăn
áo chỉnh tề. Trên các phản ghế, học trò răm rắp đứng dậy khắp lượt.
Khoan
thai cụ ngồi vào tấm ghế sau chiếc án thư và mở nắp tráp lấy gói thuốc lá ra cuộn.
Tất cả học trò lại cùng răm rắp ngồi xuống. Một cậu nhỏ tuổi lễ phép đến trước
án thư sẽ bưng bộ đồ đánh lửa ra thềm.
Qua
một hồi kỳ cạch của hòn đá lửa đập vào thỏi sắt, lửa ở trong đá đã bắt ra lớp
bùi nhùi trong cái hộp gỗ và bén vào đó, cậu ấy rón rén nhón lấy một ít bùi
nhùi có lửa, tiếp vào mồi giấy, phì phò thổi cho thành ngọn, để châm sang sợi
ruột gà và châm lửa vào mồi thuốc lá đã cuộn, cụ bảng ra hiệu cho các học trò đọc
sách.
Một
cậu trung tập cung kính đệ một chồng sách in lên án. Bằng một câu xin phép rất
lễ độ và mấy tiếng đằng hắng rất dõng dạc, một cậu tốt giọng nhanh nhẹn mở sách
ra đọc.
Tất
cả học trò cặm cụi mở sách ra coi.
Theo
lệ hàng ngày, mỗi buổi đều đọc đủ ba thứ sách: kinh, truyện và sử.
Hôm
nay bắt đầu đọc Kinh dịch, rồi đến sách Trung dung rồi đến cuốn Tống sử. Mỗi
khi đọc hết bài cái, bài bàn của một chương nào trong sách, cả trường im lặng
như tờ. Mấy trăm con mắt đều chăm chỉ ngó vào cuốn sách của mình. Mấy trăm lỗ
tai đều bình tĩnh đợi nghe lời giảng của thầy. Bằng cái giọng sang sảng như tiếng
chuông đồng, cụ bảng giảng rất rành mạch từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, từ nghĩa
gần đến nghĩa xa, cụ chỉ rõ ràng lời bàn nào là phải, lời bàn nào là quấy. Cụ
nói như rót vào tai học trò. Khi giảng đến hào lục tam của quẻ Khôn Kinh dịch,
cụ đặt nồi thuốc xuống án và hỏi một cách sửng sốt:
-
Các anh nghe chương này có thấy gì không.
Các
cậu học trò đều không trả lời, vì không hiểu ý cụ hỏi ra sao. Cụ liền nhìn vào
cuốn sách và cất cao giọng:
-
“Lục tam, hàm chương khả trinh. Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”
Và
cụ lại gặng:
-
Các anh tưởng nó có đúng với điệu lục bát trong các ca dao của ta hay không? Rồi
cầm mồi thuốc hút thêm một hơi, cụ vừa rung đùi vừa tiếp:
-
Trong kinh, truyện, sử, mỗi bộ đều có một câu lục bát. Ở kinh là câu ấy rồi,
còn ở truyện thì là câu gì?
Các
cậu học trò cố sức lục hết trí nhớ để tìm lấy câu trả lời. Nhưng không ai nói
câu nào. Cụ vuốt chòm râu bạc phơ và ngâm:
“Phù
thủy, nhất thước chi đa.
Cập
kỳ bất trắc ngoan đà giao long...”
Rồi
cụ lại hỏi:
-
Phải câu ấy ở sách Trung dung, các anh mới đọc hôm qua đó không? Sao mà chóng
quên vậy? Nếu như trời cho đỗ đạt, được sang sứ Tầu, các anh sẽ đối đáp làm sao
cho khỏi nhục đến quân mệnh!
Các
cậu học trỏ đều cúi gầm mặt, tỏ ra dáng bộ bẽ bàng. Cụ ngừng một lát rồi thêm:
-
Còn câu ở sử, chắc chắn các anh cũng không thể nhớ.
Và
cụ ngân giọng:
”Đế
sĩ Sái Xác hữu công,
Sử
chi tòng tự Triết tông miếu đình...”
Rồi
cụ ngẩng lên nhìn các học trò và nói:
-
Các anh thử giở cuốn Tống Cao Tôn mà xem, câu đó ở ngay đầu sách đấy mà.
Các
cậu học trò im lặng phục thầy là bậc nhớ sách. Cụ bảng mở giỏ, rót một chén nước
nhấp giọng, rồi cụ cắt nghĩa:
-
Cũng vì có mấy câu đó cho nên từ xưa đến nay đã có nhiều người cho rằng: lối
văn trên sáu dưới tám của ta gốc ở kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta,
thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời đã sinh ra mỗi nước có một thứ
tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cũng phải có một điệu hát. Nếu bảo điệu hát lục
bát gốc ở kinh, truyện và sử, thì sao ở Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy,
các cụ đời trước nói thế, bây giờ mình cũng hãy hay rằng thế, để rồi kê cứu dần
dần, không nên vội vàng bài bác.
Hết
cuộc chuyện phiếm, một cậu học trò thay lượt cậu trước đọc cuốn Trung dung. Rồi
một cậu nữa lại tiếp cậu này đọc cuốn Tống sử. Mặt trời đã cao, cuộc nghe sách
của học trò trung tập mới hết. Lúc này học trò đại tập đã đến đông đủ. Trong
năm gian nhà ngột những hơi người. Cụ bảng tạm nghỉ để quạt cho ráo mồ hôi.
Học
trò lác đác đứng dậy ra sân hóng mát.
Khắc
Mẫn dắt Vân Hạc và mấy người nữa đến ngồi túm tụm ở dưới gốc nhãn, rồi họ thi
nhau bắt Vân Hạc phải đọc những bài văn của chàng trong kỳ này cho họ nghe trước.
Một cậu học trò đủng đỉnh đến trước Vân Hạc nhìn chàng bằng con mắt ranh mảnh
và tủm tỉm cười. Vân Hạc đoán là hắn đã hiểu biết việc riêng của mình, liền hỏi:
-
Mày cười cái gì, thằng Cung?
Người
ấy vẫn cười:
-
Mai kia tao sẽ cho mày bài thơ.
Vân
Hạc cũng cười:
-
Được! Có giỏi mày cứ làm! Nếu thơ không hay, tao sẽ nọc cổ đánh cho ba chục.
Ngoài
cổng có tiếng cười nói giòn giã. Một lũ nón dứa quai lụa bạch lần lượt từ cổng
tiến vào trong sân. Các cụ nghè, cử, bạn thân của cụ bảng và là sơ khảo, phúc
khảo của các quyển tập đến dự bình văn.
Cụ
bảng lật đật đứng dậy đón khách.
Sau
mấy cái vái trịnh trọng rước mấy ông khách lên thềm, cụ bảng vui vẻ nói:
-
Chết chửa nắng quá! Các bác đi sớm ít nữa, có mát hơn không?
Cụ
nghè Quỳnh Lâm chỉ vào cụ cử Liên Trì và đáp:
-
Nếu tôi không cố phá đám, thì ông lão này còn ngồi ngất ngưởng với nai rượu thuốc,
chứ đã chịu đi cho đâu.
Cụ
cử Liên Trì mỉm cười đế đưa hai câu thơ cổ:
”Bách
niên tam vạn lục thiên nhật,
Nhất
ẩm tu khuynh tam bách bôi”. ②
Các
cụ cùng ngồi lên chiếc phản giữa. Ai nấy phì phạch quạt lấy quạt để. Nhưng vẫn
không ai chịu bỏ khăn áo. Cụ bảng phải sai hai cậu bé con cầm đôi quạt lông đứng
hai đầu phản phẩy vào.
Cạn
ba tuần chè tầu, cụ bảng lục lại tập văn của học trò và chọn mấy quyển được
bình để riêng một chồng.
Hôm
nay là kỳ tứ lục: một bài chiếu và một bài biểu. Tất cả độ hơn mười quyển được
đọc. Chỉ có một quyển của Đào Vân Hạc dấu sơ dấu phúc phê “ưu”, dấu ngoại phê “bình”,
và năm quyển nữa ba dấu đều phê “bình”, được đọc từ đầu đến cuối. Còn các quyển
khác, hoặc “bình thứ”, hoặc “thứ mác” chỉ được đọc lỏi từng đoạn. Những quyển
được đọc, mặt quyển đều có đề một chữ “bình”. Những đoạn được đọc thì ở cạnh
các dòng chữ đều có đánh dấu bằng “chấm mắt ngỗng”. Soạn xong tập quyển, cụ bảng
cầm trao cho mấy ông bạn:
-
Các bác coi lại. Nếu có quyển nào không đáng cho đọc, thì xin bỏ đi.
Mỗi
cụ đón lấy vài quyển, coi qua một lượt, rồi:
-
Được cả không có quyển nào phải loại.
Cụ
nghè Quỳnh Lâm cầm quyển của Đào Vân Hạc chìa hỏi cụ bảng:
-
Quyển này chúng tôi đã phê “ưu” cả, sao bác lại đánh xuống “bình”?
Cụ
bảng rẽ ràng đáp:
-
“Bình” là phải! Các bác cho “ưu” cũng khí quá đáng. Vả lại hắn còn ít tuổi, phải
cần mài dũa cái tính hiếu thắng. Nếu như kỳ nào cũng “ưu”, e rằng hắn sẽ coi
mình là thánh là trạng, không chịu học hành, ấy là có hại cho hắn.
Rồi
cụ trông xuống đám học trò ngồi cạnh:
-
Trưa lắm rồi, ai lên đem quyển xuống đọc đi chứ!
Khắc
Mẫn lễ phép đứng lên và tiến đến trước án thư. Cụ nghè Quỳnh Lâm đưa cho thầy
cuốn văn của Đào Vân Hạc và dặn:
-
Đọc quyển này trước!
Khắc
Mẫn lĩnh quyển văn đi xuống chỗ cũ. Mài mực, tẩm một ngòi bút thật đẫm. Một tay
cầm bút, một tay cầm quyển, thầy bắt đầu đọc bài chiếu trước. Tất cả học trò đều
giở một tập giấy bán đặt lên đầu gối. Tai nghe văn, tay thì viết lia viết lịa.
Văn đọc đến đâu, họ phải cố viết cho kịp đến đây. Chữ thảo một lối lòi tói như
sợi xích chó. Với một giọng vừa kêu vừa trong, Khắc Mẫn đọc rất dại dễ, gãy gọn,
từ đoạn nọ đến đoạn kia, mạch lạc cực kỳ phân minh. Nhất là những lúc lên giọng,
xuống giọng, tiếng thày càng réo rắt dịp dàng, khiến cho câu văn càng nổi.
Cái
nhà chứa gần ba trăm con người lúc ấy có vẻ nghiêm tĩnh của một tòa cổ miếu.
Ngoài tiếng bình văn của Khắc Mẫn và tiếng khen hay của các khảo quan, cơ hồ
không còn có gì khác nữa.
Hết
bài chiếu đọc đến bài biểu. Mở đầu hai câu “phục dĩ”, cụ cử Liên Trì và cụ nghè
Quỳnh Lâm rối rít giục điểm, giục khuyên. Khắc Mẫn miệng đọc tay chép, mắt thì
nhìn vào quyển văn, cuống quít như người phường trò vừa hát vừa phải đánh tiếng
gõ mõ.
Đọc
xong quyển của Vân Hạc, cụ bảng lại bảo tạm nghỉ để các học trò uống nước và
hút thuốc lào. Những người viết chậm, tranh nhau mượn quyển Vân Hạc để họ chép
lại những đoạn lúc nãy phải bỏ cách quãng vì viết không kịp. Như quên cả sự oi
bức, người ta xúm nhau đến hơn chục người ngó vào quyển văn.
Cụ
nghè Quỳnh Lâm sai người lấy chiếc ghế đẩu bắc ở bên cạnh, gọi Vân Hạc cho ngồi
ở đó, tự mình rót một chén nước trao cho Vân Hạc, và cụ tấm tắc khen ngợi:
-
Văn cậu khá lắm! Đỗ đến nơi rồi. Cậu phải cố đi, khoa hương này hãy lấy cho bác
cái thủ khoa, rồi hội sau thì lấy cho bác cái đình nguyên nữa. Tiền trình của cậu
có cơ viễn đạt, bác lấy làm mừng!
Vân
Hạc chỉ lễ phép đón lấy chén nước, không dám trả lời, vì chàng không biết trả lời
thế nào. Cụ nghè quay mặt sang phía cụ bảng và thêm:
-
May được người con nối nghiệp, bác cống Đào Nguyên tuy mất cũng như còn sống.
Cụ
bảng ngần ngừ lắc đầu:
-
Tôi chưa dám chắc như vậy. Là vì văn chương của hắn tuy có lỗi lạc, nhưng vẫn
không khỏi có chỗ cầu kỳ sính tài, lại thường vượt ra ngoài qui củ. Nếu gặp
quan trường thì hắn có thể đỗ cao. Nhưng nếu không gặp, tất nhiên sẽ bị hỏng tuột.
Bao giờ hắn chừa được cái tật ấy, thì mới có thể chắc được!
Rồi
cụ gọi các học trò và hỏi:
-
Các anh nghe quyển Vân Hạc thế nào? Có thấy cái bệnh gì không?
Hết
thảy im lặng, không có ai đáp. Cụ tiếp:
-
Văn chương anh ta tuy cũng khá đấy, nhưng phải cái tật rất lớn là có nhiều đoạn
rắc rối, bướng bỉnh, không chịu theo đúng khuôn phép. Đó là một điều tối kỵ
trong các lối văn cử nghiệp, nhất là thể văn tứ lục.
Cụ
cử Liên Trì nói xen:
-
Phải! Văn chương cầu thị bất cầu kỳ, nếu quá cầu kỳ tất nhiên không lợi trường ốc.
Bởi vì, trong lúc quan trường chấm văn, người ta chấm như ăn cướp, một khắc phải
chấm đến mấy chục quyển, còn thì giờ đâu mà nghĩ ngấm nghĩ nghĩa cho mình? Thói
thường hễ mà dấu “sơ” đã chấm thế nào, ấy là dấu “phúc”, dấu “giám” lại chấm thế
ấy, nếu như mình đặt một câu cầu kỳ, hoặc là ý nghĩa quá ư sâu xa, mà trong lúc
vội vàng, ông sơ khảo không kịp hiểu hết, ông ấy sổ cho vài chiếc và phê cho một
chữ “liệt”, thì rồi những ông phúc khảo, giám khảo cũng lại sổ theo, và cũng
phê cho vài chữ “liệt” nữa. Cái quyển đã đến ba “liệt”, ông phân khảo khó lòng
mà giám phê “bình” phê “ưu”. Thế là hỏng oan chứ gì.
Cụ
nghè Quỳnh Lâm nối lời:
-
Ấy, cụ Nguyễn Công Hoàn ngày xưa suốt đời thi hỏng cũng chỉ vì có tật ấy.
Hồi
cụ quay ra hỏi các học trò:
-
Các thầy đã nghe chuyện cha con cụ Nguyễn giành nhau về một câu tứ lục hay
chưa?
Rồi
không đợi học trò trả lời, cụ kể:
-
Cụ Nguyễn Công Hoàn là bậc danh sĩ đời Lê, văn hay, học rất uẩn súc, chỉ phải
cái tật đặt câu cầu kỳ, thành ra thi mãi không đỗ. Ông Nguyễn Công Lân là con,
sức học tuy còn kém cụ rất xa, nhưng mà văn chương hoạt bát, ngoài hai mươi tuổi
đã đỗ hương cống, rồi lại đỗ luôn tiến sĩ. Khoa ấy, tôi không nhớ là khoa nào,
ông Lân đã làm chủ khảo, cụ Nguyễn vẫn còn cắp quyển đi thi, và cũng lại hỏng
như trước...
Nói
đến đấy, cụ nghè ngừng lại, để uống hớp nước nhấp giọng, rồi tiếp:
-
Thế rồi đến khi việc trường đã xong, ông Lân về nhà thăm cha. Đầu tiên, cụ Nguyễn
hỏi ngay:
”Khoa
này có được quyển nào khá không?”. Ông con ngay thật thưa rằng: "Có một
quyển khá, chỉ vì phải câu tứ lục thất niêm, không thể lấy đỗ". Cụ Nguyễn
liền gặng. "Câu tứ lục ấy thế nào? Có nhớ không?" Ông con thưa rằng
có nhớ và đọc như vầy:
”Lưu
hành chi hóa tự tây đông, nam bắc vô tư bất phụ.
Tạo
tựu chi công tự Cảo Mân, Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng”.
Rồi
thì ông ấy lại tiếc ngậm ngùi mà rằng: “Nếu như câu dưới, họ đảo hai chữ “Cảo
Mân” ra làm “Mân Cảo”, cho đúng niêm luật, thì hai câu ấy hay biết chừng nào”.
Cụ Nguyễn không đợi cho con hết lời, vác gậy phang luôn chừng vài chục gậy. Và
cụ nghiến răng nghiến lợi, chửi mắng tàn nhẫn. Cụ bảo ông con dốt nát như thế
mà đi chấm trường, chôn sống biết bao nhiêu người...”.
Cụ
nghè lại nhìn học trò và hỏi:
-
Các thầy có biết tại sao cụ Nguyễn phải đánh một ông chủ khảo như vậy?
Học
trò còn đương im lặng suy nghĩ, cụ nghè lại tự cắt nghĩa:
-
Thì ra hai câu tứ lục ấy chính của cụ Nguyễn, ý cụ đặt như thế này:
”Lưu
hành chi hóa tự Tây, Đông Nam Bắc vô tư bất phục,
Tạo
tựu chi công tự Cảo, Mân Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng”.
Học
trò nghe rồi, ai nấy sung sướng như nghĩ ra một điều mới lạ. Cụ cử Liên Trì nói
thêm:
-
Nếu như nghĩ một chút, chắc ai cũng nhận thấy rằng: trong hai câu đó, câu trên
tất phải ngắt đến chữ “Tây”, câu dưới tất phải ngắt đến chữ “Cảo”. Chứ nếu chấm
như kiểu ông Lân, một đằng ngắt đến chữ “Đông”, một đằng ngắt đến chữ “Mân” thì
không có nghĩa gì cả. Bởi vì nhà Chu khởi ở phương Tây, đóng kẻ chợ ở đất Cảo,
người ta chỉ có thể nói: “Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây, các phương
Đông Nam Bắc đâu đâu cũng phục. Cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, các xứ Mân Kỳ
Phong đều cũng dấy theo”. Chứ ai lại nói: “Cái thói trôi đi nổi tự
phương Tây phương Đông... cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, xứ Mân?” Nhưng
vì bốn chữ Tây Đông Nam Bắc và bốn chữ Cảo Mân Kỳ Phong đặt liền với nhau,
trong lúc vội vàng, câu trên người ta ngắt đến chữ Đông, thì câu dưới người ta
cũng lại ngắt đến chữ Mân, như thế, chẳng những thất niêm mà còn vô nghĩa nữa
chứ! Ấy đó là văn chương cầu kỳ có hại như vậy. Các thầy nên biết mà tránh.
Dứt
mạnh hiểu dụ của cụ cử, mấy cậu nhỏ tuổi ngoan ngoãn tiệp tuần chè tầu thứ hai.
Công việc bình văn lại sốt sắng đi theo thứ tự của nó. Lần này cụ bảng cho đọc
đến quyển của Bùi Đốc Cung, cái người trêu ghẹo Vân Hạc lúc nãy. Văn của Đốc
Cung tuy không xuất sắc bằng của Vân Hạc, nhưng cũng vào bậc học cứng, lời tươi
và kêu như chuông, các cụ sơ khảo, phúc khảo luôn khen “được”.
Gần
trưa, tan cuộc bình văn.
Cụ
bảng giở dần tập quyển còn lại trên án, gọi tên từng người học trò, quyển của
người nào trao trả người ấy.
Bộ
điệu khác nhau của từng người trong lúc lĩnh quyển như muốn tỏ cho kẻ ngoài biết
sự hơn kém của các học trò. Có ông hớn hở tươi cười với cái “thứ mác” con con.
Cũng có ông vội vàng gấp tư quyển văn và bỏ vào túi một cách vội vàng để giấu
cho kín cái “liệt” hay cái “thứ cộc” ở mặt quyển. Chồng quyển trên án phân phát
đã hết, học trò lũ lượt cắp nón đi ra, để lại một mình Vân Hạc vì có lời dặn của
cụ bảng phải đợi ở đó.
Mấy
cậu nhỏ tuổi rón rén lấy chậu vẩy nước, quét cho sạch cát bụi và những bã điếu,
tàn đóm trong năm gian nhà. Nhà trường dần trở lại quang cảnh thanh vắng như một
nơi toàn thạch. Bao nhiêu ánh nắng đều bị ngăn lại trên đám lá um tùm của mấy
cây nhãn và giàn thiên lý trước thềm, trong nhà lúc nào cũng mát rời rợi.
Sau
nhà có tiếng lạch cạch.
Một
mâm đồ rượu ngất nghểu ngự trên đầu anh bếp từ từ tiến vào phản giữa. Cụ bảng mời
mấy ông bạn uống rượu và cho Vân Hạc bắc ghế ngồi hầu bên cạnh. Cụ cử Liên trì
quay lại mâm rượu và nói khôi hài:
-
Hữu tửu thực tiên sinh soạn, hữu sự đệ tử phục kỳ lão.
Rồi
cụ cầm luôn bầu rượu đưa cho Vân Hạc để chàng rót ra các chén. Các cụ cất chén
khắp lượt. Vân Hạc vẫn rụt rè giữ lễ chưa dám uống. Cụ nghè Quỳnh Lâm nhất định
bắt chàng phải uống, và cũng nói giọng khôi hài:
-
”Đương nhân bất nhượng ư sư”. Cụ Khổng đã dạy như thế, cái đức “nhân” còn không
nhường thầy, huống chi một vài chén rượu lại phải sợ thầy hay sao? Cậu cứ uống.
Làm đấng tài trai, cần phải ngang tàng mới được, không nên e lệ như bọn con
gái.
Cụ
cử Liên Trì mỉm cười:
-
Ấy, họ cũng chỉ làm gái ở trước mặt chúng mình đó thôi. Khi mà ngồi cạnh nhà
trò, tôi chắc mép ấy phải hết hàng hũ.
Vân
Hạc giả vờ cúi mặt để giấu cái bộ buồn cười của mình. Rồi chàng xin phép các cụ
và nhấc chén rượu nhấp một hớp nhỏ. Cụ bảng bắt đầu đem chuyện nhân duyên của
chàng nói cho mấy cụ kia nghe và thêm:
-
Sở dĩ tôi phải ra công khuôn xếp việc này, cũng vì áy náy cái cảnh vợ chồng anh
đồ Vân Trình và thương con bé cái Ngọc. Các bác có lẽ chưa rõ đầu đuôi. Con bé ấy
trước kia đã nhận lấy Trần Đăng Long, về sau không hiểu vì sao bên này lại thôi
không cưới. Thế rồi cái hôm nghè Lòng vinh qui, con Ngọc tình cờ đi qua, nó tiếc
cái ngôi bà nghè đến nỗi ngất đi như đứa ngộ gió. Tôi đã chữa bệnh cho nó, phải
dùng đến hơn mười thang “khai uất” mới khỏi. Nhưng khỏi là khỏi tạm thời mà
thôi, nếu không lấy được người chồng vừa ý thì có ngày nó sẽ phát điên phát rồ.
Vợ chồng bác đồ Vân Trình chỉ được hai đứa con gái, nó là lớn, nếu nó mà hỏng một
đời, thì cảnh già của ông bà ấy cũng đau đớn lắm. Bởi vậy, tôi phải tình nguyện
đi làm mối chồng cho nó.
Cụ
nghè, cụ cử tấm tắc khen là mối lương duyên và khuyên Vân Hạc nên mau mau lo việc
cưới hỏi, không nên để chậm. Cụ bảng ngắt lời:
-
Cái đó đã ở tôi cả, không việc gì đến hắn.
Rồi
cụ nhìn sang Vân Hạc:
-
Hôm qua thầy cũng cất công sang chơi ông Vân Trình nói về chuyện này. Ông đồ,
bà đồ đều bằng lòng. Công việc thế là xong. Ngày mai anh phải về quê thưa với
bác cống và anh cả, anh hai...
Vân
Hạc hết sức giữ cho vẻ mặt tự nhiên, chàng chỉ im lặng mà nghe và thỉnh thoảng
điểm một tiếng dạ rất khẽ, chứ không nói đi nói lại. Cụ bảng lại ngó mặt chàng:
-
Nhưng phải gửi rể kia đấy. Vì bác đồ gái chê quê nhà anh ở xa quá, có ý ngần ngừ
không thuận, nên thầy phải hứa như thế.
Cụ
nghè Quỳnh Lâm tạt ngang:
-
Thế thì cậu khóa sướng bằng vua Thuấn mất rồi. Nhưng mà cháu có muốn học ông
Thuấn, chỉ nên học đến cái chỗ gửi rể ấy thôi, chớ có học hơn. Để cho vợ chồng
bác đồ Vân Trình kiếm lấy người rể nữa chứ. Cả nhà cười ầm, làm cho Vân Hạc xấu
hổ đỏ mặt. Lâu lâu cụ bảng lại quay sang phía Vân Hạc:
-
Còn một điều này, thầy phải nói trước để cho anh liệu: cái chí con Ngọc nó chỉ
thích làm bà thám, bà bảng chứ không phải nó muốn làm cô khóa quèn. Vì thế, khi
nó nói mê nói sảng, luôn luôn tự xưng mình là cô thám, cô bảng. Rồi khi vợ chồng
lấy nhau, anh phải nghĩ vào chỗ đó, làm sao cho khỏi phụ lòng cháu tôi thì làm.
Cả
nhà lại cùng cười vang.
------
Chú
thích của người biên soạn
① Đoạn
này có lẽ Ngô Tất Tố nói đến bài thơ “Minh nguyệt tam ngũ dạ” (明月三五夜 • Trăng sáng đêm mười lăm) của tác
giả Nguyên Chuẩn (người Lạc Dương, Hà Nam, Trung Hoa, gia đình quan lại, làm
Thượng thư Tả thừa, có quan điểm chính trị và văn học gần gũi với Bạch Cư Dị,
chủ trương tác phẩm phải giàu tính hiện thực, nên người đương thời gọi là
Nguyên-Bạch).
Minh
nguyệt tam ngũ dạ
Đãi
nguyệt tây sương hạ,
Nghinh
phong hộ bán khai.
Phất
tường hoa ảnh động,
Nghi
thị ngọc nhân lai.
Dịch
nghĩa
Chờ
trăng lên ở nhà bên hông phía tây,
Cửa
mở hé hóng gió.
Cành
hoa phía tường lay động,
Hẳn
là người ngọc đã tới.
Tác
giả có viết một tiểu thuyết nhan đề Oanh Oanh truyện, hay còn gọi là Hội
chân ký, nói về mối tình vụng trộm của Thôi Oanh Oanh và cậu học trò Trương
Quân Thuỵ. Bài này tả lúc đôi bên hẹn hò gặp nhau ngay tại nhà Trương sinh,
Oanh Oanh leo tường phía sau vào.
~
Cửa
hé theo luồng gió,
Trăng
chờ dưới mái tây.
Chạm
tường hoa động bóng,
Người
ngọc đến đâu đây.
~
(Bản
dịch trong Tây sương ký do Nhượng Tống dịch.)
-
② Có lẽ Ngô Tất Tố trích hai câu thơ này
trong bài “Tương Dương ca” của Lý Bạch:
Tương
Dương ca
Lạc
nhật dục một Hiện Sơn tê (tây),
Đảo
trước tiếp ly hoa hạ mê.
Tương
Dương tiểu nhi tề phách thủ,
Lan
nhai tranh xướng "Bạch đồng đê".
Bàng
nhân tá vấn tiếu hà sự,
Tiếu
sát sơn công tuý tự nê.
Lô
tư thược, anh vũ bôi,
Bách
niên tam vạn lục thiên nhật,
Nhất
nhật tu khuynh tam bách bôi.
Dao
khán Hán thuỷ áp đầu lục,
Kháp
tự bồ đào sơ bát phôi.
Thử
giang nhược biến tác xuân tửu,
Luỹ
khúc tiện trúc Tao Khâu đài.
Thiên
kim tuấn mã hoán thiếu thiếp,
Tuý
toạ điêu yên ca "Lạc mai".
Xa
bàng trắc quải nhất hồ tửu,
Phụng
sinh long quản hành tương thôi.
Hàm
Dương thị thượng thán hoàng khuyển,
Hà
như nguyệt hạ khuynh kim lôi.
Quân
bất kiến:
Tấn
triều Dương công nhất phiến thạch,
Quy
long bác lạc sinh môi đài.
Lệ
diệc bất năng vi chi đoạ,
Tâm
diệc bất năng vi chi ai.
Thuỳ
năng ưu bỉ thân hậu sự,
Kim
phù ngân áp táng tử hôi.
Thanh
phong lãng nguyệt bất dụng nhất tiền mãi,
Ngọc
sơn tự đảo phi nhân suy.
Thư
Châu thược, lực sĩ đang,
Lý
Bạch dữ nhĩ đồng tử sinh.
Tương
vương vân vũ kim an tại,
Giang
thuỷ đông lưu viên dạ thanh.
Dịch:
Tây
Hiện Sơn vầng dương đương lặn
Ngã,
bám hoa chẳng đặng còn mê.
Tương
Dương trẻ vổ tay hề,
Ngăn
đường hát "Bạch Đồng Đê" reo hò.
Lại
có kẻ tò mò muốn biết,
Ra
lão già nét bét hèm say.
Thìa
lô từ, chén vẹt bay,
Tính
ba vạn sáu ngàn ngày: trăm năm.
Một
ngày nốc ba trăm chén rượu
Hán
Thuỷ xanh, xa ngỡ vịt bầu
Bồ
đào, rượu mới như nhau,
Nước
sông kia cũng nhuộm màu rượu Xuân.
Đài
ăn nhậu dựng tầng theo luỹ
Đổi
vợ xinh, thoả ý ngựa hay.
Trên
yên say hát "Lạc mai"
Xe
bên giắt rượu miệt mài nhâm nhi
Sáo
rồng đâu, giục đi sênh phượng,
Chó
vàng than chi ngượng Hàm Dương
Trăng
thanh sao chẳng chén vàng?
Còn
ai có thấy miên man quang thiều.
Như
Dương Công, Tấn triều bia dựng
Rêu
đài xanh phủ cứng đầu rùa
Lệ
còn đâu nữa cay chua
Lòng
nào thương tiếc những mùa đã qua.
Trăng
với gió ai đà mua vậy
Núi
Ngọc Sơn ai đẩy như đùa.
Thìa
Tiêu châu, lực sĩ khua
Tử,
sanh Lý Bạch hơn thua quyết cùng.
Đỉnh
Vu Sơn trập trùng trông ngóng
Chốn
mây mưa đâu bóng Tương Vương?
Về
đông sông chảy dặm trường,
Đêm
nghe tiếng vượn bi thương bên trời.
➖➖➖
Chương
6
Ở
nhà ngoài, mấy bàn tài tổ tôm đã tan. Họ mạc tới tấp giục nhau ai vào việc nấy.
Đàn ông bắt nốt con lợn làm thịt. Đàn bà đi thắng đường, vo gạo, sắp sửa nấu
chè thổi xôi. Ông đồ bà đồ cũng đã trở dậy để sai bảo mấy cậu học trò đun nước
quét nhà và nhờ mấy bà cụ già bổ cau têm trầu.
Cô
Ngọc vẫn còn núp ở trong buồng chưa ra. Hôm nay cô chỉ phân vân hồi hộp, chứ
không sốt ruột như những hôm trước. Trước kia, từ bữa ông đồ bà đồ chịu lời cụ
bảng Tiên Kiều thuận gả cô cho Đào Vân Hạc, cô đã tự thấy nhân duyên của mình
cũng không đến nỗi hẩm hiu. Tuy rằng trước mặt chị em chúng bạn, cô vẫn chê Vân
Hạc là cốc láo, là kiết xác mồng tơi, và có khi cao hứng, cô còn thề rằng nhất
định đi tu chứ không lấy chàng, và cũng không lấy người nào, nhưng thực ra, với
chàng, cô đã mãn nguyện vô cùng. Là vì trong con mắt cô, không có người nào hơn
chàng, cả đến nghè Long cũng còn kém chàng rất xa. Chàng rất đứng đắn nhưng
không lù đù. Chàng tát mình trai, nhưng không có tính bợm bãi. Những lúc cô ngồi
bán hàng ở chợ Kim Bảng, thường có hàng lũ học trò đi qua, phần nhiều họ đều ăn
nói chớt nhả, hoặc là con mắt nhìn ngược nhìn xuôi chập chối như quạ đậu chuồng
lợn, riêng có Vân Hạc lúc nào cũng giữ vẻ tự nhiên dù miệng chàng vẫn tươi như
hoa, tiếng nói của chàng vẫn có duyên và rất dễ nghe. Đáng để cho cô vừa lòng
hơn nữa là cái tài hoa của chàng. Tuy rằng cô chưa khi nào hỏi ai, nhưng danh
tiếng chàng đã khét cả tỉnh Hà Nội, nó vẫn luôn luôn bay đến tai cô một cách vô
tình.
Cô
biết văn chàng không ưu thì bình, không bao giờ phải xuống bình thứ. Cô biết
trong ba bốn trăm học trò cụ bảng Tiên Kiều, chàng là một người thứ nhất, không
ai đè nổi. Cô biết các ông bạn của cụ bảng Tiên Kiều đều phục chàng có tài
thám, bảng, sức học hơn hẳn nghè Long, tuy chàng đã ba khoa thi hương không đỗ.
Tóm lại, người chàng, nết chàng, tài học của chàng, bấy nhiêu cái đã làm cho cô
bồn chồn sung sướng mỗi khi nghĩ đến ngày mình làm vợ chàng. Cô tin đời cô sẽ
có một lần cũng như cô Thúy, chẫm chệ ngồi trên chiếc võng mành mành cánh sáo,
để hàng tổng hàng xã rước đi rước về. Cô lại tiếc rằng ông thám, ông bảng vẫn
chỉ là hàng tiến sĩ, dù chàng có đỗ thám hoa, bảng nhỡn, cô cũng không hơn cô
Thúy bao nhiêu.
Nhưng
cũng có lúc tự cô lại thấy chán nản buồn bã. Là vì cô nhớ năm trước theo người
thầy bói đoán rằng số cô trắc trở về đường nhân duyên, quả nhiên sau đó đã xảy
ra việc bên nhà nghè Long bỏ cô không cưới. Bây giờ cái việc cô với Vân Hạc mới
là lời của cụ bảng nói với ông đồ bà đồ, chưa đâu vào đâu, chắc đâu sau này lại
không có kẻ bàn ra nói vào. Song cô cũng chưa đến nỗi thất vọng. Bởi vì cô chắc
cụ bảng Tiên Kiều là bậc người lớn, cụ đã nói sao, phải đúng như vậy, không khi
nào có chuyện trẻ con như vợ chồng ông đồ Văn Khoa.
Tuy
rằng những khi đi chợ tình cờ giáp mặt Vân Hạc, cô thường giả vờ nhìn đi đằng
khác, như không để ý đến chàng, nhưng mà trong lúc bước chân ra đi, cô lại mong
được gặp chàng để thử ngắm lại dáng bộ chàng bây giờ ra sao. Tuy rằng những lúc
ngồi với chị em chúng bạn, bị họ đem Vân Hạc ra làm đầu đề chế cô, giễu cô, cô
vẫn xấu hổ đỏ mặt, có lần đã phải phát cáu với họ nhưng mà chính cô lại muốn được
họ chế mình, giễu mình như thế, và nếu không thế, thì câu chuyện của họ sẽ
không được cô để vào lỗ tai. Cái phút hồi hộp thứ nhất của cô hồi ấy là bữa cô
vừa ở chợ về, bà đồ bảo cho cô biết cụ bảng Tiên Kiều đã xin ấn định ngày đi trầu
cau. Bấy giờ cô không có can đảm để hỏi “thầy mẹ đã nhận lời chưa”, nhưng cô chỉ
mong được nghe bà đồ nói rằng: “Ta đã nhận lời rồi đấy”. Thế rồi từ lúc ăn hỏi,
xin cưới mà đi, sự bồn chồn ở trong bụng cô lại cứ mỗi ngày mỗi tiến. Với cô
lúc ấy, một ngày tức là một năm. Cái thời gian từ cuối tháng sáu đến đầu tháng
tám, chỉ có hơn ba chục ngày, nhưng với cô nó đã dài như ba chục năm. Hàng ngày
óc cô luôn luôn phải làm tính trì, hết một ngày thì cô rút đi một ngày, hết hai
ngày thì cô rút đi hai ngày, nhưng cái chuỗi ngày chưa tới vẫn như không ngắn
chút nào. Những đêm mưa ngâu rả rích, giọt mưa lách tách rơi xuống đầu thềm, và
những buổi chiều gió thu hiu hắt thổi quanh nhà, bóng tà man mác in trên lá cây
đều là những cái thì khắc khó chịu cho cô hơn hết. Bây giờ những ngày sốt ruột ấy
nó đã như nước chảy chậm, dần dần tiêu hết đi rồi. Cái giờ mà cô chờ đợi, đương
sắp sửa tới. Chỉ một lúc nữa thì đến giờ ngọ, họ nhà trai sẽ sang đón dâu. Từ
trưa hôm qua mà đi người cô lúc nào cũng thấy rạo rực, nhất là những lúc nghe
tiếng bà con làm giúp, thi nhau gọi mình là cô dâu.
Không
phải cô thẹn về sự trêu cợt của họ. Hơn một tháng nay, người ta đùa cô, chế cô
đã nhiều, cô đã quen rồi. Lúc này, trước sự ỡm ờ của mọi người, cô đã thừa đủ
can đảm để mà đâm ỳ ra đó. Vậy mà không biết làm sao hai tiếng cô dâu lại có sức
mạnh mầu nhiệm, mỗi khi lọt vào tai cô. Cả đêm hôm qua, cô chỉ ngủ đi nửa giờ.
Nhiều lúc cô đã cố nằm nhắm mắt, nhưng không thể ngủ được. Những tiếng đi lại
huỳnh huỵch và những tiếng nói chuyện xôn xao của một đình đám linh đình bắt cô
phải để tất cả tâm trí vào cảnh tượng đêm mai. Trong phút này, cái tiếng đêm
mai đã phải đổi ra đêm nay, óc cô vẫn cứ bộn rộn về cảnh tượng đó. “Đúng trưa mới
bắt đầu ở đây ra đi, nhanh lắm cũng phải đến nhá nhem mới tới Đào Nguyên. Thế
thì cuộc lễ tơ hồng sẽ vào ban tối”. Cô tính như thế, và cô cho rằng như thế
càng hay, vì lễ tơ hồng ban tối, sẽ khỏi trơ trẽn như các đám khác làm lễ ban
ngày. Cô lại tiếc từ trước đến giờ mình không để ý đến các đám cưới của người
trong họ. Không rõ trong lúc ngồi với chú rể mà ăn mâm cỗ cúng ông tơ hồng, cô
dâu có phải uống rượu hay không? Nếu có thì uống mấy chén? Và cô cân nhắc đến
tiếng xưng hô của mình phải dùng trong cái phút ấy không biết khi thoạt giáp mặt
Vân Hạc, mình nên gọi «anh chàng ta» là gì, bằng mình hay bằng anh?
Rồi cô nghĩ luôn đến những cử chỉ, lễ độ và những câu chuyện sẽ nói trong khi vợ
chồng bắt đầu ngồi đối diện với nhau. Cô không hiểu rằng cái lúc hãy còn ăn uống,
mình nên thay bộ áo ngoài, hay cứ mặc nguyên như trước. Thể rồi hai má thấy
nóng hôi hổi. Tiếng kêu giật giọng của con lợn đương bị chọc tiết, chói lói
thúc vào lỗ tai, làm cô phải dứt hẳn mạch tư tưởng. Một người chị họ đi qua cửa
buồng, vừa cười vừa nói the thé:
-
Gớm chửa! Cô dâu bây giờ vẫn chưa thèm dậy. Ngủ gì mà ngủ kỹ thế!
Cô
chưa nói sao, người ấy mở mành nhòm vào buồng và giục:
-
Thôi đi. Ngủ độ bấy nhiêu cũng đủ. Dậy đi thôi. Mặt trời đã xỏ vào mắt kia kìa.
Dậy xem gạo để đâu đong cho chúng tôi nấu cơm.
Cô
liền trả lời bằng giọng cố thây:
-
Em còn định ngủ thẳng đến trưa, nhưng chị đã nói thì em xin thôi.
Rồi
cô oằn oại ngồi dậy.
Trái
với thường lệ mỗi ngày, hôm nay cô không chải đầu không soi gương, chỉ quấn lại
qua loa cái vành khăn vấn, rồi cô bạo dạn mở cửa bước ra. Mấy người em họ đua
nhau chế giễu:
-
Thưa chị đã dậy ạ!
-
Sao chị không cố ngủ thêm lúc nữa?
Cô
mỉm cười và vẫn bây bả:
-
Công việc đã có các dì làm hộ. Tôi cần phải ngủ để lấy lưng cho đêm nay chứ!
Nhưng mà còn đời các dì nữa đấy. Chỉ sợ sau này các dì lại té bằng hai tôi
thôi.
Đủng
đỉnh ra bể, cô toan múc nước rửa mặt. Không biết bụng cô nghĩ ngợi ra sao, thau
nước múc rồi lại bỏ không rửa. Lững thững cô xuống nhà bếp và ngồi thụt vào đám
mấy người con gái.
Nhà
trên, nhà dưới, công việc dao thớt vẫn được tiến hành một cách tấp nập.
Mặt
trời lên khỏi ngọn cây, một loạt độ vài chục mâm vừa xong. Sau khi cái sỏ lợn
đã đệ ra đình nộp cheo, và mấy mâm thịnh soạn đã bưng đi cúng nhà thờ, họ mạc rộn
rã bảo nhau ăn uống, để một lát nữa còn phải làm cỗ thết họ nhà trai.
Cô
cũng ghé vào với các chị em, ăn lếu ăn láo một vài lưng cơm. Rồi lại lẩn vào
trong đám đàn bà con gái, ngồi dụi, ngồi dò lúc tựa vào lưng người này, lúc gục
vào vai người kia, để giấu cho kín cái vẻ khác thường trên mặt.
Gần
trưa, một cậu học trò bé con lúc nãy bị cắt ra ngóng ở nẻo đầu làng, tất tả chạy
về nói với ông đồ là họ nhà trai đã đến. Quang cảnh trong nhà mới càng túi bụi.
Người
ta thúc mấy cậu này quạt nỏ hoả lò cho nước chóng sôi. Người ta sai mấy cậu kia
lấy chiếc phất trần phẩy qua dãy chiếu cạp điều cho sạch cát bụi. Người ta bắt
hai cô con gái bưng hai cơi trầu ra tận ngã ba đón họ nhà trai.
Cô
Ngọc vẫn cố ngồi lỳ dưới bếp để làm ra bộ bạo dạn. Một lát sau, ngoài cổng nghe
có tiếng người ồn ào tiếp luôn đến tiếng trẻ con cười reo:
-
Chú rể đã đến!
Mấy
cô con gái lờ tờ kéo ra núp sau tường hoa cạnh cổng, đế chờ xem mặt chú rể.
Bấy
giờ cô mới lật đật chạy vội lên buồng. Lúc ấy mọi người đổ xô cả ra phía cổng, ở
chỗ cửa buồng không có người nào, cô bèn khép cánh cửa lại rồi đứng sau cửa
nhìn ra.
Đám
con nít xúm xít ở phía sau cổng, tự nhiên giạt ra hai bên, rồi cùng chắp tay
vái như bổ củi:
-
Lạy cụ ạ!
-
Lạy cụ ạ!
Với
một bó hương nghi ngút cầm tay, cụ bảng Tiên Kiều xúng xính khoác áo thụng lam
đi trước, rồi đến cụ cử Liên Trì. Rồi đến mấy ông cụ già. Rồi đến mấy bà cụ
già. Rồi đến một toán con gái. Rồi đến một bọn con trai. Rồi đến một lũ bưng
tráp xách điếu, với mấy người phu khiêng võng.
Cô
Ngọc chăm chăm nhìn không chớp mắt, chủ ý chỉ định coi thử Vân Hạc ăn mặc có lịch
sự không. Nhưng chàng đứng lấp vào đoàn nón dứa lố nhố, cô không thể trông được
rõ.
Thình
lình một tiếng pháo nổ. Cả bọn nhà trai ùn lại khu giữa sân. Rồi đó những tiếng
đì đùng tiếp nhau đi một hồi dài. Xác pháo bắn ra tứ tung, khói bốc đen ngòm,
mùi thuốc pháo đưa vào trong nhà khét lẹt. Khi ấy mặt cô càng nóng, bụng cô
càng thấy nôn nao, cô phải lẻn vào trong giường, ngồi im.
Họ
nhà trai lục tục tiến lên nhà trên. Cụ nghè Quỳnh Lâm, cụ cử Mai Đình và các
ông bạn của ông đồ ở bên nhà học vừa sang. Các cụ vái nhau một lượt, rồi cụ cử
Mai Đình nhìn vào cụ bảng Tiên Kiều, cụ cử Liên Trì mà nói:
-
Té ra chúng ta hôm nay chia làm hai cánh. Các bác ăn về cánh nhà trai, chúng
tôi thì ăn về cánh nhà gái. Cụ cử Liên Trì mỉm cười:
-
Phải. Tôi cũng biết các anh ăn về bên chắc.
Cụ
cử Mai Đình cũng cười và tiếp:
-
Chứ ai có dại mà đi ăn về bên lép như các ngài.
Cụ
bảng Tiên Kiều nói chen:
-
Tôi can các anh đừng bẻ tay bụt ngày rằm. Cỗ bàn có thiếu gì giò nem!...
Một
trận cười rộ kết liễu cho cuộc bông đùa, quan viên hai họ chen nhau ngồi vào
các ghế.
Tuần
trà đầu tiên đã đoạn. Cụ bảng nói với quan họ nhà gái cho người đưa rể đi lễ mấy
nơi cần lễ. Một cậu phòng của nhà trai mở tráp lấy chiếc áo tấc trao cho Vân Hạc.
Mấy chục cặp mắt trong đám đồng thời đổ xô vào chàng rể mới. Vân Hạc tuy đã trơ
trẽn, nhưng cũng không khỏi xấu hổ khi phải khoác tấm áo lùng thùng vào mình để
đi với bọn phù rể theo người nhà gái dẫn đường đến mấy nhà thờ.
Những
cô con gái rõ mặt chú rể thi nhau bàn tán bình phẩm; kẻ chê chú rể xấc lấc, người
khen chú rể giỏi trai.
Bà
đồ tung tăng chạy lên chạy xuống, dóng dả chị em bè bạn cô Ngọc sắp sửa quần áo
để đi đưa dâu. Một lát sau, chú rể lại về với bọn phù rể. Bà cống lễ phép đứng
dậy nói với cụ bảng xin mời ông đồ bà đồ ngồi lên cho chú rể làm lễ. Cả hai ông
bà nhất định không nhận. Bà cống nhất định chèo kéo. Một bên cố nài, một bên cố
chối, câu chuyện giằng co một hồi lâu. Kết cục cuộc ấp tốn phải nhường chỗ cho
mấy mâm cỗ và mấy nai rượu.
Sau
khi đã thay phiên nhau mời chào quan viên hai họ vào tiệc, ông đồ lánh sang nhà
học, bà đồ cũng đi giục giã mấy người làm giúp bưng mâm để những ông, bà, cô, cậu
phải đi đưa dâu uống rượu; rồi bà vào báo cô Ngọc cùng ngồi với các chị em ăn
cơm luôn thể.
Bóng
nắng chấm giọt, nhà trong nhà ngoài ăn uống đều xong.
Cụ
bảng sai người đi mời ông đồ bà đồ tới đó để xin đón dâu. Những người vào việc
võng cáng điếu tráp tấp nập sắp sửa đồ đạc. Mấy bà cụ già trong họ cùng giục cô
Ngọc đứng lên thay đổi quần áo.
Nhưng
cô bây giờ tự nhiên lại thấy bẽn lẽn xấu hổ, nấn ná cô cứ ngồi ỳ với bọn chị
em. Mấy bà cụ già nóng ruột, thúc giục đến bốn năm lần, bấy giờ cô mới liều
tình đứng dậy ra sân. Sau khi đã múc chậu nước lau qua mặt mũi, cô vào trong buồng,
mở rương lấy gói quần mới, áo mới, và chiếc quai thao mới, bỏ cả ra giường. Rồi
cô lật chiếu đầu giường cầm lấy chiếc gương Tư mã, nhưng lại ra bộ ngượng ngùng
nửa muốn soi, nửa không muốn soi.
Những
người bạn gái xúm lại, kẻ xổ khăn, người chải đầu, người rẽ đường ngôi, rồi người
lấy chiếc khăn nhiễu tam giang của cô mới mua; nắn nót vấn vào cho cô. Mặc họ vần
mình như vần dưa, cô không nói năng gì cả.
Ngoài
sân lạch tạch một tràng pháo nổ. Quan họ nhà trai đã tan một tuần trầu nước cuối
cùng. Bà cống Đào Nguyên, cụ bảng Tiên Kiều có lời cáo từ.
Rồi
thì mọi người rục rịch đứng dậy vái chào ông đồ bà đồ và bước xuống sân. Cụ
nghè Quỳnh Lâm, cụ cử Mai Đình và mấy ông già bà già dự cuộc đưa dâu, cùng đi
luôn với họ nhà trai ra cổng.
Cô
Ngọc vẫn còn lúng túng trong buồng, chưa chịu thay đổi quần áo. Mấy bà nhiều tuổi
trong họ phát cáu:
-
Không phải là việc trẻ con mà cứ làm nũng! Thế nào gọi là ngày lành tháng tốt?
Một năm mới được một ngày. Một ngày mới được một giờ. Liệu mà sắm sửa mau lên,
sắp hết giờ ngọ rồi đấy. Nếu đi lúc nào cũng được thì ai còn xem giờ làm gì?
Cô
Ngọc đỏ bừng hai má và trả lời bằng giọng buồn rầu:
-
Các bà mắng cháu oan quá. Nào cháu có làm nũng đâu! Nhưng mà... Cô không nói nữa
và đứng phắt dậy, cởi hết cả lớp quần áo đương mặc, để thay một lượt áo mới váy
mới. Rồi cô khẽ nâng chiếc gương Tư mã ngắm lại dung nhan của mình, cái tuổi
xuân đương dậy thì, thêm có tơ lụa trang điểm, cố nhiên vẻ yêu kiều phải rực rỡ
hơn ngày thường. Cô cố giữ nguyên sắc mặt cho khỏi tươi cười, đế giấu kín cái hớn
hở của sự đắc ý.
Chị
em thi nhau nói giễu:
-
Đẹp rồi! Đáng là cô thám, cô bảng lắm rồi. Thôi đi đi chứ. Đêm có khuya ngày có
rạng!
Cô
không trả lời. Ngó ra cửa buồng cô bảo Bích lấy chiếc chiếu trải ra giữa thềm.
Rồi mời ông đồ bà đồ ngồi trên phản, cô rón rén bước vào trong chiếu sụp xuống
lạy cha lạy mẹ mỗi người một lạy. Ông đồ vẫn thản nhiên như thường. Nhưng bà đồ
coi bộ rất là cảm động, nước mắt dấp dính trong hai khóe mắt. Sẽ lau nước mắt,
bà gượng làm bộ vui vẻ: - Thôi con đi đi? Kẻo nữa hai họ chờ đợi. Mẹ đã nói với
cụ bảng, bà cống rồi đấy. Ngày mai cơm nước xong rồi, vợ chồng lại cùng về đây
với thầy mẹ.
Cô
Ngọc cũng rưng rưng hai hàng nước mắt. Uể oải xỏ chân vào đôi dép cong, rồi cô
thơ thẩn đứng dậy, toan quay vào buồng. Mấy cô phù dâu đứng đợi đã lâu, có ý
nóng ruột, họ liền lấy chiếc nón thúng quai thao trao tay cho cô và giục:
-
Đi đi! Chùng chình mãi! Chị bắt anh ấy chờ đến bao giờ?
Điềm
nhiên, cô đặt chiếc nón lên đầu và buồn bã bước chân xuống thềm, rồi đi lẫn vào
giữa đám con gái đó. Cái nón chênh chếch chúc về phía trước, hết sức giấu kín
đôi má hồng hồng của cô, cái má đang bị nóng hổi về sự rạo rực trong tim phổi.
Ngoài
đường quan viên hai họ vẫn thủng thẳng vừa đi vừa đợi. Ra khỏi cổng làng, dâu rể
và các ông già, bà già lần lượt lên võng. Những cô con gái và những cậu con
trai răm rắp đi bộ theo sau.
Nắng
tây gay gắt rọi xuống đồng lúa xanh non, như muốn thúc đám cưới đi cho rảo bước.
Ngồi trên võng, nhìn lên những người đi trước, cô sực nhớ đến câu chuyện mà
mình bói được độ nọ:
«
Kíp
truyền sắm sửa lễ công,
Kiệu
hoa cất gió đuốc hồng điểm sao.
Bày
hàng cổ xúy xôn xao,
Song
song đưa tới trướng đào sánh đôi. »
Cô
mỉm cười và tự hỏi mình: có lẽ bốn câu ấy ứng vào cái việc hôm nay đây rồi. Rồi
cô liền nghĩ tới bốn câu nữa mà cô cũng bói được trong hôm ấy và cô tự hỏi:
không hiểu bốn câu này là ý làm sao?
➖➖➖